Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

Ai bán Quan để ai mua Tước?


MUA QUAN BÁN TƯỚC “BIẾT RỒI! KHỔ LẮM! NÓI MÃI!”

SƯƠNG NGUYỆT MINH



Chạy chức, chạy quyền... “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi!”. Ai cũng hiểu vấn nạn này có thể làm lung lay giường cột quốc gia. Ai cũng biết tệ nạn này xói mòn lòng tin nhân dân, băng hoại đạo đức xã hội. Nhưng, thử hỏi: Có mấy kẻ mua quan, có bao nhiêu kẻ bán tước bị vạch mặt, chỉ tên, điệu cổ đến trước vành móng ngựa? Không! Hầu như chẳng thấy tên vô lại chạy chức chạy quyền nào bị bêu ra trần trụi dưới ánh sáng công lý. Xã hội bây giờ, cứ mở mắt ra là thấy án tuyên bọn tham nhũng, tham ô, trộm gắp, giết người, cướp của. Song, chẳng thấy tuyên kẻ mua quan bán tước vào ngục tù?

Có phải xã hội sạch sẽ, nhân tâm thiện lành, hiền tài trọng dụng, lợi công vô tư,... nên không có chuyện buôn quan bán tước? Có phải đội ngũ cán bộ đảng viên trong sạch đến mức bói không ra một kẻ chạy chức chạy quyền, để đến mức phải thi hành kỉ luật, phải đưa cán cân công lý lên cân? Không! Chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn, mua quan bán tước đã thành quốc nạn. Chả thế mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII nhận định: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi”. Không có lửa, làm sao có khói? Không có trong thực tại, sao khái quát thành... nghị quyết!? Chạy chức chạy quyền đã phải đưa vào Nghị quyết Đảng nhận định, đánh giá là một thực tế, là một thừa nhận đau lòng rồi. Đau lòng vẫn phải đưa ra, bởi nó rất hệ trọng đối với uy tín của Đảng, và đội ngũ cán bộ của Đảng.
Tuy nhiên, vẫn không chỉ mặt đặt tên, vẫn chưa đưa được kẻ mua quan bán tước nào ra trước vành móng ngựa, hay ít ra cũng phải lôi cổ ra tòa án công luận? Tịnh như không! Chứng tỏ bọn chạy chức chạy quyền rất ranh ma, sảo quyệt, mưu chước. Chúng dùng thuật tàng hình. Chúng dùng kế ngụy trang. Chúng biến hóa như thần thông quảng đại. Rất khó biết kẻ chạy chức chạy quyền cụ thể là ai. Ai cũng nghĩ Trịnh Xuân Thanh lãnh đạo một doanh nghiệp làm ăn bết bát, thua lỗ, mà lên chức như diều gặp gió, chả mấy chốc làm quan phó tỉnh Hậu Giang thì phải chạy chức cả núi tiền? Nhưng, nghĩ thì cũng chỉ là nghĩ, trong các cáo trạng, và án tuyên thì Thanh chưa hề bị kết tội “chạy chức chạy quyền”.

Có thể định lượng, định tính chung kẻ chạy chức chạy quyền với các mối quan hệ: “Thứ nhất hậu duệ/ Thứ nhì quan hệ/ Thứ ba tiền tệ/ Thứ tư trí tuệ”. Thực ra, là một thứ tham nhũng quyền lực bí ẩn, rất khó lôi ra kỉ luật, rất khó đưa ra tòa. Kiểm tra, thanh tra, kết luận, họ đều được bảo chứng bằng một cụm từ.... bổ nhiệm đúng quy trình. Thực tế, mua quan bán tước dẫu đau lòng, vẫn phải chỉ ra. Ngày xưa, “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Bây giờ, cả gia đình, cả dòng họ cùng làm quan. Trước đây, một người trong họ làm quan, thì ông quan ấy bênh vực cho kẻ yếu của dòng họ mình. Dòng họ mình chịu cảnh bất công ngang trái do cường quyền xảy ra, thì ông quan ấy bênh vực các kẻ thấp cổ bé họng cùng ruột thịt mình. Cùng lắm, thì cái danh làm quan cũng khiến các kẻ khác, làng khác, họ khác không dám bắt nạt các thành viên của họ mình. “Một người làm quan cả họ được nhờ” mang ý nghĩa tích cực như thế. Sau thì, “Một người làm quan” lấy kinh phí của nhà nước, đem cho họ nhà mình, xóm xã mình, huyện mình. Chẳng hạn, làm con đường, bê tông hóa mương máng đồng ruộng, nói một câu thì kinh phí xây trường học, xây trụ sở được giải quyết luôn. Thực ra, ông quan lấy tiền thuế của dân ở kho nhà nước, mang về cho họ nhà mình, quê hương mình. Hạnh phúc là cái chăn hẹp, co đằng đầu thì lạnh đằng chân. Chẳng qua là lấy chỗ nọ cho chỗ kia thôi. Vậy mà được tiếng, cả họ được nhờ.

Dư luận từng rất bức xúc về “gia phả làm quan” ở huyện Kim Thành, Hải Dương. Gia đình Bí thư huyện ủy Nguyễn Hữu Tiến có đến 4 người làm quan huyện; gia đình Phó Bí thư thường trực huyện ủy Lê Ngọc Sang có 5 người làm quan huyện... đều đúng quy trình. Gia đình bà Lương Thị Hồng - Chủ tịch xã Thông Thụ, huyện Quế Phong có đến 9 người làm quan xã cũng rất đúng quy trình. Ở “huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế, từ Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, đến Phó trưởng phòng Tài chính, Phó trưởng Công an huyện… đều là anh em, họ hàng trong gia đình” cũng không sai quy trình. Đỉnh cao cơn bão dư luận khi người ta phát hiện ra gia đình ông Triệu Tài Vinh - Bí thư tỉnh ủy Hà Giang có ít nhất 8 người là vợ, anh em ruột thịt, em rể, anh em họ hàng... làm quan tỉnh, quan huyện lại càng đúng... quy trình. Ở các trường hợp cả nhà làm quan, cả họ phong tước này, bảo họ chạy chức chạy quyển, bảo họ mua quan bán tước cũng khó. Chả lẽ vợ mua chức, chồng bán? Chả lẽ em chạy anh, để kiếm cái ghế lẽ ra thuộc về người ngoài? Không ai thu tiền bán chức ở gia đình đều làm quan. Cái thu được nó vô hình, mà lớn lao vô giá. Cả nhà làm quan, thì đàn em, ê kíp châu tuần lại thành một boong ke thế lực át mọi thế lực khác. Tự tung tự tác trong một lãnh địa, đố các thế lực nào dám động đến cái lông chân? Cái loại tham nhũng quyền lực này còn mạnh hơn gấp nhiều lần tiền tệ.

Ngoài quan hệ người thân gia đình, thì tất cả đều phải chạy. Chạy nhất thời, chạy cả cuộc đời. “Nghị quyết trung ương 6 (lần 2), khóa VIII thì Bộ Chính trị đã chỉ ra 5 loại "chạy": Một là chạy chức trước khi bầu cử. Hai là chạy quyền trước khi phân công công tác. Ba là, chạy lợi trước khi phân bổ ngân sách, đấu thầu, cấp quota. Bốn là chạy chỗ trước khi bổ nhiệm. Năm là, chạy tội trước khi điều tra, xét xử”. Trong các loại “chạy” này, thì chạy chức là nóng bỏng quyết liệt nhất. Người có tâm tài, có năng lực trình độ thì... không bao giờ chạy. Với lòng tự trọng, thậm chí với tính kiêu hãnh của bậc chí nhân quân tử thì vua có vời ra giúp nước thì mới ra, còn không thà vào núi ở ẩn, né đời còn hơn sống chung với đám quan tham ô trọc.

Chỉ đám quan tham yếu kém ô trọc mới chạy chức chạy quyền. Phe nhóm, cánh hẩu vùng miền, địa phương, lãnh địa ngành cũng chạy. Chạy chức cũng dăm bảy đường chạy. Đằng sau một ông kễnh ở địa phương, ở lãnh địa ngành là cả đám doanh nghiệp sân sau góp tiền lại cùng chạy cho “soái” quan lộ thần tốc. Đằng sau, một ông “Cốp” nào đó là cả đống đàn em chung chi chạy cho đại ca sang trang sử quan trường mới. Dĩ nhiên, khi ông lớn yên bề công danh, ghế mông vững vàng thì sẽ dành các dự án, các hợp đồng béo bở cho doanh nghiệp sân sau đã chung chi. Khi sếp lớn sống mái được một vị trí vững chắc, thì cũng bắt đầu tời đàn em, trả ơn cho đàn em đã chi tiền chạy chức cho mình. Chạy như thế thì cứ ôm cả núi tiền theo; chứ “mời anh A, anh B đi chơi golf, đi du lịch, định biếu xén để tạo quan hệ, gây thiện cảm...; rồi ví dụ như cấp trên gọi điện, viết thư, gặp gỡ cấp dưới để gửi gắm, gợi ý bầu cho chú C, quy hoạch cô D...” như truyền thông đã từng chỉ ra, thì cũng chỉ là kiểu chạy lìu tìu.

Đã đến lúc phải hành động cụ thể, phải xem lại cái cơ chế hiện hành đang từng ngày từng giờ đẻ ra nạn chạy chức chạy quyền. Phải cột trách nhiệm cá nhân vào nạn bán tước mua quan. Không thể cứ để quốc nạn “chạy chức chạy quyền” như cha chung không ai khóc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đặt vấn đề “Làm thế nào để “nhốt” quyền lực vào trong cơ chế, thể chế, có quy định, quy chế, là để anh làm chức ấy thì không thể tham nhũng, tiêu cực được”. Phải tạo ra cơ chế trách nhiệm cá nhân gắn chặt với công tác cán bộ mình phụ trách. Chẳng hạn, ông xã yếu kém thì ông huyện phải chịu trách nhiệm. Ông huyện bị kỉ luật, vi phạm pháp luật thì ông tỉnh cũng chịu trách nhiệm. Có nghĩa là mọi động thái xấu tối của cấp dưới, đều có mối quan hệ, ảnh hưởng của cấp trên, với cấp trên, thì đương nhiên cấp trên trực tiếp cũng được hưởng, hay bị phạt theo. Cột chặt trách nhiệm cá nhân với hệ thống cán bộ trực tiếp bổ nhiệm, sắp xếp thì sẽ không dám nhận tiền mà cơ cấu đàn em, hay quan tham chạy chọt, để rồi họ làm sai, làm ẩu, làm bậy. Xưa nay, ở xứ ta, ai làm nấy chịu. Cấp dưới vi phạm pháp luật, vào tù, hoặc doanh nghiệp làm ăn thua lỗ,... nhưng lãnh đạo trực tiếp cứ... bình chân như vại, cứ như chẳng có trách nhiệm liên đới nào. Hãy cột chặt trách nhiệm cá nhân vào sự thành bại của tổ chức, vào sự tốt xấu của hệ thống cán bộ. Sếp tốt có tâm có tài,. thì lực lượng cán bộ cấp dưới thạo việc, tử tế. Ngược lại, sếp bất tài vô dụng, tâm loạn lợi tư nhiều, lợi công ít thì đội ngũ cán bộ cấp dưới cũng bát nháo, chi khươn, cơ hội, lợi dụng đục khoét, chia chác tiền của nhà nước và... hành dân.

Quang Trung Nguyễn Huệ nói rằng: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII cũng đã chỉ ra: "... kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền vào đội ngũ cán bộ…” Lấy nhân tài làm gốc, phải tìm người có tâm, có tầm đứng đầu một cơ quan, một ban, ngành, một địa phương... Theo lô gic liên tài, từ người tuấn kiệt đó, họ sẽ chọn cho mình một ê kíp cán bộ ăn ý, thạo việc và tử tế, mà không cần phải “chạy chức chạy quyền”, đất nước mới thịnh trị. Không tìm được nhân tài có tâm, có tầm và cột chặt trách nhiệm cá nhân với công tác cán bộ, thì nạn “mua quan bán tước” vẫn xảy ra, vẫn “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi!”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MỘT DÂN TỘC TINH ANH ?


Trong cuốn sách "Việt Nam Sử Lược" quen thuộc với mọi người, Trần Trọng Kim viết về người Việt Nam như sau :
"Về đàng trí tuệ và tính tình thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức : lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.
Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn".
Trần Trọng Kim, xuất thân là một giáo viên, được gởi đi học và tốt nghiệp Trường Thuộc Địa [Ecole Coloniale] tại Pháp. Trường Thuộc Địa Pháp vào đầu thế kỷ này là một trường có trình độ trung học, có mục đích khai mở nền văn minh Pháp nói riêng và phương Tây nói chung cho những trí thức Việt Nam đầu tiên để họ về nước phục vụ cho chính quyền thuộc địa. Năm 1911, ông Hồ Chí Minh, lúc đó làm bồi tàu và mới tới Pháp, cũng có làm đơn với lời lẽ thống thiết viện cớ có cha đậu tiến sĩ Hán học để xin vào trường này, nhưng bị từ chối.
Tuy vốn liếng khoa bảng không có bao nhiêu (nhưng vào thời đó trình độ của Trường Thuộc Địa cũng đã là cao lắm rồi), nhưng ông Trần Trọng Kim đã dày công học hỏi và nhờ trí tuệ xuất sắc ông trở thành một học giả lớn. Ngoài kiến thức uyên bác, Trần Trọng Kim còn là một người liêm khiết, lương thiện. Ông có uy tín rất lớn trong thời đại của ông. Năm 1945, khi Nhật đảo chánh Pháp, trả độc lập trên nguyên tắc cho Việt Nam, ông Trần Trọng Kim, lúc đó đã về hưu, được vua Bảo Đại mời ra làm thủ tướng theo ý của người Nhật. Sự kiện ông được chỉ định làm thủ tướng là một ngạc nhiên cho rất nhiều người. Phần đông giới theo dõi thời cuộc lúc đó chờ đợi ông Ngô Đình Diệm, một cựu thượng thư, có uy tín, có tham vọng chính trị và nhất là đã giao dịch với Nhật từ lâu. Ông Diệm đã tham gia từ 1941 tổ chức Việt Nam Phục Quốc Hội của hoàng thân Cường Để do Nhật đỡ đầu. Người ngạc nhiên nhất chính là ông Ngô Đình Diệm. Thực ra ngay từ khi đổ bộ vào Việt Nam, Nhật cũng đã có ý định dùng Trần Trọng Kim như một lá bài thay thế cho Ngô Đình Diệm, có lẽ vì họ nghĩ Ngô Đình Diệm là một chính khách sắc bén hơn và có thể đòi hỏi họ nhiều hơn là Trần Trọng Kim. Tuy vậy ông Trần Trọng Kim cũng đã dần dần đòi hỏi được nơi người Nhật tất cả những nhượng bộ cần thiết. Nếu người Nhật coi Trần Trọng Kim là người không đáng lo ngại thì người Pháp sau này lại lo ngại Trần Trọng Kim và làm áp lực để Bảo Đại chọn Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng năm 1948 thay vì Trần Trọng Kim. Sau đó Trần Trọng Kim qua Phnom Penh sống với người con gái, ông mất vài năm sau đó, khi vừa trở về Việt Nam.
Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đời chính trị của ông trong thiên hồi ký ngắn "Một cơn gió bụi". Có lẽ những ai có ý định viết hồi ký đều nên đọc cuốn sách nhỏ này trước đã. Đó thực sự là một cuốn hồi ký. Nó được viết một cách thực thà, lương thiện, rành mạch, điều ít thấy trong các cuốn hồi ký khác. Hồi ký là một loại sách đặc biệt. Nó có tác dụng chính, và có thể nói là duy nhất, là ghi chép các sự kiện để làm chứng cho một giai đoạn. Đòi hỏi duy nhất của nó là phải trung thực, phải có giá trị của một tài liệu. Người Việt Nam, nhất là các tướng tá quân đội miền Nam cũ, hay dùng hồi ký để bóp méo sự thật, tán dương hay chạy tội cho mình, bôi nhọ người khác. Những hồi ký như vậy không thể dùng làm tài liệu.
Trần Trọng Kim được mọi người kính trọng, người ta kính trọng kiến thức của ông và người ta còn kính trọng hơn nơi ông nhân cách của một trí thức chân chính. Nếu không phải Trần Trọng Kim mà một người khác viết ra những dòng trên, thì chắc chắn sẽ bị cả một loạt bài đả kích và mạt sát thậm tệ vì đã dám coi thường người Việt. Nhưng vì là do Trần Trọng Kim viết ra nên không ai cãi lại, và hầu hết nhìn nhận là đúng. Tôi cũng có đọc trong nhiều cuốn sách cũ của các học giả Pháp một nhận định tương tự như vậy về người Việt, không biết có một sự tham khảo nào không. Điều chắc chắn là Trần Trọng Kim chỉ viết những điều ông tin là đúng.
Nói chung, Trần Trọng Kim nhận định người Việt Nam có cấu tạo cơ thể tốt, có trí óc tương đối tốt, siêng năng, hiếu học, biết trọng đạo đức, nhưng tâm lý thì rất dở. Ông không nói người Việt Nam nói chung có yêu nước hay không, đó cũng là một điều lạ trong cuốn sách sử.
Tôi đã đề cập phần trước tới nước Hòa Lan như là một kỳ quan của thế giới. Quan sát kỹ người Hòa Lan, thành thực tôi không thấy họ thông minh hơn người Việt, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Họ cũng không chăm chỉ hơn người Việt Nam, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Vậy mà họ đã tạo nên được quốc gia đáng phục nhất thế giới. Tôi làm việc với người Pháp và cũng đi tới một nhận định tương tự. Riêng người Anh thì phải nói tuy họ có nét độc đáo riêng, nhưng trí tuệ của họ cũng chỉ xấp xỉ như người Hòa Lan và người Pháp, ngoài ra họ lười biếng hơn hẳn người Việt Nam.
Vậy mà tại sao các quốc gia đó giàu mạnh đến thế, trong khi nước ta nghèo nàn lạc hậu và tang tóc đến thế ?
Khi một máy vi tính hoạt động dở thì chỉ có hai giải thích : một là cái hardware [phần vật liệu hay phần cứng] của nó dở, hai là cái software [phần trí liệu hay phần mềm] của nó dở. Chất liệu, nghĩa là cấu tạo cơ thể và trí óc, của người Việt Nam tốt. Vậy thì phải chăng cái software, nghĩa là cái văn hóa và tâm lý, của người Việt Nam tồi dở ? Tôi tin như thế. Một người bạn tôi sau hơn một thập niên làm cố vấn cho các chính phủ châu Phi đã chỉ rút ra được một kết luận rõ nét : các nước đó không vươn lên được vì trở ngại văn hóa và tâm lý.
Đọc những bài đóng góp gần đây của các tác giả Việt Nam về vấn đề phát triển đất nước, phần đông có giá trị, nhiều bài rất xuất sắc, tôi ít thấy đề cập đến yếu tố tâm lý (hay văn hóa cũng thế vì tâm lý và văn hóa rất gần nhau), trong khi đó tất cả các nhà bác học có thẩm quyền ở tầm vóc thế giới về vấn đề phát triển đều coi yếu tố tâm lý là yếu tố cốt lõi. Nhiều tác giả còn gọi phát triển là một cấu trúc tâm lý [structure mentale].
Tâm lý của một dân tộc, nhiều người thích dùng cụm từ hồn tính dân tộc, một phần do điều kiện thiên nhiên tạo thành, nhưng một phần lớn là do các giá trị đã được nhìn nhận từ lâu đời và đã tạo ra một nếp sống. Các giá trị ấy hình thành có khi do sự khám phá trong cuộc sống của dân tộc, có khi được du nhập và hấp thụ, được kiểm chứng và xét lại theo kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử vì thế đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành tâm lý dân tộc. Lịch sử là trí nhớ tập thể của dân tộc, một nguồn tài liệu và gợi ý. Lịch sử cũng là tấm gương để một dân tộc nhận diện được mình, hiểu mình, biết mình nên làm gì và có thể làm gì. Muốn như thế, lịch sử phải chính xác và cũng phải được phân tích và khai thác một cách sáng suốt và khách quan.
Nhưng một mặt lịch sử của ta không chính xác, và, mặt khác, chúng ta rút ra từ lịch sử những kết luận và những bài học sai lầm.
Trích Tổ Quốc Ăn Năn - https://goo.gl/WFounq
(Nguyễn Gia Kiểng)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đường dây buôn người Trung Quốc có biệt danh "đầu rắn" bị cho là đứng sau vụ 39 người chết trong container ở Anh. Thủ lĩnh "đầu rắn" là "nữ chúa" có biệt danh chị Ping khét tiếng.

Nữ chúa "đầu rắn" đứng sau vụ 39 người chết trong container ở Anh là ai?


 
Chị Ping - "Mẹ của tất cả các đầu rắn"
Theo Daily Mail, nữ thủ lĩnh nổi tiếng tàn ác của đường dây buôn người "đầu rắn" có biệt danh chị Ping tên đầy đủ là Cheng Chui Ping được mô tả là "Mẹ của tất cả các đầu rắn".
nu chua "dau ran" dung sau vu 39 nguoi chet trong container o anh la ai? hinh anh 1
Chân dung nữ chúa "đầu rắn" chị Ping - tên đầy đủ là Cheng Chui Ping
Chị Ping chính là người đầu tiên xây dựng băng đảng "đầu rắn" để đưa lậu người từ Trung Quốc sang các nước phương Tây, bao gồm Tây Âu như Anh cũng như vùng Bắc Mỹ, Australia, hoặc một số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Nhật Bản, Đài Loan. 
Ước tính, người phụ nữ này đã kiếm được hàng triệu USD từ việc buôn người trong suốt 20 năm cầm đầu băng đảng "đầu rắn" - mạng lưới những kẻ buôn người tinh vi nhất thế giới.
 Chị Ping - "nữ chúa" đầu rắn được mô tả là người tạo ra "cơ hội" cho nhiều thế hệ người Trung Quốc đổi đời khi đưa họ vượt biên trái phép tới các nước phát triển, có điều kiện phúc lợi tốt với giá 20.000 bảng kể từ đầu những năm 1980.
Khoản tiền này sẽ được thanh toán trước một phần. Phần còn lại sẽ trích từ lương của những người vượt biên sau khi họ tìm được việc làm ở trời Tây. Nếu những người vượt biên không thể trả đủ tiền nợ của "đầu rắn", người thân ở Trung Quốc của họ sẽ bị ép phải trả thay cho đến những đồng cuối cùng. Nếu họ không có tiền, chị Ping sẽ cho vay với mức lãi cắt cổ và họ sẽ không bao giờ thoát được vòng tròn nợ nần chồng chất. 
Cảnh sát truy bắt chị Ping tới tận China Town ở New York, Mỹ và đưa "Mẹ của tất cả các đầu rắn" ra tòa vì tội buôn người. Chị Ping sau đó bị tuyên án 35 năm tù. Năm 2014, chị Ping chết trong nhà tù ở Texas. 
Tuy nhiên, cái chết của chị Ping không khiến đường dây buôn người "đầu rắn" sụp đổ. Băng đảng này vẫn đang phát triển vô cùng mạnh mẽ và thủ lĩnh mới của nó vẫn chưa lộ mặt.  
Dụ dỗ nạn nhân và buôn lậu người
Không còn "nữ chúa" chị Ping, băng đảng "đầu rắn" vẫn hoạt động mạnh và đang chuyển mình theo thời đại khi tích cực sử dụng các ứng dụng truyền thông xã hội của Trung Quốc như WeChat, hoặc các ứng dụng của nước ngoài như Tinder, MoMo để dụ dỗ các nạn nhân với lời hứa hẹn di cư "100% an toàn" và một cuộc sống mới tốt đẹp hơn ở trời Tây.
Bên cạnh đó, "đầu rắn" tiếp tục duy trì việc săn tìm "mục tiêu" trên khắp các đường phố, bắt chuyện làm quen với những người có tiềm năng để dụ họ vượt biên.
"Đầu rắn" hoạt động mạnh nhất tại khu vực Phúc Kiến - "trung tâm buôn người" ở Trung Quốc, và đưa "khách hàng" tới những quốc gia phương Tây giàu có như Anh hoặc Mỹ. Những người cả tin có thể phải trả cho chúng số tiền lên tới 30.000 bảng (hơn 38.000 USD) để có cơ hội đổi đời.
nu chua "dau ran" dung sau vu 39 nguoi chet trong container o anh la ai? hinh anh 4
Phúc Kiến, Trung Quốc - nơi băng đảng "đầu rắn" hoạt động mạnh mẽ
Một nguồn tin giấu tên nói với Mirror rằng một số người có ý định vượt biên đã tự tìm đến các nhóm buôn người và "sẽ cảm thấy tự hào nếu họ thoát được khỏi Phúc Kiến và có cơ hội sống tốt hơn với nhiều tiền hơn ở những nơi như Anh".
"Họ nghĩ việc buôn người không phải là tội ác, mà là cơ hội. Đây là thỏa thuận giữa các nhóm đầu rắn và khách hàng. Hành trình rất khó khăn, rất đáng sợ chứ không hề dễ chịu, nhưng phần thưởng lại đáng giá. Cơ hội cuộc sống tốt đáng để liều lĩnh, dù trong vụ này thì kết quả không như vậy", nguồn tin nói.
"Đầu rắn" áp dụng nhiều cách khác nhau để đưa lậu người từ nước này sang nước khác cho tới khi họ tới được điểm đến cuối cùng. Chúng có thể sử dụng hộ chiếu bị đánh cắp hoặc bị sửa đổi, thị thực được cấp qua con đường gian lận, hoặc hối lộ. Chúng cũng có thể giả mạo thành phái đoàn doanh nghiệp hay du khách để vượt qua kiểm soát xuất nhập cảnh.
Tuy nhiên, "đầu rắn" thường đưa các nạn nhân tới châu Âu bằng cung đường bay quen thuộc xuất phát từ Phúc Kiến. Sau đó họ bị nhồi vào các thùng xe tải, bao quanh là bóng tối, không có thức ăn, hệ thống thông gió, nước hay nhà vệ sinh.
"Chúng không quan tâm đến sự an toàn của người mà chúng đưa đi như chăn gia súc trên khắp địa cầu", The Sun bình luận.
nu chua "dau ran" dung sau vu 39 nguoi chet trong container o anh la ai? hinh anh 6
Thảm kịch 39 người chết trong container ở Anh đã phơi bày tình trạng nhập cư lậu vào châu Âu
Trong vụ 39 thi thể trong container bị phát hiện ở Essex hôm 23/10, vụ chuyển người lậu đã không thành công.
"Bất trắc xảy ra nhưng không vì thế mà đầu rắn dừng lại. Sẽ không có giọt nước mắt nào rơi. Ở Phúc Kiến, không có việc làm, rất ít cơ hội và thu nhập cũng thấp, vì thế chúng tôi phải đi nơi khác", nguồn tin cho hay.
Minh Nhật

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lời kể của người sống sót vụ 58 tử thi TQ trong xe cà chua


Việc phát hiện 39 thi thể ở thùng xe tải tại Anh gợi nhớ những ký ức bi thảm về vụ việc tương tự cách đây 19 năm, khi 58 người di cư Trung Quốc thiệt mạng trong xe chở cà chua.
Ngày 18/6/2000, ngay trước nửa đêm, 58 thi thể được tìm thấy trong một chiếc xe tải của Hà Lan tại Dover Docks. Hai người sống sót sau vụ việc.
Các cuộc điều tra phát hiện chiếc xe tải đi từ Zeebrugge ở Bỉ.
Sau đó, giới chức trách đã xác định người di cư Trung Quốc bị mắc kẹt trong container suốt 18 giờ và có khả năng chết vì ngạt, mặc dù ngộ độc carbon monoxide là nguyên nhân có thể gây tử vong.
Theo Telegraph, trong container có tổng cộng 60 người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp. Họ đã đập vào thành xe và la hét cầu cứu sự trợ giúp không bao giờ tới. Họ chết ngạt trong chiếc container không có không khí trên chuyến phà qua eo biển Manche.

Kiệt sức và hoảng loạn sau nửa chặng đường

Một trong hai người duy nhất sống sót sau cuộc hành trình đã bật khóc khi kể câu chuyện về chuyến đi tại Tòa án Maidstone Crown trong phiên xử năm 2001. Tại phiên tòa, Perry Wacker, 32 tuổi, tài xế xe tải người Hà Lan, lúc đó đã phủ nhận ngộ sát 58 người.
Ke Shi Guang, 22 tuổi, đưa ra bằng chứng từ phía sau màn hình vì lo ngại bị các băng đảng buôn người Trung Quốc, những người đã tổ chức vận chuyển các nạn nhân từ Phúc Kiến sang Anh, đe dọa tính mạng.
Loi ke cua nguoi song sot vu 58 tu thi TQ trong xe ca chua hinh anh 1
Dover Eastern Docks, nơi 58 người di cư được tìm thấy đã chết vào năm 2000. Ảnh: PA.
Guang nói rằng nhóm gồm 56 đàn ông và 4 phụ nữ di chuyển trong container do Wacker điều khiển từ Rotterdam. Họ bắt đầu kiệt sức khoảng nửa chặng đường trong hành trình kéo dài sáu tiếng từ Zeebrugge đến Dover vào ngày 18/6/2000.
Nói chuyện qua một thông dịch viên tiếng Quan thoại, anh đã khóc khi kể về sự hoảng loạn xảy ra khi người Trung Quốc đập vào một bên của container và hét lên để tìm kiếm giúp đỡ.
Anh nói rằng lỗ thông hơi duy nhất trong container đã bị đóng vào khoảng 19h khi nó chờ ở cảng của Bỉ để được đưa lên phà.
Wacker, từ Rotterdam, và Ying Guo, từ Walthamstow, phía đông London, người được cho là trung gian cho băng đảng buôn người ở Anh, cũng phủ nhận âm mưu đưa người nhập cư bất hợp pháp vào Anh.
Guang và Su di Ke, 20 tuổi, là hai người duy nhất sống sót trong container đông lạnh khi các nhân viên hải quan mở nó tại Dover để kiểm tra cà chua bên trong.
"Sau hai hoặc ba giờ trên phà, mọi người bắt đầu hoảng loạn, chúng tôi không thể nhìn thấy gì. Lỗ thông hơi bị bịt và không có không khí. Tôi bắt đầu khó thở. Tôi muốn hít thở không khí nên tôi đã đến gần chỗ cà chua", Ke nói.
Ke cho biết mọi người đã xé các tấm lưới gỗ được dựng lên phía sau thùng để đựng các hộp cà chua nhưng thực chất là để ngụy trang cho người nhập cư.
"Mọi người bỏ cà chua ra, tìm cách mở cửa", Ke nói. Sau đó, anh bất tỉnh và rồi tỉnh dậy ở cảng Dover. Ke cho biết gia đình anh ở một làng quê tại Trung Quốc đã phải trả cho các băng đảng buôn người khoản tiền đặt cọc 800 bảng Anh (khoảng 1.000 USD) và hứa sẽ trả thêm 18.000 bảng (hơn 23.000 USD) khi anh đến Anh an toàn.

Hành trình gian nan từ Bắc Kinh tới Anh

Cả hai người sống sót đã được cảnh sát Kent bảo vệ kể từ khi các thi thể được phát hiện. Ke nói rằng Jack Straw, bộ trưởng Nội vụ, đã cho phép anh ở lại Anh trong bốn năm. Ke cho biết anh đã di chuyển cùng người của băng đảng bằng đường hàng không từ Bắc Kinh đến Belgrade.
Sau đó, anh đã đi bộ, lên máy bay và di chuyển bằng tàu cùng khoảng 15 người khác đến khi tới Rotterdam. Hộ chiếu Trung Quốc của anh đã bị băng đảng giữ lại tại Yugoslavia và anh đã được cấp hộ chiếu Hàn Quốc giả mạo.
Loi ke cua nguoi song sot vu 58 tu thi TQ trong xe ca chua hinh anh 2
Các điều tra viên tại hiện trường nơi 39 thi thể được tìm thấy trong container đông lạnh hôm 23/10. Ảnh: AFP/Getty.
60 người được đưa đến một nhà kho và nhét vào container với 4 thùng nước uống. Cả hai người sống sót cho biết họ được cung cấp tên và số điện thoại di động của Guo trên một tờ giấy có hướng dẫn gọi cho cô nếu họ bị bắt ở Anh.
Tài xế Perry Wacker, đến từ Rotterdam, bị kết án 14 năm tù tại Tòa án Maidstone Crown vì tham gia hoạt động buôn người do băng đảng Trung Quốc điều phối.
Tại phiên tòa, anh ta khai đã đóng lỗ thông hơi duy nhất của container.
Chín thành viên của băng đảng sau đó đã bị bỏ tù vì góp phần vào thảm kịch.
56 người đàn ông và 4 phụ nữ khởi hành từ Trung Quốc vài tuần trước khi xe tải vào Anh, mỗi người phải trả 25.000 USD cho băng đảng buôn người Trung Quốc.
Mỗi người được cấp một mã số và bắt đầu hành trình bằng cách bay tới Belgrade bằng giấy tờ hợp pháp của Trung Quốc.
Tại Belgrade, họ được đưa đến một ngôi nhà an toàn, được cấp hộ chiếu châu Á giả trước khi được đưa vào Hungary và buôn lậu qua Áo, Pháp và tới Hà Lan, nơi họ lại được đưa đến một ngôi nhà an toàn.
Ở Rotterdam, họ bị nhồi nhét vào một chiếc xe tải đầy cà chua và trải qua đoạn cuối của hành trình đầy gian nan.
Khi họ rời thành phố Rotterdam của Hà Lan, lỗ thông hơi đã bị bịt kín.
Lỗ thông hơi đã được Wacker đóng lại trước khi anh rời Bỉ để tránh những người di cư bị phát hiện.
Họ bị mắc kẹt trong thùng kín ngột ngạt trong hơn chín giờ vào một trong những ngày nóng nhất trong năm.
Tuyết Mai / Zing

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VẤN ĐỀ LÀ LÒNG TIN CỦA DÂN




(Ý kiến của ông Vũ Ngọc Hoàng)
Có ý kiến còn nói đi với Tàu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất chế độ, cả hai ông này đều nguy hiểm, không thể chơi thân với ai được. Ý kiến này thuộc loại không tin ai cả, cảnh giác tất cả. Về thực chất thì đó cũng là một cách suy nghĩ theo lối thụ động, không tin vào chính mình. Sao lại nghĩ sẽ mất cái này hoặc cái kia nếu đi với ông này hoặc ông kia. Mất cái này hay cái kia thì chính là TẠI MÌNH, DO MÌNH chứ đừng đổ lỗi cho ai. Biết DỰA VÀO DÂN, TÔN TRỌNG VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ, không tham nhũng, được nhân dân tin tưởng thì nước không mất và chế độ cũng vậy. Không lắng nghe nhân dân, không theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân, mất dân chủ, để cho lòng dân ly tán thì nước sẽ mất và chế độ cũng sẽ không còn. Mà việc gắn bó máu thịt hay không gắn bó với nhân dân là do ta chứ không phải do Tàu hay do Mỹ, đừng đổ lỗi cho bất kỳ ai.
Giữa Tổ Quốc và chế độ thì TỔ QUỐC ĐƯƠNG NHIÊN LÀ TRÊN HẾT. Chế độ chân chính nào cũng phải phục vụ cho Tổ Quốc chứ không phải ngược lại. Đồng thời, CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ lúc nào cũng là một vấn đề đại sự. Một chế độ tốt được nhân dân ủng hộ sẽ giữ nước được lâu bền, một chế không tốt làm cho nhân dân ly tán và oán giận sẽ dẫn đến mất nước. Cần phải xây dựng một chế độ tốt cũng là kế sách để giữ nước lâu bền. Thế giới đã có những thay đổi lớn. Tàu hay Mỹ bây giờ cũng đều khác xưa. Tàu ngày xưa đã có lúc giúp ta (dù với động cơ này hay động cơ khác). Tàu bây giờ đang quyết liệt chiếm biển của ta. Mỹ ngày trước coi Đảng Cộng Sản Việt Nam là đối thủ. Mỹ bây giờ coi Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền là đối tác, Tổng thống Mỹ đã mời Tổng Bí thư Việt Nam sang Nhà Trắng ở Waishington để bàn chương trình hợp tác lâu dài.
Còn nói mất chế độ là chế độ gì? Nếu phong kiến thì mất càng tốt chứ sao. Nếu tư bản hoang dã thì cũng cần phải bỏ đi. Thế giới văn minh đã từ bỏ phong kiến và tư bản hoang dã. Còn chế độ XHCN thì chưa có (mà còn lâu lắm cũng không biết lúc nào mới có - như một vị lãnh đạo nước ta đã nói). CNTB hiện đại cũng chưa có.
Vậy sợ mất chế độ nói ở đây thực chất là mất cái gì? Chắc người ta muốn nói đến chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam đang lãnh đạo, nói cách khác là SỢ MẤT VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VN. Việc ấy thì chẳng ai có thể vào đây mà đánh mất được, chỉ trừ khi Đảng tự mình đánh mất. Mất còn ở đây PHỤ THUỘC VÀO LÒNG TIN CỦA NHÂN DÂN. Mà lòng tin của nhân dân thì lại do sự trong sạch, chân chính và năng lực lãnh đạo của Đảng tạo nên, hoặc có hoặc không, hoặc còn hoặc mất. Muốn giữ thì cần phải giữ cái điều cốt lõi ấy chứ không phải đi giữ cái khác mà được đâu.
NẾU KHÔNG GIỮ ĐƯỢC LÒNG TIN CỦA NHÂN DÂN THÌ KHÔNG CÓ TÀU, KHÔNG CÓ MỸ CŨNG SẼ THẤT BẠI.
(Tranh minh họa: Đại Kỷ Nguyên VN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2019

HỒ DZẾNH




Nhà văn Thanh Châu có một giang sơn riêng – một gác xép bằng gỗ ghép giống hệt gác xép của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái”, mà chúng tôi gọi đùa là “ông Giê Su ở phố Hàng Thuốc Bắc”..
Một thời nhiều nhà có thứ gác xép như thế. Nó tăng diện tích ở không nhiều, nhưng tạo ra một mảng riêng tư. Gác xép của Thanh Châu được dành riêng cho ông làm việc và tiếp bạn, người nhà không hề lai vãng. Để lên cái gác xép ấy tôi phải leo một cái thang dựng ngược, bám cứng vào hai thành lung lay của nó mà từng bước nhích lên rồi mới chui qua một lỗ vuông hẹp.
Từ khi nhà nước cách mạng về tiếp quản Hà Nội, Thanh Châu biến mất khỏi văn đàn. Đề tài, bút pháp thuộc dòng lãng mạn nay đã không hợp thời, lại còn nguy hiểm. Nó bị coi là nọc độc. Tác giả Tà Áo Lụa, Bóng Người Ngày Xưa… giờ đây ngồi lặng lẽ nơi mảnh đất tự tạo bên cái bàn trà nhỏ đã lên màu cánh gián và bộ ấm chén gan gà tí tẹo.
Người thường xuyên có mặt trên gác xép của Thanh Châu là Kim Lân, cây bút số một về chuyện nhà quê. Người thứ hai là Bùi Xuân Phái. Gày còm, xanh xao, với gương mặt rất giống Chúa Cứu Thế, tự xưng “nhát gan bậc nhất Hà Thành”, hễ gặp quá ba khách đến trước là anh lịch sự bắt tay mỗi người một cái rồi ù té.
Từ cái lỗ vuông ấy, vào một ngày không còn nhớ, nhô lên một mái đầu chải ngược, đường ngôi rõ ràng, một khuôn mặt xạm đen với nụ cười phô những cái răng dài.
- Hồ Dzếnh đấy! - Thanh Châu nói khẽ với tôi.
Tôi không quên được hình ảnh ấy – nó gắn chết vào trí nhớ.
Con người lộc ngộc, xương to, thịt ít, ngồi xuống bên tôi:
- Vũ Thư Hiên?
Thanh Châu gật.
Chắc hẳn Thanh Châu, hoặc Kim Lân đã nhắc đến tên tôi nhân đụng tới thế sự văn chương. Và còn một lẽ nữa - trong các khách của Thanh Châu tôi ít tuổi nhất.
Chả là hồi ấy dư luận đang ồn lên với bài “Giương cao ngọn cờ tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ” của Tố Hữu. Nó hứa hẹn một trận đánh, rất có thể sẽ là một vụ "Nhân Văn - Giai Phẩm" thứ hai, Tôi được nêu tên cùng với truyện ngắn Đêm Mất Ngủ. Cùng với tôi còn có Nguyên Ngọc và Ngô Ngọc Bội. Là may. Chứ một mình thì nguy to.
Lời phê phán của nhà thơ lãnh tụ lần này không gây ra đám cháy lớn. Tuy nhiên, sau bài báo đó các ông tổng biên tập, các thư ký toà soạn liền cầm kính lúp soi từng chữ trong mỗi vần thơ, mỗi câu văn. Mấy truyện ngắn hiền lành của tôi gửi đến đều bị trả lại. Hỏi vì sao thì các vị cầm trịch nhe răng cười.
Trong hoạ có phúc. Tôi không được in thì lại được được tiếp chuyện các bậc đàn anh nhiều hơn.
Kim Lân phát mạnh vào vai tôi: “Mặc mẹ nó! Được Tố Hữu đập, coi như “lúy” công nhận ông có chiếu trong làng văn. Hay chứ không dở”. Nói thế, Kim Lân phải tin tôi lắm. Câu ấy mà đến tai Tố Hữu thì lôi thôi to. Được Kim Lân tin, tôi sướng âm ỉ.
Hiền lành một cục, thận trọng cũng một cục, thế mà rồi có lúc anh cũng bị nện cho một trận với truyện ngắn “Con chó xấu xí”. Người ta nói tác giả ví văn nghệ sĩ trung thành với đảng như con chó ghẻ xấu xí nọ, nó gắng sức giữ nhà cho chủ, thế mà vừa trơn lông đỏ da là chủ vật ra làm thịt. Một truyện ngắn hay, giọng văn mộc mạc, khó có thể tìm được một câu được hiểu là móc máy. Kim Lân cười buồn: “Cái bọn phê bình có cần chó gì nghệ thuật. Nghề của bọn ấy là bới. Cứ thằng nào viết văn không nổi là y như rằng nó quay ra làm phê bình”. Nguyễn Tuân trăn trối trước: “Này, đừng có chôn tôi bên cạnh một thằng phê bình đấy nhá!”.
Nói cho công bằng, những nhà phê bình đôi khi cũng có ích ra phết. Không có họ độc giả không hiểu hết ý của tác giả, họ vạch ra mới thấy. Không kể những trường hợp các phê bình gia bịa ra những cái tác giả không chủ tâm. Như Văn Ngan Tướng Công của Vũ Tú Nam chẳng hạn.
Hồ Dzếnh nắm chặt tay tôi, bóp bóp vài cái. Ấy là anh khen đấy, Thanh Châu giải thích. Anh ý nhị nhìn tôi, cười tủm tỉm. Sau mới biết Hồ Dzếnh ít khi tỏ thái độ khen chê. Anh là người kín kẽ. Thanh Châu nói về Hồ Dzếnh: “Của hiếm trong văn học. Bút pháp của ông ấy tôi muốn học cũng không được – là văn đấy, mà cũng là thơ đấy”.
Không nổi tiếng như Nguyễn Tuân, nhưng Thanh Châu vẫn cứ là một bô lão trong nghề, được nhiều cây bút trẻ trọng vọng. Họ đến với anh, thành kính như vụng trộm hành hương về một quá khứ đã bị chôn.
Thanh Châu bỏ bút đã đành, nhưng Kim Lân, trẻ hơn Thanh Châu cả chục tuổi, hoạ hoằn mới cho ra một truyện ngắn. Vì “ngứa nghề” (chữ của Kim Lân), chứ không phải vì nhuận bút. Nhuận bút bấy giờ còm cõi lắm. Đã thế lại chỉ có vài tờ báo nhận đăng thơ, hoặc truyện ngắn. Người muốn trở thành nhà thơ, nhà văn lại quá nhiều. Thiên hạ muốn cái tiếng cái danh, chứ nhuận bút họ không màng. Ấy là chưa kể họ còn phải nghiến răng móc túi cho những bữa chiêu đãi các vị chức sắc ở các thứ toà soạn
Trong số khách văn của Thanh Châu, Hồ Dzếnh là một nhân vật đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ anh lặng lẽ đến, lặng lẽ leo lên, rồi trầm ngâm nhấm nháp trà quạu, không nói không rằng. Lối viết của anh, chẳng khác gì của Thanh Châu, đã không còn đắc dụng. Viết văn giờ là công tác phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, là trách nhiệm và sự nghiệp của nhà văn. Viết cái gì, viết thế nào, đã có đảng cầm tay chỉ việc. Mặc dầu không dính dáng gì với đám phản động "Nhân Văn - Giai Phẩm", nhưng anh vẫn bị người ta nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ - bọn văn nghệ sĩ cũ không thể tin – lũ ấy kém mười lăm phút đầy phản động. Để yên thân, thỉnh thoảng anh cũng có một bài thơ nhạt nhẽo trên tờ Lao Động. Anh không bao giờ nhắc đến chúng.
Tôi đọc Hồ Dzếnh rất sớm, lúc mới lên mười. Cha tôi thường mang về cho tôi những cuốn Sách Hồng cho trẻ con, mỗi cuốn là một chuyện cổ tích. Chúng được kể với giọng dí dỏm, dễ hiểu, lôi cuốn. Lại có cả một cuốn sách thơ cho trẻ con, không nhớ là của ai, trong đó có hai câu còn đọng lại lâu trong trí nhớ:
Hôm qua trời đổ mưa rào,
Mặt trời sợ ướt lẩn vào đám mây.
Cuốn sách đầu tiên, đích thực sách, mà tôi được đọc, là Chân Trời Cũ.
Một ngày, mẹ tôi mua Chân Trời Cũ về. Bà đọc chăm chú, có lúc thừ người ra, lấy tay dụi mắt – bà khóc thầm.
Chờ cho mẹ đọc xong, quên nó rồi, đi vắng rồi, tôi mới dám lấy nó ra từ trong giỏ kim chỉ của bà. Lệ trong nhà là thế, trẻ con không được đọc sách người lớn.
Tôi không biết nói về cảm giác của tôi là thế nào khi đọc Chân Trời Cũ. Một nỗi xúc động bất ngờ trong tâm hồn trẻ thơ chăng? Có thể không phải thế, hoặc không rõ ràng là thế. Những câu chuyện bình dị về những kiếp người, được viết bằng thứ tiếng Việt chân chất, không uốn éo, không màu mè, gợi nhớ những gì tôi đã biết, đã thấy trong cuộc sống bé bỏng của mình. Chúng để lại trong tôi ấn tượng mạnh chưa từng có.
- Anh là người thày đầu tiên dạy tôi yêu văn – tôi nói với Hồ Dzếnh - Còn hơn thế, anh làm cho tôi hiểu tiếng Việt của ta đẹp đến là nhường nào.
Nghe tôi, Hồ Dzếnh cười bẽn lẽn. Tôi dùng đúng chữ phải dùng – anh bẽn lẽn thật sự. Mặt anh đỏ lên, mắt anh chớp chớp, anh lúng túng trước lời khen. Những con người lớn thật sự bao giờ cũng mang trong mình một đứa trẻ.
- Anh hiểu tôi rồi đấy – anh khẽ nói với tôi, như nói một mình – Tình yêu đối với văn chương không bắt đầu bằng cái gì khác ngoài tình yêu ngôn ngữ. Chuyện để kể thì ai mà chẳng có. Nhưng để viết nó ra, cho nó có hình hài, cho nó sống dậy, cho nó đi lại, trò chuyện được với mọi người thì ngôn ngữ là cái quan trọng hàng đầu. Và duy nhất. Nó quyến rũ mình, nó hút hồn mình, nó rủ rê mình, và sau hết, xúi giục mình cầm lấy cây bút.
Tôi được nghe lời tâm sự này vào một đêm khuya ở ngôi nhà nhỏ của anh, số 80 Hòa Mã, khi Hà Nội đã ngủ yên.
- Tiếng Việt là âm nhạc, anh ạ. Thoạt kỳ thuỷ, những câu văn xuất hiện như một dòng nhạc. Nó ngân nga mãi trong đầu trước khi mình cả gan đặt bút lên trang giấy trắng những chữ đầu tiên. Nó là một cái gì đó mơ hồ, ta chưa thể hình dung, một cái gì rất mơ hồ, như mây như gió, ta không nắm bắt được nó, không làm chủ được nó, không sai khiến được nó, cái ấy cứ cục cựa không thôi ở trong đầu, đòi được thoát ra. Ta như bị bức bách phải cho nó đi xuống trang giấy, thành một vần thơ, hoặc một câu văn. Sau đó thì vần thơ ấy, câu văn ấy, sẽ tự kéo theo nó những chữ khác, những câu khác. Và cứ thế, một bài thơ, hay một truyện ngắn ra đời.
Tôi trích ở đây một đoạn trong Chân Trời Cũ tả người khách tha hương ngồi bên bến đò vắng tanh vắng ngắt trong chiều tà. Giở nắm cơm ra nhai trệu trạo, đoạn đứng lên bắc loa miệng gọi đò: “Tồ ui!” Trời đã ngả màu tím. Khách không tin còn đò. Nhưng rồi con đò ở bờ bên kia cũng rời bến sang với khách. Đêm ấy khách được ngủ đỗ trong nhà cô lái đò tốt bụng.
“Mấy tiếng tù và khuya rúc lên, bay vào gian nhà vắng. Lắng biết mọi người đã ngủ yên cả, vị thần tử của giang sơn Trung Hoa vắt chân chữ ngũ, khe khẽ ngâm một bài thơ cổ, qua nỗi xúc động đột nhiên tụ lại trong người:
Uỵt loọc, vú thày sướng mủn thín,
Coóng phống, dì phố, tui sàu mìn,
Cú chấu sèng ngồi Hồn Sán sì.
Dề pun, chống séng tâu hác sin.
(Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên,
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán, chung thanh đáo khách thuyền)
Ngay lúc ấy, từ gian buồng bên, nổi lên mấy tiếng gì như chuột rúc. Lữ khách, thấy đứt mạch cảm hứng, càu nhàu trong bóng tối:
- Ấy dà! Cẩm tố xỉ a! (Chà! Lắm chuột thế!)
Nhưng đó không phải tiếng chuột rúc. Đó là tiếng người con gái chở đò ban tối cười qua hai làn môi khép kín.
Cuốn Chân Trời Cũ văn gồm nhiều truyện ngắn, theo ghi chú của tác giả thì nó được viết vào tháng Giêng năm 1940, xuất bản lần đầu năm 1942. Nó được tái bản nhiều lần về sau này. Tôi rất nhớ hai câu kết của truyện ngắn Ngày Gặp Gỡ:
“Người khách sang sông chiều muộn ấy về sau này là cha tôi. Và cô lái đò, là mẹ tôi“.
Không hiểu sao mà câu sau cùng này lại biến mất trong lần tái bản sau cùng. Mà tôi cho rằng đó là câu khép chuyện hay nhất. Nó mới giản dị làm sao! Mới đẹp làm sao!
Tôi có lần viết ở đâu đó: “Tôi có hai người thầy: Hồ Dzếnh chỉ cho tôi thấy cái đẹp trong ngôn ngữ giản dị; Nguyễn Tuân, ngược lại, dạy tôi cách sử dụng những từ cầu kỳ đúng chỗ để tăng sức mạnh của câu văn. Cả hai cho tôi hiểu tiếng Việt là âm nhạc, đích thực là âm nhạc, với những tiết tấu riêng, với sự xen kẽ của những toàn hài và cung chướng để đưa người đọc đi xa hơn, cùng với liên tưởng bất giác để bay xa, vượt lên trên những con chữ”.
Hồi ấy, còn nhỏ, tôi chưa gặp thơ Hồ Dzếnh. Lớn lên, đọc anh tôi mới hiểu ra tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ theo nghĩa đen, đã ảnh hưởng tới anh mạnh đến thế nào.
Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca ánh sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương.
Một khúc khác:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,
Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần...
Tôi nói khẽ, gớm, làm sao nhớ thế!
...
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi sẽ trách - cố nhiên! - nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề,
Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dỏ.
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau ... lơ lửng ... với nghìn xưa....
Trời không nắng cũng không mưa,
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung.
Chiều buồn như mối sầu chung
Lòng im nghe thoảng tơ trùng chốn xa
Ðâu hình tầu chậm quên ga
Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày
Hay bài thơ Chiều đã được Dương Thiệu Tước phổ nhạc mà nhiều người thuộc nhưng không biết, hay quên, là những vần thơ của Hồ Dzếnh:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây ...
Tôi không rành lý luận văn học. Tôi cũng không có ý định nghiên cứu về văn Hồ Dzếnh. Cái đó không phải việc của tôi – tôi không có cả tài năng lẫn hứng thú. Tôi có đọc một số bài nghiên cứu về Hồ Dzếnh. Trong những bài này có khá đủ dữ kiện để người đọc biết về Hồ Dzếnh với tư cách một văn tài. Nhưng tôi còn muốn nhiều hơn – một chân dung Hồ Dzếnh, con người và cuộc đời.
Sau khi được làm quen với Hồ Dzếnh, tôi tìm đọc lại vài tác phẩm của anh. Ngôn ngữ trong những tác phẩm ấy tất nhiên khác với ngôn ngữ hiện đại. Nhưng nó không lỗi thời. Cái đẹp vẫn còn đó nhờ sức mạnh của ngôn từ giản dị.
Năm 1986 Hồ Dzếnh vào Sài Gòn. Lần gặp gỡ này tôi được gần anh nhiều hơn những buổi tối ngắn ngủi ở ngôi nhà phố Hòa Mã. Ngắn ngủi là vì muốn nghe chuyện anh lắm tôi cũng không thể ngồi quá khuya, khi chị bắt đầu đi ra đi vào, có ý nhắc đã đến giờ anh đi ngủ.
Ở Sài Gòn hôm nào anh cũng đến rủ tôi đi ăn sáng. Bắt đầu bằng một bát phở ở một quán theo anh là rất tuyệt ở chân cầu chữ Y, đoạn đi tiếp, uống cà phê ở một quán khác, gần nhà hàng Bát Đạt trên đường Trần Hưng Đạo, nó cũng tuyệt không kém. Một người bạn sành ăn sành uống đã cho anh lời khuyên, nó được anh nắn nót ghi vào mảnh giấy nhét trong túi ngực.
Tôi chở anh đi bằng xe Honda 67. Chúng tôi phóng vèo vèo trên phố xá. Ngồi sau, anh ôm cứng tôi, luôn cục cựa, hết quay phải lại quay trái. Không biết trong những chuyến cưỡi ngựa xem hoa ngày ấy có làm anh nhớ đến Cô Gái Bình Xuyên năm 1945 hay không. Nó là tác phẩm lần đầu và cũng là lần duy nhất Hồ Dzếnh rời miền ký ức thân quen để bay lên những tầng trời tưởng tượng. Một thư sinh Bắc Kỳ lạc bước vào Hòn Ngọc Viễn Đông gặp một nữ tướng cướp. Chàng yêu nàng. Nàng yêu chàng. Một hôm nàng đi cướp, bị bắn. Xót nàng, băng bó cho nàng xong chàng mới ôm nàng trong lòng, mới thủ thỉ bảo nàng hãy ở nhà, chàng sẽ đi làm công việc nguy hiểm ấy thay nàng. Nữ tướng cướp nghe chàng, cười rũ. Nàng ép đầu chàng vào ngực mà bảo: công việc ấy không phải của anh mà, anh hãy cầm số tiền này rồi về Bắc đi. Nơi này, việc này không phải dành cho anh.
- Tôi không giàu tưởng tượng – nhắc đến Cô Gái Bình Xuyên, anh cười mình – Cái gì dính với tôi, với những kỷ niệm trong đầu thì tôi viết được, hễ bịa là y như rằng hỏng, anh ạ.
- Ờ, Cô Gái Bình Xuyên không quá tồi, nhưng với anh, tôi nghĩ nó là một thất bại.
Tôi nói toạc, không sợ anh giận. Chúng tôi quen nói với nhau thật thà, không kiêng nể.
- Nghề của ta thế đấy. Cái mình viết đã thả ra là không cách nào đuổi theo để bắt nó về. Vì vậy mà viết xong tôi thường để đấy rất lâu rồi mới cho in.
- Nghĩa là anh còn nhiều bản thảo đắp chiếu?
Hồ Dzếnh cười, tránh câu trả lời.
Hồ Dzếnh viết thận trọng. Nhưng chỉ chừng ấy tác phẩm đã được anh thả ra cũng đủ làm phong phú thêm nền văn học mà ta quen gọi là tiền chiến. Những gì anh viết còn cho ta thấy được một hiện tượng khác - ấy là một người nước ngoài hoàn toàn có thể sáng tác bằng tiếng Việt không khác gì người Việt.
Nghe nói người Hoa khuyến khích con trai Hoa lấy vợ Việt nhưng ngăn cấm con gái Hoa lấy chồng Việt. Chuyện này có thật - người ta làm thế là để bảo vệ nòi giống, và cả mở rộng nòi giống nữa. Chẳng thế mà những người Tàu tha hương giữ gìn tiếng Hoa lắm lắm, cho dù có lưu lạc đến tận đẩu tận đâu trên địa cầu. Hơn bất cứ cộng đồng di dân nào, người Hoa coi mất ngôn ngữ là mất gốc. Tiếng bản địa đối với họ vĩnh viễn là ngôn ngữ thứ hai, chỉ đủ dùng trong giao tiếp là được, không cần hơn. Thời tôi, nhiều người Hoa thuộc thế hệ thứ ba thứ tư vẫn không nói sõi tiếng nơi mình sinh sống. Trường hợp Hồ Dzếnh là hãn hữu. Mặc dầu theo phong tục của người Hoa, anh ắt phải học và rành tiếng Hoa hơn tiếng Việt. Anh sáng tác được bằng tiếng Việt ắt hẳn do anh có mẹ người Việt, và tiếng mẹ đẻ của anh đã chiếm lĩnh toàn bộ tâm hồn anh.
Cuộc gặp gỡ nhiều ngày với Hồ Dzếnh ở Sài Gòn cho tôi hiểu anh thêm. Chúng tôi có đủ thời gian cho những chuyện tâm tình.
Cũng trong cuộc gặp gỡ này tôi mới biết trong sâu thẳm tâm hồn, Hồ Dzếnh có một vết thương khó lành và không đáng có. Dù anh đã có một chỗ đứng trong văn đàn Việt Nam, anh vẫn luôn cảm thấy có sự phân biệt: anh là nhà văn, nhưng là nhà văn người Tàu, hoặc tử tế hơn: nhà văn gốc Hoa.
Mặc dầu người Hoa đến Việt Nam đã ăn đời ở kiếp trên đất này, đã chôn nhiều thế hệ cha ông ở đây, đã được người bản địa hiền hoà mở rộng vòng tay đón nhận, coi như người trong gia đình lớn các tộc người cùng sống chung với nhau trên một mảnh đất, nhưng đã xảy ra không ít cảnh đau lòng.
Sử sách còn ghi trận quân Tây Sơn tàn sát một vạn sinh linh người Hoa ở cù lao Phố vào thế kỷ 18. Trong cơn thịnh nộ: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó ngựa xe tan tác/ Đánh cho nó mảnh giáp không còn/ Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ”, đến đàn bà trẻ con người Hoa cũng không thoát khỏi ngọn giáo lưỡi gươm thù hận.
Theo thống kê không mấy chính xác, năm 1978 và đầu năm 1979 đã có hai vạn rưởi người Hoa vượt biên giới phía bắc để trở về Trung Quốc. Nhà nước Trung Hoa đỏ đặt tên cho nó là “nạn kiều”. Tất cả bắt đầu bằng một tờ truyền đơn giả mạo tựa hồ của chính quyền Trung Quốc kêu gọi người Hoa mau mau trở về tổ quốc để tránh một cuộc “tắm máu” sắp xảy tới. Tờ truyền đơn do một tên vô danh tiểu tốt ở Quảng Ninh học tiếng Trung ở Nam Ninh (Trung Quốc) thảo ra, dưới sự khuyến khích của tên quan thầy nắm công tác tổ chức ở trung ương. Tác giả tờ truyền đơn về sau leo lên một trong những chức vị cao nhất trong hệ thống nhà nước. Công lao được ghi nhận của y là đã xua đuổi được hàng vạn người Hoa ra khỏi Việt Nam mà không tốn một viên đạn. Tôi không viết tên chúng ra đây – chúng không đáng được nhắc đến.
Thế là những con người, chứ không phải những con vật, đã ăn đời ở kiếp trên đất nước ta bồng bế nhau, dắt díu nhau, bỏ ruộng, bỏ vườn, bỏ nhà cửa, bỏ mồ mả cha ông chạy về cái đất nước mà tổ tiên họ đã bỏ đi để tới đất này. Ở mảnh đất bỏ đi ấy, những địa danh chỉ được mơ hồ biết đến, được nhớ tới, trong những truyền thuyết và những chuyện kể về đêm của những ông già bà cả. Giờ đây họ mếu máo chạy về một chân trời xám xịt đầy một màu máu của đủ thứ cách mạng long trời lở đất, hết cái này đến cái khác, mà họ được nghe từ những đồng bào sống sót trốn qua biên giới.
Tổng số người Hoa rời khỏi Việt Nam từ Bắc chí Nam trong thời kỳ này lên tới gần một triệu trong số gần hai triệu người Hoa sinh sống ở Việt Nam, theo một con số thống kê.
Kim Lân, theo tôi quan sát, là bạn thân nhất của Hồ Dzếnh. Nhưng hình như có những tâm sự chua xót Hồ Dzếnh chưa hề nói với bạn. Không phải anh có điều gì phải giấu giếm. Chỉ là anh không muốn nói, không muốn kể, những chuyện đau lòng.
Tôi may mắn hơn. Tôi được nghe anh kể những gì đã xảy ra với anh trong năm 1978:
“Tờ truyền đơn ấy có tác động kinh khủng. Người ta tin nó là thật. Họ chép lại, trao tay nhau, rồi lời đồn loang xa. Thế là người Hoa ùn ùn kéo đi. Có gì trong nhà mang ra bán cho bằng hết, bán rẻ như cho, lùng sục mua vàng. Nhẫn một chỉ, nửa chỉ, vài đồng cân, mua hết, không cân kẹo, không phân biệt thật giả, dắt tất tật vào lưng quần. Lưng đeo ba lô, vai khoác tay nải, họ dắt díu nhau lên đường. Nước mắt lưng tròng, họ hối hả đi, thất thểu đi. Thảm lắm, Tội nghiệp nhất là những gia đình Hoa Việt - chồng đi, vợ ở lại, vợ đi, chồng ở lại. Những đứa con mếu máo chia tay nhau, đứa đi đứa ở, xảy đàn tan nghé. Tôi có anh bạn bác sĩ đông y người Hoa, vợ Việt, hai đứa con, một trai một gái. Anh chồng mang theo con trai, vợ ở lại với con gái. Bao nhiêu là nước mắt. Chia tay họ, tôi khóc ròng”.
- Còn anh thì sao? – tôi hỏi.
- Tôi không đi.
- Tất nhiên, anh còn đang ngồi đây với tôi mà.
Hồ Dzếnh thở dài:
- Tôi không thể đi. Nơi này là quê hương tôi, là đất nước tôi, là tình yêu của tôi. Tôi không thể bỏ.
- Những người ra đi không lôi kéo anh?
- Có chứ. Người ta đến nhà rủ tôi đi cùng. Hằng ngày. Người ta thương tôi, lo sợ cho tôi.
- Còn chính quyền?
- Chính quyền?
- Người ta có làm khó anh nhiều không?
- Có đấy. Họ đến nhà, giục gia đình tôi đi. Không phải một lần. Tôi lánh mặt. Họ hỏi vợ tôi: “Bao giờ ông bà mới chịu đi?”
- Chị trả lời thế nào?
- Nhà tôi bảo: “Tôi không biết. Thuyền theo lái, gái theo chồng, câu ấy chẳng lẽ các ông không biết. Trong nhà ông nhà tôi là người quyết định, không phải tôi. Các ông đi mà hỏi ông ấy!”
- Ông ấy không chịu giáp mặt chúng tôi. Chúng tôi biết – ông ấy đang ở trong nhà.
- Ông ấy đi từ sớm, lúc tôi còn ngủ. Thức dậy đã không thấy ông ấy đâu. Chắc ông ấy không ngủ được, dậy xong là đi. Các ông thử tìm ở mấy quán cà phê xem có ông ấy có đấy không?
“ Rồi họ cũng tóm được tôi – anh tiếp – Bảo tôi đi theo. Đi thì đi. Ngồi lên command-car, hai người của chính quyền ngồi hai bên. Như sợ tôi chạy. Công an, tôi nghĩ. Họ đưa mình đi đâu đây? Xe rẽ vào Hỏa Lò, anh ạ. Cái Maison Centrale này người Hà Nội có ai không biết. Tôi tự hỏi: “Mình làm gì mà họ bắt cơ chứ”? Xe đỗ lại trong một cái sân rộng.
Tôi hình dung cái sân Hỏa Lò sạch bong với mấy dàn nho queo quắt. Tôi đã đứng đây khi đi thăm cha tôi bị giam vào thời thuộc Pháp. Tôi cũng đã đứng đây chờ được đưa vào xà lim, thời cách mạng.
“Theo chân họ, tôi bước vào một căn phòng trống huếch trống hoác, ở tường hậu có một cái bàn giấy. Lấy thêm ghế, phân ngôi chủ khách. Chủ ngồi trong. Tôi ngồi ngoài. Mời uống trà. Thuốc lá sang, Thăng Long bao bạc hẳn hoi. Chuyện trên trời dưới đất. Sau hết, mới vào đề:
- Anh nhất định không chịu ?
- Tại sao tôi lại phải đi?
- Người Hoa đi cả, anh ở lại làm gì?
- Nhà tôi ở đây, vợ con tôi ở đây, đi đâu? Việc gì tôi phải đi? tôi nói.
Họ nhìn nhau, cười. Cứ như họ nghe một câu trả lời ngớ ngẩn của người điên. Tôi bặm môi lại, không nói thêm câu nào nữa. Nói làm gì? Có nói họ cũng chẳng hiểu. Với họ, tâm hồn con người là thứ vớ vẩn, họ không thể hiểu, không thèm hiểu. Rồi họ đứng lên, ra hiệu cho tôi đi theo”.
Anh im lặng, nhớ lại.
- Họ đưa anh đi đâu?
“Qua một cửa lớn làm bằng nhiều song sắt. Rồi một cửa nhỏ, cũng bằng song sắt. Nó dẫn vào một hành lang mờ mờ tối, hai bên là những cánh cửa sơn xám có then cài với những cái khóa bằng đồng”.
Tôi thảng thốt:
- Đó là khu xà lim 1. Tôi từng ở đấy. Họ giam anh?
Hồ Dzếnh trầm ngâm. Rồi cười buồn:
“Lúc ấy tôi cũng nghĩ thế - mình sẽ bị giam ở đây. Nhưng không, họ không giam tôi.
Một anh có vẻ là cấp trên trong hai người mở nắp cái ô nhỏ bên trên cánh cửa, kiễng chân nhòm vào, rồi ra hiệu cho tôi nhòm theo. Cái lỗ quan sát ấy tôi biết qua sách. Người Pháp gọi nó là le judas. Tôi không phải kiễng chân, tôi cao hơn anh ta, Nhòm vào, tôi giật bắn mình - bên trong là một cái xác trần truồng, gày đét. Nghe động, cái xác hé mắt. Hoá ra là một người sống. Tất nhiên, anh ta không nhìn thấy tôi, cái lỗ ấy chỉ cho anh ta thấy hai con mắt. May, không phải một người quen. Tiếp theo, họ mở thêm vài cái ô như thế nữa, vẫy tôi lại, nhưng tôi lắc”
– Rồi sao?
“Họ đưa tôi về nhà, cũng trên chiếc command-car ấy. Trên xe, chúng tôi không ai nói với ai câu nào. Chỉ khi mở cửa xe cho tôi xuống, người công an cấp trên mới đặt tay lên vai tôi: “Anh thấy rồi đấy – anh muốn về Tàu hay muốn ở lại trong cái chỗ anh vừa thấy?”
Câu chuyện Hồ Dzếnh kể làm tôi bàng hoàng.
Lại thêm một cái không thể ngờ có thể xảy ra trong cuộc cách mạng mà tôi đi theo từ thuở thiếu thời. Những người mà tôi từng gọi là đồng chí bên trong cái vỏ bọc cách mạng đã hành xử tàn nhẫn đến thế đấy, với một nhà văn không hề chống lại họ.
Đoạn hồi ức này không có tham vọng nào hơn là thêm vài chuyện vặt vào những gì nhiều người đã viết về Hồ Dzếnh.
Lần gặp anh ở Sài Gòn là lần cuối. Sau đó chúng tôi cũng không có thư từ, điện thoại cho nhau. Tin nhắn cuối cùng anh gửi cho tôi là bài viết thay cáo phó trên tờ Văn Nghệ,
* *
*
Tháng 8 năm 1991, tôi ở Warszawa.
Một buổi chiều, sau khi uống cà phê ở quán U Szwejka trên quảng trường Konstytucji, tôi thả bộ tới đường Marszałkowska thì một chiếc taxi trờ tới. Ắt hẳn anh lái nghĩ tôi là một du khách đang lớ ngớ tìm đường.
Ngạc nhiên làm sao, vừa ngồi vào xe, tôi thấy bên mình một tờ báo tiếng Việt.
Một hàng tít lớn đập vào mắt :”Nhà văn Hồ Dzếnh không còn nữa”.
Xem ngày tháng thì thấy tờ báo mới ra hôm qua. Chắc hẳn người khách trước tôi là người Việt vừa đi từ phi trường Okiecie vào thành phố đã bỏ lại.
Tôi bàng hoàng. Tôi ít khi nghĩ tới cái chết, cho chính mình, cũng như cho những người tôi biết. Sự sống vốn chẳng là vô hạn với bất cứ ai – biết là thế, nhưng bất ngờ vẫn cứ là bất ngờ. Thậm chí trong hành trang của tôi vẫn còn đấy cái đồng hồ quả quít cổ mặt sứ tôi mua ở chợ đen Donbass để gửi cho Hồ Dzếnh. Có lần nào đó anh nói với tôi anh thích đồng hồ quả quít hơn đồng hồ đeo tay. Nó gợi nhớ cái đồng hồ của cha anh - vật còn lại lâu hơn mọi thứ khác sau khi cha anh qua đời và mẹ anh phải bán đi tất cả.
Tôi nhoài lên ghế trên, hấp tấp nói lại địa chỉ. Thay vì về nhà, tôi bảo anh tài xế đưa tôi đến chỗ khác. Ở thương vụ Việt Nam tôi có thể nhờ gửi tin nhắn bằng telex nhanh nhất về cho con rể.
Các con tôi đã có mặt trong tang lễ, thay tôi tiễn đưa nhà văn mà tôi yêu mến đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Thêm một lần, tôi tin ở tâm linh. Nó có thật hay không có thật tôi không biết. Bằng sự tình cờ hi hữu, Hồ Dzếnh gửi cho tôi lời nhắn cuối cùng:
“Tôi đi đây. Chào nhé!”.
2016
Những tác phẩm đã xuất bản của Hồ Dzếnh:
- Quê Ngoại (thơ, gồm những bài góp nhặt từ năm 1935 đến 1942, xuất bản năm 1943);
- Hoa Xuân Đất Việt (thơ);
- Chân Trời Cũ (tập truyện ngắn, xuất bản năm 1942 (nhà xuất bản Hoa Tiên);
- Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh (nhà xuất bản Hoa Tiên)
- Hai Mối Tình hay Tiếng Kêu Trong Máu (truyện dài, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh (nhà xuất bản Hợp Lực, 1968);
- Dĩ Vãng (tiểu thuyết)
- Những Vành Khăn Trắng (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh);
- Đường Kẽ Mãnh (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật ,số 187, 12-12-1943);
- Nhà Nhiều Con (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật, số 206, 11-6-1944).
- và nhiều truyện ngắn khác đăng rải rác trong các giai phẩm xuất bản thời tiền-chiến.
Vũ Thư Hiên
25 tháng 10, 2016 ·
Mẩu hồi ức ngắn về nhà văn Hồ Dzếnh lẽ ra được đưa lên FB sớm hơn, nhân kỷ niệm ngày mất của ông (13.8.1991). Nhưng thời gian này có quá nhiều sự kiện cần được nói tới, cho nên tôi đành gác lại. Những gì tôi muốn nói thêm về ngòi bút tài hoa Hồ Dzếnh (đã có nhiều người viết về ông), nằm trong bài viết này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang