Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2019

Ông Trump chơi đòn ác liệt, kinh tế TQ tuột dốc không phanh


Thương chiến với Mỹ, cuộc khủng hoảng thịt lợn và những vấn đề về tiêu thụ sản phẩm đang đè nặng lên nền kinh tế Trung Quốc, và khiến chỉ số tăng trưởng kinh tế (GDP) nước này giảm đi.

Ba tháng vừa qua cho thấy kinh tế Trung Quốc đang bị phủ bóng đen bởi chỉ số tăng trưởng thấp, và mọi dự đoán trước đây đang trở nên tồi tệ hơn. Trong quý 3, kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng 6%, thấp nhất trong 27 năm và thấp hơn dự đoán 6,5% của nhiều chuyên gia.
Điều này phản ánh mức tăng trưởng này đang thấp hơn mức Bắc Kinh đề ra trong năm 2019. Phần lớn các nhà phân tích nhận định, mức tăng trưởng này sẽ ổn định đến hết năm. Nhưng cũng có nhiều người dự đoán GDP Trung Quốc sẽ thấp hơn mức 6% trong quý 4/2019.
Ông Trump chơi đòn ác liệt, kinh tế TQ tuột dốc không phanh
Chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP Trung Quốc đang đi xuống theo từng năm. Ảnh: SCMP
“Chúng tôi tin rằng tốc độ tăng trưởng thực tế có thể tồi tệ hơn con số chính thức", các nhà phân tích thuộc công ty tài chính Nomura cho biết, nhấn mạnh sự bi quan hiện đang lan rộng tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Khủng hoảng thịt lợn đang ảnh hưởng tới tiêu dùng của người dân Trung Quốc, trong khi thương chiến với Mỹ khiến chính quyền Bắc Kinh chịu nhiều áp lực.
“Chúng tôi nghĩ rằng, Trung Quốc vẫn đang cố đạt được mức tăng trưởng thấp trong năm 2019, ở mức 6,1%. Và mức tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ còn thấp hơn nữa, ở khoảng 5,8%. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Vì sao Trung Quốc không cố gắng thúc đẩy sự tăng trưởng”, tờ SCMP trích lời nhà kinh tế học Carlos Casanova thuộc công ty bảo hiểm tín dụng Coface nói.
Nhận định của ông Casanova hoàn toàn phù hợp với dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), khi tuần trước đưa ra tuyên bố rằng, thương chiến Mỹ-Trung sẽ là mối nguy hại lớn nhất cho nền kinh tế toàn cầu, và tổ chức này cũng kêu gọi hai nước sẽ đạt được thỏa thuận thương mại càng sớm càng tốt. Đặc biệt, một thỏa thuận như vậy sẽ dẫn dến việc hoãn tăng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc.
Ông Trump chơi đòn ác liệt, kinh tế TQ tuột dốc không phanh
Thương chiến Mỹ-Trung khiến GDP Trung Quốc giảm
Và nếu những mức áp thuế không được trì hoãn, sẽ làm tình hình kinh tế Trung Quốc đi xuống đáng kể. Công ty nghiên cứu Oxford Economics cho biết, GDP Trung Quốc sẽ chỉ đạt mức 5,7% vào năm 2020. Số liệu này đã loại trừ những tác động tiêu cực của đợt thuế tháng 12 sắp tới, khi lần đầu tiên Mỹ đánh thuế các mặt hàng như điện thoại thông minh và ti-vi.
“Ngay bây giờ, chúng ta đang thấy được những tác động tiêu cực từ các mức thuế trước, vốn đã đánh mạnh vào rất nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ. Và nếu tính cả các mức thuế có hiệu lực vào tháng 12, thì GDP Trung Quốc trong năm 2020 sẽ chỉ ở mức 5,5%”, chuyên gia kinh tế Tommy Wu thuộc Oxford Economics nói.
 
Tuy nhiên, thương chiến chỉ là một trong những thách thức nền kinh tế Trung Quốc đối mặt. Dữ liệu được Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết, chỉ số xuất khẩu hàng hóa đã đóng góp ít hơn cho sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Trước đây, xuất khẩu hàng hóa và đầu tư là hai lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số của Trung Quốc. Và dù không có thương chiến, thì GDP của Trung Quốc trong quý 3/2019 sẽ vẫn ở dưới mức 6,3%.
Ngoài ra, khi mức tiêu thụ chiếm 60% GDP của Trung Quốc, rất nhiều thách thức hiện nay lại mang tính chất nội địa. Doanh thu bán lẻ được công bố hôm 18/10 đã tăng lên mức 7,8% so với 7,5% hồi tháng 9, nhưng con số này vẫn ở dưới mức thấp hơn so với mức tăng trưởng hồi đầu năm, cũng như thấp hơn tỉ lệ hai con số của những năm trước đó.
Đồng thời, dịch tả lợn châu Phi cũng đã tác động tới người tiêu dùng Trung Quốc. Theo SCMP, doanh thu từ thịt lợn chiếm khoảng 1% trong nền kinh tế Trung Quốc, và công ty tài chính Nomura đưa ra dự đoán doanh thu ngành thịt lợn sẽ giảm ở mức 40% vào quý 4/2019, bởi dịch bệnh tả lợn đang hoành hành và khiến số lợn nuôi ở Trung Quốc giảm. Chỉ với điều này cũng dư sức làm giảm chỉ số tăng trưởng kinh tế Trung Quốc cuối năm, khi người tiêu dùng sẽ buộc phải trả nhiều tiền hơn cho loại thịt phổ biến nhất ở nước này.
Ông Trump chơi đòn ác liệt, kinh tế TQ tuột dốc không phanh
Giá thịt lợn tăng đang tác động tiêu cực tới người tiêu dùng Trung Quốc
“Nguồn cung cấp lợn sẽ giảm trong năm tới, giá thịt lợn sẽ tăng gấp đôi so với mức tháng 9 vừa qua, điều này sẽ đè nặng lên niềm tin và thu nhập trên thực tế của người tiêu dùng”, chuyên gia Martin Lynge Rasmussen thuộc Capital Economics nói.
Ngoài ra, tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 9/2019 được công bố hôm 18/10 tuy ở mức ổn định, nhưng nhiều nhà phân tích lo ngại rằng, nếu sự tăng trưởng kinh tế chậm lại thì sẽ ảnh hưởng lớn tới việc thất nghiệp ở Trung Quốc.
“Có một điều khiến chính phủ Trung Quốc lo ngại hơn, đó không phải là tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà là vấn đề việc làm. Nếu tỉ lệ tăng trưởng GDP chậm lại, thì Trung Quốc khó giữ vững tỉ lệ việc làm”, ông Tommy Wu kết luận.
Tuấn Trần

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRAO ĐỔI TIẾP VỀ CHUYỆN BIỂN ĐÔNG





Vũ Ngọc Hoàng
(BLVN) – Đây là những lời tâm huyết, sáng suốt của một Trí thức từng là cán bộ cao cấp của Đảng, như những kiến giải với lãnh đạo đất nước trước tình hình “nước sôi lửa bỏng”. Tin rằng, đây cũng là tiếng nói phù hợp với ý nguyện toàn Dân tộc… BLVN xin trân trọng giới thiệu phần đầu bài viết của TS Vũ Ngọc Hoàng, vừa gửi cho chúng tôi.
------------
Sau bài viết “Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông” đầu tháng 9 vừa qua, tôi đã nhận được nhiều ý kiến bình luận, phản biện. Trước hết, tôi rất cảm ơn quý anh chị và bạn đọc. Nhân đây, xin được trao đổi tiếp về chuyện Biển Đông xung quanh các ý kiến phản biện đó.
1.Có ý kiến cho rằng, hiện tại xét về tương quan lực lượng thì Trung Quốc mạnh hơn ta nhiều, ta không đủ sức chống lại họ, mà cũng không thể bài Hoa, kiện là có cớ để họ lấn tới, tấn công ta. Tôi xin thưa, ta đâu có định chống Trung Quốc. Đây chỉ là quyền tự vệ chính đáng bằng giải pháp hòa bình của một dân tộc văn hiến, có chủ quyền và biết tự trọng, chứ đi chống Trung Quốc để làm gì. Ta chỉ muốn sống hòa hiếu, hữu hảo thật lòng với láng giềng, trong đó có Trung Quốc, và bạn bè quốc tế năm châu. Bao đời nay Việt Nam vốn là một dân tộc yêu hòa bình và đường lối ngày nay là muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Ta cũng không hề có ý định bài Hoa, mà bài làm sao được khi hai dân tộc sống gần cạnh nhau đã do thiên định, nhân dân hai bên biên giới sáng sớm nào cũng nghe tiếng gà gáy của nhau, và Việt Nam cũng rất cần có thị trường lớn bên cạnh để cùng nhau hợp tác phát triển trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Còn việc ta phải kiện Trung Quốc như tôi đã nói là vì họ ép ta phải làm thế, ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới, họ đã xúc phạm ta, nên không có cách khác, không thể để chân lý bị chà đạp, chủ quyền quốc gia và các quyền lợi chính đáng của dân tộc bị cường bạo cưỡng chiếm. Không kiện là hữu khuynh, coi chừng thỏa hiệp vô nguyên tắc. Kiện để mở đường, để làm cơ sở cho các đấu tranh tiếp theo. Nếu chỉ đấu tranh song phương thì lâu nay đã làm, và không có kết quả, dễ bề cho họ ép ta. Cần phải đa phương, phải quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dựa vào luật pháp và cộng đồng quốc tế để đấu tranh. Có ý kiến bảo nên bắt đầu bằng việc đưa vấn đề Trung Quốc giành biển của Việt Nam ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đồng thời tiếp tục kiện ra quốc tế. Kiện về chuyện Bãi Tư Chính và Hoàng Sa, Trường Sa nữa, từng vụ cho từng vấn đề. Tôi nghĩ thế là rất cần thiết, đáng lẽ phải làm sớm rồi, còn kiện cụ thể những gì và như thế nào thì chắc chắn các nhà nghiên cứu luật pháp sẽ thông thái hơn tôi. Việc khởi kiện cũng nên khẩn trương làm ngay, càng sớm càng tốt, vì họ đang ngày càng lấn tới, để càng lâu càng khó, và hành động thực tế của họ đã vượt qua ranh giới đỏ rồi. Gần đây, họ còn tuyên bố một cách ngạo mạn rằng khu vực bãi Tư Chính là của họ, rồi họ kêu gọi Việt Nam đối thoại hòa bình, mặt khác cùng lúc họ tiếp tục cho nhiều tàu lớn lấn sâu hơn vào phía bờ biển của Việt Nam, chỉ còn cách đất liền một đoạn ngắn. Cần phải rất cảnh giác với các chiêu bài của Trung Quốc. Đối thoại là đối thoại vấn đề gì phải cho rõ. Bãi Tư Chính đang yên ổn là của Việt Nam, luật pháp quốc tế cũng đã rành rành như vậy, nhưng họ đang chuyển sang vùng tranh chấp, coi chừng ta lại mắc mưu. Họ đi những “nước cờ” rất bài bản với âm mưu thâm sâu, ta không thể đối phó từng nước một trong thế bị động và lúng túng. Và cần phải chống “nhóm lợi ích” thân Tàu, coi chừng chúng nó bán rẽ Tổ Quốc ta cho Phương Bắc.
Về chuyện tương quan lực lượng thì từ ngày xưa đã thế, Trung Quốc lúc nào cũng to lớn hơn Việt Nam. Mười mấy lần họ xâm lăng nước ta trước đây xét về tương quan lực lượng vật chất họ đều mạnh hơn ta. Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc trước đây, Việt Nam thậm chí đã phải bắt đầu bằng gậy tầm vông. Tương quan lực lượng ngày ấy còn chênh lệch hơn nhiều so với bây giờ, thế mà cha ông ta đã dám hành động dũng cảm, rất đáng tự hào và kính trọng. Từ xưa đến nay Việt Nam chưa bao giờ gây chuyện với Trung Quốc, mà chỉ có việc Trung Quốc luôn ức hiếp và nhiều lần xâm lược Việt Nam. Họ luôn có âm mưu thâm hiểm muốn biến nước ta thành thuộc quốc chư hầu của họ. Chẳng lẽ vì tương quan lực lượng của ta yếu hơn mà đất nước và dân tộc này phải cúi đầu nhịn nhục, không có quyền ngẩng lên để đấu tranh tự vệ. Và ngày nay vấn đề tương quan lực lượng cần được hiểu theo tư duy mở, trong đó có yếu tố con người, truyền thống văn hóa, chân lý, bạn bè và luật pháp quốc tế nữa.
Còn ý kiến nói rằng nếu ta chống lại họ thì tạo cớ cho Trung Quốc tấn công lấy biển của ta? Vì sao lại xem việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam là tạo cớ cho kẻ xâm lăng thực hiện âm mưu. Quả là một kiểu tư duy không thể hiểu nổi. Đó chỉ là kiểu ngụy biện cho một sự nhu nhược về tinh thần và bản lĩnh. Thực ra họ chẳng cần cái cớ ấy đâu. Chính họ đã tạo ra rồi cái cớ hết sức vô lý khi nói vùng biển của Việt Nam là của họ, còn Việt Nam từ chủ nhân họ vu cáo là kẻ xâm phạm đấy thôi.
2. Có ý kiến giải thích rằng Trung Quốc đã làm được gì ở đó đâu, còn VN ta đã đặt được dàn khoan ở Bãi Tư Chính rồi, đất nước vẫn hòa bình yên ổn, thế mới là sách hay và khôn khéo, có chuyện gì đâu mà phải la ầm lên. Nghe nói vậy càng thấy buồn lo. Ta đặt dàn khoan trên phần lãnh hải thuộc chủ quyền của đất nước ta, sao lại đi so sánh với việc Trung Quốc ngang nhiên tự do đi vào “vườn nhà” của ta. Họ còn nói đó là vùng chủ quyền của họ và yêu cầu ta phải rút đi. Thật là một sự xúc phạm! Thực tế họ đã xâm lăng ta mấy tháng nay rồi và đang biến một vùng biển rộng lớn của ta thành của họ, thế mà lại nói họ chưa làm được gì. Sao lại phải biện minh cho hành vi ngang ngược của kẻ xâm lăng? Tại sao lại phải ru ngũ nhân dân? Biện minh theo kiểu đó thì vô tình hoặc cố ý làm lợi cho kẻ xâm lăng.
Lần này coi ra họ rất quyết liệt hành động. Việc chiếm được biển của Việt Nam có ý nghĩa lớn lao đối với họ, còn không chiếm được thì chiến lược về giấc mộng Trung Hoa có thể bị phá sản. Và họ nhận thấy lúc này về phía Việt Nam có những yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện âm mưu của họ. Trung Quốc đang sử dụng kế sách “không cần đánh mà vẫn thắng”, tức là không cần nổ súng vẫn lấy được biển, đó là thượng sách. Họ vừa muốn chiếm biển của ta, vừa không muốn “mất” Việt Nam, tức là vẫn giữ được một VN nằm trong tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, tốt nhất là làm sao lấy được biển mà VN ít phản đối hoặc là chỉ phản đối chiếu lệ. Nhưng đồng thời họ cũng hăm dọa bằng tàu lớn súng nhiều và sẵn sàng động binh. Còn diễn biến thực tế trên chiến trường mấy tháng nay thì rõ ràng họ đang tiến và ta đang thua từng bước. Họ tiến vào ngày càng sâu hơn, gần đất liền hơn. Từ chỗ họ nói Tư Chính là vùng tranh chấp rồi sau đó họ nhanh chóng chuyển sang nói là vùng biển của họ và vu cáo cho Việt Nam cố tình lấn chiếm, yêu cầu Việt Nam phải rút đi, rồi bảo Việt Nam phải đối thoại để cùng khai thác...
Tình hình thật nghiêm trọng nhưng nhiều người vẫn tỏ ra như chưa có gì nghiêm trọng. Mấy tháng nay họ đã vào ra vùng biển của ta nhiều lần, như đi chợ, như ao nhà của họ. Có đợt cả tháng sau ta mới lên tiếng. Đẩy đuổi thì xem ra không đủ sức làm lâu dài. Lên án cũng không ra lên án. Đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân VN và thế giới biết bản chất của vấn đề cũng không làm. La làng lên cho mọi người biết là kẻ cướp đã đột nhập nhà tôi cũng không. Kiện cũng không chịu kiện. Tăng thêm đối tác chiến lược mới cũng không. Hợp tác quân sự mới cũng không thấy…. Nói chung dân chúng không hiểu thái độ và đối sách của lãnh đạo nước ta ra sao. Mà xem ra đây cũng không phải là sự bình tỉnh của một cao thủ có kế sâu nên nhiều người đã bảo “chẳng hiểu vì sao mà phải thế”.
3. Có người phê bình rằng các ý kiến từ nhân dân không hiểu hết tình hình nên nhận định, đề xuất không phù hợp. Thậm chí có ý kiến còn phê phán chì chiết những tiếng nói từ những người yêu nước. Trong nhân dân, có người không đủ thông tin như lãnh đạo cũng là chuyện bình thường, nhưng có thể họ lại hiểu lòng dân hơn lãnh đạo. Ý kiến nào không hiểu tình hình mà nói không đúng thì nên chỉ ra, nói lại xem thử thế nào là đúng. Nhưng riêng việc mấy tháng nay Trung Quốc liên tục (gần như thường xuyên) xâm phạm biển của Việt Nam một cách trắng trợn, họ tuyên bố đó là biển của họ, Việt Nam thì không la, không kiện, không nói rõ cho nhân dân biết, đặc biệt lãnh đạo đất nước không lên tiếng mạnh mẽ rõ ràng quan điểm…, đó có phải là sự thật hay dân nói sai? Thực tế mấy tháng nay quốc dân đồng bào không được các cơ quan hữu trách hoặc báo chí chính thống thông tin kịp thời và đầy đủ cho biết tình hình Biển Đông của Việt Nam đang bị xâm phạm. Cứ làm như mọi việc vẫn bình thường, không có chuyện gì xảy ra, thậm chí kẻ xâm lăng vẫn còn được coi là “đối tác chiến lược toàn diện” quan trọng nhất của VN. Tại sao không thông báo kịp thời mọi việc cho nhân dân biết rõ tình hình? Phải chăng sự quan tâm của nhân dân đối với chủ quyền của đất nước là không cần thiết, đó không phải là việc của nhân dân? Tất nhiên gần đây báo chí chính thống ít nhiều cũng đã có nói đến, dù chỉ ở mức độ hết sức khiêm tốn. Hãy nhớ rằng, từ lâu Trung Quốc đã tác động nhiều thông tin ra thế giới và trong nước để chuẩn bị dư luận, và hiện nay họ vẫn đang ngày đêm tác động thông tin để nhiễu loạn phía Việt Nam. Còn phía ta, cần xem lại ta đang ứng xử ra sao đối với tình hình đất nước rất nghiêm trọng vì chủ quyền của quốc gia đang bị xâm phạm? Trong số những người dân yêu nước có thể người này người khác có lúc nóng nảy, nói sai điểm này điểm khác, đụng chạm…thì nói lại, uốn nắn. Nhưng phải biết quý trọng tấm lòng của họ, nuôi dưỡng, hun đúc và tích góp chí khí của dân tộc để mà giữ nước. Không nên, không được làm điều gì gây tổn thương cho lòng yêu nước của nhân dân.
4. Một số ý kiến phản biện rằng, nói đến liên minh quân sự là nguy hiểm, dễ gây ra chiến tranh. Mà họ cũng đã nổ súng đâu, đã có chiến tranh đâu mà nói đến liên minh chiến đấu. Lần trước tôi cũng đã nói không liên minh quân sự với ai để chống nước khác là quan điểm đúng đắn. Việc đó cũng là thể hiện tinh thần của một dân tộc yêu hòa bình, ghét hiếu chiến. Nhưng trong tình thế đất nước bị xâm lăng thì cần liên minh để bảo vệ chủ quyền. Chẳng lẽ thà chịu mất nước chứ nhất định không được liên minh chiến đấu để bảo vệ? Như ta đã biết và thường ca ngợi chiến thắng của phe Đồng Minh trong đại chiến thế giới II - đó chính là một liên minh chiến đấu vì hòa bình. Và khi ấy Việt Nam cũng đã đứng về phe Đồng Minh. Việt Nam và Lào đã nhiều lần cùng liên minh chiến đấu mà đến nay ta vẫn luôn ca ngợi liên minh ấy. Sau năm 1975 Việt Nam và Liên-xô cũng có lúc như vậy. Những lúc ấy, đó là sự cần thiết của tinh thần tự vệ chính đáng. Còn nói họ đã làm gì đâu mà ta lại tính đến việc liên minh chiến đấu? Sao lại biện minh là họ chưa làm gì? Họ đã chính thức xâm chiếm lãnh hải tức là một phần Tổ Quốc của chúng ta bị xâm lăng rồi, chứ sao lại nói “họ đã làm gì đâu”. Chẳng lẽ đợi đến khi “chậm mất rồi”, “thua mất rồi” thì mới bàn đến việc liên minh chiến đấu để tự vệ? Chủ động chuẩn bị tốt các biện pháp bảo vệ đất nước cũng là một cách phòng ngừa để chiến tranh không xảy ra. Còn nếu cuối cùng nó vẫn xảy ra thì đó là việc do đối phương muốn vậy, ngoài ý muốn của ta. Trong trường hợp ấy chúng ta sẽ chủ động hơn.
Trước đây có lúc Việt Nam đã ủng hộ và tham gia phong trào không liên kết. Gần đây cũng có ý kiến bảo chỉ cần nói Việt Nam không liên kết với bất cứ nước nào, bên nào là đủ rồi. Tôi cũng nhất trí với ý kiến ấy, nhưng đó là nói về đường lối đối ngoại đối với các vấn đề khác không liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (ví dụ trong chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hoặc các cuộc xung đột trên thế giới và khu vực). Riêng đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam thì tôi giữ ý kiến sẳn sàng liên minh với bất kỳ nước nào ủng hộ chủ quyền của ta để tự vệ chính đáng. Tất nhiên là không ỷ lại dựa dẫm ai và hành động liên minh đó trên thực tế chỉ thực hiện khi có xung đột. Nhưng về nhận thức, quan điểm thì phải xác định trước, chứ đợi đến lúc xảy ra xung đột rồi mới triệu tập họp lại để bàn thì quá trễ. Trong thời đại công nghệ ngày nay, những nước như Việt Nam ta chưa đủ điều kiện về công nghệ thì càng phải có liên minh mới sử dụng được hệ điều hành từ vệ tinh của nước này hay nước khác.
5. Có người hỏi lại “nếu liên minh chiến đấu thì liên minh với ai và như thế nào?”. Đó là công việc của các nhà quân sự, họ sẽ thông thái hơn chúng ta, và tôi tin rằng họ sẽ không bó tay để đưa lưng cho người ta bắn và ngồi nhìn chủ quyền quốc gia thiêng liêng bị người khác cưỡng chiếm và xúc phạm. Ngày nay, các vấn đề chính trị, quân sự trong đối ngoại nhìn chung thường có gắn với lợi ích kinh tế. Phần biển đông thuộc nước ta đang chứa rất nhiều khoáng sản có giá trị lớn. Cần đẩy mạnh khai thác để có nguồn tài chính cho hiện đại hóa đất nước, không cần phải “để dành” mà kẻ tham dòm ngó và âm mưu cướp bóc. Tất nhiên chuyện Biển Đông không chỉ là tài nguyên mà còn vị thế chiến lược về địa kinh tế và địa chính trị mới quan trọng hơn nhiều. Ta có thể mở cửa rộng hơn với chính sách thuế phù hợp và thủ tục pháp lý thuận tiện để khuyến khích các đối tác từ các nước tôn trọng chủ quyền của VN vào hợp tác đầu tư khai thác theo luật pháp của Việt Nam và đôi bên cùng có lợi (ví dụ như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ấn Độ, Nga, Ôxtrailia…). Đồng thời ta đề xuất phương án cùng nhau liên minh bảo vệ vùng biển này để bảo đảm cho công việc đầu tư khai thác được an toàn và an ninh. Còn Trung Quốc, khi nào họ thay đổi quan điểm, tôn trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam thì ta hoan nghênh và cũng mời họ vào tham gia hợp tác khai thác như các đối tác nói trên.
(Còn nữa...)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2019

Mỹ - Trung tiếp tục nóng vì Biển Đông

Hải quân Mỹ vừa tổ chức cuộc diễn tập chưa từng có tại Biển Đông, với sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan và nhóm tàu đổ bộ Boxer thuộc Hạm đội 7.
Đội hình tác chiến của hai nhóm tàu chiến Mỹ trên Biển Đông vừa qua /// defense.gov
Đội hình tác chiến của hai nhóm tàu chiến Mỹ trên Biển Đông vừa qua
defense.gov
Twitter chính thức của Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ ngày 20.10 đã đăng lại đường link về bài viết trên tờ Breitbart về việc nước này tổ chức diễn tập “chiến tranh cấp cao” với nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan và nhóm tàu đổ bộ Boxer của hạm đội 7.
Theo đó, nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan ngoài hàng không mẫu hạm còn có sự tham gia của không đoàn CVW 5, các tàu tuần dương lớp Ticonderoga và khu trục hạm lớp Arleigh Burke. Còn nhóm tàu đổ bộ Boxer bao gồm soái hạm USS Boxer (LHD 4), tàu đổ bộ lớp San Antonio, tàu đổ bộ lớp Harpers Ferry và Đơn vị viễn chinh 11 với hơn 2.000 lính thủy quân lục chiến.
Đại úy Anthony Junco, phát ngôn viên Hạm đội 7, xác nhận từ trước đến nay hải quân Mỹ chưa từng diễn tập phối hợp giữa hai nhóm tàu sân bay và tàu đổ bộ ở Biển Đông. Lần gần đây nhất Biển Đông chứng kiến hai nhóm hàng không mẫu hạm Mỹ cùng xuất hiện là vào năm 2001.
“Chiến dịch tàu sân bay kép ở Biển Đông mà chúng tôi từng ghi nhận là vào ngày 17.8.2001, diễn ra giữa USS Carl Vinson và USS Constellation”, theo đại úy Junco.
Trang Naval Today trước đó đã đưa tin nội dung tập trận bao gồm “các chiến dịch tấn công trên biển, tìm kiếm và cứu hộ, chiến lược phòng thủ bằng tàu tấn công nhanh, chặn đường tiếp tế, diễn tập bắn đạn thật và các chiến dịch chống máy bay, chống ngầm”.
Trong một diễn biến liên quan, Mỹ đã cử phái đoàn tham gia Diễn đàn Hương Sơn được tổ chức tại Bắc Kinh từ ngày 20 - 22.10, với nội dung bàn về các vấn đề an ninh châu Á - Thái Bình Dương và quốc phòng. Tờ South China Morning Post hôm qua 20.10 dẫn lời một thành viên của phái đoàn Trung Quốc cho hay phía Mỹ sẽ vấp phải chỉ trích từ phái đoàn chủ nhà, vì các động thái “khiêu khích” gần đây.
Theo quan chức này, phía lãnh đạo quân đội Trung Quốc sẽ lên án Mỹ vì ủng hộ biểu tình ở Hồng Kông, cũng như quyết định nâng cấp tiêm kích F-16 cho Đài Loan và công khai thách thức các tuyên bố chủ quyền (phi pháp) của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồi kết của phép màu kinh tế Trung Quốc




Phép màu kinh tế của Trung Quốc đang gần tới hạn, và giờ có nguy cơ gây ra hại nhiều hơn lợi.
Bài viết của tác giả Geoffrey Yu, Trưởng Văn phòng Đầu tư Vương quốc Anh tại Công ty Quản lý tài sản UBS (UBS Wealth Management). Bài viết được đăng trên trang Chatham House.
Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc trong 40 năm qua được coi là một trong những thành tựu hiếm hoi trong lịch sử nhân loại. Trong chưa đầy hai thế hệ, một đất nước tự cấp tự túc, khép kín với thế giới bên ngoài đã tìm được cách tự thâm nhập vào mọi khía cạnh của cuộc sống hiện đại. Từ hàng hóa được sản xuất đơn giản nhất đến các thiết bị phức tạp, từ đường nhựa đến nhà máy điện hạt nhân, các công ty Trung Quốc – chủ yếu là do nhà nước sở hữu – đã phá vỡ chuỗi sản xuất và đầu tư toàn cầu.
Lịch sử phát triển kinh tế, từ việc phát minh ra bánh xe đến cách mạng công nghiệp lần thứ 4, luôn là câu chuyện về những sự đổi mới mang tính đột phá đẩy ranh giới tăng trưởng năng suất; và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc kể từ khi nước này mở cửa vào năm 1978 cũng không khác. Những thay đổi như vậy đã được hoan nghênh trong vài thập kỷ qua. Trung Quốc đã tạo ra việc làm và sự giàu có, trong khi phần còn lại của thế giới được hưởng sự lựa chọn sản phẩm rộng hơn và dịch vụ giá thấp hơn.
Tuy nhiên, tất cả những điều tốt đẹp đều phải kết thúc. Khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đến sinh nhật lần thứ 70, nước này không còn được coi là một thế lực vô hại. Những thách thức đối với mô hình kinh tế của Trung Quốc đang gia tăng, như các tranh chấp thương mại và công nghệ giữa Bắc Kinh và Washington đã chứng kiến.
Điều ít được đưa tin trên báo chí phương Tây là cách các nguồn lực mạnh mẽ được giải phóng bởi sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang làm gián đoạn nền kinh tế trong nước. Đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện tại và tương lai, việc quản lý sự thay đổi kinh tế trong khi duy trì ổn định xã hội quan trọng hơn nhiều so với việc tìm ra cách đối phó với những tuyên bố trên mạng xã hội của Tổng thống Mỹ đương nhiệm. Đối với cả một nền kinh tế và một cá nhân, quá nhiều điều tốt lại có thể gây bất lợi. Trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế Trung Quốc – và quan trọng hơn là các việc làm của người dân Trung Quốc – phụ thuộc vào xuất khẩu.
Đối mặt với nhu cầu quốc tế suy sụp và thị trường lao động trong nước trì trệ, Trung Quốc đã quyết định thay đổi chiến lược vào đầu năm 2009 và đã phát động một chiến dịch dùng nợ để đầu tư chưa từng có.
“Gói kích thích 4 nghìn tỷ nhân dân tệ” nổi tiếng, thực chất là tăng thanh khoản trị giá hơn 12% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc năm 2008, được cho là đã có tác dụng làm ổn định nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, “gói kích thích Obama” của Mỹ năm 2009 có giá trị dưới 800 tỷ USD, chỉ chiếm khoảng 5,5% GDP của Mỹ năm 2008.
Đây là khi Trung Quốc đã bắt đầu nghiện nợ, một tình huống mà các cơ quan quản lý tài chính của nước này cuối cùng cũng bắt đầu nắm bắt được, nhưng chỉ sau khi nhận ra rằng việc “cai nghiện” hoàn toàn trong giai đoạn cuối của chu kỳ kinh tế toàn cầu cũng không phải là điều lành mạnh.
Không thể phủ nhận rằng việc chấm dứt tình trạng nghiện nợ đã làm nền kinh tế Trung Quốc xáo trộn mạnh mẽ. Trong khi tranh chấp thương mại với Mỹ đã chiếm lĩnh hết các tít báo trong 18 tháng qua, tăng trưởng đã trở nên khó khăn từ nửa đầu năm 2018.
Các nhà kinh tế học của Ngân hàng đầu tư UBS lưu ý rằng “thắt chặt quy định và tài chính” là các nguyên nhân chính dẫn đến tốc độ tăng trưởng sụt giảm. Thứ nhất, các chính quyền địa phương đã thắt chặt kiểm soát nợ, dẫn đến đầu tư cơ sở hạ tầng suy giảm. Thứ hai, các quy định về “hoạt động tài chính ngầm” – một trong những nguồn tăng trưởng lớn nhất trong việc sử dụng tiền vay – đã bị thắt chặt, dẫn đến chi phí vay cao hơn, tín dụng ngầm suy giảm, phát hành trái phiếu yếu hơn và vỡ nợ trái phiếu cao hơn. Do đó, đến cuối năm 2018, tỷ lệ tín dụng là một phần GDP đã ổn định ở mức 20-25%, chỉ còn một nửa so với một thập kỷ trước.
Các thị trường tài chính bị giằng xé giữa việc khen ngợi nỗ lực kiềm chế tăng trưởng đầu tư không bền vững và lo lắng về nền kinh tế giảm tốc, đặc biệt là trong thị trường nhà đất.
Tài sản bất động sản giảm tốc tăng trưởng được dự kiến sẽ tác động đến tăng trưởng tiêu dùng, và điều này đã được chứng thực bằng dữ liệu vĩ mô – tăng trưởng tiêu dùng giảm xuống còn 7,4% so với cùng kỳ năm 2018, từ 7,5% năm 2017, và dự kiến sẽ giảm xuống dưới 7,0% năm 2019. Không nơi nào bị ảnh hưởng nhiều hơn ngành công nghiệp xe hơi: doanh số hàng tháng đã giảm từ mức tăng trưởng gần 30% so với cùng kỳ vào giữa năm 2016, xuống mức giảm mạnh bắt đầu vào tháng 7/2018, và đến giờ vẫn chưa tăng trưởng trở lại.
Thời tăng trưởng đầu tư bằng tín dụng đã qua, nhưng điều quan trọng trước khi chúng ta gióng lên hồi chuông cảnh báo là phải nhấn mạnh rằng phần lớn điều này là có chủ ý.
Tiêu dùng vẫn tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong khi điều ngược lại xảy ra với tăng trưởng đầu tư. Chừng nào còn sự khác biệt hữu hình giữa hai bên, thì nền kinh tế Trung Quốc đang tái cân bằng đúng hướng.
Tuy nhiên, khi tiêu dùng hộ gia đình bắt đầu trở thành đầu tàu của nền kinh tế, từ đó tạo ra các việc làm ngành dịch vụ thay vì ngành sản xuất, thì chính phủ và các công ty – cả nhà nước và tư nhân – cần phải thích nghi với những thay đổi về hành vi người tiêu dùng. Về mặt này, khi Trung Quốc mở cửa, một trong những nguồn lực gây gián đoạn lớn nhất là khi các hộ gia đình không thấy chất lượng hàng hóa và dịch vụ đủ tốt, và quay sang dùng hàng ngoại.
Quay lại kiểm tra thị trường xe hơi: trong khi tổng doanh số bán giảm 6% ở Trung Quốc vào năm 2018, điều ít được chú ý là thực tế rằng chủ yếu là các thương hiệu trong nước hứng chịu sự suy giảm nhu cầu. Dù không phân biệt quá nhiều giữa xe nhập khẩu và xe thương hiệu nước ngoài sản xuất trong nước, xe địa phương dù giảm giá đã không làm tăng nhu cầu. Ngay cả trong thời kỳ tài chính gia đình bị hạn chế, có vẻ như người tiêu dùng Trung Quốc sẵn sàng trả giá cao cho chất lượng, dù là chất lượng nhận thức hay thực tế. Đây là một bài học mà các doanh nghiệp trong nước rất cần phải học, đặc biệt là trong các ngành ít được bảo vệ hoặc các ngành có sự hiện diện trong nước yếu hơn.
Cuộc đua để thống trị thị trường các phương tiện chạy bằng điện hoặc tiết kiệm nhiên liệu khác đã bắt đầu; vốn là thị trường được cho là không có người chơi toàn cầu thống trị. Trung Quốc đang đầu tư mạnh vào ngành này và các công ty như BYD và CATL đã được coi là yếu tố gây gián đoạn trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, với việc Tesla sắp hoàn thành nhà máy đầu tiên tại Trung Quốc và nỗ lực của các đối thủ nước ngoài sắp thành hiện thực, có nhiều khả năng người tiêu dùng Trung Quốc sẽ quay lưng lại với các thương hiệu Trung Quốc, ngay cả khi giá cả cạnh tranh hơn. Vốn cuối cùng sẽ chảy ra nước ngoài, làm tổn thương cán cân thanh toán của đất nước và ảnh hưởng đến tiền tệ, và đó là trước khi nói đến lo lắng triền miên về việc xảy ra tháo vốn.
Giống như ở nhiều nước châu Âu, trợ cấp chính phủ và quy định nhắm vào một số ngành nhất định đã khuyến khích đầu tư vào xe điện, nhưng nếu các thương hiệu Trung Quốc tụt lại trong cuộc đua này, câu hỏi sẽ được đặt ra là liệu sự hiện diện mạnh của nhà nước trong lĩnh vực này cuối cùng có gây trở ngại hay không. Điều này đưa chúng ta đến rủi ro gây gián đoạn cuối cùng, và có lẽ là đáng kể nhất: sự trỗi dậy của công nghệ Trung Quốc.
Trong quý 4/2006, một công ty Trung Quốc đã lọt vào danh sách các công ty giao dịch công khai có giá trị cao nhất thế giới của Financial Times là Ngân hàng Công thương Trung Quốc. Trong tốp 10 có 4 công ty năng lượng, 3 ngân hàng và chỉ 1 công ty công nghệ. Vào cuối năm 2018, có 1 ngân hàng còn trên danh sách, trong khi có 7 công ty công nghệ, với 2 trong số này đến từ Trung Quốc. Hai thập kỷ trước, Tencent chỉ được biết đến là công cụ trò chuyện, trong khi Jack Ma đang khởi sự Alibaba trong căn hộ của mình. Vào đầu năm 2018, 2 công ty trị giá tổng cộng 1 nghìn tỷ USD và là niềm tự hào của Trung Quốc. Sự trỗi dậy của 2 công ty này gần như không có nhà nước can thiệp. Cách họ đã gây biến động nền công nghệ toàn cầu, chưa kể đến xã hội Trung Quốc, đã được rộng rãi ghi nhận. Bắc Kinh có thể, với nhiều bằng chứng, chỉ đến các trung tâm công nghệ như Thâm Quyến và Hàng Châu là ví dụ cho cách làm thế nào để đổi mới công nghệ do tư nhân thúc đẩy và hệ thống chính trị có thể tồn tại song song.
Các công ty thường có thể tự chủ đột phá, miễn là nhà nước giữ quyền hợp pháp để can thiệp khi công nghệ đe dọa cả hệ thống. Tuy nhiên, việc một hệ thống kinh tế đang ổn định bị gián đoạn đang trở nên khó bỏ qua.
Lấy công nghệ tài chính chẳng hạn. Sự phát triển của ngân hàng trực tuyến đã dẫn đến số lượng các chi nhánh ngân hàng truyền thống giảm 21% trên khắp châu Âu trong thập kỷ qua. Chúng ta có thể tự đánh giá thị trường lao động bị gián đoạn trong ngành thường được coi là “cổ cồn trắng”. Điều tương tự cũng xảy ra ở Trung Quốc nhưng với quy mô lớn hơn rất nhiều, khi ngay cả những người ăn xin trên đường phố cũng chấp nhận thanh toán di động qua mã QR. Nếu phần lớn xã hội bỏ qua hoàn toàn hệ thống ngân hàng chính thức, nguy cơ chi nhánh đóng cửa là rõ ràng. Khác với châu Âu, Trung Quốc vẫn là một quốc gia đang phát triển và tính chính đáng của chính quyền, đặc biệt là ở các khu vực thành thị, phụ thuộc vào việc tạo ra việc làm cổ cồn trắng.
Nếu những việc làm này biến mất nhanh hơn là được thay thế, thông qua tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, và khi không có hệ thống phúc lợi phù hợp để hỗ trợ người dân, rõ ràng có nguy cơ mất ổn định xã hội. Và đó là còn chưa xem xét điều kiện ở những khu vực nông thôn, nơi mà lực lượng lao động phần lớn không có kỹ năng và có nguy cơ mất việc còn cao hơn.
Điểm mấu chốt là dù công nghệ đã làm nên điều kỳ diệu cho người dân Trung Quốc trong thập kỷ qua, giờ đây nó có thể sẽ gây gián đoạn quá mức. Bắc Kinh có bao giờ yêu cầu các công ty công nghệ lớn “đi chậm lại” không? Hoặc câu trả lời có thể nằm ở việc tự do hóa kinh tế hơn nữa, cho phép thị trường tạo ra các công việc cần thiết? Có khả năng nào Trung Quốc sẽ chủ động đặt mục tiêu tăng trưởng năng suất thấp hơn để hạn chế sự gián đoạn, hoặc lựa chọn đánh thuế lũy tiến cao?
Nền kinh tế Trung Quốc đang được quản lý để thách thức các kỳ vọng một cách nhất quán đến mức bất cứ khi nào có sự chao đảo, thị trường vẫn giữ niềm tin rằng Trung Quốc có thể tìm ra cách để vật lộn vượt qua, thông qua kích thích tài chính và tiền tệ kết hợp với các biện pháp hành chính.
Tuy nhiên, sẽ đến lúc việc vật lộn vượt qua là không đủ. Vật lộn vượt qua không tạo ra đủ tăng trưởng để tạo ra việc làm mới, để bù đắp sự gián đoạn được tạo ra trong nước; nó không tạo ra hiệu ứng tài sản để khuyến khích các hộ gia đình chi tiêu, nó không lôi kéo các công dân đầy tham vọng của Trung Quốc để giữ vốn trong nước, hoặc thậm chí là giữ bản thân họ trong nước.
Sau nhiều thập kỷ tạo ra mô hình tăng trưởng kinh tế gây đột phá nhất mà thế giới từng thấy, Bắc Kinh đang thấy rằng mô hình này tự gây gián đoạn, mặc dù chưa tự làm hủy hoại. Tập Cận Bình có nhiều điều phải nghĩ ngợi khi ông chào đón đám đông ở quảng trường Thiên An Môn vào ngày 1/10. Hy vọng rằng ở phía trước sẽ là câu hỏi: chúng ta có đủ việc làm cho tất cả mọi người không, và nếu không thì chúng ta sẽ tạo thêm việc làm bằng cách nào?
Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sau 2020 TQ sẽ đối diện với một VN hoàn toàn khác


15 thg 1, 2019 – VN Youtuber
Tờ Đa Chiều của người Trung Quốc ở hải ngoại cho rằng sau năm 2020 khi các vệ tinh của Việt Nam hoạt động đầy đủ thì TQ sẽ phải đối diện với một Việt Nam hoàn toàn khác biệt trên biển.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam và câu chuyện của quốc gia đi ngược lại xu hướng chung


Việt Nam và câu chuyện của quốc gia đi ngược lại xu hướng chung
Trong cuộc trao đổi với báo Trí Thức Trẻ bên lề Vietnam Business Summit 2019, TGĐ PwC Việt Nam Đinh Thị Quỳnh Vân nhiều lần dùng từ "ấn tượng" để mô tả về nền kinh tế trong 9 tháng vừa qua. Những chỉ số vĩ mô đang cho thấy một câu chuyện rất khác tại Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực có xu hướng giảm tốc với nhiều rủi ro, thách thức.
Với kinh tế 9 tháng vừa qua, đâu là điểm khiến bà cảm thấy ấn tượng?
Theo số liệu thống kê mới được công bố, GDP 9 tháng của năm 2019 đã tăng trưởng ở mức 6,98% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức tăng trưởng 9 tháng đầu năm cao nhất trong 9 năm qua.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong khu vực có xu hướng tăng trưởng chậm lại với nhiều rủi ro, thách thức và căng thẳng gia tăng. Đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng.
Tôi nghĩ rằng tốc độ tăng trưởng này phần nào thể hiện tình hình môi trường kinh doanh tại Việt Nam ngày càng được cải thiện khiến các doanh nghiệp tự tin gia nhập thị trường hơn.
Một điều đáng mừng là sự phát triển ngày càng lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân. Một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có nội lực, khu vực kinh tế tư nhân được coi là động lực phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Việt Nam và câu chuyện của quốc gia đi ngược lại xu hướng chung - Ảnh 1.
Khi tiếp xúc với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, phản hồi của họ như thế nào về cơ hội làm ăn kinh doanh ở Việt Nam?
Như tôi đã nói, dù có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của sự bất ổn trên thế giới và trong khu vực, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng. Việt Nam vẫn được coi là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất tại châu Á đối với đầu tư nước ngoài trong những năm tới. Điều này được thể hiện thông qua lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 9 tháng đầu năm 2019 và sự sôi động của thị trường M&A tại Việt Nam.
Hầu hết các doanh nghiệp mà tôi tiếp xúc đều nhìn nhận tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam còn rất lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng có nhiều e ngại về rủi ro sẽ mất dần sân chơi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhưng nếu so sánh với các nước trong khu vực về tiềm năng thu hút vốn thì Việt Nam đang ở đâu?
Theo công bố mới nhất của U.S. News & World Report về bảng xếp hạng các nền kinh tế tốt nhất để đầu tư trong năm nay, dựa trên khảo sát 7.000 lãnh đạo doanh nghiệp, Việt Nam xếp thứ 8 trên 29 nền kinh tế, tức tăng từ vị trí 23 năm ngoái. Việt Nam đã vượt qua các nước láng giềng như Malaysia – vị trí 13, Singapore – vị trí 14 và Indonesia – vị trí 18.
Còn với Khảo sát Lãnh đạo Doanh nghiệp APEC năm 2017 và 2018 của PwC, Việt Nam là điểm đến tiềm năng số 1 tại khu vực APEC về thu hút đầu tư xuyên biên giới.
Kết quả khảo sát năm 2019 sẽ được công bố vào giữa tháng 11 sắp tới tại Chile. Tuy nhiên dựa vào những tín hiệu tốt của thị trường và qua tiếp xúc với các doanh nghiệp, tôi kỳ vọng rằng các đánh giá năm nay cũng sẽ rất tích cực.
Vậy lý do đằng sau những thông tin tích cực này là gì?
Sự tăng trưởng thu nhập bình đầu người, sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu, nguồn nhân lực dồi dào, vị trí địa lý thuận lợi và nền kinh tế vĩ mô ổn định vẫn là những điểm thu hút chính tạo ra động lực cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Họ cũng đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam để cải thiện môi trường kinh doanh trong những năm gần đây, điển hình là các nỗ lực cắt giảm thủ tục hành chính, và xây dựng khuôn khổ pháp lý ổn định minh bạch.
Ngoài ra, các hiệp định thương mại tự do mới như EVFTA và CPTPP hứa hẹn sẽ khơi thông và thúc đẩy dòng chảy về vốn và thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia.
Đấy là điểm tích cực, nhưng ở chiều ngược lại, đâu là những điểm bất lợi của Việt Nam?
Qua các khảo sát của PwC cũng như những trao đổi với doanh nghiệp, tôi cho rằng có 2 thách thức nổi bật mà họ đang quan tâm.
Thứ nhất là cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông, logistics và năng lượng. Sự tăng trưởng về giao thương và sản xuất đang đặt ra gánh nặng lớn cho những hệ thống cơ sở hạ tầng. Hạn chế về cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Một trong những giải pháp mà Chính phủ đang đặt ra là tăng cường hợp tác công tư (PPP) để đẩy mạnh các dự án xây dựng giao thông và năng lượng.
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số cũng là một vấn đề khi mà cả thế giới đang tiến dần tới nền kinh tế số. Một điều khá khích lệ là các tập đoàn viễn thông và công nghệ thông tin lớn của Việt Nam đang khá tích cực đầu tư vào lĩnh vực này.
Thứ hai là câu chuyện về nguồn nhân lực. Nhìn chung Việt Nam thừa lao động giản đơn nhưng thiếu rất nhiều lao động có trình độ. Đấy là chưa tính đến nhu cầu nguồn nhân lực cho nền kinh tế số.
Chi phí lao động thấp được coi là lợi thế của Việt Nam, tuy nhiên chỉ đúng với lao động giản đơn. Nếu xét về chi phí lao động có trình độ, Việt Nam không hề rẻ so với trong khu vực. Nhiều doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam cho biết họ không thể thực hiện các chiến lược phát triển hay chuyển đổi do thiếu nguồn nhân lực có trình độ.
Nếu xét đến nhu cầu nguồn nhân lực cho kinh tế số, Việt Nam dự kiến ​​sẽ thiếu khoảng 500.000 nhà khoa học dữ liệu và khoảng một triệu nhân lực ngành công nghệ thông tin vào năm 2020, theo các nghiên cứu được thực hiện bởi Bộ Thông tin và Truyền thông và APEC. Do thiếu nguồn nhân lực có trình độ, Việt Nam khó thu hút được các nguồn đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Cảm ơn bà!
Đức Minh (Thực hiện) / Theo Trí thức trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KINH HOÀNG VỤ TIẾT LỘ PHƯƠNG THỨC CHẠY CHỨC VỤ BỘ TRƯỞNG – TƯƠNG LAI VIỆT NAM SẼ ĐI VỀ ĐÂU VỚI THỂ CHẾ NÀY?


Lời đồn đại thì ngập tràn trong dân chúng nhưng đây là lần đầu tiên được xác định bởi cơ quan chức năng nhà nước. Đó là vụ chạy chức bộ trưởng của Trương Minh Tuấn.
Theo cơ quan chức năng thì Trương Minh Tuấn biết việc ký mua bán vụ AVG là sai nhưng vẫn ký vì được hứa sẽ cho làm bộ trưởng nếu ký. Và dĩ nhiên Tuấn đã ký.
Tôi không cần phân tích ai hứa ai đủ khả năng cho Tuấn làm bộ trưởng vì điều ấy là thừa. Chỉ biết rằng những chức vụ gánh vác vận mệnh quốc gia này được hình thành nên bằng những cách bất lương như vậy đó.
Tôi không cần phải phân tích thêm mà chỉ nhớ câu nói của tổng thống Mỹ Donald Trump:
“Virtually everywhere socialism or communism has been tried, it has produced suffering, corruption, and decay”


Phần nhận xét hiển thị trên trang