Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

VIRUS CHIẾN TRANH, SEX VÀ NHỮNG CÁI CHẾT ĐA CHIỀU



HOÀNG THỤY ANH

Những người lính nhiễm virus chiến tranh

Những người đi qua chiến tranh thực chất đều là những người đã “chết trong dòng chảy của lịch sử”. Thương tổn khủng khiếp trong chiến tranh không ngừng đeo đẳng, bám riết cuộc đời họ. Mỗi số phận mỗi bi kịch. Mỗi nhân vật mỗi nỗi đau. Văn của Nguyễn Quang Lập khai thác khá nhiều kiểu con người này. Ông xác tín hậu quả chiến tranh bằng cách gọi riêng: virus chiến tranh. Tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” là nền móng để “Tình cát” thực chứng những mặt nạ trá hình bất diệt của virus chiến tranh.


Hoàng, Lý, Nụ, Thùy Linh, Lương, thằng Béo, chị Rá, Xê Trưởng,... và cả những con người trong mười một ngôi nhà nơi Xóm Cát đã hứng chịu những tàn khốc, mất mát của chiến tranh. Những tưởng hơn hai mươi năm sau nỗi đau bom đạn sẽ chấm dứt. Nhưng, Hoàng vẫn bị con virus chiến tranh lây nhiễm và hành hạ. Hoàng, nhân vật chính trong “Tình cát”, bị nhiễm virus chiến tranh. Virus ấy sống trong Hoàng và đeo đuổi Hoàng đến hơn hai mươi năm sau, khiến anh trở thành kẻ ương ương dở dở.

Hoàng rơi vào tình trạng hôn mê mọi lúc mọi nơi. Anh không thể kiếm soát được những cử chỉ, hành động của mình. Bên cạnh cô nhà báo trẻ, năng động, nhiệt huyết, háo hức truy tìm đến cùng những kẻ giả mạo hai ngàn ngôi mộ liệt sĩ nhằm trục lợi – Ly Ly, anh vẫn bị quá khứ xâm nhập, len lõi. Dần dần, anh trở thành kẻ khát quá khứ. Quá khứ chực chờ anh, sẵn sàng nhảy vào quấy đảo phá phách anh khi có cơ hội.

Hoàng có hai cái tôi song hành: cái tôi ý thức và cái tôi vô thức. Chúng vừa nỗ lực chống đối, vừa quấn, siết chặt vào nhau, khiến Hoàng luôn sống trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Hoàng không phải là kiểu nhân vật sống bằng kí ức, càng không phải là nhân vật bị thương tích về thể xác, mà anh là một kiểu người bị vụn vỡ với những chấn thương tâm hồn.

 Tình yêu thời chiến, với Thùy Linh, đã tạo nên không gian nội cảm với những ảo giác, rạn nứt, đổ vỡ. Những ám ảnh chia cắt về mối tình đầu với Thùy Linh, việc tìm kiếm bé Thùy Dương, cùng với những cái chết kinh hoàng của Lý, Nụ, Lương, chị Rá, thằng Béo,... khiến anh dù đang sống trong hiện tại mà phải gánh chịu tình trạng vong thân bất khả kháng. Những giây phút anh vong thân, phân thân, vượt qua ngưỡng “cái tôi”, “cái siêu tôi”, đến với “cái ấy” là những giây phút anh được cởi bỏ chính mình, đối thoại với lịch sử một cách chân thực nhất.

Hoàng là một nhà văn. Anh có thể giải phóng những chấn thương qua các trang viết. Tuy nhiên, Nguyễn Quang Lập không để Hoàng dễ dàng thoát khỏi nỗi khổ đau như thế! Xóm Cát nơi Hoàng cùng Ly Ly đến điều tra cũng là nơi anh thường xuyên chịu truy vấn bất chợt của những cơn mê sảng. Hoàng không hề kể lại câu chuyện thời chiến. Những cái mà chúng ta nhận thức về cuộc chiến được lẩy từ trạng thái hoang mê, từ những chấn thương bề sâu của Hoàng. Đây là cách xây dựng nhân vật hết sức tinh tế và sâu sắc của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Chiến tranh tàn bạo, khủng khiếp vô cùng. Nó vượt ra khỏi ý thức của con người và hành hạ, chế ngự con người ngay cả trong giấc mê, nơi con người cứ tưởng là tự do nhất, an toàn nhất. Hoàng không đuổi được virus chiến tranh ra khỏi người mình. Hoàng thực sự bị mắc kẹt giữa quá khứ và hiện tại, bị giằng xé trong bi kịch kẻ đào ngũ, bỏ trốn khỏi quân ngũ, bị kí ức Xóm Cát vây chặt.

Tương ứng với tâm trạng của Hoàng, “Tình cát” giao thoa hai lớp truyện. Lớp truyện gắn với không gian quá khứ là kí ức kinh hoàng của chiến tranh. Lớp truyện gắn với không gian hiện tại là chuyện Hoàng và Ly Ly điều tra vụ làm giả 2 ngàn mộ liệt sĩ. Hai lớp truyện này chồng chéo nhau, rượt đuổi nhau thông qua di chứng hoang mê của Hoàng. Anh đi tìm Thùy Linh, người mà anh suốt đời thương nhớ, và Thùy Dương, con của Thùy Linh, nhưng cuối cùng, anh lại tiếp tục hứng chịu đớn đau của nghịch cảnh. Một trong số 40 người tình của anh, có Thùy Dương, mà Thùy Dương chính là Ly Ly.

 Khi điều tra những kẻ tạo dựng mộ giả liệt sĩ bằng xương động vật và xương từ những ngôi mộ khác, anh không ngờ Xê Trưởng, người đồng đội một lòng một dạ với cách mạng của anh hơn 20 năm trước, phải mang vác lỗi lầm của người khác, phải nhận án tử hình. Anh cũng không ngờ Trần Hới, cha của Thùy Dương/ Ly Ly, bây giờ là Phó Chủ Tịch Văn Xã thông đồng với Trưởng Phòng Thương binh Xã hội, chuốc hết mọi tội lỗi cho Xê Trưởng.

 Quá khứ chứa nỗi đau chia lìa, mặc cảm lầm lạc. Hiện tại còn bồi thêm nhức nhối, rát buốt cho quá khứ. Hoàng như quả bóng nảy bên này rồi nảy bên kia, anh rơi vào tình trạng oái ăm: tự sự của kẻ bị chấn thương nhưng không ý thức được chấn thương. Sau mỗi cơn hoang mê, Hoàng chẳng nhớ gì và chẳng biết gì. Những vết thương chiến tranh như được kéo dài thêm trong hiện tại và pha trộn với hiện tại, rồi cùng nhau hủy hoại con người Hoàng.

Hay nói cách khác, Hoàng vĩnh viễn tàn lụi, chết trong cơn hoang mê khi đu mình trên sợi dây cheo leo, ngoảnh bên này là máu và nước mắt của quá khứ, ngoảnh bên kia là sự nham hiểm, đố kị của hiện tại.

 Chiến tranh đã tự nó len lỏi, xuyên da xuyên thịt, đâm vào tâm can, xâm nhập vào cả cơn mê của con người. Con người không có cách gì ngăn cản được con virus chiến tranh. Hội chứng chiến tranh ăn sâu vào cái hiện tại mà Hoàng đang hiện hữu, khiến cái hiện tại của anh trở nên chông chênh, méo mó, loạn biến. Cuộc đời Hoàng vì thế là những chuỗi vật vã, phức tạp mà anh không thể lường trước được. Và còn gì nghiệt ngã hơn khi Hoàng đau mà không chạm được đến nỗi đau của mình. Theo tôi, thủ pháp xây dựng nhân vật Hoàng như thế này mới là nét độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Quang Lập so với các cây bút khác. Con người bị kịch nhất khi không nắm bắt, ý thức được bi kịch của chính mình.

Kết cấu đồng hiện trong “Tình cát” phần nhiều bị cuốn vào dòng hoang mê bất định của Hoàng, vào không gian chiến tranh hơn là thực tại mà Hoàng đang sống, không gian đời tư. Càng về sau không gian hồi ức càng chiếm ưu thế, sự hoang mê của Hoàng theo đó cũng được đẩy lên cao. Anh trở thành kẻ lạc loài ngay cả với chính mình. Anh không chủ tâm đào xới quá khứ đau thương của chiến tranh nhưng cái quá khứ ấy đeo bám, gây nên những xúc cảm bấn loạn, bất chợt. Những mảnh hoang mê của anh đứt gãy, rời rạc. Giữa những mảnh ấy, nhà văn còn ghép vào tiếng của con cú què, tiếng chim “Đi... soạn cho hết”, tiếng đàn cò của ông Rúm,... như gia tăng trạng thái hoang tưởng của Hoàng. Để rồi, đỉnh điểm của hoang tưởng ấy là cái chết của Hoàng.

Sex của nước mắt và máu

Nơi chỉ có nước mắt và máu. Nơi sự sống và cái chết gần kề trong gang tấc. Nơi con người khao khát được yêu nhất. Nơi nhu cầu bản năng nguyên thuỷ nhất của con người như phơi bày hết thảy. Đó là không gian chiến tranh. Trong chia cắt, đớn đau, mất mát của chiến tranh, nhu cầu tình dục càng thêm phần cháy bỏng, cuồng nhiệt. Tình dục nảy nở từ tình yêu. Có tình yêu mới có tình dục. Nhưng trong bom đạn mịt mù, tình dục có thể không xuất phát từ tình yêu mà xuất phát từ bản năng người, nỗi cô đơn, sự cảm thương và chia sẻ. Bởi lẽ, tình dục vốn dĩ biểu thị sự sống. Tình dục giúp con người giải tỏa những ẩn ức đang bị bom đạn kìm nén, tước đoạt, được sống đúng với nhu cầu chính đáng của mình và vươn lên nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi cái chết.

Trong “Những mảnh đời đen trắng”, Nguyễn Quang Lập không dưới hai lần nhắc đến chuyện “rối rít trong cuộc tìm kiếm đực cái muôn năm của người đời” (tr.210). Đến “Tình cát”, chuyện rối rít đực cái dồn dập, bạo liệt hơn. Nếu tình yêu và tình dục của Hoàng - Thùy Linh, Họa sĩ Tư - thím Hoa trong “Những mảnh đời đen trắng”, còn chịu áp chế của đạo đức thì đến “Tình cát”, chuyện đực cái giữa Hoàng và Ly Ly cùng những người phụ nữ trong chiến tranh đã khác.

 Một con đực có thể khỏa lấp, dập tắt “cơn động rồ bất thường”, “những cơn extri tập thể”. “Đấy là nỗi thống khổ của đàn bà. Những thèm khát lương thiện đã bị giáo lý đương thời bủa vây, lâu ngày kết tủa thành khối u chèn ngang ngực, đau buốt. Đau quá hóa điên...” (tr.28). Tình yêu và tình dục của “Tình cát” do đó phóng khoáng và giàu tình nhân văn hơn. Khát khao tình yêu và tình dục giữa Hoàng - Thùy Linh là khát khao dữ dội nhất, vì xuất phát từ tình cảm đầu đời, vì nỗi đau bị gia đình cản trở, chiến tranh ngăn cách.

 Những hoang mê tình dục của Hoàng đều đi ra từ cuộc tình với Thùy Linh. Những cuộc giao hoan giữa Hoàng và Ly Ly thể hiện cách sống năng động, thoải mái, không có sự gò bó. Những cuộc giao hoan giữa Hoàng với Lý, Nụ, Lương, chị Rá,... tuy không xuất phát từ tình yêu nhưng biểu đạt nhiều giác độ: lên án chiến tranh phi nghĩa, đòi quyền tự do, quyền sống, khẳng định nhu cầu tự nhiên chính đáng của con người.

 Từ góc nhìn bản năng, dục vọng, từ cơn hoang tưởng của Hoàng, nhà văn còn xếp chồng ân ái giữa Hoàng - Ly Ly với Hoàng - Thùy Linh, Lý, Nụ, Lương, chị Rá,… Chuyện đực cái hôm nay gợi chuyện đực cái quá khứ. Tất cả đều đê mê, cuồng nhiệt. Kiểu kết cấu đồng hiện thời gian hiện tại - quá khứ này đã thiết tạo ba diễn ngôn tình dục: diễn ngôn tình dục cảm tính (Hoàng và Thùy Linh), diễn ngôn tình dục lí tính (Hoàng và Ly Ly), diễn ngôn tình dục hoang dã.

Tình dục giữa Hoàng và Thùy Linh nồng nàn, chân thành, khát khao đến bến bờ của hạnh phúc. Tình dục giữa Hoàng và Ly Ly không chịu bất kì sự trói buộc, gò ép nào, nhưng đã có sự sắp đặt, đã có phần toan tính. Tình dục giữa Hoàng và Lý, Nụ, Lương, chị Rá,… đến hoàn toàn tự nhiên, bản năng, chia sớt nỗi đau và giàu tính nhân văn. Trong ba diễn ngôn tình dục này, diễn ngôn tình dục của Hoàng và Thùy Linh là chủ âm chính, chi phối toàn bộ cảm xúc, hành động của Hoàng với những người phụ nữ khác. Vì thế, cuộc làm tình nào của Hoàng, dù chỉ vài phút chóng vánh dưới trời đạn bom, dù với người đàn bà điên,... cũng đều đắm đuối. Hoàng giải quyết sinh lý cho những người đàn bà bị vùi dập bởi chiến tranh đồng thời tự khỏa lấp những khát thèm, nhớ mong với người mình yêu thương - Thùy Linh.

Nguyễn Quang Lập tạo không gian sex tập thể không hề mang tính gợi dục. Xét trong hoàn cảnh trăm bề thiếu thốn, dày đặc khói lửa, chết chóc, Hoàng không đáng trách. Những người phụ nữ Xóm Cát hay những cô gái đôi mươi nơi chiến trường cũng thế! Đó là bản năng tự nhiên của con người. Hoàn cảnh chiến tranh đánh cắp nhu cầu của họ buộc họ phải tự tìm cách giải quyết, giữ lấy nhu cầu của chính mình. Diễn ngôn tình dục trong “Tình cát” vừa gắn với không gian đương đại vừa trì níu không gian chiến tranh. Nguyễn Quang Lập xây dựng diễn ngôn tình dục theo kiểu này hoàn toàn phù hợp với con người hoang mê của Hoàng.

Và những cái chết đa chiều

Theo cơn hoang tưởng của Hoàng, chúng ta có thể cảm nhận được muôn vàn kiểu chết trong chiến tranh. Bom đạn quyết định quyền sinh tử của con người. Trong thế giới máu me, tàn bạo ấy, Hoàng tuy không bị thương tích về thể xác nhưng ngược lại anh trở thành kẻ bị triệt tiêu về tâm hồn. Trạng thái hoang mang, lo sợ, khiếp đảm bao phủ cuộc đời Hoàng. Cái chết của Lý, Nụ, Lương, thằng Béo, chị Rá, anh Chiến, chị Rầm,... thường trực ám ảnh Hoàng. Sau cái chết của thằng Béo, Hoàng tự khai tử mình bằng cú đào ngũ. Và cũng từ đây, Hoàng đón nhận cái chết của bản ngã, cái chết của tâm hồn. Cái chết bản ngã bỡn cợt, trêu ngươi, bám riết phận số anh, dẫu anh đã đi qua chiến tranh, đã sống một cuộc đời bình yên. Cái chết bản ngã di căn, anh trượt dần vào những cơn mộng mị. Đây chính là thảm kịch đời anh.

 Lồng cái chết tự nhiên (của những người lính, dân làng Xóm Cát) trong cái chết bản ngã (của Hoàng), Nguyễn Quang Lập khắc sâu hơn nỗi đau thân phận, sự mong manh của kiếp người. Cái chết của những người lính, dân làng Xóm Cát và của Hoàng không giống với cái chết nhân tính của Phó Chủ Tịch Văn Xã và Trưởng Phòng Thương binh Xã hội. Một bên là cái chết không thể kiểm soát do virus chiến tranh. Một bên là cái chết do sự tham vọng, xảo quyệt thống trị.

 Cái chết do chiến tranh là cái chết mà bất kì người nào cũng không thể cưỡng lại được định mệnh. Còn cái chết nhân tính mới đáng sợ. Cái chết nhân tính đẻ ra những cái chết nhân tính khác. Những ngụy biện hòng che đậy, lấp liếm bản thân cùng với sự bất lương, nhẫn tâm đỗ tội cho tổ quản trang chẳng phải đã đưa Phó Chủ Tịch Văn Xã lên ngồi ghế Bí Thư Huyện Ủy đó thôi.

Lời cuối

Hoàng chết nơi Xóm Cát. Hai bàn chân anh vẫn nhô lên cát. Tại sao Nguyễn Quang Lập lại để Hoàng chết trong hoang mê, khi anh chưa thể cứu Xê Trưởng ra khỏi án tử? Hoàng biết mọi mánh khóe của Phó Chủ Tịch Văn Xã. Nhưng Hoàng mà đụng vào hắn thì con người hắn lại đẻ ra một chủ thể giả tạo khác, để vạch trần tội đào ngũ của anh hơn hai chục năm trước. Phó Chủ Tịch Văn Xã chọc khoét vào nỗi đau, sai lầm mà trong sâu thẳm tâm hồn anh chưa tìm được giải pháp nguôi ngoai.

Hoàng không cố tình đào ngũ. Trong tình thế bất đắc dĩ, suy sụp, hoảng sợ trước những tàn khốc mà chiến tranh mang đến, cùng với những khát khao kiếm tìm Thùy Linh, Hoàng trở về Xóm Cát. Ở Xóm Cát, Hoàng nhận lấy cái giá của việc đào ngũ sau việc chị Rầm bị rocket đánh cụt đầu. Năm chục phuy dầu không là áo giáp giúp anh che giấu lỗi lầm của mình. Mẹ con Thùy Linh cũng bỏ anh mà đi. Trên mặt trận, Hoàng đã chứng kiến vô vàn đớn đau. Sống trong Xóm Cát, anh cũng trở thành người thừa. Ấy thế mà, hơn hai mươi năm sau, nỗi dằn vặt ấy vẫn bị một kẻ từng chiếm đoạt Thùy Linh dấn thêm một nhát nữa.

Hòn đá Trịnh - Nguyễn phân tranh là một hình ảnh đã được nói đến trong “Những mảnh đời đen trắng”, nơi ghi dấu kỉ niệm giữa Họa sĩ Tư và thím Hoa - mẹ của Thùy Linh, giữa Hoàng và Thùy Linh. Đến “Tình cát”, nhà văn nhắc đi nhắc lại những hơn chục lần, là nơi Hoàng và Ly Ly thường ân ái. Vậy, hòn đá ở Xóm Cát này đâu đơn thuần chỉ là cột mốc để Nguyễn Quang Lập xác định vị trí Trịnh - Nguyễn phân tranh? Theo tôi, hòn đá Trịnh - Nguyễn phân tranh như khẳng định sự chia cắt, vết chém lịch sử vẫn còn tồn tại trên thân thể Xóm Cát, hệ luỵ đến những phận kiếp mỏng manh, chia lìa, đầy đau khổ. Xóm Cát cùng hòn đá Trịnh - Nguyễn phân tranh hoặc chi tiết thanh củi cháy dở trong tay Hoàng vì thế là biểu tượng của vết thương không bao giờ liền da, là chất liệu để Nguyễn Quang Lập giải phẫu chấn thương chiến tranh.

Viết về chiến tranh, Nguyễn Quang Lập không tiếp tục cày xới nỗi đau. Bởi lẽ, hiện nay mọi thứ đã được hoà/hóa giải rồi. Nhưng ai sẽ là người điều trị những chứng bệnh như Hoàng khi xã hội hôm nay vẫn không ngừng gieo chấn thương? Hai ngàn ngôi mộ liệt sĩ giả là một cái tát vào quá khứ đối với những con người còn mang trong mình những tổn thương chiến tranh như Hoàng. Lời tự vấn của Ly Ly phải chăng là câu trả lời thích đáng nhất: “Chứng bệnh của Hoàng là chứng bệnh mọi thời đại của người lính do virus chiến tranh gây nên hay là một lý do nào khác? Làm sao Ly Ly có thể biết khi cô đang ở kênh khác của cuộc đời. Thôi không biết nữa, đã quá nhiều mệt mỏi vì cái sự biết rồi, chuốc thêm nữa để làm gì?” (tr.99).

nhận xét hiển thị trên trang

HÀ NỘI ĐÃ THUA TRƯỚC BẮC KINH NHƯ THẾ NÀO?



Hoàng Văn Hoan nguyên là Ủy Viên Bộ Chính Trị khóa 2 và khóa 3 từ năm 1956-1976. Năm 1979, Việt Nam và Trung Quốc thù địch lẫn nhau, thế là âm mưu đưa Việt Nam vào bàn tay Tàu Cộng bị lộ nên ông ta đã đào tẩu sang Trung Quốc và lên tiếng ủng hộ hành động tấn công Việt Nam của Đặng Tiểu Bình. Hoàng Văn Hoan đến khi đó mới lộ bộ mặt là tên gián điệp Trung Cộng.
Hoàng Văn Hoan suốt quãng đời hoạt động cách mạng cho đến trước khi trở về Trung Quốc thì ông ta vẫn luôn là lãnh đạo kiệt xuất. Có một số điểm đáng chú ý là năm 1926, ông Hoan sang Quảng Châu học lớp huấn luyện chính trị do Hồ Chí Minh chủ trì. Và năm 1961 ông đảm nhận chức bí thư Hà Nội. Chức vụ cuối cùng mà ông ta nắm trước khi phản bội đất nước chạy sang Trung Quốc là chức phó chủ tịch quốc hội.
Câu hỏi đặt ra là, nếu không có thế lực chống Tàu nổi lên làm chủ cuộc chơi trong ĐCS giai đoạn 1976-1986 thì Hoàn Văn Hoan sẽ ra sao? Tất nhiên là ông ta sẽ được leo lên cao hơn nữa và sẽ đứng vào vị trí của những người nắm vận mệnh đất nước Việt Nam trong tay. Và chắc chắn lúc đó ông ta sẽ đưa đất nước Việt Nam ngã vào tay Trung Cộng.
Người ta nói, để hiểu người thì phải đặt mình vào hoàn cảnh của người khác thì tất những hành động của người ta sẽ trở nên dễ hiểu. Tương tự vậy, để hiểu Việt Nam sẽ ra sao khi bị một điệp viên của Trung Cộng điều hành đất nước, thì đặt vị trí của chúng ta vào đó thì ta sẽ làm gì? Và tất nhiên khi đó điệp viên sẽ hướng chính quyền này thi hành triệt để những chính sách mà có thể đưa Việt Nam vào tay Trung Cộng. Như vậy nếu là điệp viên Trung Cộng làm lãnh đạo, thì chắc chắn họ sẽ ưu tiên làm làm các việc sau: thứ nhất, loại bỏ thành phần không thuần phục; thứ nhì, ưu ái cho Trung Cộng chiếm lĩnh nền kinh tế Việt Nam; thứ ba, làm lơ để Trung Cộng di dân vào Việt Nam cách này hay cách khác; thứ tư là phải lên kế sách kiểm soát nhân dân Việt Nam để dọn được cho Trung Cộng thâu tóm lãnh thổ.
Hãy nhìn lại những gì mà lãnh đạo ĐCSVN hiện đang làm tại Việt Nam, chúng ta thấy, họ làm còn hơn những gì chúng ta nghĩ. Ngoài 4 chính sách lớn đó, họ còn cho người Trung Quốc vào Việt Nam phạm pháp nhưng được miễn tội hình sự để gây cho Việt Nam một xã hội bất an triền miên. Tức họ cai trị Việt Nam trên tinh thần họ là người Trung Quốc.
Câu hỏi thứ 2 được đặt ra là, với 1 điệp viên Trung Cộng bị lộ như Hoàn Văn Hoan, thì liệu còn điệp viên nào không bị lộ và nằm lại trong ĐCS để chờ qua hết đời Lê Duẩn thì leo cao và đưa đất nước Việt Nam trở lại tầm kiểm soát của Trung Cộng không? Với minh chứng là Hội Nghị Thành Đô 1990 thì có thể khẳng định, điệp viên của Trung Cộng bên trong ĐCS vẫn còn rất nhiều, vì họ là những người không bị lộ nên không thể khẳng định họ như khẳng định Hoàng Văn Hoan được.
Trong đất nước dân chủ thì không không thể có chuyện điệp viên lên làm lãnh đạo đất nước được, vì sao? Vì họ là những người do dân cử. Còn với kiểu chọn lãnh đạo như CS thì một khi điệp viên Trung Cộng chiếm giữa vị trí cao nhất trong ĐCS thì chắc chắn, những thế hệ lãnh đạo kế tiếp cũng là điệp viên, vì sao? Vì nhờ cơ chế truyền ngôi trong Bộ Chính Trị (tức tổng bí thư kế nhiệm phải là người được tổng bí thư tiền nhiệm giới thiệu) thì điều đó đảm bảo, khi điệp viên này hết hiệm kỳ thì hắn ta sẽ giới thiệu người của hắn kế vị. Chính vì thế mà đất nước sẽ không còn cơ hội tách ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng nữa.
Thắng bằng phản gián là cầm chắc 50% chiến thắng trong tay, trong các mặt trận chiến đấu thì mặt trận phản gián luôn là cách tối ưu nhất mà một thế lực chính trị luôn muốn nhắm đến. VHCH thua CS miền Bắc không chỉ ở quân sự mà còn thua ở mặt trận phản gián. Hãy nhìn lại sau khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta thấy bên trong chính quyền VNCH có vô số người của CS cài vào. Nhưng ở hướng ngược lại thì rất hạn chế, chính thua phản gián mà dẫn đến cái thua toàn diện của VNCH trước CS miền Bắc.
Như vậy là một câu hỏi nữa đặt ra là, về phản gián, Bắc Kinh đã thắng Hà Nội hay Hà Nội thắng Bắc Kinh? Dù cho lạc quan nhất thì cũng không ai nói rằng “Hà Nội thắng Bắc Kinh”. Như vậy, chuyện thắng thua giữa Việt Nam và Trung Quốc là đã rõ. Thực ra bên trong cái hèn mà chúng ta thấy, đó thực sự là Việt Nam đã thua hoàn toàn Trung Quốc trên mặt trận phản gián. Ba Đình đang nằm trong họng Bắc Kinh...
-Đỗ Ngà-

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

"KHÔ VI PHÔN"

Người Việt xếp hàng trước 1 ngày ở Singapore chờ mở bán iPhone 11


Sáng ngày 19/9, hơn 300 người tập trung trước cửa Apple Store tại Singapore để xếp hàng mua iPhone mới, đa số đến từ Việt Nam.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 1
4h sáng ngày 19/9, khoảng 50 người có mặt trước cửa Apple Store Orchard (Singapore) để chuẩn bị xếp hàng mua iPhone 2019.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 2
Đến 9h sáng, số người tập trung tại Apple Store lên đến khoảng 300, chủ yếu là người Việt Nam.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 3
“Mình đến xếp hàng từ lúc 4h sáng, trong top đầu. Năm nay mình thấy không khí nhộn nhịp và đông đúc hơn. Mình sẽ mua iPhone 11, 11 Pro Max và Apple Watch series 5. Mình mua hộ bạn bè và sử dụng, nếu có lời sẽ bán”, anh Trần Đạt (Đà Nẵng) nói.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 4
Người xếp hàng được yêu cầu tập trung thành nhóm 50 người bên phải cửa hàng để nhân viên lắp đặt khung an ninh.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 5
Đến 9h10, Apple Store bắt đầu phát các vòng số cho người xếp hàng. Vòng số trên tay cho phép người chờ mua iPhone rời khỏi hàng để đi vệ sinh, ăn uống... trong 60 phút, mỗi ngày được ra vào 4 lần.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 6
Nhân viên Apple kiểm soát thời gian bằng cách quét mã QR. Vòng tay này không thể tái sử dụng, vì vậy họ không thể chuyển cho người khác. Nhiều người xếp hàng để mua iPhone rồi bán sang tay cho những đầu nậu chờ thu mua.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 7
Triệu Kim Mỹ Linh (quận Gò Vấp, TP.HCM) là người xếp hàng đầu tiên tại Apple Store.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 8
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 9
"Mình đến đây từ lúc 2h sáng. Mình sẽ mua iPhone 11 Pro Max 256 GB màu xanh lá", Mỹ Linh chia sẻ.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 10
Đám đông được nhân viên an ninh yêu cầu ngồi trật tự chờ đến lượt được vào hàng. Dù vất vả từ sáng nhưng nhiều người vẫn tỏ ra hào hứng khi được vào xếp hạng. Những người đến muộn hơn vẫn phải ngồi trong nhóm chờ. Nhiệt độ Singapore ban ngày vào khoảng 29 độ, trời có dấu hiệu sắp đổ mưa. Nhiều người mang theo các vật dụng cá nhân để sẵn sàng qua đêm tại đây.
Nguoi Viet xep hang truoc 1 ngay o Singapore cho mo ban iPhone 11 hinh anh 11
Những người đã ổn định trong hàng bắt đầu ăn uống, nghỉ ngơi và sử dụng điện thoại. Những người ở đây hầu hết là "chân gỗ" của các cửa hàng ở TP.HCM và Hà Nội. Những ai xếp hàng mua được iPhone có thể bán sang tay với mức chênh lệch 200 SGD (tầm 3,4 triệu đồng). Những người này sẽ chờ đợi trong khoảng 24h nữa để có thể vào trong mua iPhone mới.
Lê Trọng / Zing

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sân bay 11,5 tỷ USD của Trung Quốc sẵn sàng đón khách



Chuyến bay thương mại đầu tiên sẽ được thực hiện tại Sân bay quốc tế Đại Hưng Bắc Kinh ngày 20/9. Dự án có tổng đầu tư tới 11,5 tỷ USD.
Truyền thông Trung Quốc đưa tin nhân dịp Sân bay quốc tế Đại Hưng Bắc Kinh (PKX) khai trương, Hãng hàng không China Southern sẽ triển khai sử dụng Airbus A380 - máy bay thương mại lớn nhất thế giới.
CNN nhận định sân bay có tổng đầu tư 11,5 tỷ USD có thể mở ra một thời kỳ du lịch hàng không mới đến và đi từ thủ đô Trung Quốc. Trong một thời gian dài, tiềm năng hàng không của Bắc Kinh bị hạn chế nghiêm trọng do thiếu cảng hàng không quy mô toàn cầu thứ hai.
San bay 11,5 ty USD cua Trung Quoc san sang don khach hinh anh 1
Sân bay Daxing nhìn từ trên cao. Ảnh: Getty Images.
Hiện tại, Sân bay quốc tế Bắc Kinh (PEK) đã hoạt động hết công suất, khiến các hãng hàng không gần như không thể bổ sung các chuyến bay vào thời điểm “đẹp” trong ngày.
Năm 2018, hơn 100 triệu hành khách di chuyển qua 3 nhà ga của PEK. Đây là sân bay thứ hai trên thế giới đạt cột mốc đó, sau Hartsfield-Jackson Atlanta ở Mỹ. Giới chuyên gia dự báo Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ để trở thành thị trường hàng không lớn nhất thế giới vào năm 2022.
San bay 11,5 ty USD cua Trung Quoc san sang don khach hinh anh 2
Sân bay quốc tế Đại Hưng Bắc Kinh (PKX) được kỳ vọng mở ra kỷ nguyên mới cho ngành du lịch hàng không Bắc Kinh. Ảnh: Arup.
Sân bay Đại Hưng được thiết kế bởi kiến trúc sư quá cố Zaha Hadid. Ở giai đoạn hoạt động đầu tiên, cảng hàng không này có 4 đường băng và một nhà ga có kích thước tương đương 97 sân bóng.
Bên cạnh đó là dịch vụ thông tin và chăm sóc khách hàng bằng công nghệ robot.
San bay 11,5 ty USD cua Trung Quoc san sang don khach hinh anh 3
Sân bay Đại Hưng được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng Zaha Hadid. Ảnh: Pascall+Waston.
Mục tiêu ban đầu của sân bay khá “khiêm tốn”: tiếp nhận 72 triệu hành khách và 2 triệu tấn hàng hóa vào năm 2025. Kế hoạch tổng thể đầy tham vọng bao gồm việc xây dựng tổng cộng 7 đường băng, đạt công suất ít nhất 100 triệu hành khách và 4 triệu tấn hàng hóa/năm.
Hoạt động xây dựng bắt đầu từ năm 2014. Có những thời điểm hơn 40.000 công nhân tập trung làm việc tại công trường dự án. Giới chuyên gia hàng không nhận định thiết kế của nhà ga Đại Hưng mang đậm phong cách cá nhân của nhà thiết kế Hadid. Điểm đặc biệt nhất là công trình tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên nhờ hơn 8.000 cửa sổ trên mái
San bay 11,5 ty USD cua Trung Quoc san sang don khach hinh anh 4
Sân bay Đại Hưng tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên. Ảnh: China Daily.
Được truyền thông Trung Quốc đặt biệt danh "Sao biển" vì hình dạng 5 nhánh nối với sảnh trung tâm, Sân bay Đại Hưng được thiết kế để giảm thời gian đi bộ của hành khách.
Ban quản lý sân bay cam kết hành khách sẽ chỉ phải di chuyển tối đa 600 m, tương đương 8 phút đi bộ, từ khu vực kiểm tra an ninh tới cổng ra máy bay xa nhất.
Một vấn đề của Sân bay Đại Hưng là vị trí. Cổng hàng không này nằm ở phía nam Bắc Kinh, khu vực thường xuyên bị tắc nghẽn giao thông. Nó cách Thiên An Môn ở trung tâm thành phố khoảng 50 km. Khoảng cách tới các khu hành chính ở phía đông và bắc Bắc Kinh thậm chí còn xa hơn.
San bay 11,5 ty USD cua Trung Quoc san sang don khach hinh anh 5
Sân bay Đại Hưng ở vị trí không quá thuận lợi, do đó chính quyền Bắc Kinh xây dựng hệ thống giao thông kết nối với trung tâm thành phố. Ảnh: China Daily.
Chính quyền Bắc Kinh khẳng định Đại Hưng được thiết kế để không chỉ là một sân bay, mà còn là một trung tâm giao thông tích hợp với hệ thống tàu điện cao tốc kết nối trung tâm thành phố với sân bay và dịch vụ liên thành phố. Tàu tốc hành của sân bay có tốc độ 160 km/m, hứa hẹn sẽ đưa hành khách đến thành phố trong vòng chưa đầy 20 phút.
CNN bình luận với các hành khách thường xuyên di chuyển, sẽ cần thời gian để xác định Đại Hưng có phải là cảng hàng không phù hợp để đến và đi từ Bắc Kinh hay không.
Hương Giang ? Zing
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG MẢNH VIỆT GHÉP Ở XỨ NGƯỜI

 
                                                                   Nhà văn Văn Chinh, báo Văn Nghệ 12/2017.  
      
          Tôi gặp ông Nguyễn Chiến Thắng lần đầu tại một quán bar ở Phan Bội Châu, chúng tôi có người bạn chung là Nguyễn Khắc Phục. Hôm ấy Phục đãi rượu Cointreau, nhắm với món cũng rất đặc biệt và đặc trưng Nguyễn Khắc Phục, là kể câu chuyện người Thái Bình từng bơi thuyền sang mạn Hongkong vào mùa sương giá mò sò huyết trộm. Tại sao phải đi vào mùa sương giá, vì từ đó về đến Thăng Long phải kể hàng tháng; chỉ trong khí lạnh sò huyết mới còn tươi trong miệng thực khách. Lý Thường Kiệt nhân việc dân sự, mới nghĩ ra chiến thuật cho quân giả làm dân mò sò huyết che xung quanh bè luồng Thanh chở voi chiến, khi voi lên bờ thì khiến quân địch tưởng là thiên binh thiên tướng, chưa đánh mà tự vỡ trận.

        Trong hương vị Cointreau, còn một ấn tượng nữa là tên cuốn sách “Chú Tư, con là ai?”của Nguyễn Chiến Thắng. Nó gợi về những thân phận sinh ra trong chiến tranh, li loạn và tha hương cầu thực. Ai từng đọc nó, như bây giờ đọc “Ngụ cư” (ký tên là Thăng Sắc) lại biết thêm, tác giả của chúng đã từng làm Đại sứ tại Angeri, Pháp và Campuchia thì dễ nhận ra diện mạo tinh thần của nhà văn: Nặng lòng với những đồng bào xa xứ. Ở Ngụ cư, tác giả để tâm quan sát những người Việt, do các lý do khác nhau mà bị văng ra khỏi đất mẹ rồi vì sinh kế, tụ lại với nhau thành những cộng đồng nhỏ, làm nên những mảnh Việt và ngược lại, qua đó để thêm một góc nhìn về đất nước con người Việt.

        Ngụ cư có thể đọc liền mạch, trong đêm. Vì rất ly kỳ, lối viết cổ điển, dễ đọc; ông lấy bằng Thạc sĩ Văn chương tại Pháp, nhưng viết là Ăng-đrây và Vác-sa-va mỗi khi nói đến tên người tên đất. Hẳn ông ngụ ý rằng, tôi dùng tiếng Việt, cái nhìn Việt – tĩnh để đọc sự phức hợp, đa diện về các trục chuyển động của thế giới?

Dẫu sao, đó cũng là yếu tính của bản lĩnh chính trị thời hội nhập, nó quan trọng như sự lấy đà trước khi nhảy lên hay nhảy khỏi tầu điện; tôi nghĩ thế!

Phẩm chất làm nên tư thế đại sứ ấy cũng giúp ngòi bút Nguyễn Chiến Thắng đọc vị sự vật được khách quan. Chỉ qua Bùi Khoái, kỹ sư sức bền vật liệu, dạy ở Đại học Bách khoa chỉ vì năng động, muốn vừa nghiên cứu vừa sản xuất hàng hóa lập tức bị một tay cơ hội chính trị là Trịnh Hùng giã cho tơi bời bằng các lý luận xơ cứng thành thân bại danh liệt mà văng sang Tiệp – chỉ với Bùi Khoái, một thời, một mảnh đất nước hiện ra mồn một. Oái oăm và nhất là thú vị là, kẻ cơ hội ấy sau này cũng du học, trở thành có vai vế, có tiếng nói trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhưng quanh Khoái có hai nhân vật cùng để lại ấn tượng hơn, là ông anh ruột Bùi Khoai và Trần Đại, cựu bí thư chi bộ Trường Đại học Bách khoa. Sớm nhận ra phẩm chất và năng lực của Bùi Khoái, đã ủng hộ anh nhưng không thể kết nạp anh, không thể bênh vực lẽ phải thuộc về anh vì “nó khác với lý luận hiện thời”; ông Trần Đại rồi cũng phải đi dạy học ở Angeri, khi về mang bột zan-ta-mi-  xin bị Hải quan bạn lột sạch; trở sang cũng phải mang đồ Thái sang bán bên Ba Lan để cải thiện, “cũng chẳng được bao nhiêu đâu Khoái ạ, chỉ để bù vào tiền vé đi về”. Ông nhận từ Bùi Khoái mấy trăm đô, trong phiên chợ chiều hàng ế - chi tiết thật bùng nổ, ngậm ngùi. Còn ông Đại tá ăn lương tướng của anh, ông Bùi Khoai thì vẫn ở trong ngôi nhà do bố mẹ để lại, không có toilettes tự hoại – mong muốn trước mắt là “xây lại nhà, có toilettes, có phòng riêng cho mỗi khi chú với con Thu về thăm quê.” Diễn biến tâm lý Bùi Khoai trước tình yêu và hôn nhân của cô con gái duy nhất thật tinh tế và phức tạp. Hoàng Thu yêu Duy Tuấn, con trai của cựu Trung tá VNCH Lê Liêm. Ông khùng lên vì con không những yêu con kẻ địch cũ, lại là Việt kiều Mỹ mà còn vì trong đáy sâu mặc cảm về sự giàu nghèo, ông sẽ không được “tụi nó coi trọng.” Cắt nghĩa một tâm thế phức tạp của xã hội mà viết thật nhẹ nhàng, với các lời thoại không thể giản dị hơn; ở chỗ này, phương thức cổ điển đã không khác so với siêu thực về sức biểu đạt của ẩn dụ.

        Ai đó nói, châu Á có bốn chủng người rất giỏi ứng biến với hoàn cảnh lạ, có thể so với Do Thái ở châu Âu là Jopon, Koreo, Hán và Việt. Bùi Khoái là ví dụ minh chứng. Vỡ nợ do cú lập xưởng sản xuất săm lốp bị quy là CNTB, để lại cô vợ bệnh tim và sắp đến tháng đẻ; anh phải vay nợ lãi cao để sang Tiệp làm đội trưởng lao động xuất khẩu. Cũng là do ông Trần Đại, mặc dầu sống nghiêm cẩn với quy định, nhưng từ trong lương tri, ông vẫn nhận ra cái “không phải’ của mình với Khoái, cú đi Tiệp của Khoái là ông đền bù cho anh. Khoái đã hai lần giàu có rồi hai lần tay trắng. Lần đầu ở Tiệp, là khi Khoái gom tiền để về nước. Cái logic tâm lý của người Việt là Khoái sẽ “áo gấm về làng’ để mặn này bõ nhạt xưa. Nhưng số phận không muốn vậy. Lòng tốt đi cùng sự nhẹ dạ, nhẹ dạ đến thành một thứ bệnh, bệnh vô lý của người Việt: “Trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Ấy là anh đã muốn “cải huấn” tính cách kẻ khác bằng cách cho bốn tên đạo tặc, chuyên dí súng đòi nộp tiền vào ở nhờ nhà mình; lại như một thứ dĩ độc trị độc. Hậu quả của sự vô lý là Đẻn và Sơn đã nhân dịp anh vắng mặt lâu ngày để hót sạch 6 - 7 năm lăn lộn trên thương trường tích cóp chứa trong két sắt. Bọn lưu manh này rất quái, chúng đã mượn thuộc tính không hiển thị địa chỉ của điện thoại di động để tạo chứng cớ ngoại phạm, là nói đang ở rất xa “nhà”. Lần thứ hai cũng lại là một “canh bạc vét” để về nước, dốc vốn buôn hàng lậu. Lần này thủ phạm là tay lái xe Ba Lan tên Mi- rêc, bạn làm ăn đã trở nên thân thiết với Khoái. Hắn tạo ra hiện trường giả, nói là hàng lậu bị công an tóm và tịch thu hết. Cả hai cách trấn lột đều là sản phẩm của giới giang hồ, buôn lậu; ở xứ lạ, cách để biện hộ cho hành vi cũng là của những người không cùng ngôn ngữ, khác biệt về văn hóa và luật pháp.

Khi bị bứng khỏi xứ sở, tục lệ làng xã; sống ở nơi ít bị ràng buộc khỏi hệ thống quản trị cũng như các ước lệ xã hội sở tại, con người dễ bộc lộ bản chất và dã tâm. Chẳng cứ bọn Đẻn, Sơn chuyên sống bằng chấn lột vì biết cảnh sát ít quan tâm đến xã hội ngoại kiều nếu không khai báo, đến cả Ăng-đrây, sĩ quan đặc nhiệm của Nam Tư, khi thể chế trở nên hỗn độn thì vượt biên mà trở thành một trùm băng đảng xã hội đen chuyên bảo kê kiếm tiền. Chi tiết Ăng-đrây giúp Khoái giải cứu vợ Sơn Tùng khỏi lũ bảo kê, bắt cóc người để đòi nợ thuê cho một soái khác thật ly kỳ như một trường đoạn của phim hành động Mỹ. Chưa chết người, nhưng trên thương trường ấy đã đổ máu, vợ Sơn  Tùng được giải cứu, nhưng bị chặt một ngón tay – luật rừng đã đóng dấu vĩnh viễn trên số phận cô, đóng đinh vào tâm can người đọc. Ngay Thực, anh nhân viên phụ trách nhà khách, chỉ là chân “sống nhờ” dân buôn lậu, tại xứ người cũng trở nên trắng trợn vì cái mặt nạ đạo đức khiến trở nên vướng víu, hắn đã vứt toẹt đi. Một kiểu thực dân khác, nhỏ thôi và cũng là điển hình cho căn bệnh mới nhiễm, ấy là lợi dụng thói cửa quyền, bất cứ ai nhờ y, Thực cũng nhờ lại một việc sinh lợi: Mua giúp hàng, lại gửi chính kẻ mua giúp bán hộ; hay gửi hàng (bằng) nước bọt về nhà…Những ai sống bằng thùng hàng của thân nhân lưu vong, bất kể là kiểu Lê Liêm, Bùi Khoái, Sơn Tùng  hay Trần Đại, Trịnh Hùng, Thực…không thể không rơi nước mắt xót thương.

        Nhưng ở Ngụ cư, không chỉ có những mảnh Việt vụn vặt xấu xí ghép lại. Cuốn sách gây hứng khởi người đọc nằm trên chiều ngược lại. Đó là ý chí và trí lự người Việt nằm ở những Bùi Khoái, Nguyễn Bách đã trở thành hạt nhân cho những mảnh Việt châu tuần và được dẫn dắt. Nguyễn Bách vốn là sinh viên trong nhóm lập xưởng sản xuất săm lốp cùng thầy Khoái năm xưa, đã sang Ba Lan trước thầy, thầy trò gặp nhau oái oăm và cảm động. Khi trắng tay ở Tiệp, không chịu về nước như một kẻ bại trận, Khoái đã trốn trong thùng xe chở hàng lạnh sang Ba Lan để từ đó anh cầm thư giới thiệu nhờ vả của người môi giới mà đến gặp soái Nguyễn Bách. Bằng sự giúp đỡ của Bách, bằng ý chí của anh, Khoái đã đi từ chủ nhỏ đến chủ lớn, đi từ điểm lập nghiệp tỉnh nhỏ đến Warszawa. Cố nhiên, nhờ tính cách cởi mở chân thành – một nét tính cách Việt khá đậm đặc nơi mỗi người lưu vong (khác với u trầm, kín đáo của người Hán, người Jopon), Khoái được người bản xứ, gồm cả quan chức và thường dân yêu trọng, hết sức giúp đỡ. Tất cả đã biến trí lự của Khoái từ ý tưởng làm kho cho người Việt thuê chứa hàng chợ đến hiện thực rồi thành công, đưa anh có chân trong hàng ngũ soái.

Trở lên, tôi mới “vẽ” bộ xương của truyện. Da thịt của truyện tươi tắn với những chi tiết hiện thực, những lời thoại của nhân vật đúng là của nó; cùng với các mối quan hệ tình yêu công sở, tình yêu – làm ăn, các mối quan hệ với người bản xứ xấu, bản xứ tốt mà tác giả quen thuộc, thấu hiểu khiến nó sinh động như chính cuộc sống. Đọc Ngụ cư, như được xem một phim tài liệu nghệ thuật về đất nước thu nhỏ mấy chục năm qua. Tôi không nói Ngụ cư hay nhất, nhưng là một tiểu thuyết thành công, nó góp phần tạo cảm giác 2017 là năm mùa văn học bội thu, mập mẩy. 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TẠI SAO TÀU KHÔNG ĐỒNG HOÁ NỔI VIỆT?


  Đó là câu hỏi chưa được thấy nêu lên, mặc dầu rất nhiều người đã ghi nhận sự kiện là Tàu không đồng hóa được Việt, nhưng chỉ ghi nhận như một hiện tượng chứ chưa có sự đi tìm lý do. Ong Paul Mus có đi sâu hơn được một bước khi nói lễ gia tiên và sự thờ thổ thần đã giữ cho Việt Nam khỏi đồng hóa với Tàu. Nói vậy đúng nhưng chưa hết vì chưa chỉ ra đựơc căn do nội tại. Theo Việt Nho thì căn do đó nằm trong sự vụ Việt là chủ, Tàu là khách, do đấy Việt biến đổi Tàu, chứ không phải Tàu biến đổi Việt. Nói thế cho mạnh để đề cao tinh thần trên vật chất, còn muốn nói cho rành mạch thì phải nói về văn hóa thì Việt cải đổi Tàu, còn về văn minh thì Tàu ảnh hưởng Việt: văn minh như về cách cai trị, quân bình, thi cử, cùng các kỹ thuật. Ngược lại về văn hóa tức tinh thần hay nói rõ hơn là những tư tưởng lãnh đạo làm nền tảng cho Nho thì do Việt.
  Sở dĩ câu trên coi như cách mạng vì xưa rày chưa hề có ai nói tới: các học giả mới căn cứ vào có sách, mà bởi thời nay chưa có sách cũng gọi là từ, chưa có từ, mới có tượng, số và chế, đôi khi gọi là “kinh vô tự” như Lạc Thư, Sách Ước, Trống Đồng v.v… Tất cả những lâu đài văn hóa nọ hàm tàng những chân lý nền tảng hơn hết và được Nho giáo múc ở đấy, nếu không thì múc ở đâu ra được Đạo. Sách nói “Bất do cổ huấn, vu hà kỳ huấn” là thế, và vì vậy ta thấy ông tổ Nho là Khổng Tử luôn luôn xưng mình là hiếu cổ, học với cổ, ông xưng rõ ông không phải là người sáng tạo mà chỉ thuật lại lời các tiên tiền đã truyền ra, cho nên khi đọc Tứ Thư Ngũ Kinh ta thấy bao nhiêu đạo lý đều quy cho những vị cổ xưa như Nghiêu, Thuấn… Phục Hy làm ra Kinh Dịch, Oa Hoàng làm ra phép linh phối. Thần Nông làm ra nông nghiệp. Hữu Sào làm ra nhà sàn. Bàn Cổ xếp đặt trời đất… Xưa rày ngừơi ta vẫn nghĩ rằng bấy nhiêu vị là người Tàu cả. Nhưng đến nay khoa học mới khám phá ra rằng các ngài không phải là người Tàu? Hỏi vậy là ai? Các học giả chưa nói ra ngã ngũ. Và đến đây An Vi giơ tay xin góp ý kiến như sau: xin đem các vị đi thử máu, xem là máu Tàu hay máu Việt.
 Đó là phương pháp rất khoa học vì đây không phải là máu chủng tộc mà là máu văn hóa. Đến lúc thử xong thì ra toàn loại máu TR (Tiên Rồng).
 Phục Hy cũng có tên là Thanh Tinh: rồng xanh, đúng là máu R, đã thế lại còn giao chỉ với bà Nữ Oa tức hai vị quấn lấy đuôi nhau làm sao không lây máu nhau được. Vì thế cần xin bà Nữ Oa tí huyết để phân tích, mới rút ra thì đã thấy là máu T (chim). Vì khi bà chết thì hóa ra chim tinh vệ (tức máu T tiên) tha đá lấp bể. Vá trời lấp bể là những việc của các nghi mẫu chúng ta. Đó là những việc có tầm vóc vũ trụ, ngầm chỉ những chân lý bao la phổ biến mà các bà sáng nghĩ ra. Vì thế truyền thuyết nói bà lập ra phép hôn phối. Thực ra là phép linh phối tức nối trời với đất, cho nên tay bà cầm cái quy, chỉ phép tắc trong trời đất. Quy cũng gọi là thập tự nhai + gồm nét dọc chỉ trời, ngang chỉ đất, hai nét giao thoa làm nên con người đại ngã tâm linh. Về sau Nho giáo công thức hóa thành câu: “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức”. Còn Phục Hy cầm cái củ là dụng cụ để đo góc vuông với hàm ý là đất, vì đất có bốn phương, nên nói là trời tròn đất vuông (thiên viên địa phương). Vì thế hai chữ quy cù có nghĩa là trời tròn đất vuông, còn nghĩa thực tiễn là rường mối phép tắc.
  Đấy là tổ của Nho nhưng cũng mới là tổ đợt nhì gọi là đợt cơ cấu. Còn tổ đợt nhất là các ông Hữu Sào, Toại Nhân và cuối cùng là Bàn Cổ. Hữu Sào là “có tổ” có ý nói tới nhà sàn vì nó giống với tổ, tổ làm trên cây ở giữa trời cùng đất. Nhà sàn cũng vậy có nóc chỉ trời, người, đất. Sau này Nho công thức hóa thành thuyết tam tài là Thiên, Địa, Nhân, ta quen gọi là đạo Ba. Còn Toại Nhân là người phát minh ra phép dùng lửa đã chấm dứt thời bắt sống ăn tươi như thú vật, đặng bứơc vào thời nấu, nướng, chiên, xào. Vì liên hệ với cụ Toại Nhân nên nước ta có tên Xích Quỷ. Quỷ làm chủ, còn Xích là đỏ, hiểu là đỏ lửa, tức làm chủ đựơc lửa, hay là biết áp dụng lửa vào cuộc sống. Cũng vì thế phương Nam thuộc Xích đế (Tây Bạch đế, Đông Thánh đế, Bắc Huyền đế, ở giữa là Hoàng đế). Chính vì liên hệ này mà Việt tộc có tên Viêm tộc (chữ Viêm kép bởi hai chữ hòa). Thần Nông có tên Viêm đế và một ruỗi những chim lửa như chim Tất phương và chim Chương dương đều là thần lửa phương Nam, cũng như có những tổ làm thần Chúc Dong coi về lửa, tức kỷ niệm thời tổ tiên ta còn thờ mặt trời nên mới có những tên như Viêm Đế, Viêm Bang, Viêm chủng mà nhà Phật dịch là Nhật chủng cũng như nước ta nhận hoa Nhật quỳ làm quốc hoa v.v…
  Còn về văn hóa thì dấu vết được tỏ rõ trong phép tả nhậm: vắt áo bên tả biểu lộ lề thói trọng tả của ta cũng là trọng Văn, còn Tàu trọng Hữu tức trọng Võ. Số 5 là của Việt. Tàu ưa số 6, về sau Tàu mới đổi sang số 5. Nhà mái cong cũng của Việt ngay từ thời Đông Sơn, còn Tàu mãi đến đời Đường mái mới cong, tức cong sau ít gì mười thế kỷ. Nét cong nói lên sự hòa hợp giữa tròn và vuông ý nghĩa số 5 giữa chẵn và lẻ (2+3) vậy. Điều nổi cuối cùng: Rồng là của Việt. Tàu trước nhận Bạch hổ. Đời Thương còn mang cờ hổ, đang khi các chi tộc của Việt đã mang cờ rồng. Kinh Dịch nói là “Long kỳ dương dương” (các cờ rồng bay phơi phới). Tàu mới nhận rồng vào lối nhà Hán.
  Tất cả những điều này đã nói nhiều nơi (xem nhất là bài Tại sao hai chữ Việt Nho trong Pho tượng) nên xin thông qua để đi đến kết luận.
  Là các khoa tân nhân văn như triết, khảo cổ, cổ tục v.v… đều chứng minh là Việt có văn hóa trước, Tàu mới đến sau và chỉ làm cho văn hóa kia trở nên xác định rõ ràng, ngừơi ta gọi là văn minh. Việt học mới bàn về văn minh mà quên giai đoạn văn hóa nên nay có người nói tới thì tưởng là nói ẩu vì ái quốc quá khích. Sự thực thì rất là vừa khít.


Phần nhận xét hiển thị trên trang