Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

Nhà tiên tri Vanga dự báo 'có xung đột lớn'?

TTO - Cách đây đúng 23 năm, nhà tiên tri nổi tiếng Baba Vanga qua đời tại Bulgaria. Từ lúc sinh thời đến sau khi chết, có nhiều tin đồn và bí mật bao phủ lên bà lão mù này. Thực hư ra sao?

Nhà tiên tri Vanga dự báo có xung đột lớn? - Ảnh 1.
Bà lão mù người Bulgaria được coi là nhà tiên tri với những dự báo tương lai chính xác - Ảnh: KP
Ngày 11-8-1996, nhà ngoại cảm nổi tiếng thế giới Vangelia Pandeva Dimitrova - tên thường gọi Baba Vanga - qua đời trong một bệnh viện ở thủ đô Sofia của Bulgaria vì bệnh ung thư.
Mặc dù đã hơn hai thập niên trôi qua kể từ ngày bà tạ thế, những lời "sấm Vanga" vẫn chưa mất đi sức sống. Có thể là thật, mà cũng có thể hư cấu, nhưng người ta cứ thích thảo luận và đối chiếu các dự báo với những sự kiện lớn của thời đại.
Dù chỉ còn chưa đầy 5 tháng, khoảng thời gian còn lại của năm 2019 khá là ảm đạm nếu tin vào "sấm Vanga" lan truyền. Nhưng trước hết hãy cùng điểm lại một số bí ẩn trong cuộc đời Baba Vanga qua tài liệu của giới nghiên cứu Nga.
Vanga và tình báo Liên Xô
Theo báo Gazeta.ru, sau ngày Liên bang Xô viết tan rã, mặc dù các học giả người Nga và Bulgaria đã tiếp cận được nhiều tài liệu và tàng thư lưu trữ thuộc dạng tuyệt mật của thời kỳ trước, đến nay vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho nghi vấn liệu Baba Vanga có phải là mật vụ của Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) hoặc tình báo Bulgaria không.
Cuối năm 1952, bà Vanga bị bắt bỏ tù vì dự báo nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin sẽ sớm qua đời. Đến ngày 5-3-1953, tức chỉ vài tháng sau, Stalin quả thật đi về thế giới bên kia. Bà được trả tự do ngay sau đó.
Có nguồn tin nói trong khoảng thời gian ngắn bà Vanga ngồi tù, có người của một tổ chức tình báo, không rõ nước nào, đã tiếp cận đề nghị hợp tác và thậm chí đe dọa, nhưng bà nhất mực từ chối.
Tuy nhiên, trong quyển sách Đồng chí Vanga, tác giả Zbignev Voitsekhovsky nhận định có những lý do khách quan dẫn đến việc nhà tiên tri Bulgaria hợp tác với giới tình báo trong một mối quan hệ cùng có lợi.
Còn trong ấn phẩm Vanga: những lời khuyên tốt nhất và những lời sấm quan trọng, hai tác giả Vadim Pustovoitov và Vladimir Izmailov khẳng định từ ngày 3-10-1967, bà Vanga chính thức trở thành "công chức nhà nước" với mức thù lao 200 lev/tháng (hơn 114 USD).
Để được gặp Baba Vanga, công dân Bulgaria phải trả 10 lev, còn người nước ngoài là 50 lev. Tốn tiền nhưng thời gian chờ đợi có khi dài đến 1 năm.
Trong quá trình bà Vanga làm việc, giới tình báo thành lập một nhóm chuyên thống kê hồ sơ của tất cả khách hàng yêu cầu được dự đoán quá khứ - vị lai. Theo kết quả phân tích chuyên sâu, họ nhận thấy các dự báo của Vanga có độ chính xác khá cao.
Thời đó, Bulgaria còn thành lập Viện Nghiên cứu thôi miên và sức mạnh ngoại cảm chỉ để nghiên cứu hiện tượng Vanga.
Nhà tiên tri Vanga dự báo có xung đột lớn? - Ảnh 2.
Baba Vanga bị mù từ năm 12 tuổi - Ảnh: KP
KGB thán phục Vanga
Nếu tin vào tài liệu của các tác giả Nga, năm 1975, cơ quan an ninh Bulgaria bắt giữ bà Vanga với cáo buộc làm gián điệp cho nước ngoài, mặc dù bà cả đời chưa bao giờ đặt chân ra khỏi Bulgaria. Họ còn tiến hành lục soát căn nhà của bà ở thị trấn Petrich.
Nhà tiên tri chỉ được yên thân sau khi "thượng tầng" can thiệp xuống, tuy nhiên tình báo Bulgaria luôn theo sát bà kể từ đó. Nhà làm phim tài liệu người Bulgaria Toma Tomov kể, ông có lần nhìn thấy cả đống thiết bị nghe lén trong căn phòng bà Vanga làm việc do tấm giấy dán tường tình cờ bị rách.
Ông Philipp Bobkov, một trong những đặc vụ KGB nổi tiếng nhất trong nửa sau thế kỷ XX, giữ chức cục trưởng Tổng cục 5 KGB (phụ trách phản gián) giai đoạn 1969-1983, khẳng định ít nhất liên quan đến cơ quan do ông phụ trách, nhàtiên tri Vanga không có sự liên hệ nào.
"Vanga chưa từng là điệp viên của chúng tôi. Các cơ quan an ninh đối xử với bà ấy rất nồng hậu. Bản thân tôi từng đến Petrich, biết rõ mấy anh chàng ở đó lắm" - đây là lời của ông Bobkov được dẫn lại trong quyển sách Vanga. Những dự đoán định mệnh trở thành sự thật của tác giả Inna Svechenovskaya.
Năm 2014, trong cuộc phỏng vấn với báo Komsomolskaya Pravda, cựu trung tướng KGB Oleg Leonov thừa nhận "KGB luôn quan tâm đến những người có khả năng đặc biệt, và bà Vanga nằm trong số đó".
"Chính tôi cử nhà ngoại cảm Vladimir Safonov đến gặp Vanga, người mà tôi cho là giỏi hơn nhà tiên tri Bulgaria. Ông ấy gặp Vanga vài lần và báo cáo lại rằng bà ấy thực sự có năng lực nhìn thấu quá khứ và tương lai" - cựu tướng Leonov kể.
Nhà tiên tri Vanga dự báo có xung đột lớn? - Ảnh 3.
Có không ít lời sấm Vanga được cho là dự báo thảm họa và sự diệt vong của thế giới - Ảnh: KP
2019 là năm của chiến tranh?
Trước hết, cần phải nói rõ hầu hết lời sấm của bà Vanga không mô tả các sự kiện một cách trực tiếp và dễ hiểu, hầu hết chúng đều trừu tượng, mơ hồ và đôi khi ý nghĩa phụ thuộc hoàn toàn vào người diễn dịch.
Theo báo Express Novosti của Nga, những người thích nghiên cứu "sấm Vanga" tin rằng những tháng còn lại của năm 2019 sẽ còn xảy ra một số sự kiện "kinh khủng" dựa trên những gì họ hiểu được.
Cái đầu tiên là một cuộc xung đột lớn, quy mô không chỉ nằm trên một lục địa nào đó mà là cả thế giới, "hàng triệu sinh linh sẽ chịu đau khổ". Khả năng tránh khỏi điều này không cao, theo giới "hâm mộ" Vanga.
Ngoài ra, cũng liên quan đến chính trị, người ta dự báo Trung Quốc sẽ trở nên mạnh hơn. Quốc gia này sẽ ảnh hưởng đến toàn thế giới và chi phối hầu như tất cả nhân loại.
Bước ngoặt trước giai đoạn này là Trung Quốc chế tạo ra được một phương tiện vận tải bay "độc đáo" đầu tiên trên thế giới...
Và còn một số dự báo khác, nhưng đa phần chúng trùng hợp với những gì vốn đã diễn ra trên thế giới, chẳng hạn việc kinh tế Nga sẽ chịu thêm nhiều cú sốc.
Có lẽ, nên để năm 2019 trả lời mọi thứ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỪ TÌNH HÌNH BÃI TƯ CHÍNH NGHĨ ĐẾN ĐỐI SÁCH TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI VỚI TRUNG QUỐC


Hoàng Quốc Hải




LÀ XÂM LƯỢC HAY LÀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN ?

Kết quả hình ảnh cho nHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI

Trước hết phải khẳng định Việt Nam là một nước yêu chuộng hòa bình,sống hòa hiếu với các nước láng giềng,tôn trọng nước lớn,giúp đỡ nước nhỏ.Nhưng Việt Nam buộc các quốc gia khác phải tôn trọng quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình. 


Khu vực Bãi Tư Chính nằm trong hồ sơ biển của Việt Nam tham gia Công ước Unclos về Luật biển quốc tế 1982. 

Và trên thực tế, Việt Nam đã thăm dò, khai thác dầu, khí trên vùng biển chủ quyền này ổn định từ mấy chục năm nay. Cụ thể là từ năm 1989 và sau đó xây lắp các nhà giàn kiên cố: 

DK1/11; DK1/12; DK1/14 từ các năm 1994 – 1995; trong khu vực này còn có 2 hải đăng, tháp cao 22m tầm hiệu 12 hải lý. 

Đơn vị quân đội bảo vệ các nhà giàn và vùng biển đang khai thác dầu, khí này là Tiểu đoàn DK1, trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân nhân dân Việt Nam. 

Theo Công ước về Luật biển Quốc tế Unclos mà Trung Quốc cũng là một thành viên, quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, và kéo dài tới biển khơi không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Phần 200 hải lý là vùng đặc quyền kinh tế và quyền chủ quyền; phần kéo dài là quyền tài phán. 

Theo Unclos: Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hướng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Quyền tài phán được diễn giải như là hệ quả của quyền chủ quyền. 

Bãi Tư Chính cách bờ biển Việt Nam (lấy Vũng Tàu làm chuẩn) 160 hải lý,cách bờ biển Trung Quốc hơn 600 hải lý, là cả một trời cách biệt, không dính dáng gì tới nhau, nên hoàn toàn không có sự chống lấn, tức không có yếu tố tranh chấp. 

Âm mưu của Trung Quốc là tạo ra vùng tranh chấp để lấy cớ thương lượng. Âm mưu này người Trung Hoa đã hành xử hàng ngàn năm nay trên biên giới đất liền qua từng bước : Xâm canh-Xâm cư-Xâm táng.Khi họ đã chôn được mồ mả vào đó là bước tranh chấp quyết liệt.Chiêu trò đó tuy cũ rích,nhưng đó lại là bảo bối kinh điển của nhà cầm quyền Trung Hoa.Tuy gây ra căng thẳng, nhưng chưa tới ngưỡng chiến tranh.Chỉ bằng dọa nạt,nhưng kẻ nhát gan đã xanh mắt,tái mặt,bỏ của chạy lấy người. Chúng ta phải hết sức cảnh giác với thủ đoạn quen thuộc này của Bắc Kinh. 

Đã không chồng lấn mà vô cớ đem lực lượng tàu thuyền đến thăm dò trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đích thị Trung Quốc là kẻ xâm lược đúng nghĩa, cần phải nghiêm khắc lên án, và xua đuổi chúng ra khỏi vùng biển chủ quyền của nước ta, không có gì phải bàn bạc hoặc tranh cãi. 

ÂM MƯU - THỦ ĐOẠN - LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ 
CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC 

ÂM MƯU 
Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã bày tỏ khát vọng sang thế kỷ 21 sẽ là cường quốc biển. Đặc biệt trong tác phẩm “Trung Quốc không muốn làm một bất tiên sinh” in vào thời kỳ đó, đã ấp ủ giấc mộng Trung Hoa. Nghĩa là muốn trở thành quốc gia hàng đầu, quốc gia lãnh đạo thế giới, thì Trung Quốc phải vượt ra khỏi sự bao vây, tù túng, phải làm chủ Tây Thái Bình Dương (tức Biển Đông). Và từ đấy, Trung Quốc âm thầm thực hiện âm mưu. Bắt đầu là cuộc xâm lược chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, xâm lược và chiếm đóng Gạc Ma và các đảo khác của Việt Nam năm 1988. 

Tới năm 2009, Trung Quốc quấy rối và xua đuổi tàu Impeccable của Mỹ nghiên cứu đại dương, trong vùng biển quốc tế phía khơi xa của đảo Hải Nam. 

Sang năm 2012, thì Trung Quốc quấy rối và cắt cáp các tàu thăm dò dầu, khí của Việt Nam, Bình Minh 1, Bình Minh 2. Đây là đòn cân não đối với các nước ven Biển Đông và cũng là phép thử đối với Hoa Kỳ. 

THỦ ĐOẠN 

Trung Quốc thường ve vãn Việt Nam bằng lời lẽ đường mật, và coi đó như là cương lĩnh, là khuôn vàng thước ngọc trong ứng xử của mỗi nước.Đó cũng là thủ đoạn Trung Quốc trói buộc Việt Nam.Đồng hành với mưu toan này, lại đắp hờ thêm cái lá nho » Đại cục » . 

Ví như: 

Hợp tác toàn diện 
Láng giềng hữu nghị 
Ổn định lâu dài 
Hướng tới tương lai 


Lãnh đạo hai nước coi đây là 16 chữ vàng. 

Trung Quốc còn gia cố thêm thỏa hiệp này giữa lãnh đạo hai quốc gia bằng các sáo ngữ: 

Sơn thủy tương thông 
Tư tưởng tương đồng 
Vận mệnh tương liên 

Dường như Nhà nước Việt Nam đã hành xử khá nghiệm túc với các ước thúc tùy tiện này. Nhưng phía Trung Quốc không mảy may tôn trọng. 

Tuy nhiên, quốc dân lại nhìn thấu tim đen của lãnh đạo Bắc Kinh, nên có cách nhìn khác.Họ nhại lại 16 chữ vàng bằng các sự thật do Trung Quốc hành xử, và họa lại bằng 16 chữ của chính Nhân Dân: 

Láng giềng hiểm độc 
Cướp đất toàn diện. 
Lấn biển lâu dài, 
Thôn tính tương lai. 


Và rồi Trung Quốc dụ dỗ các nước có tài nguyên dầu, khí trong vùng thềm lục địa của mình, cho Trung Quốc cùng khai thác, với điều kiện: 

Chủ quyền thuộc ngã 
Cách tri tranh luận 
Cộng đồng khai thác 


Nghĩa là, gác lại việc tranh luận, hãy cùng nhau khai thác, nhưng chủ quyền thuộc về tôi (tức Trung Quốc). 

Vậy là anh bạn Bàng Quyên(1) này xin vào nhà người ta, đòi làm ăn chia chác của nả của chủ nhà, rồi kết thúc bằng tuyên bố trắng trợn, nhà này của tôi. 

Xem ra trò lưu manh này không lừa được ai, Trung Quốc lén lút bồi đắp các đảo cướp được thành các căn cứ quân sự như đường băng sân bay, đài ra đa, bãi phóng tên lửa, cảng tàu bè, kho quân nhu... Rồi từ đấy dùng lực lượng quân sự hùng mạnh của mình bắt nạt,hoặc ăn cướp trắng trợn, không cho các nước liên kết với bên thứ ba (không phải Trung Quốc) khai thác tài nguyên trong thềm lục địa của mình, với cái cớ khu vực đó nằm trong đường ngu ngốc (lưỡi bò) của Trung Hoa. 

Đôi khi Trung Quốc còn cử các hung thần đến tận nước có chủ quyền đang thăm dò, trực tiếp dọa nạt. Đó là trường hợp Phạm Tường Long, thượng tướng, Phó Chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc, đến Việt Nam vào ngày 20 tháng 6 năm 2017, trắng trợn tuyên bố với phía Việt Nam rằng: “Toàn bộ các đảo ở biển Nam Hải (Biển Đông) đã thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ thượng cổ” (Theo Tân Hoa Xã). Và y ép Việt Nam phải ngừng khoan thăm dò lô dầu khí 13/03 phối hợp với Repsol của Tây Ban Nha vào tháng 7/2017. Lại tháng 3/2018, Trung Quốc cũng ép Việt Nam phải ngưng thăm dò ở Lô 07/03. Trắng trợn gọi bán thầu hàng vạn km2 vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng không ai thèm mua của ăn cướp. Và Việt Nam cũng lên tiếng không cho phép ai thăm dò trong thềm lục địa của mình mà chưa được Việt Nam cấp phép. 

Và tới nay, họ đã rục rịch từ tháng 5, nhưng mãi tới ngày 3 tháng 7 vừa qua các lực lượng Trung Quốc mới lộ mặt với tàu HD8 và một số tàu hải cảnh có công suất lớn từ 4.000 đến 12.000 tấn, và một số gọi là tàu cá công suất lớn, kỳ thực là tầu hải quân trá hình. Với lực lượng áp đảo, họ đòi phía Việt Nam phải ngừng thăm dò khai thác trong khu vực Bãi Tư Chính, nghĩa là Việt Nam không được phép khai thác tài nguyên trên vùng biển chủ quyền của mình. 

Trước sự lì lợm của phía Trung Quốc, Việt Nam phản ứng một cách dè dặt. Mãi ngày 12 và 16 tháng 7, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Lê Thị Thu Hằng mới lên tiếng yêu cầu tầu nước ngoài xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, khu vực Bãi Tư Chính phải rút đi.
.
Tuyên bố không ám chỉ Trung Quốc, nhưng ai cũng biết thủ phạm là Trung Quốc. Cách tuyên bố như “tàu lạ”, “tàu nước ngoài”, không mang tính phản ứng mạnh mẽ trong tư thế khẳng định chủ quyền; không chỉ khiến người trong nước mà cả người nước ngoài cũng phải ngán ngẩm. 


Nhưng rất lạ, tới 19 tháng 7, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng lần đầu tiên phát ngôn rất mạnh mẽ, chẳng khác lời lẽ đanh thép thời kháng chiến chống Mỹ 1965 – 1975 và thời chống quân xâm lược bành trướng Trung Hoa năm 1979. 

“Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Đây là vùng hoàn toàn của Việt Nam được xác định theo đúng quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên”. 

Khi được các phóng viên đề nghị bình luận về phát biểu của Người phát ngôn Bộ ngoại giaoTrung Quốc ngày 17/7 liên quan đến diễn biến ở khu vực Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam giải thích: “Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tầu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền, chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định hòa bình ở khu vực, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. 

Tiếp đó tại diễn đàn các Bộ trưởng ngoại giao Asean, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng chỉ trích trực diện phía Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam trên Bãi Tư Chính. 

Khi tiếng nói chính nghĩa cất lên nó mới đanh thép làm sao.Ngay lập tức thu hút sự đồng tình của quốc tế. Bộ Ngoại giao và cả Chính phủ nên biết, khi các vị cất lên tiếng nói đại diện cho Quốc dân đồng bào, thì phía sau quý vị có cả gần trăm triệu dân Việt Nam làm điểm tựa. 

Thế mới biết: “ Người ta lớn, bởi vì ta quỳ xuống!”. 

Và chỉ ít giờ sau tuyên bố cứng rắn của Việt Nam,đã có sự hưởng ứng rất mạnh mẽ của Bộ Ngoai giao Hoa Kỳ, phản đối sự bắt nạt và gây rối dai dẳng của Trung Quốc đối với Việt Nam và gây bất ổn cho an ninh hàng hải. Tuyên bố nhấn mạnh: “ Hành động lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhằm vào hoạt động phát triển dầu khí ngoài khơi, đe dọa an ninh năng lượng khu vực, đồng thời làm suy yếu thị trường năng lượng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương…”. 

Ngày 25/7, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ Eliot L. Engel tuyên bố: 

“ Theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển (Unclos) 1982, những hành động của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và các quyền hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”. 

Hiện Thượng viện Hoa Kỳ đang đệ trình Quốc hội một đạo luật: “ Nhằm thắt chặt hơn nữa các nỗ lực của Mỹ và đồng minh để đối phó với hoạt động quân sự hóa nguy hiểm và phi pháp của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp mà Trung Quốc đã chiếm đóng Biển Đông”. 

Đạo luật này nếu được thông qua, sẽ cấm vận các tổ chức và cá nhân vi phạm đến quyền tự do hàng hải, hàng không và quân sự hóa Biển Đông. 

Theo TTO: “Ngoại trưởng ba nước Mỹ- Nhật- Úc đã cùng bầy tỏ quan ngại về các hoạt động cản trở khai thác dầu khí, cũng như việc cải tạo các đảo và triển khai vũ khí ở Biển Đông” 

Tiếp đó, ngày 1.8 Người phát ngôn Bộ ngoại giao Ấn Độ ông Raveesh Kurmar cho biết: “ Các hoạt động khai thác dầu khí của Ấn Độ ngoài khơi Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi các tầu Trung Quốc”. 

Nhân chuyến thăm Hà Nội của Phó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu, bà Federica Mogherinia, Hãng tin AFP của Pháp cho hay: “ Bà Federica Mogherinia nói rõ Liên minh Châu Âu quan ngại về tình hình căng thẳng đang gia tăng tại khu vực Biển Đông. Và hoạt động quân sự hóa chắc chắn không dẫn đến môi trường hòa bình” vv… 

Rõ ràng các hoạt động mang tính xâm lược và gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông vừa phi lịch sử, phi đạo đức và đặc biệt là phi pháp nên không được sự đồng tình và ủng hộ của các quốc gia láng giềng và trên thế giới. 

Một cường quốc có tham vọng lãnh đạo Thế giới mà chà đạp lên luật pháp quốc tế, hung hăng như lũ cuồng khấu, và dùng sức mạnh cơ bắp để tước đoạt tài sản của các quốc gia nhỏ bé, thử hỏi có xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo Thế giới không? 

Qua các dẫn chúng trên có thể thấy ai là bạn, ai là thù của Việt Nam hiện nay? Thế mà lắm kẻ còn mơ hồ, ôm ấp 16 chữ vàng như ôm ấp 16 cái xiềng cực lớn để xiềng xích cả dân tộc mình. 

Đúng là: “ Trong khó khăn mới biết ai là bạn. Trong hoạn nạn mới biết bạn là ai ?…”. 

Đành rằng trong những nước ủng hộ ta, có nước có dính đến quyền lợi của chính họ. Nhưng phù hợp với quyền lợi của ta tức là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của ta. 

Có nhiều nước như Liên minh Châu âu, hoàn toàn không dính dáng gì đến Biển Đông. Nhưng nhân loại nhận thức được sự nguy hiểm cho toàn thế giới. Nếu để Trung Quốc hành xử như một tên sen đầm trên tuyến đường biển huyết mạch này. 

Vậy, ta nhận người ủng hộ ta bảo vệ Tổ quốc là bạn, hay ta vẫn nhận giặc của Tổ quốc là bạn vàng? 


LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC 
Sau khi người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, chỉ đích danh bọn xâm lược vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong khu vực Bãi Tư Chính ,và trong Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao các nước Asean lần thứ 52 họp tại Bangkok, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nói trực diện với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị: “ Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp với hành động đơn phương quân sự hóa, gia tăng tập trận quân sự, đặc biệt là tầu khảo sát HD8 cùng các tầu hải cảnh Trung Quốc và dân binh đã xâm phạm vùng biển Việt Nam. 

Đây là những hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, theo Công ước Luật biển năm 1982, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, vi phạm tuyên bố chung về ứng xử tại Biển Đông (DOC) đi ngược lại cam kết duy trì môi trường thuận lợi cho đàm phán một bộ quy tắc về ứng xử (COC)”. 

Và đây là phản ứng của phía Trung Quốc. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hoa Xuân Oánh nói hôm 26/7: “ Việt Nam đã vi phạm quyền, chủ quyền của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính kể từ tháng 5. Chúng tôi kêu gọi phía Việt Nam xử lý phù hợp việc này”. 

Đúng là kẻ cướp la làng. Tráo trở.Trơ trẽn ! 

Còn Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị,đã nói một cách rất xảo trá tại hội nghị Bộ Trưởng ngoại giao các nước Asean: “ Tình hình Biển Đông đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, thông qua những nỗ lực chung của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Asean và không có vấn đề gì về tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. 

Một số cọ sát có thể tăng lên theo thời gian do những tranh chấp lịch sử, và những vấn đề này cần được giải quyết bởi các quốc gia trực tiếp liên quan thông qua các biện pháp hòa bình… 

Các nước ngoài khu vực không nên khuếch đại những khác biệt hoặc tranh chấp từ quá khứ như vậy và chớ có gieo rắc ngờ vực giữa Trung Quốc và các nước Asean”. 

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc và chính Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đều lảng tránh sự thật đang diễn ra. Đặc biệt ông Vương Nghị thì quanh co,dối trá. 

Đang lúc tầu Trung Quốc quấy rối khu vực Bãi Tư Chính của Việt Nam mà ông dám trắng trợn nói: “ Tình hình Biển Đông đã được cải thiện. Và…”. 

Ở đây còn lộ ra chuyện,Trung Quốc rất sợ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.Cho nên Vương Nghị cảnh báo các nước ngoài khu vực không nên khuếch đại… 

Rõ ràng là Trung Quốc không đưa ra được bất cứ bằng chứng lịch sử nào về chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam đang sở hữu. Và theo sự công nhận của Luật biển Unclos 1982 mà Trung Quốc cũng là thành viên, thì các hành động của Trung Quốc hành xử trên Biển Đông với các nước liên quan như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia, Brunei là hành vi của kẻ xâm lược. 

Tử huyệt của Trung Quốc là vấn đề pháp lý. Đường lưỡi bò mà tôi chỉ muốn gọi là “ Đường ngu ngốc” do Trung Quốc tự ý vẽ ra để mưu toan độc chiếm Biển Đông đã bị tòa trọng tài (PCA) quốc tế bác bỏ. 

Trong tất cả các nước liên quan đến Trường Sa, Hoàng Sa, duy nhất Việt Nam có bằng chứng lịch sử, (2) cả về thực thi chủ quyền liên tục từ thế kỷ 17 cho tới khi Trung Quốc cưỡng chiếm. Cho nên điều cần làm lúc này là kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế. Chỗ sở trường của ta là bằng chứng pháp lý. Tử huyệt của Trung Quốc cũng là pháp lý, và đó chính là cái sở đoản của họ. Nên họ cứ đưa ra cái lý cù nhầy: “ Từ cổ đại các đảo ở Nam Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc.” Nhưng họ không có một mảy may chứng cớ. 

Trong đấu tranh ngoại giao cũng như trong đấu tranh vũ trang, bên nào phát huy được sở trường, bên đó nắm chắc phần thắng. Nếu Việt Nam bỏ qua cơ hội này, có nghĩa là tự đem giang sơn dâng cho giặc”. 

PHẦN KẾT 

Điều Việt Nam cần làm lúc này là: 

-Quốc tế hóa sâu rộng vấn đề Biển Đông trên các Hội nghị, Hội thảo quốc tế,nhằm làm cho Thế giới thấy rõ tính phi pháp của Trung Quốc trong việc chiếm đóng Biển Đông,và tính vô trách nhiệm trong việc quân sự hóa Biển Đông;bởi nó tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể dẫn tới chiến tranh. 

- Khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế. 

- Trang bị tầu cá vỏ thép, công suất cao cho ngư dân đánh bắt xa bờ. 

- Trang bị phương tiện thích hợp và đủ mạnh cho lực lượng tuần duyên và hải cảnh.để bảo vệ ngư dân và biển,đảo. 

- Đừng sợ! Trung Quốc không có gì đáng sợ . Trừ khi ta hèn nhát thì kể cả con đom đóm cũng đáng sợ . 

- Ra sách trắng về Biển Đông. 

- Khẳng định chủ quyền một cách mạnh mẽ như ta vừa làm, sẽ được toàn dân ủng hộ và quốc tế đồng tình. 

- Nhà nước nên có thông báo đàng hoàng đến toàn thể quốc dân về tình hình Biển Đông. (Nhưng trong lúc cần đấu tranh bằng giải pháp hòa bình,hãy để Chính phủ giải quyết, tránh các cuộc manh động). 

- Nhà nước phải có thái độ tôn trọng quốc dân, chứ không được phép khinh dân bằng sự im lặng, và đàn áp nhũng người yêu nước không cùng chính kiến. 

- Phải đoàn kết được toàn dân tộc thành một khối thì Nhà nước mới có sức mạnh,khi ấy sẽ không sợ bất cứ kẻ thù nào.Còn như vừa sợ giặc vừa sợ dân, sẽ dẫn tới điều không mong muốn là mất dân trước mất nước sau,hoặc là cùng một lúc mất cả hai. 

-Người dân có quyền tham gia việc nước. Bộ máy Nhà nước tồn tại được là nhờ có dân nuôi. Hết sức tránh thói kiêu ngạo, coi dân như cỏ rác, thì khi quốc gia lâm nguy, dân sẽ bỏ mặc. 
.
Hà nội, ngày 7 tháng 8 năm 2019 
H.Q.H
_________________________

(1) Bàng Quyên và Tôn Tẫn là đôi bạn thân thời Chiến quốc của Trung Hoa cổ đại.Vì tham danh vọng,Bàng Quyên đã chặt chân Tôn Tẫn và giam cầm bạn. 

(2) Để nắm có hệ thống về chủ quyền biển đảo VN, Bạn đọc đánh vào cụm Từ khóa – Âm mưu độc chiếm Biển Đông từ tham vọng đến cuồng vọng của Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỐI PHÓ VỚI KHÓ KHĂN NGUY HIỂM BẰNG CÁCH NÀO?

Tại sao đà điểu vùi đầu trong cát mỗi khi gặp nguy hiểm? Dadieu15

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tàu khảo sát Trung Quốc trở lại Bãi Tư chính


Reuters đưa tin tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc đã quay trở lại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam vào hôm qua (13/8) sau chưa đầy một tuần kể từ khi nó rời khỏi khu vực này, theo dữ liệu từ trang web theo dõi tàu biển.
Tàu khảo sát Địa chất Hải dương 8 và 9 cập cảng tại Nhà máy đóng tàu Thượng Hải (Trung Quốc). (Ảnh: China Daily)
BBC dẫn nguồn tin riêng nói rằng tàu Hải Dương Chất 8 rời đi chỉ để tiếp dầu rồi quay lại Bãi Tư Chính.
Con tàu này cùng các tàu hộ tống có vũ trang của hải cảnh Trung Quốc lần đầu tiến vào vùng biển Việt Nam vào hồi tháng 7. Trung Quốc tuyên bố khu vực này nằm trong “đường chín đoạn” vẽ chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông. Hành động này đã tạo ra cuộc đụng độ kéo hàng hơn một tháng giữa lực lượng hải giám Việt Nam và Trung Quốc.
Con tàu này, theo thông tin từ chính phủ Việt Nam đã rời khỏi khu vực vào ngày 7/8, nay lại quay trở lại với sự hộ tống của ít nhất 2 tàu Hải giám Trung Quốc, theo dữ liệu từ Marine Traffic, một trang web theo dõi hành trình tàu thủy.
Trong thời gian diễn ra đối đầu, các tàu hải giám vũ trang của Trung Quốc cũng đến quấy nhiễu hoạt động khoan dầu của Việt Nam ở một lô dầu mở gần đó. Sau thời gian đầu im lặng, chính phủ Việt Nam và Trung Quốc liên tiếp ra tuyên bố qua lại, cáo buộc lẫn nhau là vi phạm chủ quyền của mình.
Các dữ liệu cũng cho thấy sau khi rời Bãi Tư Chính, tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã tới neo đậu tại Đá Chữ Thập thuộc Quần đảo Trường Sa, nơi Việt Nam và Philippines cũng tuyên bố chủ quyền nhưng đã bị Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát và xây dựng thành một đảo nhân tạo.
Theo ông Devin Thorne, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng (C4ADS), sau khi tàu Hải Dương Địa Chất 8 rời đi, Trung Quốc vẫn để ít nhất 2 tàu hải cảnh ở trong vùng EEZ của Việt Nam mà không rút về. BBC dẫn lời một chuyên gia nhận định rằng việc này chứng tỏ Trung Quốc chưa hoàn tất công việc khảo sát trong khu vực và việc tàu Hải Dương Dịa Chất 8 rời đi không phải là do áp lực quốc tế.
Vụ đụng độ đã khiến làn sóng chống Trung Quốc dâng cao trong người dân Việt Nam, đồng thời Mỹ cũng ngỏ ý ủng hộ Việt Nam trong tranh chấp hiện tại với Trung Quốc.
Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo lên án hành động “áp bức” của Trung Quốc ở vùng biển Đông, trong khi người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị thì cảnh báo Mỹ không nên tham gia vào các vấn đề hằng hải song phương của Trung Quốc và Việt Nam.
Đức Trí (T/h)
Xem thêm:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

Tâm Ý Thức




Tuệ Sỹ

Trước hết chúng ta phải hiểu Tâm là gì? Trong tiếng Hán, Tâm là trái tim. Từ cái nghĩa tâm là trái tim, rồi sau mới suy diễn ra tâm là tấm lòng, cho rằng tâm là tấm lòng suy nghĩ. Một bài thơ chữ Hán nói về tâm theo nghĩa này như sau:

三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他

“Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”

Bài thơ này ví von cũng rất hay. Chữ Tâm 心 trong chữ Hán được mô tả có ba chấm như ba ngôi sao (Tam điểm như tinh tượng), còn móc câu nằm ngang như ánh trăng nghiêng (Hoành câu tợ nguyệt tà). Phi mao tùng thử đắc, tố Phật dã do tha: Mang lông đội sừng tức làm thân trâu, ngựa… là do tâm này, mà Phật cũng từ nó.

Định nghĩa tâm xét theo nghĩa tiếng Phạn thì có khác. Theo tiếng Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名心. Nó do gốc động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật giáo, đặc biệt là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng. Tâm là cái tư duy.

Nói tâm là cái tích tập: tích tập gì?

Một cách tổng quát, đó là kinh nghiệm hay nhận thức được tích lũy. Vậy tâm là kinh nghiệm đời sống; tất cả những gì đã từng trải, bằng hành động và nhận thức, tích lũy lại thành tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người, từ khi bắt đầu biết suy nghĩ, biết hành động và có ghi nhớ, cho đến khi chết; tất cả những ghi nhớ trong óc não còn lại đó gọi là tâm. Chính những ghi nhớ đó tác thành một con ngườihoặc thiện hoặc ác tùy theo kinh nghiệm môi trường, hoàn cảnh. Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời sốngcon người.

Như vậy, tâm đó chính là nghiệp, là hành vi của con người, vì những năng lực tạo ra hành vi của con người không bao giờ mất. Chúng ta không nói tới luật bảo tồn năng lượng, nhưng phải biết rằng không có cái gì mất đi trong hành động của chúng ta.

Kinh nói: bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm. Thế giới này không sanh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn toàn mới mẻ cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn. Chúng sanh luân hồi vô thủy, chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, như gạo biến thành cơm, cơm biến thànhnhững dưỡng chất trong dạ dày, tiêu hóa, rồi thải ra, thành da, máu thịt,… khi chết, da máu thịt này biến thành phân tro, phân tro này đem bón trở thành cây trái, rau cỏ…, trở lại làm thực phẩm cho người và vật, theo một quá trình sanh diệt, sống chết nữa nữa. Như vậy, chúng ta thấy rằng, thân này chết nhưng nó không mất mà trở thành những cái khác, biến thành phân tro, đất…, những cái này cũng không mất mà trở thành máu thịt của con người, tức là không có cái gì sanh và cũng không có cái gì hủy diệt mà chỉ có sự biến thái.

Tâm cũng vậy, nó tích lũy. Những gì được làm, được nói năng, suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, thảy đều không mất; mà tự chúng là sự biến thái của tâm từ một trạng thái này sang trạng khác. Nghiệp là nguồn năng lượng được tích chứa trong kho chứa gọi là tâm, phát hiện ra ngoài thành hành vi của thân, khẩu; hướng thân, khẩu đến mục tiêu, theo hướng được định bởi lực đẩy ban đầu từ tâm. Kho chứa ấy không phải nằm im lìm bất động, vì nguồn năng lượng trong nó, mà Duy thức gọi là chủng tử(hạt giống, tức hạt năng lượng; cũng gọi là tập khí hay công năng sai biệt, tức một loại công năng hay năng lượng có thế lực đặc biệt tác thành những hiện tượng sai biệt mà ta biết đó là thân, tâm, thế giới), những hạt giống năng lượng này tồn tại trong trạng thái sanh và diệt trong từng sát- na, tạo thành hìnhảnh như một dòng thác chảy liên tục. Kinh nói: Nhất thiết chủng tử như bộc lưu.

Những hành vi của thân và khẩu chỉ là những vận động tự nhiên của thân và khẩu, do tác động hỗ tương giữa trong và ngoài, không mang giá trị đạo đức, không xác định thiện hay ác gì. Nhưng khi có nguồn lực từ tâm điều khiển nó theo hướng thiện hay bất thiện, bấy giờ hành vi của thân hay khẩu bị nhuốm màu hoặc thiện, hoặc bất thiện, ta gọi là nghiệp thiện và nghiệp bất thiện. Hành vi ấy huân tậptrở lại tâm, nghĩa là tác động trở lại tâm và biến đổi nó. Đó là sự tích lũy nghiệp. Theo ý nghĩa này mà ta hiểu câu kinh sau đây: “Tam giới duy tâm”, ba cõi duy chỉ là một tâm. Ý nghĩa ấy cũng phù hợp với điều mà Phật nói trong các kinh điển Nguyên thủy: “Chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp” tức hành vi của chính nó. Nói cách khác, thế giới được thành hình tốt hay xấu, thảy đều là sự biến thái của những gì, của tất cả hành vi, được tích lũy bởi tâm, chứa đựng trong tâm.

Chúng ta nhớ rằng, khi được phân tích, tâm có ba tầng. Tầng trong cùng, ta hãy gọi là tầng đáy; thứ đến, tầng hoạt động luôn luôn là chấp ngã và một tầng khác hoạt động bên ngoài, là các hoạt động của ý thức cùng với các giác quan. Chúng ta không nhận thức được tâm như là thấy sắc, nghe tiếng, nắm bắt ảnh tượng ý niệm, tư duy; chỉ biết rằng nó tồn tại qua những hoạt động của nó gọi là tâm sở.

Điều đó có nghĩa, tuy rằng gọi tâm là cái tích tập, nó cụ thể, nó tồn tại đó nhưng không thể nhận thứcđược nó mà phải từ những hoạt động của nó thì mới biết nó là cái gì.

Ba tầng tâm thức có khi được gọi chung thành một là tâm-ý-thức. Như trong kinh Trung A-hàm (kinh số 17), Phật nói: “Người mà tâm-ý-thức luôn luôn được huân tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí tuệ; người ấy do nhân duyên này tự nhiên thác sinh lên cõi trên, sinh vào thiện xứ…”; hoặc Tạp A-hàm (kinh số 289): “Tâm-ý-thức, trong một ngày đêm, từng thời khắc, thoáng chốc sinh, thoáng chốc diệt, biến đổi không ngừng…”; hoặc như kinh Hoa Nghiêm (Phật-đà-bạt-đà-la, quyển 23): “Các dòng nước dục, hữu, kiến, vô minh, tiếp nối chảy liên tục, làm nảy sinh hạt giống của tâm-ý-thức trên mảnh đất ba cõi…” Luận Câu-xá (quyển 4) nói: “Nó tập khởi nên được gọi là tâm. Nó tư duy trù lượng nên được gọi là ý. Nó phân biệt nhận thức nên được gọi là thức… Tâm, ý và thức, ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy khác nhau nhưng thể là một.”

Trong đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam phương gọi là thức Hữu phần hay Hữu chi (bhavaṅga); các nhà Du-già hành hay Duy thức luận, gọi nó là thức A-lại-da (ālaya) hay thức thứ tám. Không thể nhận thức được tự thể của nó đã đành, cho đến các hình thái hoạt động của nó cũng không thể dễ dàng nhận biết. Duy chỉ có thể biết rằng nó tồn tại là do quan sát sự tồn tại của thiên nhiên, của vũ trụ, của thân và tâm. Khi nhìn cây, lá cây, mọi người đều biết rằng lá cây đó là do nhiều phân tử hợp thành, nhưng cái gì kết các phân tử đó lại với nhau được? Phải có một lực nào đó kết dính lại. Vậy, lá cây đó tồn tại và lay động như một toàn thể do bởi một năng lực nào đó. Lực đó, trong Phật giáo nói chung, được hiểu là tâm, tức kho chứa tích lũy nhiều đời nhiều kiếp của vô số hạt giống năng lực của nghiệp, để rồi đến khichín muồi, nghĩa là sau một quá trình đã được xử lý, các hạt giống năng lực hay năng lượng ấy biến chuyển, và biến thái thành thân, tâm và thế giới; chúng được duy trì do lực tương tác, tức hỗ tương tác dụng theo quy luật duyên khởi.

Chính qua hoạt động của lá cây và sự tồn tại của lá cây mà chúng ta biết rằng có một cái tâm. Đây là cái nghĩa mà chúng ta đã nói nhiều lần; chính cái nghĩa đó gọi là duy tâm, là do tâm. Tâm như vậy gọi là tâm biến, nhưng nghĩa này chưa tận cùng.

Thân thể chúng ta, trong điều kiện nào đó thì những cái như ngón tay, sợi tóc… gắn kết lại với nhau, nhưng tới một lúc nào đó thì nó rã ra, cho dù có lấy keo dán nó cũng không dính lại, như khi chết chẳng hạn. Vậy khi nào rã ra và sau khi rã ra thì nó trở thành đất, thành bụi… vẫn còn đó nhưng qua trạng tháikhác.

Tóm lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ: tâm là sự tích tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà kinh nghiệm là hoạt động của nghiệp, nghiệp tạo ra thế gian, nhưng cái tâm thì chúng ta không thể hiểu được, không thể biết được, vì không thấy được mà phải nhìn qua những hiệu quả của nó, tức là những công dụng, tác dụng mà nó gây ra trên mọi thứ tồn tại trong đời. Tác dụng của nó là duy trì sự tồn tại, duy trì mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của các pháp.

Muốn biết rõ tâm và tại sao gọi nó là tâm thì phải qua một tầng nữa, tức là tại sao gọi là nó kho chứa của nghiệp?

Nên biết, đó là tầng thứ hai, gọi tên là ý. Tâm, có nghĩa là là tích tập; còn ý thì có nghĩa là gì? Nói vắn tắt, ý là cái hoạt động tư lương. Tư lương là gì? Những cái mà ta gọi là tư duy, tư tưởng… những hoạt động của tâm lý, nói chung là suy lường, đắn đo ước lượng, phán đoán, v.v., gọi là tư lương; đây là nói theo nghĩa rộng nên hơi mơ hồ, không xác định. Thu gọn lại, tư lương là hoạt động của một cái tôi.

Chúng ta biết mình đang tồn tại, đang hiện hữu, vì biết rằng có một cái tôi: Tôi đi, tôi đứng, tôi ngồi… Từ cái tâm tích lũy này, rõ ràng có thêm một tầng nữa, khiến nó lộ lên mặt biểu hiện một chút, đó là cái (chủ thể) chấp ngã. Trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, cái ngã hay tự ngã này được hiểu là linh hồn nằm trong thân, hoặc nó lớn bằng thân, hoặc nhỏ như hạt cát. Lớn bằng cái thân cho nên nếu vừa bứt một sợi tóc, vừa chích kim dưới bàn chân thì cả hai nơi đều cảm giác đau cùng một lúc. Có cảm giác đó, là do có linh hồn. Khi hồn lìa khỏi xác, xác chết nằm trơ không hay biết gì. Hoặc là linh hồn giống như hạt cát, như một nguyên tử trong thân có vận tốc thật nhanh. Cả hai nơi lại cùng đau một lúc, đó là do linh hồnvận chuyển rất nhanh. Trong Phật giáo không có linh hồn như vậy được thừa nhận.

Bây giờ sang tầng thứ ba để sẽ hiểu rõ hơn về hoạt động của thức. Nhưng tầng thứ ba này nếu khôngcó hai tầng đầu thì cũng không thể hiểu nó được, vì tất cả đều phải quan hệ với nhau. Như do quan hệ với toàn thể xe mà cái khoanh tròn kia được gọi là bánh xe.

Gọi nó là thức, vì nó nhận biết đối tượng. Điều này ta có thể kinh nghiệm và chứng minh được bằng hoạt động của sáu thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là tầng ngoài cùng của cơ cấu tâm thức, gọi là thức thường nghiệm tức là những hoạt động nhận thức mà ta có thể kinh nghiệm được bằng giác quan thường nhật. Tầng này được gọi chung là thức. Tầng thứ hai trung gian, như đã biết, gọi là ý, hay là thức thứ bảy. Nó cũng được gọi là thức, vì nhận thức về sự tồn tại của một tự ngã, một cái tôi. Tầng trong cùng, gọi là thức thứ tám, mà nhận thức của nó là duy trì mối quan hệ tồn tại của thân, tâm và thế giới. Hai tầng sau này thuộc về thức siêu nghiệm, tức không thể nhận biết được bằng kinh nghiệm giác quan thường nhật. Chính yếu thường chỉ là dựa trên chính hoạt động của sáu thức tầng ngoài để khám phá ra hai tầng kia.

Đứng trước một cái gì đó mà biết rằng, cái trước mắt mình là một cái cây hay một đóa hoa, nghĩa là đóa hoa xuất hiện trong con mắt rồi cái biết khởi lên, cái biết qua con mắt thì cái biết này gọi là nhãn thức, còn nghe những âm thanh trầm bỗng đô, rê, mi, fa… mà biết âm thanh này cao thấp, hay dỡ thì cái biết qua lỗ tai này gọi là nhĩ thức. Còn cái biết trong cùng như đọc sách mà biết rằng đây là Nguyễn Huệ đánh Nam dẹp Bắc, đây là vua Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu, thì đó cũng là cái biết. Cái biết này dựa trên ấn tượng quá khứ; ấn tượng này do từ sách vở gợi lên hay do kinh nghiệm mà mình đã từng trải. Cái biết này không do mắt thấy tai nghe mà là do sự ráp nối của thức bên trong, gọi là ý thức. Tức là qua cái biết của con mắt, của lỗ tai, để lại; tất cả những cái biết này ghi dấu trong tâm, được tích lũylại, rồi dựa trên đó mà ráp lại, thì cái biết đó gọi là cái biết của ý.

Thành ra, cái biết của ý thức phải dựa trên nền tảng, là kinh nghiệm tích lũy; tức dựa trên cái tâm, là thức thứ tám. Nhưng nó cũng phải y trên một cơ quan ráp nối, có thể gọi là trung tâm xử lý dữ liệu, để ráp nối cái này với cái kia. Con bò ráp nối dữ liệu tích lũy theo kiểu nó; con chuột ráp nối cảnh theo cách của nó, để nó nhìn và hiểu thực tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài; mặc dù mắt tai mũi lưỡi giống nhau nhưng sự ráp nối khác nhau.

Ta hãy lấy thí dụ về máy vi tính. Các dữ liệu được nhập thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức. Chúng được lưu trữ như là các chủng tử được tích chứa trong kho chứa thức thứ tám (thức a-lại-da). Tại đó, chúng được đưa vào trung tâm xử lý để chờ xuất. Trung tâm xử lý dữ liệu đó là thức thứ bảy. Từ đó, cũng thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức bên ngoài mà chúng được xuất, để cho ra trên màn hình nhiều thứ khác nhau, tức là toàn thể thế giới, thân và tâm của mọi loại chúng sanh.

Như vậy, ta hãy hỏi thêm lần nữa: thức là gì? Thức là nhận thức, là nhận biết. Ban đầu, chỉ như là sự thấy biết của con mắt: chỉ nhìn và thấy biết, nhưng không phân biệt cái được thấy ấy là gì. Ta thường gọi đó là cái biết trực giác; thuật ngữ Phật học gọi là thức hiện lượng vô phân biệt. Nhưng khi nói: “Tôi biết tôi đang nhìn/ hay đang thấy” thì lúc đó rõ ràng có một cái tôi đang chủ trì sự thấy. Song, tất cả mọi cái thấy và biết đều phải thấy, biết về một cái gì. Con mắt thấy, tất phải có cái gì để mà thấy.

Theo cách hiểu thông thường, cái thấy hay biết nào cũng là sự tích hợp của hai yếu tố: thức và cảnh, tức chủ thể nhận thức và đối tượng tương ứng của nó. Nhưng chúng ta biết rằng, thức không tự biết nó là cái gì cả, như lưỡi dao bén không thể tự cắt đứt chính nó. Chỉ khi nào tự ngã hay cái tôi xuất hiện như là chủ thể nhận thức, bấy giờ thức mới nhận biết được nó và đồng thời đối tượng của nó. Thêm bước nữa, ta cũng không biết cái tôi ấy là gì, tồn tại như thế nào. Nhưng do thấy kết quả, rồi suy luận ra có thức đang thấy, đang biết; từ những kinh nghiệm được tích lũy bởi thức, người ta suy nghĩ ra có cái linh hồn, như là chủ thể của sinh mạng và nhận thức. Thật ra đây là một quá trình, một chuỗi quan hệ.

Cho nên, chúng ta nói rằng có một cái thức để biết, và nghĩ nó là linh hồn, thì thật sự không bao giờ có cái linh hồn thường hằng bất biến như được quan niệm trong nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Ta biết có một cái tôi tồn tại, ấy là do quan hệ; quan hệ giữa trong và ngoài, nội giới và ngoại giới; nói gọn, thức và cảnh, chủ thể và đối tượng của nó. Nhưng nếu chỉ y nơi sự quan hệ của hai cái thôi thì cũng không đủ để hiểu được hoạt động của nhận thức và quá trình hình thành, xuất hiện cái tôi.

Cái mà ta gọi là cái biết thì thực sự ta không biết nó là cái gì cả vì nó vô hình và không bao giờ chúng takinh nghiệm được, mà chỉ biết được qua hành vi của nó. Vậy cái mà chúng ta kinh nghiệm được, nắm bắt cụ thể được như nắm viên bi trong tay, và soi vào trong gương mà thấy được, cái đó gọi là con mắt, tức là căn. Con mắt mà ta thấy được, nắm được, đó là phù trần căn, tức khối thịt và các mô, cùng thủy tinh thể, tạo thành nhãn cầu, con ngươi. Phù trần căn mà hỏng, bấy giờ nhận thức con mắt không thể khởi lên vì khuyết duyên. Phù trần căn chưa hư, sắc ngoại cảnh xuất hiện và được phản chiếu lên đó, thuật ngữ duy thức gọi là đới bỉ tướng. Nhưng phù trần căn thì không bị biến đổi theo cảnh sắc; do đó, đới bỉ tướng là ảnh tượng được ghi dấu lên một loại sắc vi tế, minh tịnh, nhạy cảm, thuật ngữ gọi là tịnh sắc. Chính loại tịnh sắc này mới có thể bị kích thích bởi ngoại cảnh. Như vậy, khi cảnh phản chiếu lên phù trần căn, ghi ấn tượng lên tịnh sắc căn, bấy giờ thức xuất hiện. Không có căn, không có cảnh, thì cũng không có thức.

Căn, cảnh và thức, ba cái hòa hiệp thành một tổ hợp ba, gọi là xúc. Giống như 2 O2 và 1 H liên kếtthành một phân tử nước H2O; Nếu thiếu một nguyên tử, thì cũng không thành phân tử nước được. Từ xúc khởi lên thọ, cảm giác thích ý hay không thích ý. Tiếp theo thọ là tưởng; các ấn tượng nhận thứcđược cấu trúc lại thành khái niệm, thành ý tưởng, làm cơ sở cho tư duy và ngôn ngữ; rồi từ đó khởi lên phán đoán, và nhận thức. Đó là quá trình nhận thức một đối tượng, được phân chia thành nhiều giai đoạn.

Ba cái: căn, cảnh, thức hợp lại, quan hệ tổng hợp với nhau, mới thành ra hiệu quả nhận thức. Khi chúng ta chia ra thì đây là thức, đây là căn, đây là cảnh; còn nếu trong tựthể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử như những dữ liệu được lưu trong bộ nhớ của máy vi tính. Tự bản chất, chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện; rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét… đủ mọi cảnh đời.

Tất cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật học gọi sự ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi nói thêm là phân biệt vọng tưởng. Phân biệt, nghĩa là cấu trúc lại thực tại. Như ta gõ bàn phím để nạp dữ liệu, đưa vào xử lý, rồi cho ra kết quả trên màn hình. Trên đó, chỉ là hệ thống kết cấu của những cột đèn vi tính sắp thành hàng ngang và dọc, mà mật độ được tính trên từng phần vuông. Mỗi cọc có ba bóng đèn nhỏ bật sang ba màu căn bản. Tùy theo lệnh từ bàn phím, sau khi đã được xử lý, các dữ liệu được bố trí theo một cấu trúc xác định, theo đó, bóng đèn nào có xung điện để được thắp sáng. Mật độ xung điện có và không tạo thành sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn, với các màu được thắp sáng pha trộn, phản chiếu lẫn nhau, tạo thành vô số hình ảnh và âm thanh. Như vòng hào quang sau tượng Phật tại các chùa. Do sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn được bố trí thành vòng tròn, ta thấy vòng hào quang sau tượng Phật đang xoay, mà thực tế thì tất cả đều đứng im tại vị trí cố định của nó.

Như vậy, mối quan hệ kết cấu của căn, cảnh và thức hiện hành từ chủng tử riêng biệt của chúng, hòa hiệp với nhau tạo thành hình ảnh thế giới mà ta thấy, ta nghe, v.v… Thế giới xuất hiện theo sự cấu trúc của căn, cảnh thức ấy là thế giới tồn tại do bởi phân biệt. Tất cả tồn tại do phân biệt kết cấu đều có thể nói là vọng tưởng, vì nó không phản ảnh trung thực tồn tại, nó như là nó.

Chúng ta học để hiểu được bản chất của thực tại cũng giống như người kỹ sư hiểu rõ cấu tạo của vi tính, cơ bản là hiểu rõ, trong một giới hạn nào đó, quy luật vật lý, nguyên tắc nhị phân, nguyên tắc xung điện như thế nào… thì có thể xử lý công việc theo ý của mình. Đó là do trình độ hiểu biết những nguyên tắc của tồn tại, của quan hệ các hình ảnh như quan hệ của ánh sáng với những xung điện.

Tóm lại, nếu nhận thức được thực tại, thấy được thực tại, hiểu rõ được chân lý thì có thể biến đổi đượcthế gian này, làm cho nó tồn tại hay làm cho nó hủy diệt; đó chính là nói rằng Ma hay Phật cũng đều do tâm, ba cõi duy chỉ một tâm, là nói theo ý nghĩa này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn viết về ẩm thực cũng khốn khổ vì bún mắng cháo chửi




Dù có đắp lên mình biển bảng, logo, đồng phục thì cuối cùng họ cũng lộ rõ lối ứng xử kém cỏi ngang với một quán bún mắng cháo chửi vỉa hè. Với những người bán hàng thiếu đạo đức, nhân văn và không mảy may quan tâm đến khách hàng, làm sao biết được họ cho chúng ta ăn những gì trong quá trình chế biến. Bởi món ăn chẳng phải là phản ánh cái tâm đức của người đứng bếp, của người đứng đầu thương hiệu hay sao


NHÀ VĂN VIẾT VỀ ẨM THỰC CŨNG KHỐN KHỔ VÌ BÚN MẮNG CHÁO CHỬI

THU CÚC

Là tác giả của hai cuốn sách ẩm thực vòng quanh thế giới đầu tiên của Việt Nam là “Nửa vòng Trái đất uống một ly trà” và “Tôi đã ăn cả cánh đồng hoa” với 106 món ăn trên khắp các châu lục và Việt Nam, nhà văn Di Li là người đam mê ẩm thực và những câu chuyện văn hóa của ẩm thực. Sành ăn và hiếm có quán ăn nổi tiếng nào trên đất Hà Thành không có dấu chân chị, tuy nhiên chị cho biết không bao giờ đặt chân đến những quán ăn được gắn cho mác “Bún mắng, cháo chửi”. Trong cuốn sách “Tôi đã ăn cả cánh đồng hoa” sắp phát hành, chị cho rằng khách hàng đã bỏ tiền ra để làm Thượng đế, đã chẳng được như người bình thường thì thôi lại còn phải cắn miếng nhục, nuốt miếng nhục vào bụng khi mà ngồi sượng mặt ra đó nghe người bán chửi rủa thì chắc chỉ duy nhất trên Trái đất mới mỗi đất Hà thành này sở hữu “đặc sản” nhục nhã ấy. Chị viết “Hay là trong các bệnh rối loạn tâm lý có bệnh khổ dâm thì cũng có luôn bệnh khổ thực, nghĩa là thực khách phải vừa ăn vừa được nghe chửi mới thấy sung sướng.”

Tuy nhiên dường như ghét của nào trời trao của nấy. Trưa ngày 12/8/2018, nhà văn Di Li vào tiệm ăn quen là Bún chả Sinh Từ ở số 2 Nguyễn Phong Sắc, Hà Nội. Chị cho biết mình là khách hàng trung thành của Bún chả Sinh Từ trong suốt mấy năm nay vì thấy cũng sạch mắt và hợp khẩu vị. Thậm chí nhà văn còn vui mừng khi món ăn bình dân yêu thích của mình đã được gắn thương hiệu đàng hoàng, nhân viên được mặc đồng phục và bàn ghế thì sạch sẽ. Chị đã từng viết báo khen ngợi Bún chả Sinh Từ và đưa bài viết đó vào bản thảo cuốn sách sắp tới. Nhà văn Di Li gọi hai suất bún chả và trong lúc đợi một người bạn nữa đang đến thì chị ăn tạm vài chiếc bánh tôm. Nhưng khi vừa bắt đầu với món bún chả thì chị phát hiện ra những miếng thịt nướng nổi sẩn lên như thịt lợn gạo. Nổi gai ốc khi nhìn thấy những miếng thịt, và nhân tiện cũng muốn góp ý cho nhà hàng vì chất lượng thịt dường như đã thay đổi trong thời gian gần đây, khi nhà hàng ngày càng đông khách, nhà văn yêu cầu gặp quản lý nhưng các nhân viên cho biết nhà hàng chỉ có nhân viên chứ không có quản lý. Cô nhân viên cũng giật mình khi nhìn thấy những miếng thịt sần sùi và đề nghị… đổi cho chị miếng thịt khác song chị từ chối với lý do các miếng thịt đều được thái ra từ một súc thịt lợn và một con lợn, kể cả những miếng chả băm không biết có gì bên trong kia nữa, đổi miếng khác cũng thế thôi. Và chị cùng bạn rời khỏi quán, không quên thanh toán tiền cho những chiếc bánh tôm đã ăn và không đồng ý trả tiền cho suất bún chả mà chị chưa hề đụng đũa.

Nhà văn Di Li chia sẻ: “Đó là một khoản tiền rất nhỏ và nếu như có quản lý ở đó thì tôi đã thanh toán tiền toàn bộ rồi đứng lên dù không ăn, coi như… tự ái. Đó là cách mà tôi vẫn làm khi gặp những món ăn không hợp vệ sinh hay cảm thấy có vấn đề. Trả tiền và để lại nguyên suất, bỏ mặc khuôn mặt ngơ ngác của người bán hàng. Như thế là họ sẽ tự hiểu, và từ đó mình cạch không bao giờ ăn ở tiệm hàng đó nữa. Nhưng Bún chả Sinh từ là một nhà hàng ưa thích của tôi và tôi mong muốn họ sẽ thay đổi để lần sau tôi tiếp tục quay lại. Tuy nhiên đây chỉ là các cô nhân viên và nếu mình vẫn trả tiền bình thường thì các cô, những người chỉ đi làm thuê tắc trách sẽ không ghi nhớ lại việc đó với chủ. Sự việc cuối cùng sẽ vẫn tiếp diễn như thế. Còn nếu các cô sợ phải bù tiền ra thì phải báo cáo lại với cấp trên và họ sẽ giải quyết việc đó, vì đấy không phải lỗi của các cô.”

Nhân viên nhà hàng dù có thái độ chẳng vui vẻ gì nhưng cũng đồng ý với phương án ấy. Lúc ấy đã 1 giờ chiều, Di Li cho biết chị đang thời kỳ ăn kiêng và đó là bữa ăn đầu tiên sau 20 tiếng ăn kiêng của chị. Quá đói bụng và mệt mỏi, chị cùng với bạn sang cửa hàng bên cạnh ăn tạm trong tâm trạng chẳng vui vẻ gì và sau khi xong bữa trưa, chuẩn bị lên xe để ra về thì chị nghe thấy một nam nhân viên của Bún chả Sinh từ chửi đổng ra bằng những lời lẽ tục tĩu khó nghe. Chị cho biết bản thân mình chưa gặp phải cảnh ấy bao giờ nên cảm thấy cực kỳ bị xúc phạm và quay lại giải thích cho nam nhân viên kia hiểu rằng chị đã trả tiền cho suất ăn của mình và với những gì chị chưa ăn, lại vi phạm nặng nề về vệ sinh an toàn thực phẩm thì chị không thể trả tiền. Nhân viên của nhà hàng tiếp tục dùng lời lẽ của những kẻ lưu manh để tấn công khách hàng. Nhà văn bỏ về và lập tức liên lạc với đường dây nóng 19002866 để khiếu nại, nghe cô nhân viên vâng dạ hứa sẽ báo cáo lại với quản lý. Để rồi nhận được sự im lặng của nhà hàng ngày hôm sau, và cả ngày hôm sau nữa, dù nhà văn đã liên lạc đến lần thứ hai.

“Việc nhà hàng dùng thực phẩm không an toàn là điều tôi nghĩ có thể góp ý, và cả thái độ vô văn hóa của nhân viên cửa hàng. Tôi thông cảm bởi các em làm công việc lao động phổ thông thường trình độ thấp nên sẽ ứng xử đúng với những gì họ có. Tuy nhiên điều tôi hy vọng là một công ty ăn uống đã có thương hiệu sau khi tiếp nhận khiếu nại của khách hàng đến lần thứ hai sẽ có thái độ hợp lý. Những gì tôi cần chỉ là một cuộc gọi lại với lời xin lỗi chân thành và tôi mong được góp ý để họ cải thiện dịch vụ của mình, để ngày hôm sau tôi tiếp tục quay lại với nhà hàng. Không ngờ bản chất của thương hiệu này cũng kém văn hóa y như nhân viên của họ. Dù có đắp lên mình biển bảng, logo, đồng phục thì cuối cùng họ cũng lộ rõ lối ứng xử kém cỏi ngang với một quán bún mắng cháo chửi vỉa hè. Với những người bán hàng thiếu đạo đức, nhân văn và không mảy may quan tâm đến khách hàng như vậy, làm sao biết được họ cho chúng ta ăn những gì trong quá trình chế biến. Bởi món ăn chẳng phải là phản ánh cái tâm đức của người đứng bếp, của người đứng đầu thương hiệu hay sao.”

Có lẽ nhà văn Di Li cũng đã thất vọng và mất niềm tin như Thạch Lam đã từng, khi ông viết trong cuốn “Hà Nội ba sáu phố phường”: “Người Việt mình phần nhiều giàu có rồi thì không hay cố nữa. Đó là cái tật chung của người mình, khiến cho không có một công cuộc nào phát đạt được lâu dài, cả từ trong cách buôn bán cho đến những công nghệ khác… Vì ta thử vào mua ở hiệu đó mà xem, chẳng có ai săn đón chào mời khách, nhà hàng thản nhiên và dửng dưng như không cần bán, mua hay không, đều tỏ ý không cần. Thật là đáng tiếc. Ồ, sao sự cố gắng ở nước này không được lâu bền nhỉ.”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CỬ TRI ĐỀ NGHI KIỆN TRUNG QUỐC, KHÔNG ĐƯỢC NHÂN NHƯỢNG


Nguồn datviet

(Tin tức thời sự) - Vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng, không ai được phép nhân nhượng dù chỉ 1cm

Tiếp tục khẳng định kiến nghị của cử tri 15 tỉnh thành gửi tới Quốc hội liên quan tới đề nghị Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là mong muốn hoàn toàn chính đáng - Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh cho biết, dựa trên những chứng cứ lịch sử Việt Nam hoàn toàn đủ cơ sở tuyên bố chủ quyền lịch sử từ rất lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tập quán cũng như luật pháp quốc tế về việc xác lập và khẳng định chủ quyền lãnh thổ.
Cu tri de nghi kien Trung Quoc: Khong ai duoc nhan nhuong
Ảnh minh họa

Về mặt pháp lý, Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và cơ sở khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Ông Rinh cho biết, mong muốn của cử tri cũng là nguyện vọng chung và chắc chắn Việt Nam cũng phải tính toán khởi kiện Trung Quốc.
"Theo tôi được biết, Việt Nam cũng đang trong quá trình chuẩn bị, hoàn thiện các nghiên cứu, thu thập chứng cứ, kể cả mời các chuyên gia quốc tế tư vấn pháp lý. Vấn đề là thời điểm kiện và lựa chọn tòa án nào để kiện thì phải tính toán, cân nhắc cho kỹ", ông Rinh nói.
Không được phép nhân nhượng vô nguyên tắc
Cũng đồng tình với nhận định trên, TS Trần Việt Thái - Viện phó Viện Nghiên cứu chiến lược, Học viện Ngoại giao đánh giá những kiến nghị của cử tri thể hiện tâm tư, nguyện vọng, tấm lòng, sự quan tâm của họ với vận mệnh, công việc chung của đất nước. Theo ông, vấn đề là cơ quan quản lý nhà nước, các cấp có thẩm quyền phải trao đổi, chia sẻ thông tin để làm rõ hơn bản chất của vụ việc, làm rõ hơn sự quyết tâm của Chính phủ trong công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Ông nhấn mạnh, một đất nước chỉ tồn tại và phát triển được khi có tiến nói như vậy của cử tri.
Giải thích để cử tri rõ hơn, TS Trần Việt Thái cho biết, VN – TQ hiện đang chia làm hai hướng đám phán. Một là, với các vấn đề ít nhạy cảm trên biển. Hai là, việc phân định khu vực cửa Bắc bộ. Ngoài ra không có cơ chế đàm phán nào khác về các vấn đề rộng lớn hơn như Trường Sa, Hoàng Sa… Vị chuyên gia khẳng định, không có sự thỏa hiệp hay nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
"Đầu tiên, tôi khẳng định là không có cơ chế thỏa hiệp. Tiếp đến cũng không có sự thỏa hiệp nào và cuối cùng càng không có một sự thỏa hiệp vô nguyên tắc.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là giải quyết tranh chấp trên cơ sở hòa bình, thông qua các giải pháp ngoại giao và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Cử tri cứ yên tâm, chúng ta không thỏa hiệp vô nguyên tắc. Vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng, không ai được phép nhân nhượng dù chỉ 1cm, càng không được nhân nhượng vô nguyên tắc", ông Thái khẳng định. Vị chuyên gia cho biết, chừng nào Việt Nam còn duy trì các kênh đàm phán đó, thì Trung Quốc không có cớ để gây hấn với Việt Nam.
Viện phó Viện Nghiên cứu chiến lược nói thêm, có rất nhiều giải pháp có thể giải quyết những vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Phương pháp giải quyết bằng tòa án quốc tế là một giải pháp văn minh nhưng không phải là duy nhất. Từ đàm phán, trao đổi đoàn, thương lượng công khai hoặc bí mật… Giải quyết bằng biện pháp pháp luật, đưa nhau ra tòa chỉ là biện pháp cuối cùng khi không còn giải pháp nào khác.
"Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, theo luật quốc tế đặc biệt là công ước và luật biển 1982 thì có 7 cơ chế có thể kiện. Nhưng cơ chế duy nhất có tính ràng buộc là cơ chế liên quan tới tòa án Toà án Công lý Quốc tế (International Court of Justice – ICJ), thì hiện nay TQ không thừa nhận. Còn lại các cơ chế khác chỉ mang tính giải thích pháp lý chứ không có tính giàng buộc", ông Thái nói.
Dẫn ví dụ từ vụ kiện của Philippines, ông cho biết, bản chất của vụ kiện là Philippines đang nhờ tòa giải thích rõ ràng về một số điểm liên quan tới diễn giải về Công ước và Luật biển quốc tế để tránh tình trạng mỗi bên diễn giải một cách, Trung Quốc tự diễn giải theo ý của mình. Đây không phải là vụ kiện có tính giàng buộc về mặt pháp lý. Tòa án Philippines chọn cũng không có chức năng giàng buộc về mặt pháp lý.
Trả lời cho câu hỏi liệu Việt Nam có kiện Trung Quốc không?, ông Thái cho biết, có 3 vấn đề Việt Nam cần quan tâm.
Thứ nhất, cần nhìn nhận, theo dõi tiếp vụ kiện của Philippines để đưa ra những đánh giá kỹ càng cả về thuận lợi và khó khăn trong trường hợp Việt Nam lựa chọn giải pháp theo chân nước này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang