Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

Gửi những người bạn của tôi


(Gửi những người bạn của tôi, những người khuyên tôi nên dừng lại, không nên quan tâm chuyện chính trị...họ cho rằng không làm gì được đâu, mất thời giờ vô ích...)
Bạn của tôi ạ, bạn hỏi tôi đang nghĩ gì trong đầu ư?
Tôi cũng như bạn vậy. Tôi không hiểu các bạn nghĩ gì trong đầu.
Các bạn không thấy một ngày của các bạn trôi qua buồn tẻ sao. Các bạn trao nhau những câu từ nhạt thếch. Các bạn tung ảnh tự sướng. Các bạn vào mạng xã hội chửi một thằng hiếp dâm. Một thằng đâm cha, chém mẹ, và châu đầu vào cái quần lót của 1 người mẫu để mà bình phẩm v.v Các bạn tung tăng khắp nơi, trợn mắt dòm dòm từ cái chuồng xí trở đi, miệng trầm trồ xuýt xoa: „Ồ, lạ quá, đẹp quá“. Các bạn về ưỡn bụng, vắt chân chữ ngũ mà thầm nhủ ta là người hạnh phúc nhất đời.
Các bạn có bao giờ mơ thấy những gì lớn lao hơn chuyện ngày mai sẽ sống thế nào chăng? Tôi chắc là không. Cái xã hội này đã dạy cho các bạn cách sống mà chẳng cần phải tư duy gì cả rồi. Các bạn chẳng cần tri thức, chẳng cần sự thật. Các bạn thậm chí cũng chẳng cần bộ não nữa. Cứ cột các bạn lại, như cột những con cừu ấy, rồi ném cho mỗi người một bó cỏ. Thế là xong.
Các bạn có dám dấn thân vào cuộc sống này không, có dám thay đổi cuộc sống này không? Các bạn có thấy buồn không khi hòa bình đã bốn chục năm mà đất nước vẫn chưa có nổi một ngày sung sướng? Các bạn có thấy nhục nhã không khi từng tốp sinh viên Việt Nam vừa dí bưu ảnh vào mặt người nước ngoài vừa giải thích bằng thứ tiếng Anh lắp ba lắp bắp: “Đây Việt Nam, đây Hồ Hoàn Kiếm, đây Hoàng Thành“? Người ta quan tâm đến cái xứ này cũng chẳng nhiều hơn họ quan tâm đến sao Hỏa. Mà có khi còn chẳng bằng đâu các bạn ạ.
Các bạn có đau không khi mảnh đất quê hương mình bị người ta xâu xé, khi đập thủy điện bị vỡ, khi đồng bào các bạn lang thang không cửa không nhà? Các bạn có buồn không khi Tổ quốc nghẹn ngào nhìn ngoại bang lấn dần từng phân đất, từng mảnh rừng đầu nguồn và chở đi từng tấn tài nguyên. Các bạn có muốn khóc không khi một ông già cúi gập người bôi xi lên giày của một ông Tây, và rưng rưng cảm kích với mấy đồng tiền lẻ nát?
Tất cả nỗi đau hằn xuống mảnh đất này có đáng làm cho các bạn quan tâm hơn một cái túi xách Gucci, một hốt-gờ hở trên hở dưới hay chẳng may toạc váy hở nội y, hay một cô ca sĩ hay người mẫu mới nổi với những phát biểu “đầy chất xám”, một trận đấu bóng hay một cuốn tiểu thuyết ba xu không? Muốn hiểu được nỗi đau các bạn chẳng cần tìm chúng trong một cuốn tiểu thuyết ba xu làm gì. Cách các bạn không xa, người ta đang khóc, người ta đang phải gồng mình lên mà chống chịu và nuốt nước mắt vào trong lòng. Một con đê đang vỡ. Một con tàu sắp chìm. Rất nhiều tập đoàn kinh tế vỡ nợ mà chính các bạn phải gánh lấy phần trả nợ . Một khúc sông sắp mất. Người dân ngậm đắng nhìn kẻ thù lấn từng tấc đất có máu thịt tổ tiên.
Còn các bạn thì sao? Các bạn ở trong nhà, trùm chăn kín đầu, đánh đánh gõ gõ trao cho nhau những lời nhạt phèo và foward những tin nhắn vô vị. Tôi không nói như thế tức các bạn phải ôm súng xông ra chiến trường hay phải đao to búa lớn hay phải là cái gì cho lớn lao. Mà rằng các bạn chẳng thiết làm gì cả, chẳng thiết tìm hiểu, chẳng thiết suy ngẫm, chẳng thiết tìm tòi.
Tất nhiên khi đọc đến đây, các bạn sẽ tấn công lại cá nhân tôi bằng những câu hỏi đại loại như sau: “Thế mày đã làm được cái quái gì ra hồn chưa mà lớn tiếng la lối và chỉ trích”. Tất nhiên tôi sẽ thẳng thắng trung thực trả lời, tôi cũng không khác mấy các bạn là bao – bởi thế hệ chúng ta – Một thế hệ vứt đi. Tôi cũng sẽ thành thật trả lời rằng:
- Tôi vẫn không biết phải làm thế nào không khiến TQ phải hãi sợ và buông tha VN.
- Tôi vẫn không biết phải làm thế nào khiến VN có lại chủ quyền biển đảo.
- Tôi vẫn không biết phải làm thế nào để ngư dân VN không bị hải quân TQ đánh, có nói gì , làm gì cũng không làm các ngư dân có cái ăn và những người đã chết sống lại.
- Tôi chả làm gì được để khiến những tệ nạn chấm dứt.
- Tôi chả làm gì được để khiến các ông lãnh đạo hết tham nhũng và dân bớt khổ.
- Tôi cũng chả làm gì được để làm cho điện hết cúp và giao thông hết tắc, và xăng thôi không tăng giá.
- Tôi chả làm gì được hay có giải pháp gì làm cho cô gái trẻ ở các tỉnh nghèo ngưng đi lấy chồng ĐL, HQ.
- Tôi không biết làm gì hay có kế sách gì để khiến các người dân nghèo thôi bán nhà sang xuất khẩu lao động ở Malaysia hay Đông Âu.
- Tôi chả biết làm gì để ngăn các cô gái trẻ không lơ ngơ bị lừa sang làm điếm ở Campuchia..
- Tôi vẫn không biết làm thế nào để các tập đoàn kinh tế bớt làm ăn thất thoát, kém hiệu quả, tham nhũng tràn lan
- Tôi chả biết làm gì, và làm thế nào để bla bla bla ,………….
Tôi biết bạn sẽ chúng ta sẽ chẳng làm dược gì hơn , nhưng bạn ạ, chúng ta, khi chưa có 1 hành động thực sự cụ thể và 1 giải pháp rõ ràng, ít nhất có thể lên tiếng để làm thức tỉnh và tác động. 1 hành động nhỏ nhoi là quan tâm và lên tiếng vẫn còn hơn ngồi yên đó thụ động chết chìm trong ảo tưởng và tự thõa mãn tự phong.
Và tôi đã sống, và tôi đã hiểu tại sao cái xã hội này vô cảm đến vậy, vô tâm đến vậy rồi. Vì nơi đó còn một lớp người không biết tư duy, không ý chí tiến thủ, không tri thức, không nghị lực, không ước muốn, không lý tưởng, không cả niềm tin? Họ giới hạn hạnh phúc của mình trong hai mươi mét vuông nhà, bàn chuyện thiên hạ và tính xem ngày mai nên đi xem phim hay lượn phố. Họ không đòi hỏi một điều gì hết, họ không ý thức được vị trí của mình, chẳng cần rung động, chẳng cần xót xa. Họ chẳng có động lực để làm bất cứ điều gì trừ khi người khác lấy roi quất vào mông họ.
Ps: nếu bạn có cùng tâm trạng xin chia sẻ ạ !!!
Nguyen Thuy Tien


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con người thà mất việc cho robot còn hơn bị thay bởi người khác!


Hãy tưởng tượng bạn sắp bị thay thế ở chỗ làm. Bạn thích mất việc làm của mình cho robot hay cho một người khác? Nếu bạn nói là robot, thì bạn thuộc về số đông.
“Việc bị thay thế bởi công nghệ hiện đại so với việc bị thay thế bởi con người có những hệ quả tâm lí khác nhau,” theo Armin Granulo tại Đại học Kĩ thuật Munich, Đức. Ông và các cộng sự vừa có công trình nghiên cứu khảo sát những khác biệt này.
Đội nghiên cứu yêu cầu 300 người đánh giá xem họ thích việc làm hiện tại của họ được thay thế bởi một robot hay một con người. Trong kịch bản đó, 62 phần trăm người nói rằng họ thích con người tham gia vào. Nhưng khi yêu cầu họ thay đổi bối cảnh và tưởng tượng bị mất việc làm, thì 63 phần trăm người muốn việc làm của họ được đảm nhận bằng robot.
Tiếp theo, đội nghiên cứu yêu cầu 251 người biểu thị mức cảm xúc tiêu cực của họ, ví dụ như buồn bã, giận dữ hay bực dọc, khi hình dung những việc làm mới trong xã hội bị thay thế bởi con người hoặc robot. Những người trả lời cho biết khi bị mất việc làm cho người khác họ có cảm xúc tiêu cực mãnh liệt hơn khi xem mình bị mất việc làm cho robot.
Đội nghiên cứu tìm thấy rằng con người xếp robot vào mức kém đe dọa hơn so với chính thể của họ trong việc thay thế con người trong cơ cấu việc làm. Điều đó có thể là do con người không cảm thấy họ có thể hay phải cạnh tranh với một con robot hay một mẫu phần mềm theo cách như họ có thể cạnh tranh với người khác, Granulo nói.
Nhóm nghiên cứu cũng đã khảo sát 296 công nhân thuộc lĩnh vực công nghiệp chế tạo. Một phần ba số công nhân này cho rằng việc làm hiện nay của họ có thể bị thay thế bằng công nghệ trong tương lai gần, và họ cũng biểu thị khuynh hướng ngả về việc thay bằng robot hơn là con người (Nature Human Behavior, doi.org/c85t).
Hồi năm 2013, Carl Frey và Michael Osborne tại Đại học Oxford đã phân loại việc làm theo mức đơn giản mà chúng có thể được thực hiện bằng máy móc, và tìm thấy rằng khoảng một nửa số việc làm ở nước Mĩ có thể được thực hiện bằng robot trong 20 năm tới. Các nghiên cứu khác đi tới những con số khác, song đa số các nhà nghiên cứu tán thành rằng số lượng lớn việc làm sẽ được tự động hóa trong tương lai gần.
“Công nhân thích nhà máy tự động hóa hơn là nhà máy không tự động hóa, bởi vì họ không phải làm những công việc bưng bê nặng nhọc. Nhưng người ta cảnh giác các thay đổi. Khi có thứ gì mới vừa được đưa vào, người ta thật sự lo lắng về sự mất trách nhiệm, và khiến họ bất an về việc làm của mình,” Frey nói.
Ông nói một số việc làm chỉ đơn giản là chuyển sang thích nghi với các tiến bộ công nghệ mà thôi. Chẳng hạn, một thủ quỹ ngân hàng hồi 40 năm trước cầm nhiều tiền mặt hơn và xử lí số chứng từ mà một máy ATM có thể phục vụ ngày nay.
“Thế nhưng những việc làm đó vẫn tồn tại. Ngày nay, một thủ quỹ ngân hàng đúng hơn là một nhà quản lí nhân sự. Việc làm đã biến mất, nhưng chúng ta đâu có nghĩ như vậy, bởi vì điều quan trọng với người ta là liệu họ có bị thay thế hay không thôi,” Frey nói.
Nguồn: New Scientist

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những câu chuyện của Nguyễn Đình Nghi



VTN

Nguyễn Đình Nghi  là con trai cả của nhà thơ - nhà hoạt động sân khấu Thế Lữ
ông sinh năm 1928 mất ngày 9 tháng 2 năm 2001 tại Hà Nội
 Từng là đạo diễn các vở Hình và bóng của Thùy Linh, Hoàng YếnNguyễn Trãi ở Đông Quan  Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi Hoa cúc xanh trên đầm lầy  Hồn Trương Ba da Hàng Thịt của Lưu Quang Vũ
Và các vở kịch nước ngoài Lôi Vũ Con cáo và chùm nho  (còn gọi là Êdốp) Hecnani ...


Đối với tôi, nhà đạo diễn này không chỉ là một con người của sân khấu mà còn là con người của tri thức nghệ thuật tổng hợp, người của văn hoá. Sau đây tôi xin trích đăng c một ít ghi chép từ những điều đã được ông chia sẻ trong những năm cuối đời.



 NHỮNG NGÀY HỌC NGHỀ Ở VIỆT BẮC

      
Tôi ham đọc sách là do ông bố tôi dạy. Theo Thế Lữ, đọc sách là một cái thú lớn nhất trên đời này (hơn cả tình yêu). Ham biết, cái gì ông ấy cũng muốn biết.
     “Người trẻ tuổi phải biết viết nhật ký, ở Pháp người bình thường cũng viết nhật ký, nó là nơi để người ta nói những điều cần  nói với mình.” – ông bảo vậy.
      Tôi viết nhật ký đều từ 1948-50.
     Ấn tượng mà Tự lực văn đoàn để lại trong xã hội hồi ấy là lớn lắm. Trong kháng chiến chống Pháp tôi biết  vinh quang của họ mờ dần. Qua ông bố, thấy  làm văn nghệ phải có gì nổi hẳn lên mới vinh quang. Còn  làm văn nghệ mà trung bình là khốn nạn.
     Gương học là Lưu Hữu Phước. Lưu Hữu Phước chủ trương đến 30 tuổi học thật rộng, từ 30 tuổi mới đi sâu.
     Đi trên đường, với Phan Khôi, nghe một câu chửi lạ,  hai bác cháu nhỏm dậy mà ghi. Ông bảo, đi cả thôi đường, được câu này cũng bõ.
     Anh có biết tại sao hồi làm Phong hóa, ông bố tôi viết truyện trinh thám không? Đơn giản lắm. Hồi ấy báo bắt đầu giảm số lượng phát hành, chính Nhất Linh nghĩ rằng phải viết trinh thám cho người ta đọc, và ông bố tôi là người có khả năng làm việc đó.
     Người làm báo phải phân biệt những gì mà mình thích, với những gì mà bạn đọc thích, người xem thích công chúng thích.
     Ông bố tôi kể: Lúc soạn các bài lai cảo tới báo, có những bài bố tôi đã loại ra, Nhất Linh còn lấy đăng lại. Sau kiểm tra lại thì thấy bạn đọc thích những bài được lấy lại đó thực.
     Hồi kháng chiến, có lần ông bố tôi đưa tôi một kịch bản và bảo hai bố con cùng làm. Tôi thấy kịch bản không hay nên từ chối.
     Ông bố tôi gọi một người khác cùng làm, và nhiều người xem thích lắm. Sau đó, ông tâm sự:
     - Cậu thấy Nghi chưa phải người làm sân khấu. Người làm sân khấu không chỉ dựng vở theo yêu thích của riêng mình, mà phải đứng về phía bạn đọc. Liệu bạn đọc có thích những cái này không? 
     Thế Lữ hay nói văn nghệ không phải chuyện lên đồng, sân khấu phải có nghề.
     
        Nguyễn Tuân, cái gì cũng biết, lại biết kể ; cũng việc ấy, mình cũng trông thấy, mà kể không hay, còn nếu qua miệng ông ấy kể lại, hay hơn hẳn.
      Đoàn Phú Tứ  từng nói với tôi cả buổi về vấn đề chơi sách đẹp. Cuốn Mấy vần thơ  Đỗ Văn trình bày, ví dụ, ông bảo -- sau mỗi trang soi lên, các chữ số không can vào nhau, là vứt đi luôn. Ông nói từ 7 giờ tối đến 10 giờ đêm.
       Ông nói cả tiếng đồng hồ về giấy dó, tự ông nhận là có một tình yêu sâu sắc với mực.
      Nhờ có các ông, lúc ấy, những người như tôi mới hiểu văn học dân gian. Kháng chiến là thời mà ý thức dân tộc mạnh. Giá trị dân tộc thật lộng lẫy mê người. Xem chèo, ông Thế Lữ, ông Kim Lân, há mồm ra thích, kinh ngạc, cười ha hả. Còn Hoài Thanh thì cắt nghĩa cho tôi  cái hay ấy nó bắt nguồn từ đâu.
     1951, mới bắt tay khai thác văn nghệ dân gian ;1952-53, tôi đi công tác về cơ sở, tổ chức những cuộc liên hoan. Khai thác ở 30 xã ở huyện Đoan Hùng. Tôi  từng dự múa trống cổ ở xã đạo Đoan Hùng.
      Nhớ một đêm tôi trên đường từ bến  đò Tuyên Quang về đơn vị. Đêm trăng, anh em ở đoàn, Phùng Thị Nhạn, cô Dần ra đón, cùng hát Trèo lên trên núi Thiên Thai. Con gái hát quan họ thấy hay lạ lùng.
       Ở tuồng, tiên phong đọc là tiên phuông, tràng đọc là trường; ở Quan họ cũng có hiện  tượng đó : anh chường ơi  - thay choanh chàng ơi. Tại sao có sự biến cải đó, tôi không cắt nghĩa nổi.
        Ông Nguyễn Xuân Khoát chữa lời một bài hát của Đặng Đình Hưng, từ  ngăn sông xẻ núi thành ngăn sông chuyển núi. Âm xẻbẹt, khó chịu; âm chuyển ấm hơn; nguyên âm đơn nguyên âm kép âm đầy hơn. Các cụ hồi ấy sẵn sàng hy sinh ý, để đạt đến cái đẹp thẩm âm.
         Lại có bài của Nguyễn Xuân Khoát Thằng Nhai thằng Nha, câu mở đầu Thằng Nha có cái bánh đa cái bánh to tướng bằng ba cái đình Thằng Nha đem tặng thương binh ca la pich, ca la pắc, ca la poong.
        Xuân Diệu phê bình không dân tộc. Tiếng Việt không có âmp, nên đổi thành: ca la kích,ca la cắc, ca la coong.
     Đào Vũ dịch: Thống khổ vô bờ. Theo  Xuân Diệu, phải chữa vô cùng hoặc  không  bờ.
     Xem có Việt Nam không, các ông đòi hỏi vậy, ý thức ấy quan trọng vô cùng, không chịu bắt chước, kể cả bắt chước Tàu. Nhớ cái câu Sương rơi đã ướt tàu cau -- Đồng bào bình nghị mau mau ta về. Câu dưới dở nhưng câu trên hay quá mà Việt Nam quá phải không.
      Xem Chị Tấm anh Điền, Hoàng Quốc Việt bảo chuyện địa chủ nông dân không phải bây giờ mới có.
     Hồi ấy, Hội Văn Nghệ chỉ có sách Pháp.Tôi giữ  thư viện, tha hồ đọc.Từ 1948  có  sách mới, Trận giao chiến đầu tiên của A. Still, Những người cộng sản của Aragon…
   Thế Lữ : Nghệ thuật sân khấu bắt đầu từ căng cánh gà cho  thẳng ( lúc ấy thường nối chiếu để căng mới thẳng ). Đến một đơn vị, ở một đỉnh dốc; sàn diễn làm lưng chừng núi, người xem ở dưới. Thế Lữ không chấp nhận, không diễn. Luôn cảm tưởng sân khấu diễn lộng lẫy. Tôi còn nhớ mãi lần đến một đơn vị. Mùa xuân, hàng hoa gạo ( hồi ấy đôi khi gọi là mộc miên) lừng lững.
     Hội có lớp học, song tôi được nghỉ vì sốt rét. Hai giờ một cơn,  đắp chăn mỏng, không trông thấy người. Việc thường xuyên là học. Học chữ Hán trong 4 tháng. Sách Bắc Kinh gửi sang. Có cả bạch thoại, văn ngôn. Ông Phan Khôi bảo Người Việt Nam không biết chữ Hán, mù chữ một nửa. Tôi hay tra từ điển tứ giác. Phan Khôi không tra được tứ giác.
       Những ngày sống bên các ông là hành trang để vào đời. Những con người mình kính phục dù nhiều nhược điểm ; nghĩ tới họ phải sống trong sáng, lành mạnh.
     Huy Du, Phạm Đình Sáu, Hoàng Vân, Đình Quang, Ngô Y Linh, Thái Ly, Nguyễn Vũ, Đoàn Long đi Trung quốc về, đều làm ăn tử tế.
     Nguyễn Tuân đánh dấu phẩy cực giỏi. Ông bảo từ thời Kháng chiến, đánh dấu phẩy kiểu khác. Tôi cũng thấy đúng.
     Nói chung ông Tô Hoài rất hóm, rất tháo vát, nhất là hồi  ở báoCứu quốc với ông Nam Cao. Còn như việc viết. Có lần tôi mượn cuốn Những kẻ bất khuất của Gorbatov bằng tiếng Pháp, thấy ông đánh dấu vào đấy, đoạn này cho lên trên; đoạn này cho vào giữa. Thì ra, bố mày xào xáo, làm thành Lão đồng chí.  Có một hồi khai là của mình, sau mới nhận là phóng tác.
     Vì  lúc ấy các ông ấy cũng bí, ta phải thông cảm.
     Khi Tô Hoài viết Núi cứu quốc, Nguyễn Đình Thi có bài đọc sách, đã tả rất đúng Tô Hoài “Tác giả thú nhưng không yêu Việt Bắc’.
     Về  sau, thấy Tô Hoài viết được Truyện Tây Bắc, tôi rất phục.
     Nam Cao đáng quý lắm. Có lần Nam Cao bảo tôi:
     - Viết về nông dân như Tự lực văn đoàn cũng thơ mộng quá, mà như tôi cũng đen tối quá. Viết đúng có lẽ ở giữa.
        Có những người như Nguyễn Đình Thi, thời ấy thơ ông bị ghét cay ghét đắng. Ông Tố Hữu bảo: Đọc thơ anh Thi lúc buồn thấy thích, nhưng lúc bình thường, thấy căm thù.
     Nguyễn Huy Tưởng kể: Thằng Thi đi chiến dịch, lăn ra mà làm đào hầm, khiêng thương binh, đủ cả. Về mới có được cái Xung kích (cũng nhờ Thi nó rất khoẻ). Chứ có ông như ông Sanh đi chỉ chui hầm, về làm mấy bài thơ, đến tạp chí Văn nghệ không thèm đăng.
     Hoài Thanh là người thành tâm, như trong việc đòi hỏi thơ phải hoàn toàn thay đổi cho kịp với điều kiện mới thì quá cực đoan (đến bài Ngò cải đơm hoa của Lưu Trọng Lư cũng bị ông Hoài Thanh chê là cũng buồn cơ mà)
     Hoài Thanh là người mang từ Trung quốc về lối tự mình vỗ tay khi bên dưới vỗ tay - ý  để chứng tỏ mình hoan hô lại những người đã vỗ tay mình. 
     Nguyễn Huy Tưởng là người có công xây dựng Hội - là  thủ trưởng cơ quan Hội văn nghệ. Tôi làm chân  giúp việc cho ông Tưởng. Ông Tưởng viết cái gì đọc cho tôi nghe.
     Nói chung, các ông ấy rất thành tâm trong việc sống một cuộc sống mới. Cơ quan văn nghệ mà vẫn có bích báo, có lửa trại. Tôi đến, bảo ông Thi viết bài, ông ấy bao giờ cũng rất đúng hẹn.
     Ông Nguyễn Xuân Sanh cũng có cái ghê của ông ấy. Tôi giữ sách thư viện thấy mấy bài của Tây viết về Dương Bạch Mai, tôi kể cho mấy anh em trong cơ quan nghe, thế là ông Sanh không cho tôi đọc nữa. Hoặc như chúng tôi giữ thư viện, mỗi lần chạy, tôi cho người phải ưu tiên cho những cuốn của Sartre, của Camus, còn ông ấy, ông ấy toàn ưu tiên cho cuốn của Still với mấy bản dịch truyện ngắn xô viết ra tiếng Pháp. Khác nhau rõ.
     Ông Hoài Thanh thì khổ hạnh lắm. Sống cũng khổ hạnh. Toàn đi chân đất. Anh em phải phê bình là anh không chịu giữ sức khoẻ. Ở cơ quan ông ấy sửa chữa, đi dép; nhưng đi công tác, lại đi chân đất.
     Các ông cứ chê Nguyễn Đình Thi. Nhưng ông Tuân làm thì cũng thế thôi. Cũng lên gân lên cốt vậy thôi. Có lẽ bảo khiếp nhược thì đúng hơn.
         Hồi kháng chiến  thì nhiều ca dao linh tinh lắm
     - Bao giờ kháng chiến thành công
     Trở  về làng cũ thì  không còn nhà
     Ai về nhắn với Cha già
     Phen này con cháu thật là tay không
     Theo Đoàn Phú Tứ, đây là Tú Mỡ làm khi đốt nhà đi kháng chiến, nhưng không rõ có đúng không? Vả chăng chỉ là nói giấm nói giú với nhau, chứ ai nói công khai liền bị người khác phê bình ngay.
     Một cái gì như sự khiếp nhược của cả một thế hệ--Đó là hình ảnh lớp tiền chiến hồi chống Pháp.
     

VÀI CHUYỆN THỜI SỰ VĂN NGHỆ
NHỮNG NĂM TRƯỚC 1986 
Về Nguyễn Khải
Tôi đọc lời giới thiệu anh ( V.T.N.) viết cho Tuyển tập Nguyễn Khải lần đầu thấy có vẻ hơi nghiệt. Nhưng lần này, đọc có kèm thêm cả tác phẩm của anh Khải, lại thấy nói như thế là vừa. Anh nên đi sâu thêm vào trường hợp này.
Thứ nhất, ông Khải không phải là người văn hay, hoặc độc đáo, như một Nguyễn Tuân hay Tô Hoài. Cái phong cách riêng trong văn không thật rõ, chỉ thấy một cảm giác sáng sủa mạch lạc, thế thôi. Những chỗ cần nói về những điều thật quan trọng của đời sống thì lại có vẻ nhiều lời, và tán ra quá rộng.
Thứ hai, đúng là hồi trước (1957-85) viết thế đã bạo, nhưng nhìn chung vẫn ngây thơ quá, bây giờ đọc lại thấy buồn cười.
Còn như bây giờ, dám đứng ra mà ca ngợi những kẻ lạc lõng thất bại, kể cũng đã là một cái gì khá hơn trước. Nhưng chỉ đến một thứ văn đọc được thôi, không thể gọi là có tầm triết lý gì cả.
Những thứ văn ấy không đạt đến tầm cỡ khiến nước ngoài người ta thực sự phải quan tâm nên không ai người ta muốn dịch. Cũng như không thể cho thời sau đọc - trừ những người học muốn đọc để hiểu thời này.
Suy cho cùng, Nguyễn Khải vẫn chỉ có thể gọi là người có năng khiếu, có tài. Nói thế là đủ.
Khải không phải là người theo đạo nhưng nói về đạo thấy được lắm ông ấy sống với người có đạo một cách kỹ lưỡng thấm thía như người có đạo thật vậy. Nhưng từ chuyện về đạo để nói về một cái gì khác thì chưa có.
Cũng như vậy, tôi nhớ những lần Khải đến chơi, ông kể những chuyện ông quan sát được, thấy rất hay. Nhưng đấy vẫn chỉ là người nói chuyện hấp dẫn, không thể gọi là sâu sắc, theo nghĩa đúng của chữ ấy.

Nghệ sĩ và thời đại
Những người thông minh quanh chúng ta nhiều chứ.
Nhưng thông minh lắm thì cũng đến như Chế Lan Viên, mang câu hỏi ta là ai, đánh tráo thành câu hỏi ta vì ai, để động viên mọi người chiến đấu.
Qua Nguyễn Khải, Chế Lan Viên -- lại vẫn phải nghĩ về thời đại. Cái thời nó làm cho mọi người làm văn nghệ chỉ có một cách nghĩ như vậy.
Rồi các lãnh tụ văn nghệ cũng không thể nghĩ khác. Ông Tố Hữu thì thấm thía gì so với ông Nguyễn Chí Thanh mà dám nghĩ khác.
Nhưng tôi chỉ lạ là sự chuyển biến những năm đầu cách mạng. Sao cách nghĩ trước 1945 bị từ bỏ nhanh đến thế mà cách nghĩ mới, chỉ một vài năm đã ngự trị khắp nơi rồi. Ông Xuân Diệu, ông Nguyễn Tuân, đến ông Nguyễn Xuân Sanh đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà cũng thế nốt.
Tôi đã đọc bài Nguyễn Đăng Mạnh viết về Nguyễn Đình Thi trongCon đường đi vào thế giới nghệ thuật của các nhà văn. Tôi thấy anh Mạnh hơi bất công ở chỗ anh không thấy sức ép của thời đại lên mỗi người. Người ở càng cao, thì ép càng mạnh.
Trong các ông giáo sư của ta bây giờ, tôi rất phục ông Trần Đình Hượu. Một lần tôi được nghe ông ấy nói về Đông Kinh Nghĩa Thục thấy ông ta kết luận:
- Về tinh thần yêu nước, thì chúng ta bây giờ chưa chắc đã hơn các cụ. Các cụ hồi ấy ghê lắm, nhiệt huyết lắm.
- Chỗ giống nhau giữa Đông Kinh Nghĩa Thục với ta là các cụ cũng nói đổi mới, cũng muốn làm mới mình, nhưng mới là gì, thì không biết.
    Thế còn Từ Chi? Đọc ông ấy, thấy có duyên lạ. Nhưng một con người uyên bác và hóm hỉnh như thế sống như thế nào. Tôi nghe người ta kể, ông nhận xét về Đào Hùng "cái chết của hắn là ở ngay cơ quan làm cái chuyên môn về sử". "Tức là muốn tồn tại được, anh phải ở cái cơ quan nó làm nghề khác anh". Nghĩ kỹ thì thấy cả xã hội thù ghét người làm chuyên môn, thật buồn cười quá.
Lắm lúc nghĩ ngợi một hồi tôi chỉ còn chốt lại cái ý: cái thời đại này nó mới ghê chứ, nó nghiền nát bao nhiêu người. Đến cả loại như Nguyễn Tuân, nó cũng không tha cơ mà. Mà Nguyễn Khải muốn vượt lên được, muốn khẳng định được mình, thì cũng phải biến dạng đi, thay đổi đi, có khi không còn là mình nữa.
     Chắc anh còn nhớ, hồi 1974, Nguyễn Khải viết một loạt bài trên báo Nhân Dân, rồi bị phê bình. Gặp anh ấy ở nhà Thiết Vũ ra, tôi hỏi thăm vài câu tôi nhớ Nguyễn Khải có nói mấy câu, mà phải nói ta không bao giờ tôi quên nổi:
- Ông xem loại người như tôi, ơn vua lộc nước đầy mình, tôi viết thế tức là tôi nịnh chứ. Vậy mà nịnh không nổi, hoá ra nịnh cũng khó lắm.
Tức là thế nào? Tức là ông Nguyễn Khải ông ấy rất hiểu cái vị thế của ông ấy, ông ấy làm mọi việc trong sự kiểm soát của lý trí.
Cái năm ấy, vụ Trần Việt Phương nổ ra trước, vụ Nguyễn Khải tiếp theo sau, tôi nhớ ông Tố Hữu ông ấy nói ý như thế này, Trần Việt Phương là một thằng điên, còn Nguyễn Khải ông ấy gọi là một thằng xỏ lá (Mà ông Tố Hữu nói, tức là Đảng đã nói)
Nguyễn Khải biết cái khó của Nguyễn Khải lắm!
Tôi nhớ năm ấy ông ấy viết xong Cách mạng, muốn nhờ Trần Phương đạo diễn. Tôi thì cũng chả phải xin việc, nhưng cũng thành thật hỏi sao ông không gọi tôi. Anh biết ông ấy trả lời sao không:
- Thế này ông Nghi ạ, tôi cũng sắc mà ông cũng sắc. Hai thằng sắc sảo cả gặp nhau thì sập tiệm. Tôi phải gọi Trần Phương cho nó nhoè đi, tù đi, may ra mới diễn được.
Qua chuyện này tôi nghĩ với Nguyễn Khải, trước hết viết phải đúng, kịch phải diễn đã.

Thời đại làm cho con người thay đổi nhiều quá.
Vào khoảng những năm 60, có lần tôi đi xe đạp, đâm vào một người khác, tức rõ ràng tôi có lỗi. Nhưng vì tôi ngã, tay đau quá, nên cứ đứng vẩy vẩy cái tay thế này, sau mới đến bên ông ta xem sao. Chưa kịp nói, đã nghe ông ta hỏi luôn: Anh đau lắm à.
Sau đó hai người cùng buộc lại gói hàng của ông ấy.
Lúc ấy, như thế là chuyện bình thường.
Đến những năm 70, đâm vào nhau, chỉ văng ra một câu : mắt mù à?
Bây giờ thì chửi nhau ngay được.
Thế tức là bản chất con người không đổi, họ chỉ bị cuộc sống làm cho hư hỏng.
Về sự cam chịu. Phải thấy nó có giới hạn. Như tôi, lúc đầu tôi chỉ tự dặn thành tâm làm việc và thấy không được hưởng lương xứng đáng thì buồn… Sau tôi bị quên nhiều quá, thấy mình so với mọi người thiệt quá, chịu không nổi, đến mức tôi phải viết thư lên ông Vũ Khắc Liên. Và thế là ít lâu sau, tôi được lên lương, đúng như đáng lẽ phải vậy.

                             CÁC THẾ HỆ -- CÁC TÍNH CÁCH
Lại nói chuyện các ông tiền chiến. Lúc tôi vào nghề, tôi hơi ngợp trước cánh các ông ấy. Rồi tôi chứng kiến sự vớ vẩn của Nguyễn Xuân Sanh, sự đóng vai cán bộ tài ba của Tô Hoài, sự thảm hại của Thanh Tịnh, sự thảm hại hơn nữa của Đoàn Phú Tứ, thì tôi mới bình tĩnh trở lại được.
Những ông văn nghệ trẻ, thì lại có võ riêng; và cái tài riêng.
Đặng Đình Hưng phụ trách văn công, nhân danh một nhạc sĩ. Nhưng Xuân Diệu ghét Đặng Đình Hưng lắm. Nhạc sĩ gì mà chẳng có một giai điệu nào người ta nhớ được. Ấy thế, nhưng cái võ của Đặng Đình Hưng thì thật tài, đánh nhau với Học Phi mãi. Một người như Thái Thị Liên lúc ấy ở Tiệp về, phục Đặng Đình Hưng sát đất.
Còn Thuý Thuý, lúc ấy là diễn viên văn công. Mặc dù biết Lê Đạt đã có vợ rồi (một cố nông), song vẫn mê Lê Đạt như điếu đổ. Dĩ nhiên, loại người được ông Trường Chinh lấy về văn phòng của mình như Lê Đạt là rất thông minh. Lê Đạt có lúc đã nhận Trường Chinh là một nhà chính trị vĩ đại. Thuý Thuý bảo, chỉ có 2 Lê mà em thích đọc, là Lênin và Lê Đạt. Còn Lê Đạt cũng tự nhận là thơ tao hay như thơ Đường.
Lê Đạt là loại người nói về ai xong thì vỗ đít đứng dậy không cho người ta nói lại nữa.
Đoàn Phú Tứ là người blaser (có nghĩa là chai sạn trơ tráo) theo đúng nghĩa của chữ ấy trong tiếng Pháp. Ông Tô Hoài bảo bạc ác, là đúng đấy. Tôi nghe kể, lúc ở phố X, phòng ông ấy cạnh phòng một tay có con chó. Ông Tứ hay đi chơi khuya mà con chó cứ thấy người khuya khoắt còn khua giầy trên cầu thang là nó sủa ầm lên. Tay hàng xóm cự, ông Tứ cãi lại:
- Toa có vợ, toa ở nhà, ngủ với vợ. Moa không có vợ, moa phải đi ngủ với vợ người ta, nên về muộn, không thể vì chiều con chó của toa mà cấm moa đi chơi khuya được.
Trong câu nói ấy, hàm ý xỏ ngầm nên tay kia đành im.
Ông Tứ là loại đi ngủ lang với vợ người ta, bị bắt quả tang, còn bình tĩnh ngồi dậy cài cúc quần, và bắt tay nói chuyện cơ mà.
Một lần, Đoàn Phú Tứ đứng đái, nói với người khác:
- Mình nhìn cái cu của mình, thấy nó còn thông minh hơn mặt khối thằng khác.
Cái lần ông ấy dự đám cưới Trần Du Châu, rồi bị một cái tát, không phải là căm ghét kẻ lãng phí đâu, mà là nói ngang nói bậy gì đấy, nên mới bị người ta trị.
Tuy nhiên, lại cũng phải nhận ông Tứ là người làm cái gì cũng nổi, sáng chói, rực rỡ hơn người.
Tôi nhớ có lần chỉ quanh chuyện chơi sách thôi, ông ấy nói với tôi hai tiếng đồng hồ liền, thú chơi sách có từ bao giờ, chơi sách da thế nào, chơi sách in thế nào, chơi sách cũ ở Tàu, chơi sách cũ ở Tây.
Ông Tứ không thích Phan Khôi, nhưng lại đối xử rất khéo, đến mức Phan Khôi không nhận ra.
Vả chăng, Đoàn Phú Tứ khiến cho nhiều người biết ông không ra sao, nhưng không ghét nổi. Ví như, quanh năm, ông ấy rạc dài không làm gì - trong khi đó, Phan Khôi nghiên cứu rất nghiêm túc. Nhưng đến lúc báo cáo công việc, thì ông ta lại trút ra được một bài viết mà ai cũng thấy là có khía cạnh rất sắc sảo.
Nền văn hoá cũ, dạy người ta rằng người trí thức phải có sự ngượng, chữ Pháp nó gọi là pudeur.
Trong công việc, chữ này có nghĩa là sự liêm khiết. Tức là anh chỉ nói những điều anh suy nghĩ kỹ thôi. Không xoáy của người khác đã đành, cũng không nói những điều ngẫu nhiên, sàm sỡ.
Hồi chỉnh huấn ở Việt Bắc, ông bố tôi dẫn lại một câu của đạo Thiên Chúa.
- Giữ lấy sự khiêm tốn trước Chúa để giấu đi sự kiêu ngạo trước con người.
Theo ông giáo lý của đạo rút lại chỉ dạy người ta như vậy.
Câu đó, không phải ai cũng hiểu ngay được đâu.
Các cụ trước có những ý tưởng thú vị lắm. Ví dụ, cái câu tiếng Pháp mà người ta vẫn dịch: Tôi tư duy vậy tôi tồn tại. Ông Hoài Thanh ông ấy lại cho là dịch thế này mới đúng: Ta tư cảm, vậy thì có ta.

Anh nên nhớ, tôi là dân đạo. Có nhiều từ trong tiếng Việt, đến người đi đạo mới dùng được trọn vẹn. Như là chữ thương khó chẳng hạn, phải có nó mới dịch được đúng chữ passion của Pháp (passion không phải chỉ có nghĩa là dục vọng)
Chữ song le, là do mấy ông cha cố đặt ra?
Chinh phụ ngâm có câu Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng? chữ  hay quá còn gì.
Nhưng thần tình nhất là cái cách người xưa dùng chữ mà. Bao giờ cũng chính xác
(Nhàn: Có lẽ là người Pháp, văn hoá Pháp --và phương Tây-- đã dọi vào tiếng Nôm một thứ ánh sáng khác, mà trước đây, bằng nguồn ánh sáng chữ Hán, ta không thấy.)
Tôi có đọc cái ý cô Phạm Thị Hoài chê tiếng Việt, tôi cho như thế không được. Anh cứ đi vào nghiên cứu tiếng Việt mà xem, anh sẽ rất mê.
Cái này, thì tôi nghiệm ở mình ra. Nghiệm qua những dịp làm việc với người nước ngoài.
Ví dụ, có một thằng Đức, cho nó đi xem trích đoạn chèo, nó không thích lắm đâu. Xem tuồng thích hay không, cũng tùy từng người (có nhiều ngưòi chê tuồng nói nhiều quá, tức là ồn quá. Cùng một lúc bắt người ta phải tiếp nhận nhiều thứ quá. Đến thằng Đức, tôi vừa nói, nó cũng không thích.)
Nhưng trước lúc về, dẫn nó đi xem Kim Nhan, thì nó bàng hoàng. Và về Đức, nó viết rằng, nó cảm thấy có lỗi, khi không biết rằng có một nền nghệ thuật như vậy tồn tại.
Còn đây là lời một người Pháp nói về chèo: đó là một nền sân khấu có nhiều điều để nói (còn nói gì thì tôi không biết)
Như thế, tức là khen chứ gì?
Về một kiểu tư duy. Có những người, như ông Đình Quang đầu óc của dân biên soạn, nhưng óc cán bộ nặng lắm. Điều ông ấy không biết, tức là không có ở trên đời. Điều gì ông ấy không làm, tức là người khác không được làm. Còn điều gì ông ấy không nói, mà người khác nói, tức là sai. Ấy vậy, mà ông ta cứ đi lập thuyết cứ đi giảng giải, và không biết ngượng trong việc nhắc lại những ý của người khác.
Có lần, tôi nghe anh em xuýt xoa khen anh Đình Quang nói hay lắm, anh ấy bảo mỗi người phải có cái kinh phúc âm của mình, tức là điều mình tin, và mình luôn luôn trở lại. Ờ, hay thật, nhưng tôi biết rằng đấy không phải là điều ông ấy nghĩ ra mà là một câu trong sách.
Cũng lạ lắm, là một người như Lưu Quang Vũ, rồi cũng lấy trong sách ra để làm ý của mình. Chẳng hạn, trong vở Thằng cuội, Vũ để cho một cậu tán người yêu, nhưng chỉ đứng đấy thôi. Chính ra là cuội tán hộ.
Đây cũng là chi tiết nước ngoài họ viết rồi.
Tôi có bảo Vũ là bỏ đi nhưng Vũ không chịu.
Tô Ngọc Vân ư, đấy là một nhà văn hoá, viết rất hay, mà nói cũng giỏi (nên nhớ ông từng đi dạy học)
Tôi đang ngồi với ông Tô Ngọc Vân thì nghe Dương Bích Liên lên trả bài. Tô Ngọc Vân ngắm nghĩa một lúc rồi gật đầu. Khá lắm. Phác thảo chì mà trông đã ra màu rồi. Về lên màu đi.
Dương Bích Liên mang về lên màu, rồi lại đưa ông xem. Lần này ông Vân lắc đầu:
- Bây giờ thì chả còn ra màu gì với màu gì. Đơn điệu.
Tôi phải thắc mắc, tại sao hôm qua phác thảo chì thì có màu, mà hôm nay, có màu rồi, thì lại không thấy màu gì. Ông lại ngồi giảng cho tôi một lúc.
Nhân đọc bài Một hồ sơ nhỏ về Đốt của anh, tôi lại nhớ cái lần tôi tiếp xúc với Tội ác và trừng phạt. Đọc trong lúc nào anh có biết không? Lúc tôi vừa ốm dậy. Một đợt ốm kéo dài, cứ hai ngày lại một cơn sốt rét rung cả giường. Ông bố tôi ở với cơ quan cạnh đấy, thấy tôi đọc Đốt, tỏ ý băn khoăn ra mặt.
- Thứ này đọc hại đến tinh thần người ta lắm.
Và ông hỏi thêm.
- Đọc đến đâu rồi.
- Đọc gần hết.
Ông nghĩ một lúc:
- Thế thì phải có thuốc giải độc.
Và ông gửi sang một quyển sách khác. Quyển gì anh có biết không? Không, không một cuốn tiểu thuyết Xô viết nào làm được việc đó, mà phải là Anna Karénina.
Lại nói chuyện Đốt. Có lần, trong kháng chiến, tôi được nghe đám cán bộ con nhà tương đối trong xã hội cũ, kể về những độc ác của họ, nghe xong rùng rợn cả người: may mà mình không đến nỗi như thế.
Nghĩ xong, lại thấy phục ngay ông Đốt. Là vì trong một tiểu thuyết nào đó, ông đã kể cái trường hợp một người bị xe kẹp, mọi người xúm đến xem và trở về ai cũng hoan hỉ, may mình không việc gì.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật

Đầu tư 5 triệu tệ mở homestay trên núi, cô gái Trung Quốc cùng cha mẹ ngày nào cũng leo bộ trên con đường cổ xưa về nhà.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Thái Thái, hơn 30 tuổi, sống ở thành phố Trùng Khánh, vốn là biên tập viên tạp chí du lịch, nhưng 3 năm trước cô bỏ việc lên núi sống và đưa cha mẹ đi cùng. "Tôi muốn tìm một nơi yên tĩnh để cho bố mẹ những ngày cuối đời vui vẻ", cô nói.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Năm 2016, Thái Thái đi đến nhiều ngọn núi ở Trùng Khánh tìm nơi sống lý tưởng. Sau nửa năm, cô tìm thấy "thiên đường" nằm trên ngọn núi Hufeng.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Ngọn núi này một có ngôi đền từ thời Bắc Tống. Trong thung lũng cạnh đó có một ngôi nhà đổ nát, Thái Thái đã thuê lại nơi này và biến thành homestay.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Nơi đây có hai hồ nước trong xanh và thảm thực vật dày, từ trên cao, hồ phát sáng như hai viên đá quý.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Từ thành phố về đây chỉ khoảng 30 phút lái xe, nhưng để lên được nhà, Thái Thái phải đi bộ qua con đường núi khá dốc, dài khoảng 500 m, có lịch sử hơn 100 năm.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Để bảo tồn sự nguyên vẹn của nơi đây, trong 3 năm, họ đã vận chuyển vật liệu xây dựng bằng sức người, đầu tư vào đó hơn 5 triệu tệ (hơn 16 tỷ đồng), từ tiền của bố mẹ, tiền của Thái Thái, vay mượn và thế chấp căn nhà ở thành phố.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Các bức tường đổ nát còn sót lại trở thành một phần của homestay. Căn nhà có tổng diện tích hơn 800 m2, gần chục phòng và căn nào cũng chan hoà thiên nhiên.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Thay vì sàn gỗ, Thái Thái đã làm bằng kính để mang mây trời, cây cối vào mọi ngóc ngách trong ngôi nhà. Các phòng cũng sử dụng nhiều vật dụng từ gỗ, tre trúc.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Nơi yêu thích của Thái Thái nằm trên ban công tầng ba, bởi vì từ đó có thể nhìn thấy ngôi đền cổ, dãy núi xa nhất, cũng như thấy hai cái hồ.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Thái Thái và cha mẹ sống bán ẩn dật, chồng cô vẫn làm việc bên ngoài và về nhà vào ngày nghỉ. Thường mỗi lúc lên, xuống núi, gia đình sẽ nhặt rác.
Cô gái xây nhà trên núi đưa cha mẹ lên sống ẩn dật
Thái Thái cho biết, ban đầu cha mẹ cô phản đối con gái bỏ việc nhưng khi thấy con vất vả, họ không thể chịu đựng nổi mà ủng hộ con. Bây giờ cha mẹ cô lại tận hưởng cuộc sống nơi đây, ngoài trồng rau, họ còn câu cá, hái trái cây trong vườn cho khách. "Miễn là tôi thích, cha mẹ sẽ cố gắng giúp tôi đạt được ước muốn của mình. Có lẽ đây là tình yêu không vị kỷ mà cha mẹ dành cho con cái", cô nói.
@ VNExpress

Phần nhận xét hiển thị trên trang