Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

Quyền được biết?




Nói về gìn giữ chủ quyền quốc gia, vua Lê Thánh Tông có một câu rất giàu hình tượng: “Một thước núi, một tấc sông”. Thước tấc thời xưa ngắn hơn chuẩn Tây phương nhiều. Cho thấy việc coi trọng chủ quyền núi sông nước nhà quý từng chút một.

Bãi Tư Chính nếu đo đầy đủ nào chỉ là thước tấc?

Nên dặm dài Biển Đông từ thời Nguyễn Ánh và đội hùng binh Hoàng Sa xác lập bằng những xác thân “người đi thì có mà không thấy về” có lẽ cũng cần được hiểu như vậy. Gần nhất là cuộc thảm sát Gạc Ma, là đảo chìm, đảo nổi mà giặc đã chiếm.

Người dân có quyền được biết chủ quyền quốc gia đến từng thước tấc. Đó là quyền thiêng liêng, cao cả nhất của bất kỳ công dân nào!

Quyền được biết ấy không phải để vài người thạo tin hay tập thể quyền lực điều hành đất nước coi như chẳng có gì quan trọng. Đó thực là một sự xâm phạm mang tính chất thao túng thông tin!

Có nhà báo đã chụp mũ nhân dân rằng biết để làm gì? Để biểu tình, để phá hoại tài sản doanh nghiệp như năm 2014 ư?

Có luật sư đã nói rằng chuyện tàu giặc quấy phá trên Biển Đông là chuyện bình thường và phản ứng nhân dân non và xanh lắm !

Nhân dân quả thực non và xanh khi quyền Hiến định về biểu tình đã có và Chính phủ khất Luật Biểu tình năm lần, bảy lượt mà không biết đòi. Đòi được quyền biểu tình thì nhân dân tụ tập có nơi, biểu tình có chỗ và thậm chí rút hầu bao đóng thuế để được bày tỏ chính kiến của mình.

Nhưng chắc chắn những người dân từng xuống đường năm 2007, 2011, 2014 và 2018 đều nhớ họ đi biểu tình vì điều gì ! Là chống Trung Quốc thành lập đơn vị hành chính Tam Sa, là chống đường “lưỡi bò” chín đoạn bịa đặt đòi nuốt trọn Biển Đông cha ông mình để lại, là phản đối giàn khoan 981 tiến vào thềm lục địa Việt Nam, là lo ngại việc đặc khu hóa ba nơi sẽ thành tô giới của Tàu... 

Các cuộc biểu tình cứ đông dần lên và cứ càng ngày càng không sợ bị đàn áp. Ai nhìn thấy đầy rẫy nguy cơ chớ tôi thấy những cơ hội cho đất nước trong ấy. Mã gien chống xâm lược nếu vận dụng vào sản xuất, vào xây dựng quốc gia trong thời đại nào cũng cần.

Nhân dân xuống đường ! Ngoài bày tỏ thái độ còn là đòi quyền cơ bản! Là cần được biết biển đảo đang bị xâm phạm ra sao !

Tại sao nhân dân không thể được biết ? Tại sao chỉ có “Đảng và Nhà nước lo” ? Trong khi chính chế độ gần 75 năm tồn tại này, chính Đảng gần 90 tuổi đời này được dựng nên nhờ nêu cao khẩu hiệu “của dân, do dân, vì dân” ?

Tại sao nhân dân chỉ biết được qua báo đài quốc tế và qua báo đài của kẻ từng đô hộ, từng xâm lược, từng quấy phá mình suốt xa xưa lịch sử đến hôm nay về việc quấy phá của giặc ở bãi Tư Chính ?

Ai có thể gọi giặc Tàu kèm “16 vàng, 4 tốt” nhưng tôi tin chắc nhân dân thì không ! Máu nhân dân nhuộm cùng máu giặc từ Chi Lăng đến Bạch Đằng, từ Như Nguyệt về Đống Đa, từ ngoài Hoàng Sa đến Trường Sa... xưa nay đã đủ đầy kinh nghiệm về dã tâm kẻ xâm lược!

Nó quấy phá, thì đưa tin nó quấy phá ! Quấy phá mức độ nào thì đưa tin mức độ ấy ! Cớ sao không đưa tin chính thống rồi quay ra chê trách nhân dân, chụp mũ nhân dân khờ dại, dễ bị lợi dụng.

Nếu đúng nhân dân khờ dại, dễ bị lợi dụng thì có phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ 1908, có phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, có mít-tinh thành lập đất nước 1945, có biểu tình chống Mỹ suốt 1954-1975 hay không?

Khi nhân dân không thể được biết thì từng đồng thuế chắt chiu, thậm chí là từng sinh mệnh ngã xuống, từng bà mẹ gạt lệ tiễn con đi... liệu có còn niềm tin nào cho chế độ hiện hữu?
Đã không được biết về điều thiêng liêng nhất là chủ quyền đất nước; lại còn bị lên mặt dạy đời, thì thử hỏi lại xem nhân dân có đáng bị bội bạc như vậy không?

Đất nước đầy rẫy tham nhũng ! Đất nước đầy rẫy công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm, gây mất an ninh lẫn an sinh xã hội ! Đất nước đầy rẫy nhà thầu Trung Quốc, đầy rẫy dòng tiền Trung Quốc thao túng cuộc sống cơ cực của nhân dân. Bấy nhiêu chưa đủ hay sao mà còn giấu giếm nhân dân, còn dạy khôn nhân dân ?

Tước quyền được biết của nhân dân cũng chính là “nhượng địa” thông tin chủ quyền đất nước cho giặc lấn dần. Đó là quan điểm cá nhân tôi !

Để dân phải cay đắng thốt lên “Không sợ Việt Tân, chỉ sợ Việt gian !” là tội lỗi của ai? Để dân phải uất ức bật ra câu “Mất nước không phải do thế lực thù địch, mà do thế lực thờ địch !” là tội lỗi của ai? Để dân tức giận nói rằng “Không sợ bọn cầm quyền phương Bắc. Chỉ sợ bọn cầm tiền phương Bắc !” là tội lỗi của ai? Để dân không còn là chủ thể trong khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là tội lỗi của ai?

Tự bản thân mỗi người đều có câu trả lời !

MAI QUỐC ẤN 15.07.2019

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khả năng tiên tri của nhà trí thức


VTN

NHỮNG LỜI TIÊN TRI CỦA NGUYỄN VĂN TỐ
VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC SAU 19/12/46
Trong một số trang Fb đầu tháng 7/2019  có nhắc đến mấy ý kiến của Nguyễn Văn Tố về kháng chiến mà  Nguyễn Thiệu Lâu đã ghi lại khi gặp cụ khoảng tháng 4, tháng 5 1947 ở một làng công giáo tên gọi là làng Thụt, Tuyên Quang.

Nhân có cuốn Quốc Sử Tạp Lục (Khai Trí Sài Gòn – 1973) của Nguyễn Thiệu Lâu trong tay - từng do nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan phtocopy giúp từ tủ sách gia đình - tôi xin chép lại ở đây cả đoạn từ cuối trang 72 tới đầu trang 74.
Ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn nước sông Lô đỏ ngầu những phù sa, cuồn cuộn chảy xuôi, nghe tiếng thác ầm ầm gần đây nhìn lên thượng nguồn thấy núi non trùng trùng điệp điệp, trên trời lơ lửng mây đen mây trắng, hai chúng tôi, một già một trẻ ngồi lặng yên suy nghĩ.
Hồi lâu, tôi lên tiếng :
- Ý kiến cụ về cuộc kháng chiến này của ta như thế nào?
- Ấy tôi cũng định hỏi ý kiến của ông.
Chúng tôi lại ngồi im, mãi cụ mới nói :
- Cuộc kháng chiến này sẽ kéo dài lâu lắm vì thực dân Pháp ngu. Dân ta sẽ khốn khổ với chúng, nhưng chúng sẽ không tái lập được cuộc đô hộ đâu. Nước họ đã kiệt quệ vì cuộc chiến tranh với Đức, họ sẽ chết vì chiến tranh ở thuộc địa. Rồi ông xem nước Pháp sẽ tụt xuống hàng nước Y-Pha-Nho. Á Châu sẽ mạnh. Trung Hoa và Ấn Độ sẽ phục hưng một cách nhanh chóng.
- Thế còn Nhật?
- Nhật sẽ phục hưng được nhưng không một dân tộc Á Châu nào ưa họ đâu. Họ thâm độc lắm.
- Còn nước ta?
- Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy, Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam – Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngóe ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi. Lắm lúc tôi nghĩ, buồn lắm. Suốt đời ăn hại. Chẳng biết chết rồi, về gặp ông bà ông vải, tôi biết ăn nói làm sao với các cụ? Nhưng thôi, nghĩ vẩn nghĩ vơ làm gì. Đời tôi thời bỏ đi rồi. Ông trẻ, cố mà sống.... .. Thôi, anh em chúng ta về.
-------------
Không có điều kiện phân tích tỉ mỉ, tôi chỉ xin gợi ý đây là những lời tiên tri rất xác đáng, đúng cho tình hình đất nước ngay từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cho tới tận 30 tháng 4 năm 1975.
Đáng đọc đi đọc lại nhiều lần là câu “Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy, Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam – Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngóe ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi”.
Ở đây có hai ý rất bất ngờ mà cũng rất chính xác, một là 
CHÚNG TA SẼ ĐỘC LẬP BỀ NGOÀI MÀ THÔI
và hai là

NƯỚC NHÀ SẼ KIỆT QUỆ, NGƯỜI VIỆT SẼ GIẾT NGƯỜI VIỆT NHƯ NGÓE ẤY. CHỈ KHỔ CHO LŨ TRẺ
Dựa vào văn cảnh chung, tôi còn muốn đoán thêm nhà tri thức hình như băt đầu cảm thấy rằng trong khi mải nghĩ đến những nguyên nhân ngoại cuộc, thì rồi chúng ta - những người đóng vai tác nhân lịch sử -- lại chính là nguyên nhân mọi nỗi thống khổ của dân ta trong tương lai.
--
Nhìn chung cả đoạn tôi thấy cảm phục vô cùng cái khả năng nhìn xa trông rộng của một người như cụ Tố.
Trước các khúc quanh lịch sử các biến động long trời lở đất, chỉ những trí thức đứng ngoài mọi phe phái -- nghĩa là không định trở thành “bên thắng cuộc” -- mới có thể có được những tiên đoán và cả những dự cảm đau xót cho số phận nhân dân như đã dẫn ở trên.
Nhân đây tôi nhớ lại một lời tiên tri của Nguyễn Văn Vĩnh mà Nguyễn Văn Tố đã dẫn ra trong một bài viết sau khi ông Vĩnh mất.


MỘT DỰ BÁO CHÓI SÁNG CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH
VỀ HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA  XÃ HỘI VIỆT NAM
Trong cuốn “Nguyễn Văn Vĩnh là ai ?”  do Nguyễn Lân Bình tuyển chọn. tôi đặc biệt chú ý tới bài “Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh” của Nguyễn Văn Tố viết bằng tiếng Pháp năm 1936, kéo từ trang 139 tới trang 211.
Ở chú thích số 14 tr. 209 sách trên , Nguyễn Văn Tố đã dẫn một ý của Nguyễn Văn Vĩnh  nói về tầm quan trọng của công việc giáo dục “các đồng bào trẻ tuổi chúng ta”
”Nếu hơn bao giờ hết giáo dục phải lôi cuốn công việc hội Tương tế Giáo dục chúng ta, thì lý do của điều đó là sự du nhập vào nước ta dần dần từng bước và rồi sẽ hiện diện khắp nơi một điều mới lạ về chính trị có tên gọi là “đầu phiếu phổ thông và bình đẳng”.
 Nguyễn Văn Vĩnh  giải thích thêm:
"Theo nội dung của thiết chế này, quần chúng đông đảo cùng làm chủ các việc công.
Thế nhưng quần chúng đông đảo cũng lại là bộ phận dốt nát nhất của mọi xã hội, và cũng có nghĩa là bộ phận nhiều đam mê hơn cả và dễ bị đánh lừa hơn cả bởi những nhà hoạt động quần chúng đôi khi thành thực song bản thân họ cũng dốt nát và cũng bị đánh lừa bới những kẻ lắm tham vọng, những kẻ ngụy biện và mỵ dân.
Như vật là rất có khả năng đẩy xã hội quay về với lộn xộn và hỗn loạn.
Cảnh man rợ lại hiện ra vì vẫn chờ đợi trong dạng tiềm năng.
Tất cả mọi người đều phải quan tâm ngăn chặn mối nguy đó, không chỉ các tầng lớp bên trên, mà ngay cả quần chúng đông đảo, tất cả những ai khát khao sống hạnh phúc, sống có nhân phẩm, sống trong tự do.
Ấy thế nhưng, không có trật tự thì làm sao có hạnh phúc, lấy đâu ra nhân phẩm khi không có sự tôn trọng chính mình và tôn trọng kẻ khác, lấy đâu ra tự do nếu không có giáo dưỡng trí tuệ và đạo lý.
Vậy nên, quần chúng đông đảo phải được đặt ngang tầm sứ mệnh của họ. Muốn cứu vãn xã hội thì phải làm như vậy”.
Hiển nhiên, đây là một chương trình giáo dục sáng láng và thực dụng mang màu sắc chủ nghĩa xã hội duy lý mà chắc là không một đầu óc ngay thẳng nào sẽ từ chối công việc chuẩn bị cho nó thành hiện thực.
---
Các ý quan trọng được tác giả nêu lên lần lượt là
Trong sự vận động của lịch sử QUẦN CHÚNG là nhân tố chủ động
Nhưng QUẦN CHÚNG lại  DỐT NÁT  DỄ BỊ ĐÁNH LỪA  bởi một bọn trung gian. Bọn trung gian này  cũng dốt nát và dễ bị đánh lừa bởi một bọn người trên cùng lắm THAM  VỌNG  và giỏi MỴ  DÂN
XÃ HỘI QUAY VỀ CẢNH LỘN XỘN  VÀ HỖN LOẠN’
 Chỉ cần lùi xa một chút chúng ta đủ thấy sự khái quát  này chính xác đến mức nào

Nếu lời tiên tri nói trên  của  Nguyễn Văn Tố thiên về về việc đoán nhận hiện tượng sẽ tới qua kinh nghiệm bản thân thì Nguyễn Văn Vĩnh nêu ra những nhận xét của mình về tương lai dưới dạng một thứ khái quát do đã  nghiên cứu sách vở Chắc là ông đã đi tới những khái quát này từ việc  tiếp nhận các khoa học xã hội hiện đại
Cả hai lời tiên tri hiếm hoi này cho hậu thế thấy là đầu thế kỉ XX xã hội Việt Nam đã có những người trí thức có tầm nhìn chính trị hiện đại và dự đoán hết sức chính xác về tình hình mấy chục năm sau, gần một thế kỷ sau.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐS cao tốc: Cần thực hiện đúng QĐ của TTCP


THỰC HIỆN ĐÚNG CÁC QUYẾT ĐỊNH 214/QĐ-TTg VÀ 1468/QĐ-TTg CÙNG SỰ CHỈ ĐẠO CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐỂ ĐẢM BẢO DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO BẮC NAM KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ
GS.TSKH. LÃ NGỌC KHUÊ
DÀN MỤC
1. Căn cứ pháp lý của dự án Đường sắt Tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc Nam
2. Đường sắt Cao tốc, một lựa chọn nhiều rủi ro, không khả thi và không hiệu quả
2.1. Đường sắt Cao tốc, khó đảm bảo tính khả thi về phương diện tài chính
2.2. Đường sắt Cao tốc, nguy cơ Việt Nam mất quyền chủ động, bị phụ thuộc, để đối tác nước ngoài làm chủ và thâu tóm mọi hợp đồng triển khai dự án

Trong hình ảnh có thể có: văn bản
2.3. Đường sắt Cao tốc, không phát huy được hiệu quả đầu tư
2.3.1. Sau khi kết thúc giai đoạn 1, hai đoạn Đường sắt Cao tốc Hà Nội – Vinh và TP Hồ Chí Minh – Nha Trang, tạo nên một hình thế hết sức bất bình hành về năng lực vận tải trên trục dọc đất nước
2.3.2. Khi dự án Đường sắt Cao tốc kết thúc, tạo ra một hình thế cực đoan, bất cân đối về năng lực vận tải của đường sắt trên trục Bắc Nam


3. ĐSTĐC Bắc Nam có tốc độ khai thác từ 160km/h đến dưới 200km/h, một lựa chọn hợp lý, khả thi và hiệu quả

3.1. ĐSTĐC Bắc Nam có tốc độ khai thác từ 160km/h đến dưới 200km/h vừa
chở khách vừa chở hàng, trở thành trục vận tải chủ đạo trên hành lang chiến lược của đất nước
3.2. Về Tổng mức đầu tư khi ĐSTĐC Bắc Nam có tốc độ khai thác từ 160km/h đến dưới 200km/h
3.3. Phân kỳ đầu tư ĐSTĐC Bắc Nam có tốc độ khai thác từ 160km/h đến dưới 200km/h
3.4. ĐSTĐC có tốc độ khai thác từ 160km/h đến dưới 200km/h, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam làm chủ và trúng thầu các hợp đồng dự án
3.5. Hiệu quả đầu tư khi dự án ĐSTĐC Bắc Nam có tốc độ khai thác từ 160 km/h đến dưới 200km/h
3.5.1. Hiệu quả đầu tư dự án khi sau giai đoạn 1, chạy tàu sức kéo diesel
3.5.2. Hiệu quả đầu tư dự án sau khi tiến hành điện khí hóa


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lật chồng báo cũ: GS. HOÀNG TỤY GÓP Ý SỬA HIẾN PHÁP 1992


Góp ý về Hiến pháp
Hoàng Tụy

Phát biểu về các vấn đề kinh tế xã hội trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tại cuộc tọa đàm ngày 15/03/2013 do Viện Nghiên cứu Lập pháp tổ chức.

Tôi rất hoan nghênh chủ trương của Quốc hội kéo dài thời gian lấy ý kiến nhân dân về Hiến pháp đến hết tháng 9, đồng thời tổ chức tọa đàm rộng rãi trong giới trí thức xung quanh những vấn đề lớn đang có nhiều tranh cãi.

Song sẽ là tốt hơn nếu trước đó không có những quy kết tùy tiện đối với những ý kiến trái chiều, dù những ý kiến này thật ra rất xây dựng và xuất phát từ những công dân chỉ có một tội là thiết tha với đất nước và ngày đêm trăn trở vì sự nghiệp độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân – hay theo cách nói sau này: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – một sự nghiệp mà vì nó biết bao người con ưu tú của đất nước đã ngã xuống và cả dân tộc đã chịu đựng biết bao hy sinh, nhọc nhằn trong mấy chục năm chiến tranh tàn khốc mà đến nay phần lớn mục tiêu vẫn đang còn ở phía trước. Sẽ là tôt hơn nữa nếu Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa vội tuyên bố bảo lưu tất cả những điểm chính, vì như thế khác nào thừa nhận việc hô hào nhân dân góp ý chỉ là hình thức, và bao nhiêu thời gian, của cải, công sức, của dân bỏ ra để góp ý chỉ là một sự lãng phí vô trách nhiệm.

Trước tình hình đó, những ai trăn trở về vận nước nguy vong làm sao không đắn đo suy nghĩ được. Tôi nghĩ vào lúc này, khi kinh tế lụn bại, xã hội nhiễu nhương, tham nhũng hoành hành, bờ cõi biên cương hải đảo đang bị uy hiếp nghiêm trọng, thì mọi người tử tế nên dẹp mọi suy tính cá nhân, cùng nhau vận dụng trí tuệ suy nghĩ tìm một lối ra ít đau đớn nhất cho dân tộc thay vì cố thủ trong những thành kiến, định kiến đã lỗi thời.

Trên tinh thần đó, tôi xin phát biểu thẳng thắn một số ý kiến về đề tài tọa đàm hôm nay, chủ yếu tập trung về hai Điều 54 và 57 trong bản Dự thảo.

Nói vắn tắt, đây thực chất cũng chỉ là những ý kiến đã được trình bày cô đọng nhưng khá đầy đủ trong bản Kiến nghị bảy điểm về sửa đổi Hiến pháp 1992 của 72 công dân.

1. Điều 54, Mục 1 ghi: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”. Xin đề nghị bỏ hẳn cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” vì nội hàm rất mù mờ mà theo kinh nghiệm thực tế nhiều năm qua chỉ là cái cớ để hạn chế, cản trở, thu hẹp thị trường, khiến nhiều nước đến nay vẫn chưa chịu công nhận kinh tế thị trường cho ta. Có lẽ vì cái định hướng xã hội chủ nghĩa đó nên mới cố bám chặt cái chủ trương lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, dốc hết vốn liếng tiền của, tài nguyên trí lực vào đó, chẳng những không có hiệu quả, mà còn cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước, làm cho đất nước kiệt quệ, chồng chất nợ nần không biết bao giờ mới trả hết được, lại gây ra biết bao tệ nạn trong xã hội. Có thể nói mọi tai ương bắt nguồn từ cái nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội theo kiểu giáo điều Liên Xô cũ. Giờ đây bản Dự thảo đã mạnh dạn từ bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đó là một bước tiến đáng kể, thế thì còn lý do gì bám giữ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” cho rắc rối.

Lần lại lịch sử có thể thấy rằng trước đây, theo lý luận chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ (cũng là lý luận chính thống của Đảng Cộng sản ViệtNamlúc đó), kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không chấp nhận cơ chế thị trường. Cho nên năm 1968 khi nhà lãnh đạo Tiệp Khắc Dubcek chủ trương sử dụng cơ chế thị trường trong chủ nghĩa xã hội thì lý thuyết “chủ nghĩa xã hội thị trường” ấy của Dubcek đã ngay lập tức bị Liên Xô và cả phe xã hội chủ nghĩa, gồm cả Việt Nam, lên án là lý thuyết phản động nguy hiểm. Đến mức để cứu chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc, Liên xô đã đưa quân đội vào Tiệp Khắc lật đổ Dubcek, và cuộc can thiệp quân sự tàn bạo ấy đã được ViệtNamvà cả phe xã hội chủ nghĩa lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ. Thế mà chưa đầy hai mươi năm sau đó, để vượt qua khủng hoảng kinh tế xã hội giữa thập kỷ 80 thế kỷ trước, chúng ta đã chấp nhận chính cái kinh tế thị trường trước đây đã từng bị phê phán kịch liệt và, như để tự trấn an, cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” được gán thêm vào, tương tự như cái tên chủ nghĩa xã hội thị trường của Dubcek.

Qua đó thấy rõ ngay trong nội bộ Đảng và các nhà cầm quyền nhận thức về chủ nghĩa xã hội cũng đã thay đổi ngược hẳn lại, ngay ở những nội dung cơ bản. Gì thì gì, thực tiễn chứ không phải giáo điều mới có thể có tiếng nói quyết định cuối cùng cho chính sách và hành động của một đảng thật sự vì dân.

Cũng có người cho rằng cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là để hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường. Thật ra kinh tế thị trường chẳng có mặt trái nào cả, những tiêu cực phát sinh chẳng qua là do hiểu và thực hiện không đúng kinh tế thị trường. Một xã hội muốn phát triển lành mạnh, bền vững, thì cùng với Nhà nước pháp quyền, và kinh tế thị trường, còn rất cần một nhân tố nữa là xã hội dân sự. Chính cái xã hội dân sự này giúp điều chỉnh những lệch lạc tự phát khi vận hành bộ máy nhà nước và kinh tế thị trường. Một khi xã hội dân sự còn rất yếu kém, chẳng những không được khuyến khích phát triển, trái lại còn bị xem là kế sách của các thế lực thù địch đang âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” thì bộ máy nhà nước dễ dàng xa dân, quên dân, đối lập với dân, và kinh tế thị trường cũng dễ dàng bị méo mó, xuyên tạc, nhất là về mặt đạo đức xã hội. Cho nên bàn về kinh tế lại không thể không quay về quyền con người và quyền công dân là những quyền đương nhiên phải được hiến định minh bạch và triệt để tôn trọng thì mới có thể có xã hội dân sự phát triển.

2. Điều 57 ghi: “Đất đai, …, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”. Dù muốn biện minh cách gì cũng không thể phủ nhận đây là điểm mắc mứu quan trọng đã gây nên biết bao thảm cảnh đau lòng những năm qua, đẩy người dân hiền lành đến chỗ có lúc không chịu nổi, phải đứng lên chống lại chính quyền địa phương để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bỗng nhiên bị xâm phạm, bị tước đoạt không phải vì lợi ích của đất nước mà chẳng qua vì lòng tham ích kỷ của quan chức các cấp, nhân danh Nhà nước bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp để trục lợi, hại dân. Đã có quá nhiều ý kiến đề nghị nên thay đổi quy định này, dựa trên những cơ sở pháp lý vững chắc. Bản Kiến nghị của 72 công dân cũng đã nói rõ vì sao quy định này là một trong những điều bất công tệ hại nhất đã làm giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy có lẽ không cần thiết phải nói thêm gì nữa về tác hại của một chủ trương mà thực tế đau buồn hai mươi năm qua đã hoàn toàn bác bỏ.

Tuy nhiên giở lại lịch sử có thể soi sáng thêm bản chất vấn đề. Quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân xuất hiện đầu tiên trong Hiến pháp 1980 chỉ là sao chép theo Hiến pháp Liên Xô cũ và do đó được cho là dựa theo lý luận chính thống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồi đó, sau hàng loạt biểu hiện tráo trở của Trung Quốc và nhất là sau cuộc chiến xâm lược của họ năm 1979, Liên Xô đối với Việt Nam trở thành nhà nước xã hội chủ nghĩa mẫu mực. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa đó, toàn thể nông thôn đã hợp tác hóa từ lâu, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là đương nhiên. Miền Bắc nước ta khi ấy cũng đã hợp tác hóa rồi, MiềnNamthì đang trên con đường hợp tác hóa, theo khẩu hiệu cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hộị. Trong khung cảnh quốc tế và nội tình đó, sự xuất hiện quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Hiến pháp cũng là dễ hiểu. Không ai, kể cả những người cấp tiến trong giới cầm quyền lúc bấy giờ, có thể tiên lượng được hết những hệ lụy gì của quan điểm đó khi tình hình thay đổi.

Những hệ lụy này chỉ mới dần dần hiện rõ và trở nên ngày càng trầm trọng trong tiến trình đổi mới. Một mặt, hợp tác xã ở Miền Bắc dần dần tan rã, còn ở MiềnNamkhông còn ai dám nghĩ đến hợp tác hóa như ở Miền Bắc trước kia nữa. Mặt khác, đội ngũ cán bộ quan chức ngày càng tha hóa, biến chất, một bộ phận không nhỏ mà ngày càng lớn dần trở nên hư hỏng hoàn toàn. Trong tình hình mới đó, những quy định luật pháp lỏng lẻo đi liền với quyền sở hữu toàn dân về đất đai trở thành chỗ dựa pháp lý lý tưởng để các quan chức mọi cấp ra sức trục lợi trên lưng nông dân nghèo khổ. Hệ lụy tất yếu là đấu tranh, khiếu kiện ngày càng lan rộng, ban đầu tự phát càng về sau càng có ý thức. Hết Tiên Lãng đến Văn Giang và nhiều nơi khác, mà đó chỉ mới là phần nổi của tảng băng chìm. Rõ ràng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân trước đây có vẻ đương nhiên trong chế độ toàn nông thôn hợp tác hóa nay đã trở nên mâu thuẫn gay gắt với những đổi mới ở nông thôn. Nó hoàn toàn không phù hợp nữa, chí ít cũng không hợp lòng dân ở giai đoạn này và trong tình hình sa sút đạo đức nghiêm trọng của cả hệ thống chính trị rất dễ dàng bị lợi dụng để đè nén, áp bức, nhũng nhiễu dân mà vẫn không bị pháp luật trừng trị.

Bài học rút ra từ những chuyện bàn ở trên là không có, không bao giờ có thể có, một lý thuyết hoàn thiện về chủ nghĩa xã hội để rồi cứ thế mãi mãi áp dụng thành công. Mục tiêu phấn đấu của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả nhất của một đảng thật sự vì dân vì nước chỉ có thể là: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, theo những tiêu chí phổ quát của nhân loại đương thời. Chỉ có trên quan điểm đó mới có thể có một Hiến pháp quy tụ, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện hòa giải dân tộc, vượt qua khủng hoảng và tình hình nguy cấp hiện tại để tiến lên một giai đoạn phát triển mới đầy hứa hẹn của đất nước.

H.T.

nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện ở bãi Tư Chính




Các tàu cảnh sát biển Việt Nam theo sát các tàu hộ tống Trung Quốc. Ảnh của GS Ryan Martinson ngày 10/07/2019.

Trong những ngày qua, nhiều chiến binh mạng dùng bàn phím định xông ra bãi Tư Chính “cứu nước” và không quên kịch liệt lên án báo chí chính thống “im mồm” không dám đưa tin về lực lượng Hải quân ta bị hải quân Trung Quốc “tấn công”. 

Sự thật là có một tàu, gọi là tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8 (Haiyang Dizhi 8) cùng với một số tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống, đã vào thềm lục địa của ta tại khu vực bãi Tư Chính để thăm dò dầu khí. Nơi đây có nhà giàn DK1 của Hải quân ta kiểm soát khu vực thềm lục địa này. 

Theo luật pháp quốc tế, chủ quyền thềm lục địa của ta là ở phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Còn cột nước phía trên đáy biển thuộc tự do hàng hải, nếu không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của ta thì ta không có chủ quyền gì. Bởi vậy tàu bè các nước qua lại đi tới đi lui vùng biển phía trên thềm lục địa của ta đều không vi phạm. 

Khi nào họ khoan, đục, dùi, hoặc cắm cái gì xuống đất đá dưới đáy biển, lúc đó họ mới vi phạm chủ quyền của ta. Nếu chạy khơi khơi trên mặt nước thì dù họ mang hạm đội đến cũng chẳng làm gì được họ.

Nhưng mấy cái tàu của thằngTàu đến đây không có ý định chạy khơi khơi trên mặt nước ngắm cảnh. Chúng nó đến để thăm dò dầu khí, dù nơi đây chẳng liên quan đến đất hương hỏa mả mẹ gì của nhà nó. 

Đương nhiên, chúng phải bị lực lượng chấp pháp trên biển của ta giám sát. Giám sát kiểu gì là chuyện quân sự, báo chí cần gì phải biết ! Chúng mày chạy khơi khơi trên mặt nước thì mặc mẹ chúng mày, chúng mày mà cắm cái gì xuống đất đá dưới biển là chúng ông cho vỡ alô ba đời nhà chúng mày ngay.

Kết quả là các mạ (?) thủ của ta đã tiễn chúng nó lên đường, không phải bằng tình hữu nghị gì đó, mà bằng những thứ không thể viết lên báo được. Mở quần vạch cu đuổi đám cóc nhái, các báo chính thống có tin gì mà đưa ? Chẳng lẽ đưa tin chiến sĩ ta vung *** vung *** lên tàu chúng nó ?

Đại khái chuyện diễn ra ở bãi Tư Chính là như rứa.

HOÀNG HẢI VÂN 15.07.2019

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cập nhật vụ Hải Dương Địa Chất 8




GS Ryan Martinson tweet cho biết trong các ngày 12-15/07/2019, Hải Dương Địa Chất 8 (HYDZ-8) vẫn tiếp tục luẩn quẩn ở khu vực cũ (xem bản đồ 1, 2). 

Còn tàu cảnh sát biển của Tàu 35111 được triển khai nằm cách bãi Tư Chính khoảng 40 hải lý, đã rời đi về bãi Chữ Thập ngày 12/7/19, có lẽ để lấy đồ tiếp tế, sau đó quay trở lại bãi Tư Chính ngày 14/07/2019 (xem bản đồ 3).

Như vậy, tin đồn bọn Tàu rút về chỉ là ... tin đồn.

Bản đồ 1: của Ryan Martinson cho thấy đường đi của HYDZ 8 từ12-15/07/2019.

Bản đồ 2: chồng bản đồ 1 lên GE, có so với đường đi cũ của HYDZ-8 trước đó để thấy nó vẫn còn ở vị trí cũ.

Bản đồ 3: của R. Martinson cho thấy vị trí của tàu cảnh sát biển Tàu 35111 so với Tư Chính.

* Lưu ý trong bản đồ 2, đường màu cong màu tím bọc bên ngoài các lô dầu là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt Nam (vẽ theo toạ độ trong hồ sơ Việt Nam nộp Liên Hiệp Quốc năm 2009). 

SONG PHAN15.07.2019

nhận xét hiển thị trên trang

Lý giải sóng ngầm tại bãi Tư Chính




Đường đi của chiếc tàu Trung Quốc Hải Dương Địa Lý tại vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam, được giáo sư Martinson theo dõi ngày 13/07/2019.

(VietStudies 14/07/2019) Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum).
Những gì đang diễn ra tại bãi Tư Chính là dư chấn như sóng ngầm tiếp theo khủng hoảng lần trước (7/2017 và 3/2018). Vì vậy, tuy không bất ngờ nhưng cũng đừng chủ quan. Theo báo SCMP (12/7/2019), Trung Quốc đã điều tầu HD-8 đến vùng biển gần bãi Tư Chính (Vanguard Bank) để thăm dò dầu khí (từ 3/7/2019). Tàu HD-8 được hộ tống bởi 2 tàu hải cảnh số 3901 (12.000 tấn) và số 37111 (2.200 tấn), được trang bị trực thăng và pháo.  
Cảnh Sát Biển Việt Nam đã điều 4 tàu CSB đến ngăn chặn các tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền. Ngoài 4 tàu CSB Việt Nam và 2 tàu hải cảnh Trung Quốc trực tiếp đối đầu (stand-off) suốt tuần qua tại vùng biển gần bãi Tư Chính (cách Vũng Tầu khoảng 440km), có hàng chục tàu khác của hai bên hoạt động ở ngoại vi. Sự kiện này xảy ra bất chấp cam kết (5/2019) của bộ trưởng Quốc phòng hai nước nhằm giải quyết tranh chấp qua đàm phán.   

Theo báo chí chính thống (11/7/2019), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển. Theo nguồn tin không chính thức, Thủ tướng đã nói chuyện qua điện thoại với các tàu CSB đang hoạt động tại vùng biển bãi Tư Chính. Tuy nội dung cụ thể không được thông báo, nhưng chắc Thủ tướng đã chỉ đạo CSB nâng cao cảnh giác để tránh bị động và bất ngờ trước các tình huống khó lường có thể xảy ra trên biển.  

Bối cảnh cũ

Cuộc đối đầu lần này tiếp nối cuộc khủng hoảng lần trước tại bãi Tư Chính (7/2017 & 3/2018) cũng như sự kiện dàn khoan HD-981 (5/2014). Trong cuộc khủng hoảng lần trước, Trung Quốc đã huy động hàng trăm tàu để hộ tống dàn khoan HD-760 tiến vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ đã đe dọa Việt Nam để buộc Repsol phải dừng khoan tại lô 136/03 (Cá Kiếm Nâu) và lô 07/03 (Cá Rồng Đỏ) nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.  

Theo các chuyên gia, Exxonmobil (Mỹ) ký hợp đồng với PVN để khai thác khí tại lô 118 (Cá Voi Xanh) có thể làm Bắc Kinh tức giận. Nhưng chắc họ tức giận hơn khi PVN và Repsol (Tây Ban Nha) định khai thác dầu khí tại lô 136/03 và lô 07/03 tại khu vực bãi Tư Chính. Lô 136/03 và 07/03 kề bên (overlaps) một lô dầu khí lớn mà Trung Quốc đã bán quyền khai thác cho Crestone (từ năm 1992) nay thuộc quyền Brightoil (Trung Quốc).
Tháng 4/2017, kế hoạch khai thác dầu khí tại cụm Cá Rồng Đỏ được chính phủ Việt Nam chấp thuận, theo đó 12 giếng dầu sẽ lần lượt được đưa vào hoạt động (từ cuối năm 2019) có tổng công suất khai thác mỗi ngày từ 25.000 đến 30.000 thùng dầu và 60 triệu m3 khí thiên nhiên. Vì lô 07/03 (Cá Rồng đỏ) nằm gần bờ nhất nên được ưu tiên triển khai trước. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, cần triển khai sớm dự án Cá Voi Xanh (là ưu tiên cao nhất).

Theo nguồn tin khả tín từ giới kinh doanh dầu khí quốc tế, việc hủy bỏ kế hoạch khai thác dầu khí tại mỏ Cá Rồng đỏ khiến các bên tham gia phải chịu thiệt hại lên tới 200 triệu USD. Nguyên nhân chính là do áp lực của Trung Quốc đòi chủ quyền theo đường “lưỡi bò”, và đe dọa tấn công các đảo do Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa và bãi Tư Chính. 

Nhưng theo quan điểm của Việt Nam (và quốc tế), việc Bắc Kinh không cho Việt Nam và các đối tác thăm dò và khai thác dầu khí tại lô 136/03 và 07/03, hay lô 118, là vô lý và ngang ngược. Tuy lô 118 nằm ngoài đường “Lưỡi bò”, nhưng Trung Quốc vẫn lập luận rằng khi ExxonMobil khai thác họ có thể hút cạn kiệt bể khí “nằm dưới đường Lưỡi Bò”.
Thời điểm mới

Theo Stratfor (12/7/2019) “Trung Quốc và Việt Nam đều không thông báo công khai về đối đầu lần này vì họ không muốn tình trạng căng thẳng đó leo thang vào lúc này”. Báo chí hai nước cũng không lên tiếng (trừ báo SCMP tại Hong Kong). Nhưng từ năm ngoái, ông Jack Ma, chủ của Alibaba đã trở thành cổ đông lớn của báo này, nên SCMP không còn độc lập như trước. Tuy nhiên, người ta biết rằng ngày nay mọi hoạt động trên biển không qua được mắt vệ tinh, và mọi diễn biến không thể dễ dàng bưng bít được thông tin như trước.
Nhưng điều đáng lưu ý là thời điểm xảy ra sự kiện đối đầu tại Bãi Tư chính lại trùng hợp với chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Tiếp theo thỏa thuận “hưu chiến” Mỹ-Trung tại G-20 Osaka summit (29/6/2019), Mỹ đã quyết định đánh thuế 456% lên thép của Việt Nam có nguồn gốc từ Đài Loan hay Hàn Quốc. Bắc Kinh có thể nghĩ rằng lúc này Hà Nội đang ở thế bất lợi, nên họ cần gây sức ép mạnh hơn.  
Trong khi tiếp Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân tại Bắc Kinh (11/7/2019), Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói “hai nước nên bảo vệ hòa bình và ổn định trên biển bằng hành động cụ thể” (safeguard maritime peace and stability with concrete actions). Trước đó, Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lật Chiến Thư cũng đã nói với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam là “hai bên nên cộng tác để xây dựng bộ quy tắc ứng xử (COC) tại Biển Đông”.
Trước đó, khi G-20 Osaka summit đang họp thì Hải quân Trung Quốc tập trận bắn đạn thật tại Biển Đông (phía Bắc Trường Sa, từ 29/6 đến 3/7). Bộ Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đã bắn thử tên lửa diệt hạm YJ-12 từ Trường Sa, đe dọa tự do hải hành tại Biển Đông. Gần đây, (6/2019) Hải quân Trung Quốc đã tăng cường hoạt động tại khu vực đảo Thị Tứ, và đâm chìm một tàu đánh cá Philippines tại bãi Cỏ Rong (mà không cứu người).
Có thể nói, trong khi Mỹ-Trung “vừa đánh vừa đàm”, Trung Quốc tăng cường gây sức ép và bắt nạt các nước khu vực (như Philippines và Việt Nam). Một là để thử phản ứng của Mỹ và đồng minh. Hai là để phân hóa ASEAN và giữ Việt Nam không ngả theo Mỹ, trước chuyến thăm Mỹ của lãnh đạo Việt Nam. Ba là để trấn an nội bộ trong nước, vì mỗi khi nội bộ bất ổn thì Bắc Kinh thường gây chuyện với bên ngoài để kích động tinh thần dân tộc.   
Khả năng chiến tranh
Theo Graham Allison (Belfer Center/Harvard), Mỹ và Trung Quốc dễ sa vào “bẫy Thucydides”, và chiến tranh tại Biển Đông khó tránh khỏi. Allison khảo sát 16 trường hợp tranh chấp trên thế giới, có 12 trường hợp dẫn đến chiến tranh. Với đa số áp đảo (3/4), Allison lập luận rằng đó là “quy luật tất yếu” (inevitable). Nhưng lập luận đó có lẽ không ổn.
Theo Alexander Vuving (APCSS/Hawaii), 12 trường hợp Allison cho là đã xảy ra chiến tranh có đặc điểm như “prisoner’s dilemma”, trong khi 4 trường hợp còn lại (không xảy ra chiến tranh) có đặc điểm như “chicken game”. Theo lý thuyết trò chơi, 2 loại đó có đặc điểm khác nhau, nên kết cục khác nhau, không thể “vơ đũa cả nắm”. Trong tranh chấp tại Biển Đông, khả năng xảy ra chiến tranh Mỹ-Trung “rất thấp” (unlikely) vì giống “chicken game”.
Tại Biển Đông, Trung Quốc triển khai chiến lược “tầm ăn dâu” để “thay đổi thực địa” (change facts on the ground) như một “chuyện đã rồi” (fait accomli). Trong khi người Trung Quốc coi Biển Đông như một “vùng xám” (grey area) để họ chơi cờ vây và vận dụng Binh pháp Tôn Tử (không đánh mà thắng), thì người Mỹ thường chơi cờ vua và vận dụng binh pháp Clausewitz.  Đó là hai cách tư duy theo hệ quy chiếu khác nhau, không nên lẫn lộn.
Tại Biển Đông, Trung Quốc thường dùng kế sách “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) để bắt chẹt đối phương phải nhân nhượng. Trong trò chơi “brinkmanship”, muốn hòa bình phải sẵn sàng chiến tranh. Winston Churchill đã nói “Một dân tộc tìm cách tránh chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã thì cuối cùng sẽ nhận lấy cả sự nhục nhã và chiến tranh”. Cụ Hồ cũng từng nói “chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới”. Nay Trung Quốc là “thực dân mới” (lời ông Mahathir), nếu càng nhân nhượng, họ càng lấn tới.
Dưới thời ông Obama, Mỹ không dám đương đầu với Trung Quốc như thời ông Trump hiện nay. Trung Quốc đã nắm được chỗ yếu đó, nên đã lấn tới. Tuần tra FONOP tại Biển Đông theo cách “đi qua vô hại” (innocent passage) đã vô hình trung khuyến khích Trung Quốc càng hung hăng hơn. Trung Quốc đã tranh thủ bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo mà họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa thành các căn cứ quân sự như hiện nay.    
Đối tác chiến lược
Nhưng tại sao Trung Quốc lại tập trung gây sức ép tại bãi Tư Chính mà không gây sức ép tại  mỏ khí Cá Voi Xanh (lô 118) của Exxonmobil. Đơn giản vì bãi Tư Chính là khâu yếu nhất, khó bảo vệ vì cách xa bờ (cách Vũng Tầu 440km). Tháng 7/2017 và 3/2018, Việt Nam và Repsol (Tây Ban Nha) đã phải ngừng khoan dầu khí và chịu thua Trung Quốc do đơn độc và yếu hơn (không có đồng minh bảo vệ). Trong khi đó, Cá Voi Xanh (lô 118) của ExxonMobil chỉ cách Đà Nẵng 88km, và đụng vào ExxonMobil là đụng vào Hải Quân Mỹ.
Nếu Trung Quốc bắt nạt được Việt Nam và Tây Ban Nha (tại lô 136/03 và 07/03), thì họ có thể gây sức ép với Ấn Độ (tại lô 128) và Mỹ (tại lô 118) để nhổ ba cái gai nhọn cắm vào “lưỡi bò” của họ. Nếu nhổ được ba cái gai đó, họ sẽ kiểm soát được Trường Sa và làm chủ Biển Đông. Cũng như Scarborough, bãi Tư Chính là “làn ranh đỏ” (red line), có ý nghĩa địa chiến lược. Nếu Việt Nam (và Mỹ) để mất bãi Tư Chính vào tay Trung Quốc như Philippines (và Mỹ) đã để mất Scarborough (năm 2012) thì đó sẽ là một sai lầm chiến lược lớn.
Các sự kiện diễn ra liên quan đến lô 136/03 (Cá Kiếm Nâu) tháng 7/2017, lô 118 (Cá Voi Xanh) tháng 11/2017, và lô 07/03 (Cá Rồng Đỏ) tháng 3/2018, đã làm bộc lộ bản chất và thái độ ngang ngược của Trung Quốc. Họ dựa trên sự áp đặt đường lưỡi bò bất hợp pháp tại biển Đông để ngăn cản tất cả các đối tác quốc tế nào muốn hợp tác dầu khí với Việt Nam. Điều đó nhất quán với “Tam chủng Chiến pháp” (Three War Doctrine) của Trung Quốc.

Nhưng liệu Mỹ dưới thời ông Trump có bảo vệ Việt Nam không, khi hai bên chưa phải là đồng minh và đối tác chiến lược? Theo chuyên gia Bonnie Glaser (CSIS) “có rất ít khả năng Mỹ sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ Việt Nam chống lại Trung Quốc, vì Việt Nam không phải là đồng minh của Mỹ”. (What would the U.S. have done differently? I find it unlikely that the U.S. would militarily defend Vietnam against China. Vietnam isn’t an ally).
Nếu Mỹ không can thiệp vào tranh chấp tại Biển Đông và không sẵn sàng bảo vệ đồng minh hay đối tác (như Philippines hay Việt Nam), thì đúng ý Trung Quốc, vì họ chỉ muốn loại Mỹ ra khỏi Biển Đông. Nếu ASEAN cũng không can thiệp và khoanh tay đứng nhìn khi Việt Nam bị bắt nạt và đe dọa thì cũng đúng ý Trung quốc. Họ chỉ muốn phân hóa làm suy yếu ASEAN bằng cách tách bó đũa ra để bẻ từng chiếc, nên không đàm phán đa phương.  
Alexander Vuving đã nhận xét rằng quan hệ Trung-Việt nay tách xa hơn “nhưng không quá xa”, còn quan hệ Mỹ-Việt nay gần hơn “nhưng không quá gần”. Tuy nhiên, sau khi tổng thống Obama đến thăm Việt Nam (5/2016), bỏ cấm vận vũ khí, và thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm Mỹ (6/2017), gặp Tổng thống Donald Trump, thì quan hệ Mỹ-Việt hầu như đã trở thành đối tác chiến lược “trên thực tế” (de facto). Thế cân bằng tĩnh đang bị phá vỡ, biến tam giác cân “Mỹ-Trung-Việt” trở thành tam giác “bất cân xứng”, đầy biến số.
Làm sao giữ nước
Vấn đề cốt lõi (bottom line) là Trung Quốc muốn áp đặt đường “lưỡi bò” để thâu tóm Biển Đông như cái ao của họ. Trung Quốc không muốn Việt Nam (hay Philippines) hợp tác khai thác dầu khí tại Biển Đông với bất kỳ đối tác nào khác (như Tây Ban Nha, Mỹ, Ấn Độ, Nga) mà không phải Trung Quốc. Họ chỉ muốn Việt Nam cùng Trung Quốc khai thác chung theo cách của họ mà ông Mahathir có lần chỉ trích là “thực dân kiểu mới”.
Trong bối cảnh trật tự thế giới ngày càng mất trật tự (disorder) như hiện nay, nước nào cũng cần có đồng minh chiến lược để không bị cô độc. Những nước nhỏ yếu hơn là hàng xóm của một siêu cường (như Trung Quốc) càng cần có đồng minh chiến lược để làm đối trọng khi cần thiết (hedging strategy). Nhưng đừng nên ảo tưởng trông chờ vào cường quốc khác bảo vệ mình, nếu không biết phát huy nội lực để tự cường và độc lập. Muốn vậy, phải nâng cao dân trí, đổi mới thể chế và điều chỉnh hệ quy chiếu để không bị lạc hậu và tụt hậu.
Dư luận cho rằng trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư để nâng năng lực của Cảnh sát Biển (nói riêng) và Hải quân (nói chung). Điều đó tuy đúng nhưng có lẽ chưa đủ, và có thể là “quá ít và quá muộn” (too little too late). Tuy phải làm mọi cách để nâng cao năng lực CSB, nhưng năng lực chiến đấu không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh cứng (như khí tài và hỏa lực) mà còn phụ thuộc vào sức mạnh mềm (như dân trí và dân khí).
Ngày trước, khi thực dân Pháp đem chiến hạm đến cửa biển Thuận An để dọa nạt, triều đình chỉ muốn yên lặng để “giữ hòa khí”, trong khi người Việt chỉ ham uống rượu và ngâm thơ. Dân trí như vậy, làm sao không mất nước? Ngày nay, khi Trung Quốc đem chiến hạm đến bãi Tư Chính để bắt nạt, Việt Nam cũng muốn yên lặng để giữ hòa khí và đại cục, trong khi tranh cãi sôi nổi nên làm đường sắt cao tốc 200km/h hay 350km/h, nên cho “mở lon Viêt Nam” và “dùng lu” để chống lụt hay không. Dân trí như vậy, làm sao giữ được nước?
Trong khi hy vọng tranh chấp tại bãi Tư chính có thể dàn xếp được (trước mắt), Việt Nam cần chuẩn bị cho mọi tình huống (lâu dài). Trong chuyến thăm Mỹ sắp tới của Tổng Bí thư/Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (nếu sức khỏe cho phép), việc ký kết hay bàn bạc về một thỏa thuận hợp tác chiến lược (như với các đồng minh/đối tác khác) là thiết yếu để tạo ra một đòn bẩy chiến lược đủ sức răn đe đối với các tham vọng của Trung Quốc. Điều này phù hợp với “chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển” (theo Nghị quyết 36-NQ/TW). 
Tham khảo
“China and Vietnam in standoff over Chinese survey ship mission to disputed reef in South China Sea”, Liu Zhen, South China Morning Post, July 12, 2019
“China, Vietnam: Reports Suggest Maritime Standoff Near Spratly Islands”, Stratfor, situation report, July 12, 2019
“Tensions Bubble to the Surface in China-Vietnam Spat”, Murray Hiebert & Gregory Poling, CSIS AMTI update, June 28, 2017
“Khủng hoảng Biển Đông lần thứ hai”, Nguyễn Quang Dy, Viet-studies, July 31, 2017
NGUYỄN QUANG DY 14/07/2019 

Phần nhận xét hiển thị trên trang