Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

Tố Hữu 1979 (phần tiếp)

VTN  
đưa trên blog này ngày 19-8-2014
           https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/08/to-huu-1976-phan-tiep.html
3-8.
 Vụ trưởng Xuân Trường họp các báo, gợi ý phê phán bản đề dẫn và bài Hoàng Ngọc Hiến. Việc này do Tố Hữu ra lệnh hay Xuân Trường muốn lập công?
8-8
Nghe là Đảng đoàn họp. Chế Lan Viên từ Sài Gòn ra. Xuân Trường – với vai trò phái viên cấp trên được mời--mặt hằm hằm bước lên cầu thang.
 Người ta kể rằng với nhiều người, Tố Hữu bề ngoài ngớ ra có gì đâu, giữa đề dẫn với ý kiến của tôi có gì khác nhau lắm đâu.
 Nhưng bên trong, nói với Thép Mới (Trần Đĩnh nói lại qua Nguyễn Thành Long) mình đã chỉ thị phải họp Hội nghị đảng viên lại.
Nguyên Ngọc cũng cứng lắm. Hôm nọ nói ở hội nghị đảng viên là sẽ nghiên cứu nghiêm túc bài nói Tố Hữu, hôm nay quay về, bảo:
- Giữa ý kiến tôi với ý kiến anh Tố Hữu phải có người sai người đúng. Chứ hoà cả làng, tôi không chịu.
Nguyên Ngọc cũng không phải không có thế. Giữa ông với cái ghế trung ương uỷ viên kỳ này, đâu có xa lắm.
Có một cái tội của Tố Hữu mọi người đều biết và đều hiểu là mức độ nó lớn đến đâu. Tội chửi xét lại khoảng 15 năm nay. Trong chính trị, Tố Hữu nổi tiếng là học trò, lại lươn lẹo.
 Chính Yên kể  báo Nhân Dân đăng bài tính dục, bị ông trên mắng cho một mẻ. Nhưng đó là do Tố Hữu gợi ý với Thép Mới.
 Hoặc có lần, trong một đêm pháo hoa. Tố Hữu bảo với Nguyễn Thọ đẹp quá. Như một bức tranh tĩnh vật. Phải có tĩnh vật chứ! Nhưng lần khác giữa một phòng triển lãm, Tố Hữu quát ầm lên, sao lắm tĩnh vật thế này.

 11/8
Vụ xuất bản Tuyên Giáo họp, có một số sách còn bị đánh dấu hỏi:Cha và con và …(Ng Khải),Bông mai mùa lạnh  (Lê Phương)
Ông Nguyễn Khải bảo chỗ mình trong Đảng Đoàn giờ chỉ ngồi một bên mông đít, chỉ chờ người ta bảo một câu là té.
Nhưng ông Khải đang có cái kịch Hành trình tới tự do quá tầm thường. Từ vở kịch đó, đến hiện trạng của Cămpuchia, xa nhau quá.

14/8
Không phải như dự đoán là có xô xát gì. Cuộc họp Đảng Đoàn khá thuận. Chế Lan Viên hôm trước còn nói với Nguyễn Thành Long. Tôi phải có ý kiến chứ. Bản đề dẫn kiêu ngạo... Các anh còn bênh nỗi gì?
Mọi người nghe cũng đã hoảng. Vì trong tình thế này, ông Thi là phe nghịch rồi, chỉ còn ông Chế Lan Viên ở giữa, ông ta ngả về phe nào là phe ấy thắng. Nay biết ra sao.
Không ngờ, ở hội nghị này, tình thế khác hẳn.
 Chế Lan Viên bảo tôi ủng hộ việc làm của anh Ngọc. Bản đề dẫn có những sai sót, nhưng tôi và anh Thi từng làm tổ chức đều biết, làm sao tránh được sai sót...
Tất cả những chuyện này đều do Nguyễn Khải kể. Khải bình luận thêm:
-- Mình mà mềm đi, các ông ấy thương ngay. Trong bụng các ông ấy cũng nghĩ như mình thôi. Nguyễn Đình Thi cũng bảo nhiệm vụ chính của văn học ta hiện nay là phải chống tư tưởng Mao Trạch Đông.
Ông Xuân Truờng cũng đến chủ yếu để thanh minh.

Trần Đĩnh hỏi Nguyễn Thành Long:
- Hỏng rồi phải không?
- Hỏng cái gì?
- Đảng Đoàn
- Ai nói thế?
- Quang Thái. Q Thái gặp Nguyễn Khải ở nhà Thợ Rèn. Hỏi thì Nguyễn Khải bảo Đảng Đoàn đầu hàng rồi. Thế tức là hỏng chứ gì?
 Ng Khải còn kể  với Trần Đĩnh là hôm nọ gặp nhau, Ng Khải đã bảo Q Thái với tư cách biên ủy báo Nhân Dân:
-- Thôi ông đừng cho đánh bài ông Hiến nhé. Có gì bảo chúng tôi một tiếng. Chứ Hiến người tốt lắm cơ!
  Nguyên Ngọc vẫn kiên trì lắm thì phải. Hoặc là ông ta đúng, hoặc là Tố Hữu đúng, giữa hai bên phải có phân định rõ rệt.
  Trần Đĩnh bảo càng ngày càng thấy cái tay Tố Hữu này quá lắm. Trần Đĩnh nhớ, có lần ông ta nói rất hay:
- Này, đã ai đọc Lucacs chưa. Nói sâu sắc lắm. Ví như, tay ấy bảo chân lý không phải thuộc về số đông đâu đấy nhớ.
Nhưng hôm sau, mồm ông ta lại dẻo quèo quẹo :
- Tuỳ tiện. Muốn sao muốn vậy, chỉ biết có riêng mình, không đếm xỉa gì tới tập thể cả....
Cái anh văn nghệ của mình là vậy. Mà cái anh chính trị ở mình cũng là như vậy cả-- Trần Đĩnh kết luận.

15/8
Ng Ngọc triệu tập các cơ quan hội để phổ biến.
- Không có vấn đề gì lớn sau hội nghị đảng viên. Những ý kiến nói xấu hội nghị là rất có hại.
- Tiếp tục chuẩn bị  họp Đại hội các hội vào khoảng 10/1979.
Liệu tình hình chính trị có cho phép như vậy??

20/8
Sắp có bài phê bình Hoàng Ngọc Hiến.Ông Mạnh bảo việc gì đúng thì mãi chẳng làm, việc gì sai thì cứ thấy làm ngay được.

9/9
...Nhưng mà nhập thế làm gì, thất vọng thôi.
Sau một hồi say sưa, ông Nguyên Ngọc hình như đang phục xuống, đầu hàng. Cái tài của Nguyễn Khải là tài lôi kéo cả Nguyên Ngọc vào lối suy nghĩ thoả hiệp của mình.  Các ông vừa nhượng bộ nhau vừa đánh phá nhau.

21/9
Không khí chung quanh như chết lặng đi. Nguyên Ngọc và Đảng đoàn mới mất hết nhuệ khí. Từ mấy tháng trước họ cho phép đăng bài Hoàng Ngọc Hiến. Nay lại cho Tô Hoài bác lại. Vì trên có chỉ thị phải bác.

30/9
 Không rõ chuyện Tố Hữu gọi Đảng Đoàn lên kiểm điểm có đúng không. Trước đó đã nghe nói là trong Đảng Đoàn đoàn kết lắm cơ mà, Nguyễn Khải bảo mình cứ nhận đi là xong. Còn các ông Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên cũng nghệ sĩ lắm, họ sẽ đỡ cho ngay.
Nay thì không phải.
 Nhị Ca bảo: Nơi nào đánh nhau thì thằng Khải tìm đến đầu tiên, rồi cũng bỏ đi đầu tiên.
 Nguyễn Khải bỏ đi thật. Ông sẽ đi sáng tác 2 tháng (tháng 10,11)
Vậy chắc chả đại hội trong năm 1979.
Trung ương vừa có một chỉ thị về chống chiến tranh tâm lý của địch. Tất cả mâu thuẫn địch ta, nói theo cách nói của các ông ấy, có nguy cơ nuốt hết mâu thuẫn nội bộ. Báo chí lại ngả cờ hết cả, không thấy hé ra cái gì nữa. Ngô Thảo bảo Nguyễn Khải không muốn ra khỏi bộ đội nữa vì lão ấy biết ra Hội phải làm. Mà làm vẫn là chỗ yếu của lão.
Nguyễn Khải ngồi tính:
 - Đã làm được gì đâu. Được mỗi buổi họp, thì nói ra nói vào mãi. Thêm cả cái tội rủ rê trẻ chống già. Thế thì người đi họp người ta cũng chửi mình còn gì.
Chuyện giải thưởng. Ông Chu Văn bảo anh định vỗ nợ chúng tôi hay sao. Cả đời cuối cùng có cuốn Bão biển, anh định lờ đi chắc.

4/11
Báo Văn nghệ đăng bài của ông Tô Hoài phê phán ông Hiến. Xã hội ta mọi việc đều tốt. Mọi mối quan hệ đều hoà hợp. Không có những hiện tượng cái cao cả lấn át cái bình thường. Hoàng Ngọc Hiến như vậy, chỉ là thấy cái cá biệt.
Cái ông Tô Hoài này xưa nay viết cái gì cũng giả. Nay, do phân công mà làm, do bắt buộc phải làm, tức viết giả, thì cũng chẳng kém gì cái thật ông vẫn viết. Nghĩa là cũng rối như canh hẹ, chả ra lý luận gì, kể cũng buồn cười.
Nhưng có phải người ta chỉ đánh ông Hiến đâu? Người ta đánh cả Đảng Đoàn. Người ta muốn bảo không phải Đảng Đoàn làm cái gì cũng đúng.
Dường như xã hội này không có nhu cầu chân lý.
 Ng Khải ngày nào hy vọng như thế, giờ nản lòng rồi. Ai cũng bảo ông Khải giật dây những chuyện này.” Ông Ngọc thì trong sáng, nhưng...” .Nhưng  ở đây có nghĩa nhưng Nguyễn Khải thì rất đáng ngờ, Khải bảo. Tôi là khâu yếu nhất trong Đảng Đoàn. Nên tôi phải đi thôi. Thế là ông Khải cắp đít vào Sài Gòn, nói là đi thực tế, nhưng thực tế là mang vợ con vào, có thể định cư ở đấy lâu dài.
Một mặt thì những nguyên tắc vận hành của xã hội là sai lầm nhưng mặt khác, do đã lâu quá rồi, cái bộ máy hỏng, cho nên nó nghiền hết cả người.
Theo như tôi nhìn nhận, trước mắt chả có ai làm nổi công việc.
Ng ĐThi làm bao nhiêu năm, gần như không làm gì. Mà ông này ăn ở đến mức nào để cho kiện cáo linh tinh. Bà Lê Minh nhiều mưu đồ. Ông Nguyễn Thành Long, ông Đào Xuân Quý cũng tham gia rất hăng, người này vợ là cháu ông A người kia đánh trống qua ông B., cùng hè nhau đòi trên thay ông Thi. Đằng sau lưng hai người ấy là ông Chế Lan Viên và Tô Hoài, cả hai giấu mặt.
Bây giờ đến lượt mấy ông kế tiếp. Nguyên Ngọc cũng không thể làm gì được. Đã có lúc, ông hé ra cái ý nghĩ mình lại về sáng tác, hoặc làm gì đó ở bộ đội.
 Nhưng Nguyễn Minh Châu bảo ông Nguyên Ngọc mà không làm bí thư Đảng đoàn thì biết làm gì.

19/12
  Nửa năm đã qua. Không có Đại hội gì hết.
Mấy tháng trước, Nguyên Ngọc khăng bảo trong đề dẫn không có gì là sai lạc cả. Chỉ có những điểm nói chưa thoả đáng. Nay phải nhận trong đề dẫn có những sai lầm nghiêm trọng (Xuân Quỳnh kể là có ai đó còn nói quá lên: ông Tố Hữu cho là trong đó có những ý kêu gọi lật đổ.)
Học Nghị quyết 5.
  Nguyên Ngọc thì cho là anh em văn nghệ sĩ rất  tốt, chỉ chưa có sáng tác tốt.
 Chế Lan Viên: Tình hình báo động. Có nhiều việc rất nguy hiểm.
Dĩ nhiên, một thứ cảnh giác chiến đấu thế, bao giờ cũng được tuyên huấn hoan nghênh hơn.
Ông Thi sáng tác một cách hậm hụi, như là người có tài bị bỏ quên.
 Chế Lan Viên bảo tôi biết làm thế nào để ra tác phẩm lớn, nhưng tôi không có điều kiện làm.
Người ta cảm thấy trên bợp tai Đảng Đoàn qua việc phê phán bài Hoàng Ngọc Hiến.
Nhiều người phản đối, cho là ông Tô Hoài dại. Nguyễn Văn Hoàn ở Viện văn bảo: Trong văn học, ông Tô Hoài to, chứ trong lý luận đâu có to. Trong bài này, ông ta lại lấy cái  tôi của mình ra để bàn lý luận. Tôi = lý luận, như thế không ổn.
Chính Yên đến báo Văn Nghệ  làm ầm lên: Tán thành nghị quyết 6 mà các anh còn làm thế à?
Cấp trên ghét bài ông Hiến vì lý luận một phần.
 Nhưng phần khác, là chuyện nhân thế, qua lời Hoàng Ngọc Hiến tố cáo, người đọc thấy xã hội ta sống rất giả dối. Con người thường bị khuôn vào những cách xử thế có sẵn.
Một mặt, người ta tỏ ra nuông chiều văn nghệ. Nhưng trong thực tế, lại sợ lại thù ghét văn nghệ. Hiến làm ngược lại.  Một bài phê phán Hoàng Ngọc Hiến trên tạp chí Văn học, có cho rằng Hoàng Ngọc Hiến có một thái độ rất dịu dàng với các nhà văn, trong khi đó lại dám phê phán công chúng, sự thực là dám phê phán những người lãnh đạo!
...
 Chung quanh câu chuyện văn nghệ, nhiều người (nhất là cán bộ!) để ý theo dõi rất ghê. Nghe ngóng xem có gì sai – ai sai cũng thế -  là họ thú vị lắm.

3/2/1980
 Bùi Văn Hoà cắt nghĩa về đoạn kết của Đảng Đoàn. Những  ý sau đây do Hòa nghe từ ông Hoàng Trung Nho kể lại nên chắc là có thể tin...
Lúc đầu ông Ngọc rất găng, không chịu. Có lần ông bảo thẳng ông Thanh, trợ lý lâu năm trên Tuyên huấn, chuyên theo dõi văn nghệ:
-- Anh về báo cáo anh Lành. Chứ anh làm thế (trong hội nghị đảng viên) là sỉ nhục tôi.
Mấy ông Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Chế Lan Viên vẫn chưa biết cách nào cho Nguyên Ngọc một trận, và càng chờ trên đánh xuống.
Rồi những ngẫu nhiên xuất hiện. Chế Lan Viên đến nhà Giang Nam chơi.
Giang Nam lúc này là một thành viên Đảng Đoàn.
Giang Nam tâm sự, không biết phải làm gì bây giờ.
Chế Lan Viên bảo thế thì anh phải lên anh Lành ngay.
Nếu rủ được thằng Ngọc thì càng tốt.
Vội vã, Chế Lan Viên đóng vai trò môi giới thông báo cho cấp trên biết. Rằng bọn Giang Nam Nguyên Ngọc sẽ lên.
Chế Lan Viên nói từ thứ bảy. Chờ qua ngày chủ nhật, không thấy, thứ hai không thấy.
Tối thứ hai, Giang Nam một minh mò lên chỗ ông Lành:
- Chúng tôi kẹt lắm.
- Phải nói thẳng vừa qua các anh đã sa đoạ về tâm hồn, các anh tưởng các anh làm loạn được à. Không có các anh, cách mạng vẫn cứ tiến lên.
 Nếu trong Đảng Đoàn, đồng chí bí thư có những biểu hiện sai trái, các anh phải đấu tranh chứ.
Vậy là cấp trên đã bật đèn xanh cho dưới trị nhau rồi.
Nguyên Ngọc hoảng quá, thân cô thế cô, nếu bây giờ không đầu hàng đi, người ta thay ngay. Tố Hữu đã có ý thay. Vả chăng, thay cũng được, nhưng về làm gì, sáng tác không hay, quay ra làm cán bộ chính trị, thì sẽ bị nghi ngờ, khinh bỉ. Ở ta là thế, tiến lên mà thất bại, quay về sẽ bị chèn ép. Vả chăng, còn phong trào nữa chứ.
Chỉ trong 2 ngày Nguyên Ngọc suy nghĩ rồi quyết định đầu hàng. Nói rằng mình sai lầm, mình sai lầm nghiêm trọng. Và nhận hết.
Buổi họp gần đây của Ban chấp hành có ra một nghị quyết, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của cánh nhà văn trước Tố Hữu.
Thông báo bảo rằng lấy bài nói chuyện của Tố Hữu làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động.
 Khải kể mình đã khôn, nhưng ông Tô Hoài còn khôn hơn.
Trong thông báo, ông kể đủ tên Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh vào danh sách những người phát biểu tốt cho phương hướng nghe theo ông Lành. Trong khi thực tế, họ chẳng phát biểu gì cả.


Ý Nhi bảo Tố Hữu là cái loại chính trị già đời, ông ta phải đánh cho cấp dưới mềm xương ra rồi mới dùng.


Vĩ thanh
 Mới đây lạ nghe kể trong một buổi chiêu đãi, hay buổi họp nào đấy, Nguyên Ngọc gặp lại Tố Hữu. Ông tâm sự ông đang hào hứng lắm. Sang làm Phó thủ tướng, bận rộn. Và ông nói với mình (tức Ng Ngọc) một câu có thể học được này.
-    Cái chính là mình phải có gan. Có gan làm thì mới được.
Nguyễn Khải thú nhận Đảng Đoàn mới chúng em có 6 tháng đã sợ quá rồi. Thế mới biết các anh cũ 15 năm chịu đòn giỏi thật.
Tưởng như không có chuyện gì của năm 1979.  Nguyễn Khải cũng ngồi đấy. Tôi bảo tôi muốn lẩy Kiều: Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai.
- Mọi chuyện diễn ra y như trong một truyện ngắn...giỏi hư cấu

- Lại nhớ một lần, có một cậu bạn nhận xét chính đời sống cũng rất sáo. Cấp trên đánh cấp dưới.
Cấp dưới cãi một lúc, rồi đầu hàng. Thấy cấp trên đúng, chính mình đã sai. Trước gượng gạo sau tin thật. Tôi đã thấy bao nhiêu ca như vậy rồi. Cái ý này từng được Nguyễn Công Hoan dùng làm câu kết cho truyện ngắn Người vợ lẽ bạn tôi.

Viết thêm 7-2-2013
    Như đã nói ở trên, đây là một cuộc chuyển giao quyền lực sau chiến tranh nhưng đã không thành. Một sự thay người cần thiết nhưng được làm quá muộn. Mới loanh quanh mấy khúc dạo đầu thì sự thay đổi đó đã bị đẩy lùi nhanh chóng. Tại sao?
     Trước mắt chúng ta chỉ là một cuộc đấu tranh giữa những người giống nhau. Chẳng có cái mới nào xuất hiện.Vì trong chiến tranh cái mới nếu có manh nha đã bị triệt tiêu từ khi còn trứng nước.
     Cái mới có khác gì cái cũ! Và nhiều người gọi là mới song cũng rất cũ. Họ vốn chẳng có bài bản sách lược cho khoa học cho rõ ràng. Lực lượng lại thường chia rẽ.
     Về kinh nghiệm chính trị thì lớp ở chiến trường đâu có thể so với lớp cũ đã quen chỉ huy chỉ đạo hơn ba chục năm nay. Thế lực cũ ở đây trước tiên là Tố Hữu, người đã  bước lên bậc thang quyền lực bằng việc quản lý giới văn nghệ và ngay sau khi chuyển đi làm kinh tế thì cũng không bao giờ quên văn nghệ là một thứ sân sau của mình. Thế lực này còn có cả bộ chân rết vững chắc mà sự trung thành với chúa cũ đã trở thành bản năng. Sự chiến thắng của họ là không thể khác.  
    Sự kiện  6- 1979 chính là báo trước sự kiện 1986 -1990, một bước đổi mới tự phát rồi đến  giữa chừng đảo ngược, người trong cuộc vừa khao khát đổi mới vừa muốn giữ lại cái cũ và rất sợ mất quyền lợi nếu cái mới thắng thế.
    Xin lưu ý thêm là ngoài các vai kịch đã rõ như Tố Hữu và Nguyên Ngọc, thì  từ Hội nghị nhà văn Đảng viên 1979, một giai đoạn rất nhiều biến động ngầm trong cuộc đời Nguyễn Đình Thi đã hình thành:
--Giai đoạn ông đã bị hất ra song vẫn quyết liệt tìm cách tái lập quyền lực cho bằng được.
--Giai đoạn ông kiên trì bám trụ giữ lấy vai trò của một người đứng đầu giới văn nghệ tới cái mức cho người ta cảm tưởng không ai thay thế được, -- trong khi Tố Hữu ở một tầm cỡ khác, và cuộc đời Tố Hữu có cái kết cục buồn hơn nhiều.




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một cách tiết kiệm


Ở một nước còn nghèo, ngân sách eo hẹp cạn kiệt, phần lớn dân chúng dạng thu nhập thấp như xứ ta, thì tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy.

Quan chức nhà nước, bộ máy nhà nước phải làm gương tiết kiệm để trước hết không lãng phí ngân sách, thứ hai là để dân noi theo.

Tôi thấy các cuộc tổ chức cho đại biểu quốc hội, nhất là ông to bà nhớn, gặp gỡ cử tri sau khi quốc hội họp xong là rất hình thức, lãng phí, vô bổ, vớ vẩn. Khi quốc hội đang họp, bàn cái gì, thông qua cái gì, diễn biến ra làm sao, đều được hệ thống báo chí tuyên truyền quốc doanh tường thuật tỉ mỉ, nêu rõ, cả nước ai cũng thấy, cũng nắm được. Giờ đây, các ông bà đại biểu chỉ đi gặp gỡ vài chục, vài trăm mống (có chọn lọc), hỏi đáp đôi ba câu, tinh những chuyện đã biết rồi, rút cục chả để làm gì. Nó chỉ có tác dụng cho mấy ông bà lớn khoe mẽ, nói những lời sáo rỗng, kết hợp khoe áo dài, khoe văn thơ, khoe body, v.v..

Nếu gặp cử tri trước khi họp để nắm bắt ý kiến, nguyện vọng, đề nghị, bức xúc của dân chúng, tôi đồng ý. Nhưng gặp để sáo rỗng, làm màu, khoe thì nên dẹp. Chối lắm.

Hai hôm nay, thấy các ông bà ấy tỏa đi xài tiên ngân sách làm điều vô bổ, nghĩ vừa bực vừa buồn.

Lâu nay cứ cái cung cách này, ai cũng nghĩ nó là quy trình rồi, bài bản rồi, tặc lưỡi cho qua. Nhưng tôi xót tiền, tôi cứ góp ý với các ông các bà, nếu thấy "nói phải cũ cải cũng nghe" thì sửa đi.

Tiền thuế dân nộp không phải là vỏ hến.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

SANG TRANG

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh yêu lãng mạn
Thì ra là anh yêu em chưa đủ
chưa bạc tóc, hói đầu, mất ngủ vì thơ
chưa đắm đuối, nặng từng con chữ
nên nhẹ hênh
như kẻ đứng trên bờ!

Đến với em sao lại như kẻ ăn nhờ
ở đợ?
chỉ khẽ run, rung động bởi tim đau..
mà vón dĩ yêu luôn là sang chấn
là thác rung, núi cũng đổ nhào..
Một ngày qua đi
được mất gì chưa tỏ
ngày vô tình, người lãnh đạm vuột qua
Thơ chỉ nhếch môi, nhíu mày làm dáng
Có thể thế không, em hỡi tình thơ?
Thà là nắng chói chang mùa hạ
là gió tê lòng, nhức buốt mùa đông
Thơ không nên âm u mùa cũ
Những bài thơ có,
cũng như không
Những bài thơ đọc lên
khiến người ta tức giận
người ta nhớ ngay đến việc của mình
đến kẻ mù đời cũng thành sáng mắt
hẩm hiu rồi, người cũng chói thanh danh
Kẻ ngồi trên cao cũng thấy mình yếu đuối
Biết đâu là giới hạn quyền hành
Người yếu đuối cũng trở thành can đảm
rừng cây khô
rất có thể nên xanh
Những bài thơ sáng căn phòng chật chội
bớt âu lo, quanh quẩn với riêng mình
không chần chừ bước ra ngoài trời đất
mắt buông buồn,
háo hức với cao xanh..
Anh là kẻ yêu em, thơ xói mòn con chữ
đi lanh quanh bên đường hoa mười giờ
thấy hướng dương nở bừng,
mình cũng nở
muôn ngàn lần tình yêu ấy không thơ!
Một mai này nếu còn sống, còn yêu..
anh tự nhủ
phải khác đi ngay tự bây giờ
không thể nhịn thơ như nhịn thở
thì hãy viết cho mình và viết cho thơ
Nếu đánh đổi chỉ còn tay trắng
mới gọi là yêu 
thơ ấy mới can tràng
đừng viết nữa "những lời chim vảnh vót"
đời đã đủ buồn, thơ hỡi
phải sang trang!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Miền trung đang chết cháy


Sông nhiễm mặn, nước sinh hoạt thiếu, trẻ em và người già nhập viện ồ ạt, ruộng đồng khô cháy, cây trồng héo hon… Miền Trung đang trải qua những ngày nắng nóng khốc liệt. Dải đất gian khó này như bỏng rộp lên. Hứng chịu nắng nóng kéo dài, nhiều ngôi làng miền Trung rơi vào cảnh đồng khô cỏ cháy, thiếu nước sinh hoạt. Đất “chết”, người dân bắt đầu một cuộc ly hương kiếm kế sinh nhai. 5g sáng, chuyến xe khách mang biển số tỉnh Quảng Ngãi đổ khách tại bến xe Miền Đông (TP.HCM). Chúng tôi bắt gặp anh Hà Văn Đạt (quê ở H.Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) xách túi đồ nghề làm thợ hồ lê bước ra bắt xe buýt về tỉnh Bình Dương. Mấy tháng trời, nắng nóng hoành hành ngoài quê, anh Đạt thất nghiệp. Nghe người trong xóm nói, mùa này Bình Dương xây dựng nhiều, anh Đạt sắm lại bộ đồ nghề để Nam tiến, mong kiếm ít đồng trang trải qua mùa này.

CHẮT CHIU TỪNG GIỌT NƯỚC SINH HOẠT
Nắng như thiêu, ở biển càng rát hơn bởi gió mang hơi nước mặn. Gió mang lưỡi lửa càn quét những gì nó gặp đã đành, mà còn hút kiệt chút ẩm ướt còn sót lại dưới đất sâu. “Chúng tôi ở đây thiếu nước quanh năm, nhưng năm nay đã thiếu lại càng thiếu” - ông Trương Tấn, ở thôn Phú Tân 1, xã An Cư, H.Tuy An, tỉnh Phú Yên, nói.

Do đặc điểm địa chất, bình thường các xã ven biển vùng này vốn thiếu nước, và năm nay, từ tháng Ba, họ đã bắt đầu gồng lên kiếm nước sinh hoạt bởi nắng nóng đến sớm quá. Tất cả giếng nước trong thôn đều trơ đáy. Để không phải chết khát, cách duy nhất là bỏ tiền ra mua nước với giá cao, trung bình mỗi nhà chi thêm 400.000 - 500.000 đồng để mua nước, khi giá một mét khối nước vọt lên 40.000 đồng.


Hơn 20ha lạc ở phường Hương An, thị xã Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên - Huế) do nắng hạn thiếu nước đã chết

“Không lẽ chịu chết, nhưng cực quá, lại không biết bao giờ trời mưa”. Lời ca thán của ông Tấn xót cháy như ngậm phải than đỏ. Bao giờ, chỉ có trời biết. Giá nước sinh hoạt cao, không phải do người bán “đục nước béo cò”. Ông Trần Đình Nam - ở thôn Phú Tân 1, xã An Cư, người cung cấp nước sinh hoạt ở đây - cho hay: “Nước sạch ở xa, giá xăng dầu cứ vọt liên tục, nên chở một mét khối nước về bán cho bà con, chi phí lớn thôi”.

Một tháng qua, cả xã có 10 xe công nông chở nước bán, cái cảnh hiếm thấy mấy năm về trước. “Cứ tình hình này kéo dài, tôi lo khả năng hơn 10.000 hộ dân của xã sẽ thiếu nước sinh hoạt” - ông Tiếu Văn Cừ, Chủ tịch UBND xã An Cư, nói. 

Giếng nước khô cạn, nhiều người dân ở Nghệ An phải đi xin hàng xóm, thậm chí đi mua để sinh hoạt hằng ngày - ẢNH: PHAN NGỌC

“Chia lửa” với biển là núi. Nắng, nóng đã khiến sông suối cùng hệ thống nước ngầm H.Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) khô cạn, đẩy 1.600 hộ ở 19 thôn thuộc 5 xã gồm Đa Lộc, Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3 và Xuân Lãnh sắp lâm vào cảnh “muốn pha trà, đừng rửa mặt; muốn rửa mặt, chớ pha trà”.

Mỗi tối, họ lại dán mắt lên, ráng ngó bản tin thời tiết. Không cần nghe cô biên tập viên nói gì, hễ thấy màu đỏ rực chỗ mình đang ở thì chồng nhìn vợ, cha nhìn con, buông câu “chắc chết quá”. Nóng dữ dằn chưa có dấu hiệu dừng lại. “Tôi nghe ngoài Bắc bắt đầu mưa, không biết có mưa tới mình không?” - chị Phan Thị Nhân, ở thôn An Lương, xã Mỹ Chánh, H.Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, hỏi như thể tôi là… ông trời. Không lẽ cười, tôi cũng đành ngửa mặt ngó trời. Chị cũng như hàng ngàn hộ dân ở các huyện Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) đang chắt chiu với từng giọt nước sinh hoạt.

LO LÚA SẼ CHÁY ĐEN

Mấy tuần rồi, nhà máy nước Phước Sơn gồng mình chạy mà như đang tê liệt. Dân la trời. Chính quyền cũng quắn lên. Nhà nào có máy bơm thì có nước dùng, rồi bán cho cả xóm. Hộ nào cũng tốn tiền mua nước hằng tháng đến 300.000 - 400.000 đồng, mà nước mua chỉ dùng để nấu ăn. Tắm rửa, giặt đồ phải dùng nước mặn của đầm Thị Nại, tắm xong xối qua nước ngọt để tiết kiệm nước. Có người cả tuần không tắm vì không có nước. Khu vực này không khoan giếng được nên chỉ sử dụng duy nhất nước máy.


Nạo vét hói Bến Trâu xã Quảng Thái để đưa nước vào cứu hơn 300ha lúa và hoa màu tại huyện Quảng Điền. Ảnh: Thuận Hóa

Ông Nguyễn Văn Phú - Giám đốc Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh Bình Định - cho biết, theo kế hoạch, vụ hè thu năm nay, tỉnh Bình Định sản xuất 43.298ha lúa, trong đó có 9.104ha lúa vụ hè được gieo sạ từ ngày 25/3 - 15/4 và 34.194ha lúa vụ thu được gieo sạ từ ngày 1 - 20/5. Cũng theo ông Phú, với tình hình này, đến cuối vụ hè thu, những cánh đồng ăn nước của hệ thống tưới Lại Giang (H.Hoài Nhơn) sẽ thiếu nước; những cánh đồng phía dưới đê Đông thuộc các xã Phước Sơn, Phước Thuận (H.Tuy Phước) cũng sẽ lâm cảnh tương tự.


Người dân miền núi Quảng Trị lấy nước từ khe suối để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày: Ảnh Thuận Hóa

Trời nóng, thiên hạ đổ về biển để xả hơi, nhưng tại Cù Lao Chàm (TP.Hội An, tỉnh Quảng Nam), nơi mỗi ngày có hàng ngàn khách tìm đến, mấy ai biết những người làm du lịch ở đây đang chòi đạp, xoay xở đủ cách để đáp ứng nhu cầu nước sạch của khách. Bà Hồ Thị Thanh Tâm - chủ nhà hàng Nhân Tâm tại Bãi Ông - cho hay, dù chiều tối mấy ngày qua đã xuất hiện mưa, nước suối về giúp cho nước sinh hoạt đỡ căng thẳng, nhưng du khách tắm rửa đều phải dùng nước giếng bơm. “Nước ngầm vẫn có nơi bị phèn, hôi. Tôi chỉ còn cách hòa nước suối và nước ngầm để khử mùi. Khổ quá, nhưng biết làm chi bây chừ”.

Có lẽ chẳng ai nỡ bắt bẻ bà. Dân Cù Lao Chàm được khuyến cáo là hạn chế sử dụng nước ngầm để giữ gìn nguồn nước tự nhiên, nhưng họ đành thúc thủ. Bà Mai Thị Cúc - chủ nhà hàng Mai Khoa ở Bãi Ông - ngao ngán: “Dùng nước ngầm nhiều không tốt, nhưng ở đây không dùng nước giếng bơm thì không có nước dùng”.


Người dân ở xã Quảng Thành (H.Quảng Điền –Thừa Thiên Huế) đưa máy bơm di động vào tận bờ ruộng để cứu lúa.

Thiên tai đến, gây họa đâu chỉ một hai ngày. Mực nước hồ chứa tại các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi đang xuống thấp. Mối lo hiển hiện trong vụ hè thu tới. Nước thiếu, nhất là ở vùng cuối kênh. Tại Quảng Ngãi, ngoài 9.000ha lúa hè thu chưa xuống giống, có đến trên 25.000ha lúa đã gieo sạ. Nông dân lại thấp thỏm lo dịch hại. “Đây là thách thức rất lớn trong vụ hè thu, bởi bên cạnh bệnh khô vằn - đối tượng gây hại chính có nguy cơ bùng phát - thì hiện nay, bệnh sâu keo mùa thu cũng đã xuất hiện và gây hại ở nhiều địa phương” - ông Phạm Bá, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi, không giấu được lo toan.

Ở tỉnh sát hông là Quảng Nam, người ta lo cho vụ sản xuất tới, thiếu nước là 8.633ha lúa tại các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc… sẽ cháy đen.

Trời đã nắng, dân còn khổ vì dự án cải thiện môi trường nước TP. Huế thi công ì ạch, gây ô nhiễm môi trường. Ảnh: Thuận Hóa

Ở phía bên kia đèo Hải Vân, gió Lào tiếp tay với lửa từ trời khiến sông, hói trơ đáy. Tại xã Quảng Lợi của H.Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên - Huế), đã có thêm 65ha đất lúa trong số 2.870ha bị bỏ hoang từ tháng Ba đến nay. Gió thổi kiệt, héo cả mặt người, xác xơ cây cỏ. “Sẽ có hơn 700ha lúa bị khô hạn” - ông Phan Thanh Hùng, Chánh văn phòng Ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho hay. Điều đó cũng có nghĩa, gian khó đã và sẽ tiếp tục như lửa táp lên từng mái nhà.

NGƯỜI NHẬP VIỆN, ĐẶC SẢN HÉO KHÔ

Theo thống kê của Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong đợt nắng nóng kéo dài từ ngày 9 - 13/6, trung bình mỗi ngày, ở các bệnh viện tuyến dưới trực thuộc sở, tỷ lệ người già và trẻ em nhập viện do thời tiết nắng nóng tăng từ 20 - 30%.

Tháng Bảy, Tám chưa đến. Không biết chuyện gì sẽ đến nữa, vì lúc đó mới là cao điểm nắng nóng. Nhưng những ngày này, đi dọc tuyến đường dẫn vào vùng Lìa (H.Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị), hình ảnh dễ bắt gặp nhất là cảnh từng đoàn người rồng rắn với đủ các loại dụng cụ, cùng nhau đi lấy nước từ các khe suối. Xã A Xing đang là tâm điểm của nắng nóng. Ông Hồ Văn Thuần - Chủ tịch UBND xã A Xing - như la trời: “Nhiều diện tích sắn của bà con mới trồng bị chết khô, không thể phục hồi, người dân đang thiếu nước sinh hoạt trầm trọng”.


Bệnh nhân đến khám tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Huế những ngày nắng nóng

Dân vùng Lìa, Thanh, Thuận, A Túc, Xy, cũng như A Xing, ráng lết ra sông Sê Pôn để kiếm nước. Ngẩng cái nhìn như dại đi vì nắng, chị Hồ Thị Tho - người dân tộc Bru Vân Kiều - nói như sắp đứt hơi: “Hằng ngày, cử (tôi) đều phải đi bộ gần 2km đến đây lấy nước, mỗi lần chừng 10 lít nước về phục vụ ăn uống cho cả gia đình 5 người”. Tại xã A Xing, đã có 36 giếng khoan cùng gần 30 bể nước tự chảy được đầu tư xây dựng từ năm 2007 đến nay, giờ hỏng hết rồi.

Ngoài kia, H.Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), nơi được xem là “chảo lửa” của miền Trung, vẫn đang đỏ rực. “Không chỉ ngày mà đêm, nằm trong nhà cũng như cái lò vậy. Giường chiếu gì cũng nóng như rang, quạt càng chạy càng nóng hơn nên có ngủ nổi đâu. Gần một tuần qua, sau giờ cơm tối, vợ chồng tui cùng ba đứa con thường chở nhau ra bờ hồ hoặc tán cây để dễ thở” - chị Nguyễn Thị Minh, ở xã Hương Trạch, H.Hương Khê, cho biết.

Hơn 20ha lạc ở phường Hương An thị xã Hương Trà ( Thừa Thiên Huế) do nắng hạn thiếu nước đã chết

Bưởi Phúc Trạch - đặc sản Hương Khê - giờ đang thành trái bóng cho trẻ con đá. Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, H.Hương Khê - Trần Quốc Khánh - lắc đầu tiếc xót: “Hơn 200ha bưởi đang phải đối diện với chết khô”. Láng giềng là H.Con Cuông (tỉnh Nghệ An) cũng không thua gì. Tại xã Mậu Đức, có hơn 1.400 hộ thì hiện đã có khoảng 500 hộ rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Mọi thứ rối tung lên. 94/96 hồ chứa ở Nghệ An chỉ đạt 50% dung tích chứa.

***

Người lao động mưu sinh giữa trưa nắng nóng ở TP. Huế. Ảnh: Thuận Hóa

“Lửa” quét trên đồng và không biết khi nào dừng lại. Người già, trẻ em lấy bệnh viện làm nhà ngày càng đông. Để giữ ổn định sản xuất, các địa phương đã đề ra lịch thời vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tập trung nguồn lực chống hạn; kêu gọi trung ương hỗ trợ. Nhưng tất cả cũng chỉ là giải pháp trước mắt. Bài toán chống hạn và chống lũ ở miền Trung lâu nay vẫn luôn cùng một cách là “đụng đâu đỡ đó”, khi căn cơ là môi trường đã bị tàn phá nghiêm trọng. Việc xây dựng công trình phá hủy hệ thống nước ngầm kéo dài chưa dứt.

Người lao động mưu sinh giữa trưa nắng nóng ở TP. Huế. Ảnh: Thuận Hóa

Mưa lũ hay hạn hán, nạn nhân đầu tiên là nông dân ở vùng trũng, vùng thiếu nước, ven sông suối. Có câu hỏi đau đáu là nắng nóng thế, dân có bỏ ruộng không? Rằng, bỏ thì đã bỏ lâu rồi. Càng bám thì càng khổ, nhưng ở quê, không làm ruộng thì làm chi bây giờ? Chỉ còn cách đứng đó chịu thôi, bởi chạy đâu cho khỏi nắng.

NHỮNG CUỘC LY HƯƠNG TRỐN NẮNG
Hứng chịu nắng nóng kéo dài, nhiều ngôi làng miền Trung rơi vào cảnh đồng khô cỏ cháy, thiếu nước sinh hoạt. Đất “chết”, người dân bắt đầu một cuộc ly hương kiếm kế sinh nhai.

5g sáng, chuyến xe khách mang biển số tỉnh Quảng Ngãi đổ khách tại bến xe Miền Đông (TP.HCM). Chúng tôi bắt gặp anh Hà Văn Đạt (quê ở H.Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) xách túi đồ nghề làm thợ hồ lê bước ra bắt xe buýt về tỉnh Bình Dương. Mấy tháng trời, nắng nóng hoành hành ngoài quê, ngọn cỏ ngóc đầu lên không nổi, đàn bò đã bán, ruộng gieo trồng không được, anh Đạt thất nghiệp. Nghe người trong xóm nói, mùa này Bình Dương xây dựng nhiều, anh Đạt sắm lại bộ đồ nghề để Nam tiến, mong kiếm ít đồng trang trải qua mùa này.


Kênh mương thủy lợi ở tỉnh Quảng Ngãi khô hạn nhiều tháng nay

Nhiều năm rồi, cứ đến mùa khô hạn, thiếu nước sản xuất, hàng ngàn người dân Quảng Ngãi lại rời quê đi làm ăn xa. Người thì vào Nam bán hủ tíu, buôn ve chai, người thì lên Tây Nguyên hái cà phê. Nhưng có lẽ, chưa năm nào, người ta di cư nhiều như năm nay bởi mùa nắng hạn ở Quảng Ngãi đã kéo dài mấy tháng trời.

Mấy ngày qua, anh Hồ Tâm (quê ở H.Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) lại được cư dân ở “xóm vé” trên đường Sư Vạn Hạnh, Q.10, TP.HCM dẫn đi cho rành đường sá, học nghề bán vé số. Ở quê, có mấy sào ruộng, thường thì mùa này đã vào vụ lúa hè thu nhưng năm nay nắng hạn, không có nước. Mấy sào ruộng nằm phơi mình khô khốc, anh Tâm buộc phải tìm đường vào Nam. “Sức khỏe yếu, phụ hồ không nổi nên người ta chỉ tôi làm nghề bán vé số. Vào đây làm mới mong kiếm đồng ra, đồng vô chứ ở quê bó tay rồi” - anh Tâm nói.

Ở xóm vé số anh Tâm, có năm đứa nhỏ và hai cụ già cũng mới từ Quảng Ngãi vào để… trốn nóng. Nắng nóng ở Quảng Ngãi kéo dài nhiều tháng nay, cây trồng sống không nổi đã đành, nước giếng sinh hoạt cũng cạn khô. Người dân chỉ còn cách “tháo chạy” để tìm đường sống.

Chỉ tính riêng huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi) đã có khoảng 200 héc-ta đất ruộng bị bỏ hoang vì khô hạn

Đứng trước cánh đồng rộng hàng chục héc-ta nhưng chỉ còn một màu đất bạc trắng, lão nông Tạ Văn Mật (xã Phổ Cường, H.Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) như muốn bật khóc. Mọi năm, người dân Phổ Cường sống bằng hai vụ lúa, có năm còn làm được vụ thứ ba. Năm nay, nắng hạn kéo dài, ruộng chỉ làm được một vụ. Không có nước, nông dân đành bỏ mặc đất phơi mình dưới nắng. “Ngọn tre cũng bị nắng nóng thiêu khô lá thì cây gì sống nổi! Mọi năm khô hạn, không trồng lúa thì người dân trồng đậu, trồng bắp. Nhưng năm nay, nước giếng bơm cũng cạn, không cây trồng nào sống nổi” - ông Mật lắc đầu.

Ông Trần Nguyên Giang - Chủ tịch UBND xã Phổ Cường - cho biết: “Năm nay, Quảng Ngãi hứng chịu đợt nắng khắc nghiệt nhất. Mọi năm có khô hạn nhưng vẫn còn sản xuất được chứ không như bây giờ. Do nắng nóng, thiếu nước nên diện tích đất ruộng bỏ hoang rất nhiều. Có nhiều nơi trong xã, lúa đã sạ rồi nhưng do nắng nóng, thả nước không kịp nên lúa cháy, phải bỏ”.


Nắng nóng kéo dài khiến ngọn tre cũng cháy trụi lá

Ông Giang nói thêm, nhiều vùng thiếu nước uống, nước sinh hoạt nên người dân phải “tản cư mùa nóng”, tức là gia đình nào có người thân ở TP.HCM thì đưa con cháu vào đó nghỉ hè, qua mùa nóng mới về.

“Ở xã, có khoảng 50% người dân ở độ tuổi lao động vào Nam làm ăn. Cái này thành “truyền thống” rồi. Mùa này nắng nóng khắc nghiệt, người dân càng bỏ đi nhiều hơn, làng quê càng thưa vắng người hơn” - ông Giang tâm sự.

Ông Võ Thanh Hùng - Phó chủ tịch UBND H.Đức Phổ - cho biết, năm nay, H.Đức Phổ có khoảng 200 héc-ta đất ruộng không thể gieo sạ được. Con số này có thể tiếp tục tăng do mấy tháng nay không có mưa, dẫn đến thiếu nước sinh hoạt và cả nước tưới cho nông nghiệp.

Nhóm PV Miền Trung, Sơn Vinh
Kỹ thuật: Ngô Tới


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

Hai cống hiến lớn về văn hóa của học giả Phạm Quỳnh



Tác giả: Nguyễn Hải Hoành / NghiêncuuLichsu
Học giả Phạm Quỳnh sinh ra vào thời đại văn minh phương Tây ồ ạt tràn vào châu Á, va chạm với văn minh phương Đông. Giới trí thức Á Đông bừng tỉnh trước sự vượt trội của văn minh phương Tây và sức mạnh quân sự hơn hẳn của các nước Âu Mỹ. Tự đắc với nền văn minh 5.000 năm, triều đình nhà Thanh  ra sức chống lại các đế quốc phương Tây, kết cục thất bại nhục nhã. Giới trí thức Trung Quốc giận dữ đổ tội cho nền văn hóa truyền thống nước mình. Người Nhật khôn ngoan vội “bái địch vi sư”, bỏ ông thầy Tàu, dốc lòng học ông thầy Tây, tiến nhanh lên con đường hiện đại hóa, trở thành cường quốc số Một châu Á.
Việt Nam phản ứng ra sao trước sự xâm nhập của văn minh phương Tây ? Khi ấy nước ta đã trở thành thuộc địa của Pháp. Sau khi bình định xong các cuộc nổi dậy của nhân dân ta, thực dân Pháp bắt đầu thi hành chiến lược đồng hóa dân tộc ta bằng văn hóa. Chính quyền thuộc địa dùng các biện pháp hành chính mở rộng giảng dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp, hạn chế giáo dục chữ Hán. Tây học bắt đầu hưng thịnh, Hán học suy tàn dần.
Tình hình lúc đó được Phạm Quỳnh diễn tả như sau (đại ý):
Ta đang ở chỗ giáp giới hai nền văn minh. Văn minh phương Đông cũ kỹ nhưng là cái vốn có của ta, bỏ đi không nỡ; văn minh phương Tây mới mẻ nhưng tự ngoài đem lại, thâu lấy cũng khó… Tuy cứ bề ngoài mà xét, tựa hồ như có bên thắng bên bại, tình thế đã rõ ràng, nhưng người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định, không biết nương tựa vào đâu. Các nhà cựu học chán đời không biết làm gì. Phái tân học chủ trương chỉ theo về một đường Tây học. Số nhiều trong quốc dân ta thì mơ màng, có khuynh hướng cứ nhắm mắt mà theo các nước Âu Tây cường thịnh, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn….[1]
Ông gọi đó là cái bi kịch về tinh thần, cái thảm trạng trong các bậc thức giả nước ta.
Là người nặng lòng với tổ quốc, dân tộc, lại giỏi cả Hán học lẫn Tây học và được làm việc ở hai trung tâm văn hóa cao nhất nước là Viện Viễn đông Bác cổ và tạp chí Nam Phong, Thượng Chi Phạm Quỳnh cảm thấy khổ tâm trước thảm kịch trên và tự ý thức được mình có trọng trách góp phần định hướng sự phát triển nền văn hóa nước nhà. Cho rằng văn hóa quan trọng hơn chính trị, ông chủ trương nước ta phải tìm cách gây dựng một nền văn hóa riêng, điều đó rất cần cho lẽ sinh tồn của dân tộc ta.
Trên thực tế học giả Phạm Quỳnh đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn hóa nước nhà. Dưới đây sẽ bàn về hai cống hiến ông tự coi là phát minh đáng kỷ niệm trong một đời.
Thứ nhất là đưa ra quan điểm đúng đắn về đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Phạm Quỳnh cho rằng trước hết phải xác định thái độ đối với hai nền văn hóa Đông và Tây. Muốn vậy phải biết được giá trị chân chính của hai nền văn hóa này, từ đó chọn lấy phần bổ ích cho sự phát triển của nước ta.
Qua nghiên cứu, ông nhận định:
Văn minh phương Tây chuộng vật chất, khoa học, văn minh phương Đông chuộng tinh thần, đạo đức. Người Âu mê tín khoa học, chỉ chuyên chú khảo sát sự vật, lợi dụng khoa học để làm cho nước họ giàu mạnh. Người Á mê tín đạo đức, cho rằng có thể lấy đạo đức để mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình cho thiên hạ. Văn hóa phương Tây là khoa học, văn hóa phương Đông là đạo học.
Ông nhận xét: sự tiến bộ của văn minh nhân loại có động lực chủ yếu là trí thức mà ít chịu tác động của đạo đức.
Ông nói: Trong lịch sử, nhiều người đạo đức tốt mà trí thức tầm thường đã làm hại rất lớn cho nhân quần. Văn minh phương Tây chú trọng tri thức khoa học. Vì thế khi xung đột với văn minh khoa học của phương Tây thì văn minh đạo đức của phương Đông không sao địch nổi, ngày một sa sút, hầu như không còn có cơ hưng thịnh.
Ông kết luận: Để gây dựng nền văn hóa Việt Nam, ta cần biết phân biệt và dung hòa hai nền văn hóa Đông và Tây, bỏ mọi cái dở, chỉ chọn lấy cái tốt bổ ích cho ta mà thôi. Đây thật là một quan điểm cực kỳ tiến bộ vào thời ấy
Phạm Quỳnh tâm sự:
Điều đó dường như tầm thường mà riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu. Tôi cho đấy là một phát minh đáng kỷ niệm trong đời mình.
Quả thật, trong thời buổi nước nhà vừa từ chỗ tối bước ra chỗ sáng, bước đầu làm quen với văn minh phương Tây, giới trí thức nước ta còn quá ư bỡ ngỡ, lúng túng.
Dung hòa hai nền văn hóa Đông và Tây, chọn lấy các mặt tốt để xây dựng nền văn hóa dân tộc mình là quan điểm hoàn toàn đúng. Ở thời Phạm Quỳnh, ngoài một số học giả như Phan Châu Trinh, nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục và nhóm Duy Tân ra, không phải nhà trí thức nào cũng có quan điểm như vậy. Cùng thời đó ở Trung Quốc, một số học giả phái Tân Văn hóa lại hoàn toàn phủ nhận nền văn hóa truyền thống của dân tộc họ. Có người hô hào vứt hết sách cũ vào hố xí, không đọc sách Trung Quốc, tiêu diệt chữ Hán… Rốt cuộc các quan điểm cực đoan đó đều không thực hiện được. Công cuộc cải cách chữ Hán kéo dài suốt hơn 100 năm tới nay vẫn chưa đạt kết quả mong đợi.
Phạm Quỳnh đã suốt đời phấn đấu thực hiện quan điểm của mình. Ông viết rất nhiều trên báo Nam Phong, đi khắp nơi diễn thuyết, giải thích, tuyên truyền cho việc xây dựng nền văn hóa độc lập của nước ta, kêu gọi toàn dân yêu quý và học chữ Quốc ngữ, khuyến khích viết báo viết văn bằng chữ Quốc ngữ, sáng tạo từ ngữ tiếng Việt, phê phán thái độ khinh thường chữ Quốc ngữ, nạn say đắm chữ Tàu, tiếng Pháp của giới trí thức nước ta… Quan điểm tân tiến này của ông thậm chí còn bị hiểu lầm, có nhà Nho yêu nước lên án ông theo Pháp. Việc ông ca ngợi Truyện Kiều cũng bị họ chê trách.
Nhưng quan điểm nào hợp lý, hợp thời thì rốt cuộc vẫn được xã hội chấp nhận. Văn hóa Việt Nam đã phát triển theo phương châm sử dụng các mặt tốt của hai nền văn hóa Đông Tây, nhanh chóng hiện đại hóa. Công cuộc phổ cập chữ Quốc ngữ thành công mỹ mãn, nạn mù chữ được dần dần giảm bớt, trình độ văn hóa của toàn dân được nâng cao đáng kể. Ngôn ngữ Việt Nam “thoát Hán” nhẹ nhàng nhưng triệt để, không chút luyến tiếc, trở thành một ngôn ngữ Latinh hóa hoàn hảo, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, có kho từ ngữ phong phú, khác hẳn mấy nước “đồng văn đồng chủng”. Sau mấy nghìn năm phụ thuộc văn hóa nước ngoài, văn hóa Việt Nam nhanh chóng tách ra và đứng vững một mình, có bản sắc riêng không thể pha trộn. Độc lập văn hóa góp phần quan trọng giúp đất nước giữ gìn độc lập chính trị, như chân lý được Phạm Quỳnh tổng kết: Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn; tiếng ta còn thì nước ta còn ….
Ông còn sáng tạo ra phương pháp dùng tiếng ta để diễn đạt mọi khái niệm, tư tưởng, học thuyết  —  phương pháp giúp hấp thu, “tiêu hóa” các giá trị văn hóa tiên tiến của nước ngoài, biến thành cái của ta. Ông gọi đó là phát minh thứ hai của mình.
Lập thân bằng nghề viết báo, viết văn, Phạm Quỳnh thạo dùng ngôn ngữ nói và viết, và rất quan tâm tới mối quan hệ giữa tư duy của con người với ngôn ngữ. Tư duy hoặc suy nghĩ (ông gọi là tư tưởng), tất phải biểu lộ ra bằng ngôn ngữ nói hoặc viết. Người bình thường dĩ nhiên chỉ có thể suy nghĩ bằng tiếng mẹ đẻ. Nhưng Phạm Quỳnh đi sâu phân tích, đặt câu hỏi: Người trí thức Việt Nam xưa nay tư duy những vấn đề cao sâu bằng ngôn ngữ nào? Và ông trả lời:
Thời xưa hầu hết các nhà cựu học đều tư duy bằng chữ Hán; thời nay phần lớn các nhà tân học đều tư duy bằng tiếng Pháp.
Vì sao vậy? Nguyên nhân căn bản nhất là do dân tộc ta thời cổ chưa có chữ viết. Phạm Quỳnh cho rằng đó là tình trạng chung:
Bất cứ nước nào ở trong cái vòng khuôn một nền văn hóa cổ (như văn hóa Hán) thì đều phải làm nô lệ cho thứ văn tự cổ ấy (chữ Hán).
Ông cha ta ngày xưa chỉ biết một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, coi nó như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ. Các cụ say đắm chữ Tàu, lãng bỏ tiếng Nôm, đời đời học mướn viết nhờ, vì thế con cháu ngày nay khổ vì có nước mà không có quốc văn, có người mà không có cách nói cho nhau nghe ngoài những câu nhật dụng thường đàm. Ở đây học mướn viết nhờ là nói học tư tưởng Khổng giáo của văn hóa Trung Hoa, và viết bằng chữ của người Hán.
Ông phê phán giới trí thức nước ta xưa sùng bái chữ Hán, nay sùng bái tiếng Pháp, chung kiếp làm nô lệ tinh thần cho nước ngoài. Qua đây có thể thấy ông là một trong số ít học giả đi đầu trong sự nghiệp tạo dựng sự độc lập tinh thần, độc lập văn hóa cho dân tộc ta.
Phạm Quỳnh phân tích: Tương đương với khoảng cuối đời Trần nước ta (thế kỷ XV) người Pháp đã tỉnh ngộ quyết bỏ hẳn chữ Latin mà chỉ dùng tiếng Pháp, cho dù tiếng Pháp thời ấy chưa hoàn thiện, các nhà văn Pháp cũng khốn nạn [khó khăn] như bọn mình viết Quốc ngữ bây giờ. Nhưng vì họ có những người nhiệt thành bênh vực chữ quốc âm nên quốc văn Pháp mới chóng độc lập. Còn ở ta thì sao? Ông viết:
Từ đời nhà Trần, ta đã có Hàn Thuyên [ông tổ chữ Nôm] mà đến đời nhà Nguyễn cũng chỉ thêm được Nguyễn Du [viết Truyện Kiều bằng chữ Nôm] nữa mà thôi. Suốt 400 năm văn Nôm ta nín hơi lặng tiếng. Vì sao tiếng quốc âm của ta thiệt thòi kém cỏi như thế ?… Vì các cụ đời trước quá sùng thượng chữ Hán, không chịu viết bằng tiếng nước nhà. Thành ra nền văn học ta chậm kém nước Pháp hơn 300 năm.
Đúng vậy. Chữ Nôm ra đời trong sự ghẻ lạnh của giới trí thức Việt Nam đương thời, những người nghĩ rằng dưới gầm trời này duy nhất chỉ có chữ Hán là thâm thúy. Họ chỉ dạy chữ Nho, không dạy chữ Nôm. Ngay cả khi đã sang thế kỷ XVII, khi chữ Quốc ngữ rõ ràng trội hơn hẳn chữ Hán, nhưng lúc đầu vẫn bị giới hủ Nho tẩy chay, chê cười là “ngoằn ngoèo như con giun, lại chẳng có ý nghĩa gì”. Các nhà Nho cổ hủ ấy đâu biết rằng thứ chữ không có ý nghĩa gì ấy, chẳng hạn chữ abc chỉ ghi âm không ghi ý, chính là thứ chữ dễ học, nhờ thế làm cho phần lớn dân chúng các nước phương Tây biết chữ, trình độ văn hóa được nâng cao đáng kể, dẫn tới cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghiệp hóa, làm cho dân giàu nước mạnh; còn thứ chữ ghi ý như chữ Hán tuy chữ nào cũng có ý nghĩa thâm thúy nhưng lại quá ư khó học, khiến cho hầu hết dân chúng mù chữ, ngu dốt, chỉ biết làm nô lệ cho chính quyền cai trị, dẫn đến hậu quả dân nghèo nước yếu.
Phạm Quỳnh hết sức lo lắng trước tình hình không ai lo dùng tiếng ta, thì tiếng ta sao có thể phát triển được; do đó dĩ nhiên tiếng Việt thiếu từ ngữ diễn tả các khái niệm trừu tượng, tân tiến của văn minh nước ngoài. Tình trạng này rất tai hại, cản trở việc phổ cập các kiến thức tân tiến, cản trở nâng cao dân trí. Trong khó khăn như vậy, hầu hết giới trí thức nước ta lại chỉ biết sùng bái chữ Hán và tiếng Pháp, chưa mấy người có tư duy sáng suốt như Phạm Quỳnh: tìm lối thoát bằng cách tăng cường sử dụng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ.
Tuy giỏi tiếng Pháp vào loại nhất nước ta hồi ấy, nhưng Phạm Quỳnh lại cho rằng thói quen nói tiếng Pháp trong giới Tây học ở ta rất có hại cho tiếng Việt. Ông viết:
Phái tân học nước ta ngày nay say đắm tiếng Tây quá đến nỗi nhãng bỏ hẳn tiếng nước mình, không biết bắt chước người Nhật. Hồi mới duy tân, nước Nhật cũng gặp cái khổ thiếu từ ngữ như ta, nhưng phái tân học của họ là những người có chí, trong hai ba mươi năm gắng công dịch hết những từ ngữ mới của phương Tây ra tiếng Nhật. Các từ mới đó dùng lâu thành quen, thông dụng trong cả nước, hơn nữa vì lẽ đồng văn, người Tàu đến sau cũng bắt chước dùng các từ ấy để dịch thuật sách phương Tây.
Đúng thế. Cuối thế kỷ XIX các học giả Nhật đã dầy công dịch hầu hết các tác phẩm học thuật có tính khai sáng của Âu Mỹ ra chữ Hán-Nhật; chỉ trong vài chục năm kho từ vựng Hán-Nhật của họ từ chỗ nghèo nàn tiến tới đầy ắp những từ vựng thể hiện được mọi khái niệm tân tiến của văn hóa, khoa học kỹ thuật phương Tây. Hàng nghìn từ Hán-Nhật như xã hội, chủ nghĩa, cộng sản, nhân dân, văn học, sinh lý, phẫu thuật … đều do người Nhật sáng tạo khi họ chuyển ngữ sách báo phương Tây sang chữ Hán-Nhật. Các học giả Trung Quốc hồi ấy đang học hoặc làm việc tại Nhật đã chuyển các từ ngữ mới ấy về nước họ, dần dần biến thành từ ngữ của người Trung Quốc, sau đó người Việt Nam, người bán đảo Triều Tiên cũng dùng theo, lâu ngày dùng quen biến thành từ bản ngữ. Các từ Hán-Nhật do người Nhật sáng tạo chiếm khoảng 70% từ ngữ dùng trong đời sống hiện đại của người Trung Quốc, tạo ra môi trường ngôn ngữ để họ trao đổi với nhau.[2]
Tóm lại Phạm Quỳnh đã tìm ra nguyên nhân chủ quan của tình trạng tiếng ta bị kìm hãm mấy nghìn năm không phát triển. Phát hiện này đã bác bỏ quan điểm sai lầm thời đó cho rằng vì tiếng ta nghèo nàn nên mới phải dùng tiếng nước ngoài.
Ông cho rằng việc tư duy bằng chữ Hán hoặc tiếng Pháp đều lợi bất cập hại. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy… Khổ tâm vì điều đó, ông bèn nghĩ ra một cách (ông gọi là phương tiện) để bổ cứu. Ông đặt câu hỏi: Vì sao người trí thức nước ta không suy nghĩ bằng tiếng ta? Và ông làm một thí nghiệm riêng cho mình: Cố gắng dùng tiếng mẹ đẻ để diễn đạt bằng được các suy nghĩ, tư tưởng của mình; tư tưởng nào không nói ra được bằng tiếng ta thì ông coi đó chưa phải là tư tưởng của mình, vẫn là thứ đi mượn.
Sau một thời gian dài thí nghiệm và có kết quả tốt, ông nhận thấy khi diễn đạt được bằng tiếng Việt một tư tưởng Tây Tàu nào đó thì nó sẽ được đầu óc ta gạn lọc đi một lần, vì thế dễ được ta “tiêu hóa”, biến thành tư tưởng của ta. Như vậy việc dùng tiếng mẹ đẻ để diễn tả mọi tư tưởng, khái niệm, để sáng tác mọi tác phẩm văn hóa, văn học sẽ giúp cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa độc lập của dân tộc ta.
Thượng Chi Phạm Quỳnh suốt đời lo giữ gìn và phát huy tiếng Việt cùng chữ Quốc ngữ. Ông đi đầu sử dụng tiếng Việt để viết văn và để chuyển ngữ mọi khái niệm, tư tưởng, học thuyết tiên tiến, làm phong phú kho từ ngữ tiếng Việt. Trong tổng số 1.391 bài tiếng Việt đã đăng trên tạp chí Nam Phong, ông viết nhiều nhất với 458 bài, chiếm khoảng một phần ba, chưa kể 33 bài tiếng Pháp và các bài chữ Hán. Ông còn hăng hái tổ chức việc dạy chữ Quốc ngữ cho đồng bào. Những việc làm đó đều nhằm xây dựng một nền văn hóa độc lập, tiên tiến của nước nhà. Hai cống hiến nói trên chứng tỏ ông là một người giàu lòng yêu nước, luôn lo lắng cho vận mệnh của tổ quốc, dân tộc Việt Nam.
—————
[1] Những chỗ in nghiêng là trích dẫn đại ý lời Phạm Quỳnh, lấy từ sách Phạm Quỳnh: Luận giải văn học và triết học. Nxb Văn học, 2016.
[2] Xem bài: “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại”. Nguyễn Hải Hoành.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chiến chống lại chính sách Trung Quốc hóa của Mông Cổ (Nghiên Cứu Quốc Tế )


Biên dịch: Hoàng Tuấn Thịnh

Ngay sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố độc lập, Mao Trạch Đông đã tiến hành chính sách Trung Quốc hóa người Mông Cổ và bắt đầu thực thi nhiều hành động chống lại nền độc lập của Mông Cổ.
Lãnh tụ Mông Cổ lúc đó là  Khorloogiin Choibalsan nói với Yumjaagiin Tsedenbal rằng, “dã tâm của Trung Quốc đối với Mông Cổ là không bao giờ thay đổi, nhưng vì thông lệ ngoại giao, chúng ta sẽ gửi điện mừng cho họ”.  Vì vậy, Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ đã gửi điện mừng nhân ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tại Bắc Kinh, khi tiếp đoàn đại biểu Chính phủ Mông Cổ do Yumjaagiin Tsedenbal dẫn đầu, Mao Trạch Đông nói: “Trung Quốc đã áp bức Mông Cổ trong nhiều thế kỷ”. Yumjaagiin Tsedenbal lập tức đáp lại: “Người Mông Cổ chúng tôi cũng áp bức, làm khổ nhân dân Trung Quốc trong nhiều năm (ám chỉ việc Thành Cát Tư hãn và hậu duệ của ông đô hộ Trung Quốc gần 100 năm – ND); vấn đề này chúng ta không nên bàn luận nữa, nó có thể làm tất cả chúng ta đi lạc hướng; chúng ta cần phải nhìn về phía trước, hợp tác để cùng nhau phát triển”.
Đúng vậy, linh cảm của  Khorloogiin Choibalsan đã đúng, chỉ mấy năm sau sự lo ngại đó đã được kiểm chứng. Cuối những năm 1950, rạn nứt trong quan hệ Mông Cổ – Trung Quốc xuất hiện, người Trung Quốc bắt đầu lợi dụng niềm tự hào tộc của người Mông Cổ. Đầu những năm 1950, người Trung Quốc rầm rộ triển khai công trình xây dựng lăng mộ của Thành cát Tư hãn ở khu tự trị Nội Mông, Trung Quốc (nơi Thành cát Tư hãn mất). Nhà văn, Viện sỹ Mông Cổ TS. Damdinsuren đã đến tận nơi xem công trình đồ sộ này. Cách mạng Trung Quốc mới giành được thắng lợi, bao nhiêu vấn đề trong nước chưa được giải quyết và phải nhận viện trợ của Liên Xô, nhưng Trung Quốc lại khẩn trương xây lăng mộ của Thành cát Tư hãn ở khu tự trị Nội Mông với ý đồ tạo ảnh hưởng đối với những người Mông Cổ.
Năm 1960, Yumjaagiin Tsedenbal mời Chu Ân Lai, nhân vật số 2, tương đối ôn hòa của Trung Quốc sang thăm, đồng thời tháp tùng đến thăm khu di tích lịch sử Kharkhorum, cố đô của Mông Cổ. Nhân dịp này, Yumjaagiin Tsedenbal nói với Chu Ân Lai: “Khi Mông Cổ bị nhà Thanh đô hộ, để ru ngủ người dân Mông Cổ đang cầm vũ khí chống lại triều đình, nhà Thanh đã dùng mánh khóe tuyên bố biến cố đô Kharkhorum trở thành Trung tâm Phật giáo”. Chu Ân Lai tán thành ý kiến này của Yumjaagiin Tsedenbal và đáp lại: “Đúng vậy, thời kỳ đó, triều đình Mãn Thành luôn thực hiện chính sách như vậy khắp mọi nơi”.

Sau chuyến thăm Mông Cổ của Chu Ân Lai, Chính phủ Mông Cổ cho phép 10 nghìn công nhân Trung Quốc sang làm việc, xây dựng các công trình không những ở thủ đô Ulan Bato mà còn ở khắp mọi miền đất nước Mông Cổ. Thế rồi, năm 1973, người Mông Cổ đã đào được một miếng sắt ở độ sâu một mét, trên đó khắc dòng chữ Hán “Đây là lãnh thổ của Trung Quốc” tại một khu vực rộng lớn phía Đông Mông Cố, cách sông Khalkh không xa. Đây được coi là hành động của các đặc nhiệm của Trung Quốc với mục đích, khi Trung Quốc và Mông Cổ xảy ra tranh chấp về lãnh thổ ở khu vực này thì miếng sắt này sẽ là chứng cứ để Trung Quốc đưa ra sử dụng để đòi hỏi về lãnh thổ với Mông Cổ. Các công nhân Trung Quốc ồ ạt sang Mông Cổ từ năm 1957 và làm việc ở đây cho đến năm 1964. Trong khoảng thời gian này, người Trung Quốc không phải xây dựng mà là hoạt động phá hoại ở Mông Cổ.
Trên thực tế, cơ quan an ninh của Mông Cổ đã phát hiện chính 10 nghìn công nhân Trung Quốc đều là quân nhân. Tất cả họ được một vị tướng mặc áo bông màu xanh chỉ huy. Khi cần thiết, các công nhân Trung Quốc sẽ gây bạo loạn có tổ chức để gây khó khăn đối với Mông Cổ. Tất cả các công trình do công nhân Trung Quốc giúp đỡ, tham gia xây dựng đều kèm theo sự độc hại. Người Trung Quốc xây dựng nhà máy thủy tinh ở quận Nalaikh cho thấy, các trang thiết bị của nhà máy đều là máy móc cũ được sơn lại trông như mới. Chỉ sau 02 năm hoạt động, toàn bộ máy móc bị hư hỏng hoàn toàn, buộc Mông Cổ phải thay toàn bộ trang thiết bị hoàn toàn mới nhờ sự giúp đỡ của Ba Lan.

Trung Quốc đã xây dựng nhà máy nhiệt điện có công suất 04 nghìn ki-lô oát tại thành phố Xukhê Bato nhưng cũng chỉ hoạt động được 02 năm thì ngừng hẳn, buộc Mông Cổ phải thay thế trang thiết bị hoàn toàn mới nhờ sự giúp đỡ của Tiệp Khắc. Cuối những năm 1950, quan hệ Mông Cổ – Trung Quốc bắt đầu xấu đi, người Trung Quốc bắt đầu tung tin, vu khống chống lại Mông Cổ. Trung Quốc rêu rao, gia đình hai vợ chồng chăn nuôi gia súc Mông Cổ chỉ có mỗi chiếc quần, luân phiên nhau mặc chiếc quần đó. Ở Mông Cổ, luôn xảy ra tình trạng, trên cánh cửa căn hộ của các Bộ trưởng và quan chức cấp cao Mông Cổ có ai đó bí mật dán mảnh giấy, trên đó viết bằng tiếng Nga “Hãy loại bỏ Yumjaagiin Tsedenbal, thủ lĩnh gia súc của Liên Xô” .
Yumjaagiin Tsedenbal đã gặp những người Trung Quốc chạy khỏi “Cuộc cách mạng văn hóa”, sử dụng họ để chống lại đặc vụ của Trung Quốc đang hoạt động ở Mông Cổ. Khi đi thăm các nông trường, Yumjaagiin Tsedenbal thường gặp những người Trung Quốc và hỏi họ có hay nghe đài phát thanh từ Bắc Kinh không, thì được các công nhân Trung Quốc đều trả lời rằng, “nghe để làm gì, chúng tôi cần phải làm việc để nuôi con em mình”.
Trong hai năm 1955 – 1956, để bình thường quan hệ Mông Cổ – Trung Quốc, phía Mông Cổ đã rút các binh lính biên phòng của mình, đưa các nhân viên dân sự đến các cửa khẩu biên giới hai nước. Thế nhưng, quan hệ hai nước lại căng thẳng, giữa những năm 1960, Mông Cổ lại đưa binh lính biên phòng trở lại dọc theo biên giới dài 4.700 km tiếp giáp với Trung Quốc. Các đặc vụ của Trung Quốc lại ồ ạt thâm nhập Mông Cổ, họ đều là những người Nội Mông, Trung Quốc. Họ có nhiệm vụ sang định cư tại Mông Cổ, núp dưới danh nghĩa tìm kiếm người thân, kiếm công ăn việc làm nhằm xây dựng lòng tin đối với người dân bản địa. Trong trường hợp chiến tranh xảy ra với Liên Xô và Mông Cổ, thì chính những đặc vụ này có nhiệm vụ hàng đầu là phải phá hủy các công trình, như: các nhà máy nhiệt điện, các trạm tải điện, các cầu đường, các công trình sản xuất quan trọng,… Kế hoạch được đặt ra là làm nổ tung các công trình quan trọng của Mông Cổ trong ngày đầu tiên khi chiến tranh xảy ra. Các cơ quan an ninh Mông Cổ cũng đã tìm thấy danh sách các quan chức Mông Cổ cần phải thủ tiêu từ tài liệu tình báo của Trung Quốc. Vì vậy, không còn con đường nào khác, Yumjaagiin Tsedenbal ngày càng gắn bó mật thiết với Liên Xô./.
Nguồn bài gốc tiếng Mông Cổ: Ю.Цэдэнбалын хятадчилах бодлогын эсрэг хийсэн тэмцэл

Cuộc chiến chống lại chính sách Trung Quốc hóa của Mông Cổ (Nghiên Cứu Quốc Tế )

Biên dịch:  Hoàng Tuấn Thịnh Ngay sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố độc lập, Mao Trạch Đông đã tiến hành chính sách Trung...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ô. Trọng bận công tác:



Phần nhận xét hiển thị trên trang