Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

Chiến tranh TM Mỹ - Trung: Công nghệ là chìa khóa


Nội lực thực sự không phải đến từ quy mô GDP hay những thứ tương tự, mà là một nền khoa học công nghệ tự chủ và vững chắc. Đây là điều tất cả các nhà lãnh đạo chính phủ VN từ sau Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến nay đều không hiểu. Các Thủ tướng đời sau chỉ nghĩ đến mỗi từ "tăng trưởng", tức là chỉ nghĩ tới tăng quy mô GDP bất chấp mọi hậu quả. Mình nhớ cuối năm 1984, mình được giao dịch bài "Cách mạng văn hóa trong tin học - La Revolution Culturelle dans l'Informatique" trên tờ L'Express của Pháp, để cung cấp cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương đọc. Bạn Nguyễn Thanh Thủy đã giúp tôi dịch một số trang, bạn Thủy rất thông minh và rất giỏi, dịch rất hay. Bài báo dài khoảng 20 trang đánh máy. Tôi nhớ mãi câu kết: "Cuộc cách mạng tin học đã thực sự bắt đầu. Chỉ có những Thủ tướng Chính phủ nào hiểu được điều đó, đất nước mới có cơ hội phát triển trong tương lai". Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đọc nguyên bản tiếng Pháp, nhưng khi đồng chí Việt Phương đưa Thủ tướng bản dịch tiếng Việt, Thủ tướng đã đọc lại và gạch đỏ dưới câu kết này, cho thấy Thủ tướng rất coi trọng. Có lẽ trong số tất cả các đời Thủ tướng VN, chỉ có Thủ tướng Phạm Văn Đồng quan tâm và đồng cảm với giới trí thức, nhấn mạnh vai trò của tiến bộ công nghệ và trình độ, năng lực quản lý của các cá nhân lãnh đạo,... Tiếc thay do lực bất tòng tâm nên Bác hiểu nhưng cũng không thể làm được gì cho đất nước. Chính vì vậy mà tôi rất thương và kính trọng Bác. Tôi không bao giờ quên cách nói chuyện lôi cuốn và tiếng cười sảng khoái của Bác khi anh em, bác cháu đồng cảm với nhau. Bài báo đó đây:
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung: Công nghệ là chìa khóa
05/06/2019 Công nghệ đang là trọng tâm chính trong cuộc chiến thương mại Mỹ Trung. Và Trung Quốc, vốn còn phụ thuộc nặng nề vào công nghệ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ, dần bộc lộ nhiều yếu điểm khó bù đắp trong một sớm một chiều. Đòn đánh của Mỹ đối với Trung Quốc thông qua lệnh cấm dành cho Huawei là một lời nhắc nhở tuyệt vời về sức mạnh mềm của Mỹ, và đồng thời nó cũng chỉ ra lỗ hổng “chết người” của Trung Quốc, vẫn đang trong giấc mộng về vị trí cường quốc công nghệ số một thế giới: Trung Quốc vẫn chưa thể “tự sản tự cung” những công nghệ trọng yếu. Dường như còn chặng đường rất xa để Trung Quốc thực sự trở thành thế lực công nghệ dẫn đầu thế giới. Không chỉ là do xuất phát điểm muộn hơn, nguyên nhân trọng yếu hơn là Trung Quốc mới chỉ đang ứng dụng công nghệ thay vì nghiên cứu từ đầu.
Huawei bị cấm sử dụng các sản phẩm và dịch vụ 
từ các công ty của Mỹ như Google. Nguồn: trak.in
Cách ly Huawei
Sau nhiều điều tiếng về gián điệp an ninh và thương mại, ngày 15/5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức ký sắc lệnh cấm các công ty Mỹ sử dụng thiết bị viễn thông có nguồn gốc từ doanh nghiệp nước ngoài có “nguy cơ rủi ro đối với an ninh quốc gia”. Lệnh cấm không có tên, nhưng mục tiêu của nó là nhắm đến Huawei, tập đoàn công nghệ lớn nhất Trung Quốc, hiện đang dẫn đầu thế giới về cung cấp viễn thông và thứ 2 về sản xuất điện thoại thông minh.

Lệnh cấm này không có quá nhiều ý nghĩa với Huawei vì từ lâu, hãng này đã không được chào đón tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bắt đầu, những gì diễn ra sau đó mới thực sự là cơn địa chấn - cùng ngày, Bộ Thương mại Mỹ thông báo đã thêm Huawei vào danh sách các công ty mà các công ty của Mỹ không được làm ăn cùng nếu không có sự cho phép chính thức. Đây là lần thứ hai liên tiếp trong 2 năm qua, một công ty của Trung Quốc chịu lệnh trừng phạt này. Trước đó, vào năm 2018, ZTE – một công ty công nghệ viễn thông khác của Trung Quốc đã bị cấm nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ từ Google, Qualcomm và Dobly..

Tình huống của Huawei được đánh giá là nghiêm trọng hơn ZTE. “Tội lỗi” của ZTE là đã vi phạm lệnh cấm vận của Mỹ đối với Iran, trong khi Huawei bị dán mác “nguy hiểm cho an ninh quốc gia”. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung ngày càng leo thang, lệnh cấm không đơn giản là ngăn chặn Huawei mà còn mang hàm ý biến hãng công nghệ này thành “con tin” trong cuộc chiến. Chưa rõ Mỹ muốn duy trì lệnh cấm này trong bao lâu, nhưng chỉ với lệnh cấm trong 90 ngày, ZTE đã “suýt” không tiếp tục tồn tại.

Ngay sau lệnh cấm, nhiều công ty công nghệ của Mỹ đã ra tuyên bố cắt đứt mối quan hệ làm ăn với Huawei. Google thông báo sẽ thu hồi giấy phép Android trên các điện thoại của Huawei và chỉ cho phép hãng sử dụng Dự án mã nguồn mở Android (AOSP). Một loạt các nhà sản xuất chip của Mỹ, bao gồm Intel, Qualcomm và Micron, cũng ngừng bán hàng cho công ty Trung Quốc này.

Huawei đáp trả màn trừng phạt bằng tuyên bố hãng đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó từ lâu. Các linh kiện quan trọng cần nhập khẩu đã được dự trữ tồn kho cho tối thiểu 90 ngày. Mất giấy phép Android mặc dù gây ra một số khó khăn nhưng không phải là vấn đề lớn khi điện thoại Huawei ở thị trường nội địa vốn chỉ sử dụng AOSP. Hãng này còn bắt tay vào phát triển hệ điều hành Hong Meng OS cho riêng mình và dự kiến sắp hoàn thiện. Huawei đã tự thiết kế bộ vi xử lý nên việc mất quan hệ với Qualcomm cũng không đáng lo ngại.

Mặc dù vậy, nếu xem xét kỹ lượng mức độ phụ thuộc vào các công nghệ Mỹ trong các sản phẩm của Huawei, lời tuyên bố này có vẻ bớt sức thuyết phục - năm ngoái, một danh sách các nhà cung cấp “lõi” toàn cầu của Huawei đã bị phát tán, trong đó có tên 33 công ty của Mỹ, chiếm 60% toàn bộ danh sách.

Lấy ví dụ là điện thoại tân tiến nhất của hãng – P30 Pro, danh sách các thiết bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm bao gồm: Kính Gorilla bao phủ mặt trước và sau của hãng Corning, chip nhớ từ Micron, modun kết nối 3G và LTE của Skyword và Qorvo, cùng với phần mềm Android của Google. Các nhà cung cấp này đều có trụ sở tại Mỹ và sẽ buộc phải tuân thủ lệnh cấm. Trong khi đó, những lựa chọn thay thế là không nhiều. Chẳng hạn, với kính Corning, lựa chọn khả dĩ tiếp theo là AGC Asahi Glass, công ty cung cấp kính Dragontrail được sử dụng trên sản phẩm Pixel 3A của Google. Tuy nhiên Asahi là công ty thuộc Nhật Bản, đồng minh thân cận của Mỹ, nên nhiều khả năng nó cũng sẽ tuân thủ lệnh cấm.


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Công ty sản xuất thiết bị bán dẫn ở Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc, vào ngày 26/4/2018. Trong chuyến thăm, ông kêu gọi Trung Quốc phát triển các công nghệ lõi của riêng mình. Ảnh: Xinhua.

Chưa rõ là Huawei đã có các phương án dự phòng như thế nào, nhưng hãng này tiếp tục “xây xẩm mặt mày” khi hãng công nghệ ARM tuyên bố họ đã dừng cấp phép sử dụng các thiết kế chip của họ cho Huawei kể từ ngày 22/5. Đây thực sự là cú shock lớn đối với Huawei bởi một phần lý do mà Huawei có thể “mạnh miệng” trước lệnh cấm của Mỹ là hãng này đã có thể tự thiết kế chip cho riêng mình mà không còn phụ thuộc vào Qualcomm, nhờ sử dụng các mẫu thiết kế chip từ ARM. Công ty con của Huawei, HiSilicon đã bắt đầu sử dụng các thiết kế của ARM để chế tạo chip ít nhất là từ năm 2012. Khi chia tay với ARM, các sản phẩm của Huawei sẽ mắc kẹt ở thiết kế ARM mới nhất tính đến 22/5. Cách duy nhất là thiết kế lại chip của mình từ đầu. Thế nhưng đây chắc là một quá trình kéo dài nhiều năm nên câu hỏi là khách hàng có sẵn sàng chờ đợi? Chưa kể, mã nguồn mở Android mà Huawei sử dụng cũng được thiết kế cho các chip dựa vào ARM và các bộ vi xử lý x86 của Intel, AMD,… – các công ty đã “nghỉ chơi” với Huawei.

Kể cả trong trường hợp Huawei có thể vượt qua khó khăn khi thiếu ARM, Mỹ có thể gia tăng áp lực để TSMC – Công ty gia công chip lớn nhất thế giới, có trụ sở ở Đài Loan để huỷ hợp đồng với Huawei. Hiện nay, TSMC tuyên bố vẫn tiếp tục cung cấp sản phẩm cho Huawei, nhưng sẽ kiểm tra lại hệ thống kiểm soát xuất khẩu để đảm bảo tuân thủ luật pháp Mỹ. Lệnh cấm của Bộ Thương mại không chỉ có hiệu lực với các công ty Mỹ, mà còn cả với các công ty quốc tế khác, khi “yếu tố Mỹ” vượt quá 25% giá trị sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty. Nếu TSMC tuân thủ lệnh cấm, đây mới thực sự là đòn chí mạng, bởi các nhà sản xuất chip nội địa hoàn toàn không thể thực hiện được các thiết kế tinh xảo của HiSilicon. Lựa chọn thay thế duy nhất là Samsung, nhưng công ty Hàn Quốc này nhiều khả năng sẽ theo bước Nhật Bản, khi Hàn Quốc đang cần Mỹ để cải thiện tình huống với Triều Tiên.

Người khổng lồ đứng trên đôi chân bằng cát
Đòn đánh của Mỹ đối với Trung Quốc thông qua lệnh cấm dành cho Huawei là một lời nhắc nhở tuyệt vời về sức mạnh mềm của Mỹ, và đồng thời nó cũng chỉ ra lỗ hổng “chết người” của Trung Quốc, vẫn đang trong giấc mộng về vị trí cường quốc công nghệ số một thế giới: Trung Quốc vẫn chưa thể “tự sản tự cung” những công nghệ trọng yếu.

Ngay bây giờ, quốc gia này vẫn đang phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ từ nước ngoài – chỉ 50% chi tiết trong máy bay mà Trung Quốc sản xuất có thể được thực hiện bởi các nhà cung cấp nội địa, và quá trình tự động hoá ngày càng phổ biến tại quốc gia này không thể thiếu robot công nghiệp từ Đức và Nhật Bản. Các nhà sản xuất chip của Trung Quốc có thể dễ dàng tạo ra chip kích hoạt cảm biến vân tay ở Iphone, nhưng những hệ thống trên một chip (systems-on-a-chip) kích hoạt kết nối 4G trên các điện thoại đời mới nhất – loại mà Qualcomm đang sản xuất, thì vẫn ngoài khả năng của hầu hết các hãng.

Cuộc chiến thương mại với Mỹ có thể mang tới cho Trung Quốc nhiều tổn thất, nhưng nó sẽ giúp quốc gia này nhận ra nội lực thực sự không phải đến từ quy mô GDP hay những thứ tương tự, mà là một nền khoa học công nghệ tự chủ và vững chắc.

Trong trường hợp mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là phát triển công nghệ của chính mình để giảm dần sự phụ thuộc vào các đối thủ địa chính trị như Mỹ thì kỹ thuật thiết kế chip mới chỉ là bước đầu tiên. Họ còn phải đi xa hơn – xây dựng ngành công nghiệp sản xuất chip máy tính, hay ngành công nghiệp bán dẫn, xứng tầm quốc tế.

Tờ New York Times từng gọi sự thịnh vượng của Trung Quốc là “được xây dựng trên cát”. Không chỉ Trung Quốc, sự thịnh vượng của thế giới cũng được xây dựng từ trên cát, theo đúng nghĩa đen. Bởi cát là nguyên liệu thô để sản xuất silicon – loại vật liệu cơ bản cho hầu hết bán dẫn hiện nay. Kể từ khi được Jack Kilby của Texas Instruments phát minh vào năm 1958, bán dẫn ngày càng phổ biến khắp thế giới và trở thành bộ phận không thể thiếu trong tất cả các sản phẩm công nghệ. Sự đổi mới sáng tạo trong bán dẫn tạo điều kiện cho sáng tạo trong toàn bộ ngành công nghệ.

Bán dẫn là mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn nhất của Trung Quốc – theo Bernstein Research, năm 2016, Trung Quốc đã mua khoảng 160 tỷ USD bán dẫn, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào. Trong khi đó kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này mới chỉ khoảng 20 tỷ USD. Semiconductor Manufacturing International Corporation (SMIC), tập đoàn sản xuất bán dẫn lớn nhất Trung Quốc hiện mới chiếm 6% doanh thu toàn ngành công nghiệp bán dẫn năm 2018. Để so sánh, thị phần của TSMC là 56%.

Chủ tịch Tập Cận Bình đã xác định xây dựng nền công nghiệp bán dẫn nội địa là ưu tiên chủ chốt, đặc biệt trong Kế hoạch Made in China 2025. Thế nhưng ngành công nghiệp này thực sự tốn kém, cả tiền bạc và thời gian, đồng thời nhạy cảm về chính trị. Jim Fontanelli, nhà phân tích cao cấp của Arete Research (London) nhận xét: “Điểm bắt đầu là một ngân sách R&D rất rất lớn” - TSMC dành trung bình khoảng 2,9 tỷ USD mỗi năm, tương đương 8 – 9% doanh thu cho công việc R&D, trong khi đó, SMIC, dù dành đến 16% doanh thu, chi phí R&D mới chỉ đạt khoảng 550 triệu USD.

Kể cả khi sẵn sàng ném nhiều tiền hơn, mọi thứ cũng không hề đơn giản. Quá trình R&D cần thiết để tạo được tiến bộ trong thiết kế chip có thể kéo dài hàng thập kỷ và không thể “đi tắt đón đầu”. Các công ty lớn tại Mỹ có lúc phải dành một năm chỉ để thiết kế một con chip. Trung Quốc có thể có 5.000 kỹ sư để tháo dỡ và nhìn vào cấu trúc chip, nhưng ngay lúc đó, các công ty của Mỹ đã có thể ra mắt thêm 2 thế hệ chip mới. Các nhà phân tích ngành bán dẫn đánh giá là các nhà sản xuất ở Trung Quốc chậm hơn một thập kỷ so với đối thủ quốc tế của họ. Chip tiên tiến nhất của SMIC – một chip 14 nanomete được thử nghiệm sản xuất thương mại trong năm nay, nhưng Samsung đã đạt tiêu chuẩn này từ năm 2014.

Chỉ trong vài năm qua, Trung Quốc đã cố gắng bù đắp cho sự tụt hậu của mình bằng nhiều cách. Hàng chục tỷ USD đã được đổ vào các công ty trong nước để phát triển công nghệ. Nhiều nhà đầu tư, công ty Trung Quốc thành lập liên doanh với Intel, Qualcom, AMD hay xa hơn là nắm giữ cổ phần kiểm soát của Softbank - quỹ đầu tư vào ARM…. Tập đoàn Tsinghua Unigroup từng đề nghị chi 23 tỷ USD để mua hãng sản xuất chip nhớ Micron Technology của Mỹ vào năm 2015 nhưng đã bị từ chối. Thậm chí, các công ty của Trung Quốc còn chấp nhận thua lỗ để trở thành nhà thầu cho các công ty sản xuất chip nước ngoài nhằm tiếp cận hơn với công nghệ. Dù vậy, không có chiến thuật nào đặc biệt thành công. Các nhà máy sản xuất chip như Intel, Qualcomm bao gồm nhiều cỗ máy phức tạp, chuyên biệt được thiết kế để khắc và đúc ở mức độ vi mô. Những kỹ thuật phức tạp như vậy không phải là thứ có thể đến và sao chép một sớm một chiều được. Chưa kể đến việc các công ty công nghệ và chính phủ nhiều quốc gia cũng dè chừng Trung Quốc do lo ngại bị ăn cắp công nghệ.
***

Dường như còn chặng đường rất xa để Trung Quốc thực sự trở thành thế lực công nghệ dẫn đầu thế giới. Không chỉ là do xuất phát điểm muộn hơn, nguyên nhân trọng yếu hơn là Trung Quốc mới chỉ đang ứng dụng công nghệ thay vì nghiên cứu từ đầu. Nhiều câu chuyện thành công của các công ty công nghệ tại quốc gia này trong những năm qua đều đi theo công thức kết hợp công nghệ phương Tây với một mô hình kinh doanh sáng tạo để tạo ra sự bùng nổ. Zhang Jun, học giả kinh tế ở Đại học Vũ Hán đã viết trên trang Project Syndicate: “Có rất nhiều khác biệt giữa ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào mô hình kinh doanh định hướng khách hàng và việc trở thành dẫn đầu thế giới trong phát triển và sản xuất công nghệ cốt lõi.”

Cuộc chiến thương mại với Mỹ có thể mang tới cho Trung Quốc nhiều tổn thất, nhưng nó sẽ giúp quốc gia này nhận ra, nội lực thực sự không phải đến từ quy mô GDP hay những thứ tương tự, mà là một nền khoa học công nghệ tự chủ và vững chắc.

Minh Thuận tổng hợp
http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Chien-tranh-thuong-mai-My--Trung-Cong-nghe-la-chia-khoa-16399

Nguồn:
https://www.theverge.com/2019/5/20/18632265/seven-questions-we-still-have-about-huaweis-us-blacklisting
https://www.wired.com/story/huawei-loses-arm-chip-design/
https://www.engadget.com/2019/01/30/huawei-us-government-fraud-theft/
https://money.cnn.com/2018/06/08/technology/china-computer-chips-foreign-reliance/index.html
https://www.scmp.com/tech/china-tech/article/2153618/china-reliant-us-core-technology-some-time-so-world
https://www.nytimes.com/2019/05/23/business/dealbook/huawei-china-technology.html
https://qz.com/1335801/us-china-tech-why-the-semiconductor-is-suddenly-at-the-heart-of-us-china-tensions/
https://qz.com/1335801/us-china-tech-why-the-semiconductor-is-suddenly-at-the-heart-of-us-china-tensions/
https://www.economist.com/business/2019/05/25/huawei-has-been-cut-off-from-american-technology

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nga - Trung thống nhất “tẩy chay” USD


Xem hai ông này tẩy chay được bao lâu, dù chỉ là trong thương mại song phương. TQ còn vài nghìn tỷ USD dự trữ, liệu có mang ra ném xuống biển không ?
Nga - Trung thống nhất “tẩy chay” USD
06/06/2019 (NLĐO) – Nga và Trung Quốc đã thống nhất sử dụng nội tệ của 2 nước (đồng ruble và nhân dân tệ) để thay cho USD trong các hoạt động thương mại song phương. Đây là một trong những thỏa thuận đáng chú ý mà Tổng thống Vladimir Putin đạt được cùng Chủ tịch Tập Cận Bình trong chuyến viếng thăm Nga chính thức của nhà lãnh đạo Trung Quốc hôm 5-6.
Nga và Trung Quốc nhất trí sử dụng đồng ruble và nhân dân tệ trong hoạt động thương mại song phương. Ảnh RT. 
"Nga và Trung Quốc dự định thúc đẩy việc thực hiện các thỏa thuận liên quan đến tiền tệ quốc gia" – Tổng thống Putin chia sẻ sau khi tiếp đón Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông chủ Điện Kremlin còn cho biết thêm hai nước đã ký cam kết liên chính phủ về việc mở rộng việc dùng đồng ruble và nhân dân tệ trong các hoạt động tài chính song phương. Theo bản thảo cam kết được công bố trước đó cùng ngày, Moscow và Bắc Kinh sẽ hợp tác để phát triển các hệ thống thanh toán quốc gia, cũng như hỗ trợ thanh toán xuyên quốc gia bằng đồng ruble, nhân dân tệ và những đơn vị tiền tệ khác.

Ngoài thỏa thuận về tiền tệ quốc gia, Nga và Trung Quốc còn đạt được nhiều thỏa thuận quan trọng khác. Đáng chú ý, Tập đoàn năng lượng hạt nhân Rosatom (Nga) và Tập đoàn năng lượng hạt nhân Trung Quốc đã ký kết hợp đồng xây dựng đơn vị thứ ba và thứ tư tại nhà máy hạt nhân Xudape ở Đông Bắc Trung Quốc. Theo RT, hợp đồng này được cho là có giá 1,7 tỉ USD và quá trình thi công dự kiến bắt đầu lần lượt vào tháng 10-2021 và tháng 8-2022.

Trong một thỏa thuận quan trọng khác, Quỹ đầu tư trực tiếp Nga (RDIF), Tập đoàn Alibaba (Trung Quốc) và Công ty Mail.Ru (Nga) đã nhất trí đầu tư tổng cộng 382 triệu USD vào một liên doanh thương mại điện tử. Cụ thể, Alibaba sẽ đầu tư khoảng 100 triệu USD, phần còn lại thuộc về phía Nga.

Sau khi hội đàm tại Moscow, Tổng thống Putin và Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ đến TP St Petersburg để tham dự Diễn đàn Kinh tế St. Petersburg, diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8-6. Hàng loạt "hợp đồng tỉ đô" liên quan năng lượng, công nghiệp và tài chính dự kiến được ký kết tại sự kiện kinh tế thường niên này.

Cao Lực (Theo RT)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Tìm Hiểu Về Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Hồi Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Ă...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại nói gì về “Thần Học”?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mạng 5G: Mối hiểm họa cho con người! - Tinh Hoa TV

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lật đổ Pol Pot: Khó khăn khi Việt Nam thuyết phục quốc tế?


6 tháng 6 2019 - Liệu Việt Nam có thể làm gì khác để thuyết phục quốc tế không cô lập, sau khi lật đổ chính quyền Pol Pot năm 1979? Khi nhìn lại, một số học giả đã chỉ ra luận cứ yếu ớt của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc (LHQ) sau biến cố. Nhưng mặt khác, trong bối cảnh tranh đấu Chiến tranh Lạnh, phải chăng dù Việt Nam có làm gì, cũng không thể thay đổi phản ứng quốc tế? Việt Nam đưa quân đánh sang Campuchia vào dịp Giáng sinh 1978, nhanh chóng đánh bại quân của Pol Pot. Pol Pot bỏ chạy khỏi thủ đô Phnom Penh ngày 7/1/1979. Ngoại trưởng của Pol Pot, Ieng Sary, đòi Hội đồng Bảo an LHQ họp khẩn cấp để lên án Việt Nam.
Khieu Samphan (giữa), Phó Chủ tịch Chính quyền Liên minh của Kampuchea Dân chủ và Ieng Sary (phải), Bộ trưởng Ngoại giao, ăn mặc đẹp để ra đón phái đoàn Trung Quốc ở căn cứ Dong Rek của Khmer Đỏ năm 1985. Ieng Sary, tên là Kim Trang, sinh ra ở Châu Thành, Trà Vinh trong gia đình cha là người Khmer, mẹ người Việt gốc Hoa.

Trong sách Saving Strangers: Humanitarian Intervention in International Society (2000), Nicholas J. Wheeler cho hay Hội đồng Bảo an mở cuộc họp ngày 11/1/1979. Tại đây, Đại sứ Việt Nam Hà Văn Lâu tuyên bố Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã lật đổ Pol Pot.

Ông này thừa nhận bộ đội Việt Nam có giao chiến với Khmer Đỏ nhưng nói đây chỉ là tự vệ. Theo ông, có hai cuộc chiến đang diễn ra, một là chiến tranh biên giới của Pol Pot chống Việt Nam, và hai là chiến tranh cách mạng của nhân dân Campuchia.

Việt Nam khăng khăng chỉ có chiến tranh cách mạng của nhân dân mới lật đổ Pol Pot, còn Việt Nam chỉ tự vệ mà thôi.

Bất chấp sự có mặt của 100.000 lính Việt Nam ở Campuchia, ông Hà Văn Lâu cố gắng thuyết phục Hội đồng Bảo an rằng nhà nước Campuchia Dân Chủ do Pol Pot dẫn dắt bị lật đổ vì quân du kích của Mặt trận và nhân dân Campuchia nổi dậy mà thôi.

Tiến sĩ Nicholas J. Wheeler đặt câu hỏi: Luận điểm hai cuộc chiến dễ dàng bị vạch ra là sơ hở, vậy vì sao Việt Nam sử dụng?

Có vẻ như ban đầu Việt Nam tưởng rằng thế giới sẽ nhanh chóng quên chuyện Việt Nam tiến vào Campuchia. Trong thập niên 1980, ngoại trưởng Singapore Kishore Mahbubani viết trên Foreign Affairs rằng Đại sứ Việt Nam ở LHQ đã nói với ông ta ngay từ tháng 1/1979 rằng "trong hai tuần, thế giới sẽ quên vấn đề Campuchia thôi".

Suy nghĩ này hóa ra là sai lầm, và Việt Nam phải trả giá.

Trong sách Vietnam's Intervention in Cambodia in International Law (1990), Gary Klintworth nói Việt Nam lẽ ra đã có thể giảm bớt sức ép quốc tế nếu biết nói lý lẽ tốt hơn.

Theo Gary Klintworth, lẽ ra Việt Nam nên nói chúng tôi can thiệp vừa vì tự vệ vừa vì can thiệp nhân đạo. Gary Klintworth có cảm tình với Việt Nam, nói rằng lật đổ Pol Pot là "hành vi tự vệ có lý (reasonable)".

Klintworth thậm chí cho rằng việc Việt Nam thay đổi chế độ ở Phnom Penh cũng chấp nhận được vì Việt Nam cần một chính quyền bớt thù địch. Klintworth thậm chí so sánh Việt Nam với việc đồng minh chiếm đóng Đức và Nhật năm 1945.

Tiến sĩ Nicholas J. Wheeler không hoàn toàn tin vào luận cứ của Klintworth nhưng thừa nhận: "Luận điểm hai cuộc chiến bị chế giễu ở Hội đồng Bảo an, nên Việt Nam rõ là để lỡ cơ hội khi không sử dụng lý lẽ trên để mà biện hộ cho sử dụng vũ lực."

Quân Khmer Đỏ với vũ khí Trung Quốc trên một chiếc xe mới toanh do TQ cung cấp gần Anlong Veng trong ảnh chụp của Thierry Falise ngày 1/12/1990

Việt Nam không đề cập 'lý do nhân đạo'

Sẽ thế nào nếu việc dùng vũ lực ở Campuchia được biện hộ thêm với lý do nhân đạo?

Đây là một câu hỏi thú vị, nhưng Nicholas J. Wheeler chỉ ra rằng Việt Nam khi đó không hề nhắc tới lý do nhân đạo để biện hộ cho mình. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch được dẫn lời nói Việt Nam chỉ quan tâm về an ninh, còn nhân quyền là quan ngại của nhân dân Campuchia.

Nicholas J. Wheeler đặt ra ba khả năng vì sao Việt Nam không dùng lý do nhân đạo.
Một, có thể Việt Nam âm thầm thừa nhận quy tắc quốc tế về chủ quyền, không can thiệp và không dùng vũ lực. Việc Đại sứ Hà Văn Lâu dùng luận điểm hai cuộc chiến là cách biện minh hành động dựa trên luật quốc tế.

Hai, có thể Việt Nam nghĩ rằng đưa ra lý do nhân đạo nghe cũng kỳ khôi khi mà chính Việt Nam đã im lặng về vi phạm nhân quyền trong bốn năm Pol Pol cầm quyền từ 1975 đến 1979.

Ba, có thể Hà Nội sợ rằng đặt ra lý do nhân đạo thì tạo thành cớ để quốc tế tấn công Việt Nam trong tương lai.

Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionẢnh tư liệu thập niên 1970: Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tiếp lãnh đạo Khmer Đỏ Pol Pot (giữa) và Ieng Sary

Môi trường quốc tế khi đó là 'thù địch'

Phản ứng thù địch của quốc tế lúc này xuất phát từ ba nhóm:

Mỹ và các đồng minh xem hành vi của Việt Nam là một phần trong Chiến tranh Lạnh.
Asean lo sợ Việt Nam can thiệp vào Campuchia báo hiệu tham vọng bá chủ khu vực.
Các nước trung lập lo ngại Việt Nam vi phạm luật quốc tế.

Vấn đề đưa ra Đại hội đồng LHQ. Tại Đại hội đồng, Hoàng thân Sihanouk, đại diện chính quyền Campuchia Dân Chủ, nói hành vi của Việt Nam là "xâm lấn, chiếm lãnh thổ".

Trung Quốc ủng hộ, nói rằng luận cứ hai cuộc chiến của Việt Nam là "dối trá".

Mỹ thì thừa nhân vi phạm nhân quyền tại Campuchia, và còn thừa nhận Việt Nam có lo ngại an ninh chính đáng khi Campuchia tấn công vùng biên giới. Nhưng Mỹ nói "tranh chấp biên giới không cho phép một quốc gia quyền áp đặt một chính phủ thay chính phủ khác bằng vũ lực".

Châu Âu và Nhật ngừng mọi viện trợ kinh tế cho Việt Nam.

Anh Quốc nói "dù nhân quyền ở Campuchia có thế nào, không thể tha thứ cho Việt Nam, vốn có nhân quyền cũng đáng lên án, khi vi phạm lãnh thổ Campuchia Dân Chủ".

Đại sứ Pháp thậm chí bác bỏ lý do nhân đạo:

"Quan niệm rằng vì một chính quyền đáng xấu hổ, mà có thể biện minh cho can thiệp nước ngoài và lật đổ, thật là nguy hiểm."

Đại sứ Na Uy nói Na Uy "mạnh mẽ phản đối" các vi phạm nhân quyền của Pol Pot, nhưng vi phạm nhân quyền này "không thể biện hộ cho hành động của Việt Nam".

Bồ Đào Nha nói hành động của Việt Nam "vi phạm rõ rệt nguyên tắc không can thiệp" bất chấp hồ sơ nhân quyền "tệ hại" ở Campuchia.

New Zealand cũng nói Campuchia Dân Chủ của Pol Pot có nhiều cái xấu, nhưng "việc xấu của một nước không biện minh cho sự xâm lăng lãnh thổ của một nước khác".

Australia chỉ ra rằng nước này không hề có quan hệ ngoại giao với Pol Pot nhưng lại "hoàn toàn ủng hộ quyền của Campuchia Dân Chủ được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ".

Singapore phát biểu:

"Không nước nào có quyền lật đổ chính phủ Campuchia Dân Chủ, dù chính phủ này có đối xử tàn tệ nhân dân thế nào. Đi ngược nguyên tắc này có nghĩa là thừa nhận chính phủ nước ngoài lại có quyền can thiệp và lật đổ chính phủ nước khác."

Singapore nói thêm họ lo ngại Việt Nam đe dọa an ninh của Singapore và an ninh khu vực.
Đến phiên các nước không liên kết như Bolivia, Gabon, Kuwait, Nigeria, Bangladesh. Các nước này tránh lên án trực tiếp Việt Nam nhưng cũng không ủng hộ Việt Nam, nhấn mạnh quy tắc không can thiệp.

Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch năm 1984

Nhưng tại Hội đồng Bảo an, phe xã hội chủ nghĩa, dẫn đầu là Liên Xô và Tiệp Khắc, lại ủng hộ luận cứ hai cuộc chiến của Việt Nam.

Liên Xô bảo chính Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã lật đổ Pol Pot.

Đại sứ Liên Xô Troyanovsky còn nhấn mạnh "tội ác ghê tởm" của chính phủ Pol Pot. Nhưng Anh phản bác lại, nói rằng khi Anh nộp dự thảo nghị quyết lên án vi phạm nhân quyền của Pol Pot, chính Liên Xô và Cuba đã phản đối.

Vài ngày sau phiên họp ở LHQ, Trung Quốc kéo quân sang Việt Nam, mở đầu cuộc chiến biên giới ngắn ngày.

Ngày 16/3, Hội đồng Bảo an bỏ phiếu về một nghị quyết do Asean bảo trợ, kêu gọi ngừng bắn trong toàn khu vực, rút quân đội nước ngoài, và giải quyết bằng hòa bình.

Liên Xô buộc phải dùng quyền phủ quyết để bác bỏ nghị quyết này.

Đến cuối năm 1979, Đại hội đồng họp bàn việc ai sẽ đại diện cho Campuchia tại LHQ.

Tại đây, 71 nước bỏ phiếu bác bỏ chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia (được Việt Nam và Liên Xô ủng hộ).

Tại phiên họp này, các nước như Singapore bác bỏ lý do nhân đạo.

Singapore nói: "Nếu chúng ta thừa nhận học thuyết can thiệp nhân đạo, thế giới sẽ càng nguy hiểm hơn cho các nước nhỏ như chúng tôi."

Nhiều nước trong Đại hội đồng cũng nói rằng việc họ phản đối Việt Nam không có nghĩa họ ủng hộ hành động vi phạm nhân quyền của Pol Pot.

Asean tiếp tục gây sức ép với phiên thảo luận ba ngày trong tháng 11/1979 tại Đại hội đồng.

Malaysia, đại diện cho Asean, nói can thiệp nội bộ vào Campuchia là nguyên nhân khiến an ninh suy sụp ở Đông Nam Á. Asean nói họ lo ngại xung đột sẽ lây lan sang Thái Lan.

Đại sứ Malaysia lúc này nói họ thừa nhận Khmer Đỏ đã gây ra cái chết hàng trăm ngàn người, nhưng việc này không biện minh cho can thiệp của Việt Nam.

Malaysia nói nguyên tắc không can thiệp bảo vệ kẻ yếu trước kẻ mạnh.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionOleg Troyanovsky là đại sứ Liên Xô ở LHQ từ 1977 tới 1986
'Thuyết phục về nhân đạo'

Tiến sĩ Nicholas J. Wheeler nêu quan điểm của ông rằng sự can thiệp của Việt Nam ban đầu rõ ràng được nhân dân Campuchia chào đón vì đã cứu rỗi họ.

Trong cuốn Brother Enemy, Nayan Chanda mô tả: "Tại hàng trăm ngôi làng Campuchia, cuộc xâm lấn của Việt Nam được chào đón bằng niềm vui và cảm giác không thể ngờ được."

Như vậy, Nicholas J. Wheeler khẳng định hành động của Việt Nam đã đáp ứng được tiêu chuẩn cần thiết cho can thiệp nhân đạo.

Nhưng ông cũng nói, từ góc nhìn luật pháp, liệu việc dùng vũ lực của Việt Nam được nhìn ra sao? Yêu cầu luật quốc tế ở đây là không để nước khác bị mất đất, không thay đổi chế độ, và quân can thiệp phải rút ngay lập tức.

Thế thì, Việt Nam lại chỉ đáp ứng được tiêu chí một (không làm mất đất), nhưng hai tiêu chí sau thì không.

Trong phần kết luận, Nicholas J. Wheeler chỉ ra rằng:

"Không có bằng chứng rằng vi phạm nhân quyền của Pol Pot đóng vai trò gì trong quyết định xâm lược Campuchia: Việt Nam chỉ trích vi phạm nhân quyền chỉ khi tiện lợi về chính trị."

"Nếu giải pháp ngoại giao đạt được với Campuchia Dân Chủ ở biên giới, Việt Nam cũng sẽ sống chung với kẻ láng giềng giết người."

Nicholas J. Wheeler cho rằng chính vì Việt Nam tin rằng các lợi ích an ninh quan trọng bị rủi ro nên mới tiến vào Campuchia.

"Giống như Ấn Độ can thiệp Đông Pakistan, Việt Nam sẵn lòng đặt cược mạng sống của bộ đội và chi vật lực thiếu thốn chỉ vì thấy có đe dọa căn bản cho an ninh từ Trung Quốc ở Bắc và Campuchia ở Nam."

Klintworth cũng nói: "Cứu người là kết quả dĩ nhiên nhờ Việt Nam can thiệp…nhưng đó luôn là quan tâm thứ hai theo sau lo ngại cho lợi ích an ninh quan trọng."

Nhưng dẫu vậy, Klintworth cho rằng hành vi của Việt Nam cũng có thể chấp nhận được "vì kết quả của sự can thiệp là ngừng việc giết chóc" ở Campuchia.

Nhưng Việt Nam đã không dùng lý do can thiệp nhân đạo để nói với quốc tế, có thể một phần vì lo ngại lý do này lại được dùng để đánh chính Việt Nam sau này. Ngoài ra, sau khi Việt Nam đã im lặng về Pol Pot suốt bốn năm, LHQ cũng có thể bác luận điểm Việt Nam.

Nhưng dẫu sao, nếu Việt Nam đã sử dụng lý do can thiệp nhân đạo, nó sẽ thuyết phục hơn luận điểm hai cuộc chiến.

Mặt khác, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, khi phương Tây xem Việt Nam là quân cờ của Liên Xô, có thể mọi tranh luận pháp luật thực ra chỉ là thứ yếu. Dù Việt Nam có nói gì đi nữa, hành động của Việt Nam khi ấy vẫn sẽ bị đặt trong bối cảnh tranh đấu của hai phe cộng sản và tư bản ở Đông Nam Á.

Ngày 24/12/1979, Liên Xô kéo quân vào Afghanistan, lấy lý do thực thi Hiệp định hữu nghị song phương ký năm 1978.

Ba ngày sau, Babrak Karmal được Liên Xô đưa lên làm lãnh đạo đất nước.

Đến tháng 2/1980, Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết "lên án" sự can thiệp của Liên Xô, đòi rút quân khỏi Afghanistan.

Tháng 10/1983, 2.000 thủy quân lục chiến Mỹ tiến đánh hòn đảo Grenada, lật đổ chính quyền theo chủ nghĩa Marx, thay bằng một chính phủ tạm quyền.

Tháng 11 năm đó, Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết nói hành động của Mỹ "vi phạm trắng trợn luật quốc tế".

Một ví dụ tương tự mà khác biệt cùng năm 1979. Tanzania kéo quân vào Uganda lật đổ chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền của Idi Amin tháng 4/1979.

Giống như trường hợp Việt Nam, biến cố này vi phạm nguyên tắc chủ quyền và phi can thiệp.

Tuy vậy, các nước phương Tây hoan nghênh kết quả ở Uganda, và ngầm chấp nhận phương pháp vũ lực.

Có thể vì ở Uganda khi đó, chả có lợi ích chiến lược nào.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔI VIỆT NAM XỨ SỞ ANH HÙNG


FB Chu Mộng Long - Nhiều cựu binh Việt Nam từng bỏ tuổi thanh xuân ở chiến trường K cực lực phản đối Lý Hiển Long khi ông này nói "Việt Nam xâm lược" là có thể chia sẻ được. Nhưng trong hàng vạn người phản đối, chửi rủa Lý Hiển Long, tôi thấy có vô số kẻ trong thời điểm lịch sử ấy chui rúc dưới gầm giường. Thật là những anh hùng nhất khoảnh!
Họ ầm ĩ đòi Lý Hiển Long phải chính thức cúi đầu xin lỗi nhân dân Việt Nam. Có không ít người đòi tẩy chay, cắt đứt quan hệ ngoại giao với Singapore. Nghe chừng những người này có thể hùng hổ mang đại binh tấn công Singapore bất cứ lúc nào nếu Lý Hiển Long vẫn ngoan cố không chịu xin lỗi?

Một đất nước bé như cái bàn tay có tên Singapore không chừng sẽ khiếp sợ trước sự đe dọa của những người hùng vừa mọc ra từ những cái gầm giường kiên cố của một thời lửa đạn.

Tôi đặt giả thiết. Giá như những người hùng này mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền Bắc Kinh cúi đầu xin lỗi Việt Nam, bởi kẻ đạo diễn Khmer đỏ chống phá Việt Nam phải là ông "bạn vàng" này?

Và thậm chí, giá như những người hùng này mạnh mẽ đòi cả Mỹ, phương Tây và cả khối ASEAN xếp hàng cúi đầu xin lỗi Việt Nam, bởi vì Mỹ, phương Tây và cả khối ASEAN cũng đã từng phát ngôn như Lý Hiển Long?

Có làm được như vậy mới xứng danh đệ nhất anh hùng chứ? Hay là chỉ biết cúi đầu xin tiền mấy ông nhớn để được tiếng là yêu hòa bình và cầu thị?

Chu Mộng Long



Phần nhận xét hiển thị trên trang