Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Quốc hội không đưa Luật đặc khu vào chương trình xây dựng luật 2019-2020


RFA 2019-05-17 - Vào các ngày 9, 10 và 11 tháng 6 năm ngoái một đợt biểu tình với đông đảo người dân tham gia nổ ra tại nhiều tỉnh, thành của Việt Nam với mục đích phản đối hai dự luật đặc khu và an ninh mạng. Nhiều người tham gia biểu tình bị bắt giữ, có gần 120 người biểu tình bị kết án tù với cáo buộc’ gây rối trật tự công cộng’ hay ‘hủy hoại tài sản’. Một số chuyên gia giải thích sở dĩ người dân phản đối luật này là do luật này sao chép từ Trung Quốc, đã lỗi thời và có nguy cơ bị mất lãnh thổ vào tay láng giềng phương Bắc. Ngoài ra thời hạn thuê đất lên đến 99 năm đối với các trường hợp đặc biệt cũng là 1 điểm bị người dân phản đối, tuy nhiên sau đó điều này đã bị xem xét lại trong dự thảo.

Một kỳ họp của Quốc hội Việt Nam ở Hà Nội,
 ảnh minh họa chụp trước đây.  AFP
Quốc hội Việt Nam không đưa Luật Đặc khu vào chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của cả năm 2019 và 2020. Tổng thư ký Quốc hội Việt Nam Ông Nguyễn Hạnh Phúc trả lời câu hỏi của báo chí liên quan Luật Đặc khu cho biết thông tin vừa nói hôm 17/5. Ông Nguyễn Hạnh Phúc nói rõ khi nào Chính phủ Hà Nội thấy "chín" thì sẽ trình Quốc hội, hiện nay thì Chính phủ đang tiếp tục hoàn chỉnh để báo cáo và đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Luật Đặc khu là tên gọi vắn tắt của Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc đã vấp phải phản đối của người dân từ khi có kế hoạch trình Quốc hội hồi tháng 6/2018.

Vào các ngày 9, 10 và 11 tháng 6 năm ngoái một đợt biểu tình với đông đảo người dân tham gia nổ ra tại nhiều tỉnh, thành của Việt Nam với mục đích phản đối hai dự luật đặc khu và an ninh mạng.

Nhiều người tham gia biểu tình bị bắt giữ, có gần 120 người biểu tình bị kết án tù với cáo buộc’ gây rối trật tự công cộng’ hay ‘hủy hoại tài sản’.

Ngày 9/6/2018, Văn phòng Chính phủ bất ngờ ra thông báo quyết định lùi Dự thảo Luật Đặc khu đến kỳ họp kế tiếp vào tháng 10.

Đến ngày 11/6, Quốc hội bỏ phiếu lùi thời gian xem xét, thông qua dự luật này tuy nhiên ở nhiều tỉnh thành trên cả nước người dân vẫn xuống đường phản đối, dẫn đến hàng chục người dân bị bắt giữ, bị xử với các án tù khác nhau.

Một số chuyên gia giải thích sở dĩ người dân phản đối luật này là do luật này sao chép từ Trung Quốc, đã lỗi thời và có nguy cơ bị mất lãnh thổ vào tay láng giềng phương Bắc. Ngoài ra thời hạn thuê đất lên đến 99 năm đối với các trường hợp đặc biệt cũng là 1 điểm bị người dân phản đối, tuy nhiên sau đó điều này đã bị xem xét lại trong dự thảo.

Tin cho biết, tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ dành khoảng 12 ngày để xem xét, thông qua 7 dự án luật, 2 nghị quyết và cho ý kiến đối với 9 dự án luật khác.

Các dự án luật, nghị quyết đáng chú ý được Quốc hội xem xét, thông qua lần này như: Luật Giáo dục sửa đổi; Luật Đầu tư công sửa đổi; Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia; Nghị quyết phê chuẩn việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức lao động quốc tế về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể.v.v…

Quốc hội cũng sẽ xem xét báo cáo liên quan pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu nghiên cứu CN Marx:

Chủ nghĩa Marx như tôi biết

Hiếu Tân

MARX & MAO

Ai đúng? Ai sai?

Mao có sai không?

Một tối đi bộ thể dục, thấy hai cụ thuộc dạng “lão thành cách mạng” vừa đi vừa nói chuyện. Một cụ nói rất gân guốc, “Tôi nói với ông, NGAY CẢ đến “cụ” Mao CŨNG CÓ THỂ sai lầm!”
Tôi cười thầm.

Mao không sai đâu.

Bây giờ, mỗi khi nói sai-đúng, ta phải hỏi trước: sai-đúng với ai, với cái gì? Không có hệ qui chiếu, mọi bàn luận cãi cọ thành vô nghĩa và vô ích.

Nói “Mao sai lầm” là một sự ngộ nhận buồn cười.

Mao Trạch Đông (1893-1976)

Khi nói Mao sai lầm, ta đã mặc nhiên cho rằng Mao theo đuổi cùng một ý chí và nguyện vọng của ta, của nhân dân. Nhưng vì Mao theo đuổi ý chí và tham vọng của chính ông ta, thì ông ta đã lời lãi đến không ngờ, đã đúng đến 1000%. Nếu hiện thực Trung Quốc những năm 1960-70 trái với ý định và ý muốn của Mao thì đúng là ông ta sai lầm. Nhưng Mao ngự trị vững như bàn thạch trên cái hiện thực ấy, cái hiện thực do ông ta chủ chốt tạo ra, và ông ta là người hả hê nhất. Tôi chưa nghe nói ở đâu Mao có khi nào ân hận, dù chỉ là đôi chút.

Marx thì sao?

Bây giờ, khi chủ nghĩa cộng sàn đã phá sản, người ta có thể đổ tất cả tội, hay tội to nhất, lên đầu Marx, cha đẻ của cái học thuyết đã sinh ra mọi tệ lậu này. Thậm chí người ta có thể hình dung Marx là một gã bê tha và dốt nát. Như thế dễ lắm. Nhưng với lịch sử, tôi muốn công bằng, và thế sẽ khó hơn. Tôi sẽ công bằng với cả Marx.

Ai nghiên cứu xã hội học và nhân (loại) học thế kỉ 20 sẽ thấy trong những lĩnh vực ấy, Marx có một chỗ đứng vững vàng. Vậy tôi sẽ đối xử với ông như với một học giả.

Lâm Ngữ Đường (trong The Importance of Living) nghĩ rằng Marx không thể hình dung sự tồn tại của một Stalin, cũng như Rousseau không thể nào biết mình lại có một đệ tử như Napoléon. Nhưng, như tôi sẽ làm sáng tỏ, Marx không thể chối bỏ trách nhiệm đã sinh ra những Stalin (và cả những Mao) lớn bé trên mặt đất này, và những gì họ làm trong lịch sử thế kỉ 20.

Marx là một nhà lí luận kiệt xuất (với nghĩa là một cái đầu nhô lên cao hơn đám đông những cái đầu), điều ấy không cần phải nói. Là người không chuyên thì đừng dại dột lao vào bộ TƯ BẢN (đời người ngắn lắm) vì nó cực kì phức tạp, tối tăm, rối rắm. Những nhà chuyên môn sâu cho ta biết trong cái khối thông tin khổng lồ ấy, tư duy của Marx là mạch lạc và nhất quán. Còn những kết luận thực tiễn rút ra từ nó là chuyện khác, và là vấn đề chính. Riêng bản thân tôi thấy ở Marx (tất nhiên, trong nhiều tác phẩm khác) một văn phong hùng hồn và lôi cuốn, một tư duy logic chặt chẽ, cả logic hình thức lẫn logic biện chứng, đôi khi gặp một tầm nhìn mới mẻ (tất nhiên là ở thời đại ấy) và đặc biệt là, khả năng tư duy trừu tượng phi thường (lát nữa tôi sẽ nói cái gì là dở trong sự trừu tượng hóa này). Tôi nhận xét những điểm này để tìm hiểu tại sao có những đầu óc sáng láng trong giới trí thức thiên tả lại mê cộng sản, chủ yếu là mê Marx đến thế. Một đặc điểm dễ thấy của trí thức mọi thời là ảo tưởng. Học thuyết Marx về cơ bản là không tưởng (trừ những chỗ thực dụng khủng khiếp, như ta sẽ thấy) mà không tưởng thì như truyện thần tiên, vì không thực nên có sức hút hồn. Ngoài ra, các nhà học giả thường mê tính hệ thống, mà học thuyết Marx về tính hệ thống thì khỏi chê. Từ ba nguồn gốc rất xa nhau: triết, chủ nghĩa nhân văn và kinh tế học, Marx lập ra một chủ thuyết thống nhất, đến mức có thể lấy từ những bộ phận khác nhau, cái này chứng minh cho cái kia. Và các nhà trí thức, các học giả bị lầm chính là ở chỗ này: Tính hệ thống đâu phải là chân lí? Cho nên những sự “chứng minh” kia chẳng nói lên cái gì cả. Một chân lí đơn giản và phổ biến: Muốn biết cái gì là đúng, là chân lí hay không, hãy đem nó đối chiếu với thực tiễn. Đem luận cứ này hỗ trợ cho luận cứ kia thì không ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của tư duy tư biện: những người mắc vào chủ nghĩa Marx đúng là như thế đấy; một khi họ ngộ ra rằng công trình của Marx là một lâu đài tạo tác, họ mới biết té ra mình tự lừa mình.

***

Vậy bằng sức mạnh trừu tượng vô song ấy, học thuyết Marx đã cống hiến cái gì cho loài người?

XOÁ BỎ TƯ HỮU TÀI SẢN là mục tiêu chủ yếu của chủ nghĩa cộng sản, được long trọng tuyên bố trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và các tác phẩm khác của những người sáng lập chủ nghĩa Marx.

Người ta đã nói quá nhiều, quá đủ về điểm này. Ở thời điểm hiện nay, mọi bạn đọc đều có thể tự đánh giá đúng-sai của nó. Việc Trung Quốc rồi Việt Nam buộc phải quay trở lại cái gọi là “kinh tế thị trường” (nghĩa là kinh tế tư bản chủ nghĩa) chính là quay lưng lại học thuyết Marx (đã bị những người marxist “chân chính” gọi là phản bội); mặt khác, “kinh tế thị trường” đòi hỏi phải công nhận quyền tư hữu tài sản của, từ những doanh nghiệp nhỏ đến những tập đoàn tư bản cá mập, cho ta một so sánh rõ ràng: nếu toàn bộ tư liệu sản xuất bị công hữu hóa, nền kinh tế mất đi động lực của nó, sản xuất đình đốn, xã hội nguy ngập. Đó là điều đã xảy ra đối với toàn bộ “chủ nghĩa xã hội hiện thực”.

Nhưng hãy quay lại thời của Marx, Marx nghĩ thế nào về điều này? Là một nhà triết học, ông suy tư, ông thấy mọi cái ác trong đời sống, sự suy đồi của xã hội, sự tha hóa của con người đều từ nguồn gốc tư hữu tài sản mà ra cả. Ông lập luận rằng trong xã hội có giai cấp, quyền tư hữu tài sản là phương tiện để giai cấp thống trị (chủ nô, phong kiến, tư sản) bóc lột, áp bức giai cấp bị trị. Và xóa bỏ tư hữu tức là xoá bỏ phương tiện bóc lột; xã hội sẽ không còn cảnh người bóc lột người. Đẹp lắm! Nhưng xoá bằng cách nào? Bằng cách tập trung toàn bộ quyền sở hữu vào trong tay nhà nước! Muốn hỏi nhẹ ông một câu, vậy cái nhà nước có quyền to như thế, nó có bóc lột thần dân của nó không? Câu hỏi này, với những người dân hôm nay là quá dễ: Sẽ có hàng ngàn câu trả lời phong phú và sôi động. Nhưng là Marx, ông sẽ trả lời: Không, nhà nước cách mạng, có tên là chuyên chính vô sản, là một nhà nước kiểu mới, nhà nước của giai cấp công nhân, vô sản. Không lẽ vô sản lại tự bóc lột mình? Thậm chí mục tiêu hướng đến còn cao hơn thế, nhà nước sẽ tiến tới tự giải thể, sẽ không còn nhà nước vì không còn giai cấp. Nhưng từ nay đến đó, nhà nước sẽ xiết chặt nắm tay của mình như một công cụ bạo lực khiếp đảm (của giai cấp vô sản, tất nhiên.) Đến đây tôi lại muốn hỏi một đại diện bất kì của giai cấp vô sản, chẳng hạn trong đoàn quân xuất khẩu lao động sang Đài Loan hoặc Libanon, mang sức lao động sang xứ người để kiếm miếng cơm và làm giàu cho đất nước: anh có biết anh đang đứng ở đâu trong cái nhà nước rõ ràng là của anh, do anh và vì anh không? Và, tin tôi đi, câu trả lời nhất định sẽ thú vị. Tổng hợp những câu trả lời khả dĩ, tôi thấy thế này, thưa ông Marx: Tôi là người tự cho là hiểu ông, và thương ông nữa, tôi bảo ông là không tưởng. Nhưng có những người nóng nảy hơn, họ không thương ông, họ bảo ông là lừa bịp.

Theo hình dung của Marx, giai cấp công nhân công nghiệp, vô sản – với đội tiên phong là đảng của mình – sẽ lãnh đạo cách mạng và khi thành công, sẽ quản trị nhà nước để tiến tới xóa bỏ nhà nước. Ta thấy rõ những con người vô sản ấy, đảng ấy, là những con người trừu tượng, lý tưởng, sản phẩm của năng lực trừu tượng hóa vô song của Marx. Nhưng sự đời lắm đỗi éo le, thực hiện cái lí thuyết của ông sẽ là và chỉ là những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt. Đơn giản vậy thôi, nhưng kết quả là, cái nhà nước tuyệt vời nhất trong lịch sử mà ông muốn xây dựng, lí do tồn tại của nó, ban đầu đặc trưng bằng đặc quyền đặc lợi, về sau phải được bổ sung bằng tham nhũng. Đó là con đường tất yếu, lịch sử đã chứng minh, không thể nào khác được. Và cái chức năng số một, nếu không nói là duy nhất, của nhà nước ấy là bảo vệ đến cùng sự tồn tại của chính nó. Bằng chính những biện pháp mà lý thuyết của ông cung cấp. Biện pháp gì, chúng ta sẽ thấy sau đây.

NHÀ NƯỚC và PHÁP LUẬT

Đến đây, phải dừng lại một chút để suy nghĩ về lí luận Nhà nước và Pháp quyền mà Marx khởi thảo và Lenin phát triển và thực hành. Trái với tư tưởng tiến bộ của nhân loại coi Pháp luật là phương tiện đảm bảo công lí trong xã hội: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, Marx cho rằng Pháp luật nằm trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, chỉ là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị. Nói nôm na là kẻ nào nắm được quyền lực chính trị sẽ nắm quyền sinh quyền sát theo ý chí của mình, bất chấp công lí và lẽ phải thông thường. Sau khi đã tập trung toàn bộ quyền lực kinh tế, chính trị và luật pháp vào trong tay nhà nước, thì nhà nước hiện nguyên hình là nhà nước cực quyền, độc tài (hay “chuyên chính”) toàn trị. Về mặt lịch sử, chế độ toàn trị có những ông tổ xa xưa của nó, toàn là thực hành (Tần Thủy hoàng, Nero...). Marx đích thực là ông tổ về lí thuyết, hiện đại, thật thế.

TỰ DO và GIẢI PHÓNG LOÀI NGƯỜI

Marx tự cho mình là người theo chủ nghĩa nhân văn. Mục đích của học thuyết của ông là giảỉ phóng loài người. Nhưng chủ thuyết của ông là sự đoạn tuyệt quyết liệt nhất, triệt để nhất với nền dân chủ – tức là phương tiện bảo đảm cho tự do – mà loài người vào thời của ông đã vươn tới được, và những năm trẻ người non dạ ông đã hiến mình cho nó. Và cho dù ông tuyên bố “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người,” hậu thế đi theo học thuyết của ông, đã thiết lập được những chế độ đủ sức tước đoạt đến quyền tối thiểu của con người và tự do tối thiểu của cá nhân. Là nhà tư tưởng tin tưởng mãnh liệt vào tư tưởng của chính mình, nhưng ông là một học giả chân thành và cầu thị, tôi tin rằng nếu lúc này sống lại, ông sẽ chịu để thực tiễn mở mắt cho ông thấy rằng ông đã sai. Vả chăng, là nhà biện chứng nhất quán, không bao giờ ông nghĩ rằng ông luôn đúng, đúng đến muôn đời, ông nhỉ.

TÔN THỜ BẠO LỰC

Không tưởng là địa hạt của mơ mộng, nó không dính dáng gì đến khoa học. Marx phê phán chủ nghĩa xã hội của Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen là không tưởng, nghĩa là không thể đạt được trong hiện thực. Ông gọi chủ nghĩa xã hội (và chủ nghĩa cộng sản) của ông là khoa học. Quả thật trong học thuyết của ông có một bộ phận là khoa học; nó là tập hợp những biện pháp để giành (và giữ) chính quyền trong thực tế, và nó đã được thực hiện thành công. Tuy nhiên, thành công ấy không phải là cơ may cho những lí tưởng nhân văn cao đẹp của ông. Trong thực tế, nó đã đi ngược lại.

 Marx và Engels

Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành.
Marx - Engels, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Ý nghĩa “cách mạng” của tư tưởng trên đây nằm trong hai chữ BẠO LỰC. Nó cũng là yếu tố phân biệt quan điểm của ông với các biện pháp “không tưởng,” phi cách mạng. Nó cũng chẳng có gì chung với những ý tưởng “hữu ái,” “khoan dung” trong quan hệ giữa con người với con người mà chủ nghĩa nhân văn ôm ấp.

Bằng những tác phẩm sắc sảo phân tích các cuộc nổi dậy, Marx đã dạy cách xốc cả một khối quần chúng đau khổ đứng dậy thúc họ xông lên, sử dụng sức mạnh của họ để giành chính quyền. Ông nghiên cứu những điều kiện nổi dậy thắng lợi, những biện pháp chia rẽ và đàn áp của chính quyền. Nhờ đó, một khi đã nắm được chính quyền, họ tự tung tự tác sử dụng nó theo ý mình: Có cái gì hạn chế họ đâu? Và điều này chắc Marx không thể ngờ: họ thậm chí cũng không cần quan tâm đến những gì Marx dạy, sẵn sàng vứt bỏ nó đi nếu thấy không cần thiết. Còn với khối “quần chúng” trước đây đi theo họ nếu giờ muốn nổi dậy chống lại họ: Nhờ Marx, họ cũng là bậc thầy của chia rẽ và đàn áp.

HỆ QUY CHIẾU

Nói về hệ quy chiếu, đối với tôi, chủ nghĩa Marx là một hệ quy chiếu đáng buồn. Trong khi những auschwitz, những holocaust quy chiếu về chủ nghĩa nazi của Hitler, thì những Gulag cho dù chỉ là tham vọng độc tài cá nhân của Stalin, nhưng việc đưa Stalin, (hay Mao…) lên ngôi lại buộc ta phải quy chiếu về Marx. Ngẫm nghĩ thêm, một ví dụ nhỏ: “đất đai là sở hữu toàn dân,” nguyên nhân của những vụ cướp đất tràn lan, “cướp của dân nghèo trao cho nhà giàu” (hay doanh nghiệp, hay nhóm lợi ích, hay thế lực đồng tiền, muốn gọi tên nào cũng được) buộc ta nghĩ đến tư tưởng “xoá bỏ tư hữu tài sản” của Marx và con đường lắt léo từ nhân đến quả (ông chỉ nghĩ được đưa toàn bộ quyền sở hữu vào tay nhà nước, rồi sau đó “nhà nước” làm gì với cái quyền đó ông làm sao biết được?). Thiên tài như Marx cũng không thể nào hình dung hết những hậu quả này để chịu trách nhiệm về chúng.

Đã đăng trên Văn Việt 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phương pháp thần kì của Đạt Ma Sư Tổ chữa bách bệnh ngay cả ung thư thời kỳ cuối


Nguồn gốc của Đạt Ma Dịch Cân Kinh và hiệu quả thần kì của nó
Năm Đinh Sửu (theo công lịch là năm 917) nhà sư Đạt MA từ Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp, truyền giáo rồi ở lại Trung Sơn, Hà Nam (của Trung Hoa) xây dựng Thiếu Lâm Tự (Chùa Thiếu Lâm). Việc truyền tụng một tín ngưỡng mới, khác với niềm tin cũ của người bản sứ, thường dễ sảy ra mâu thuẫn, xung đột nên các đệ tử của Ông vừa lo tu dưỡng, học Phật pháp, vừa phải ra công luyện tập võ nghệ để tự vệ. Từ đó môn võ Thiếu Lâm ra đời và tồn tại mãi đến ngày nay.
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể chất kém không thể luyện võ được. Sư Tổ Đạt Ma bèn dạy cho một cách tập luyện để nâng cao thể lực gọi là Dịch Cân Kinh.
“Dịch – thay đổi, Cân – gân cốt, Kinh – sách quí”
Cách tập này rất đơn giản, chỉ cần kiên trì tập vẩy tay đứng phương pháp là sẽ đạt hiệu quả rất lớn: ăn ngon, ngủ tốt, sức khỏe tăng và đặc biệt là trừ được bệnh tật như: suy nhược thần kinh, cao huyết áp, hen xuyễn, các bệnh tim mạch, các bệnh dạ dày, đường ruột, thận, gan, ống mật, trĩ nội … rồi bán thân bất toại, trúng gió méo mồn lệch mắt, … đều biến hết
Nhất là các loại bệnh mãn tính của người cao tuổi, kể cả các loại ung thư đều có thể phòng và trị được. Với các bệnh về mắt, luyện Dịch Cân Kinh có thể chữa khỏi các chứng đau mắt thông thường, đau mắt đỏ và cả đục thủy tinh thể (thông manh)
Tại sao mà kì diệu đến vậy?
Theo y lý cổ truyền Phương Đông, mọi bệnh tật đều do mất cân bằng “âm – dương” và trì trệ khí huyết mà ra. Khí huyết của ta vừa các Vệ Sĩ tiêu trừ các yếu tố đọc hại từ ngoài xâm nhập, vừa là Nhà Quản Lý sắp sếp lại nhưng chỗ mất cân bằng.
Y học Phương Đông rất coi trọng vai trò của ý chí, của chủ quan, của nội lực, của chữ “TÂM”. Lo lắng, Bực bội, Không tin tưởng, Độc ác, … đều tác dụng xấu tới sức khỏe. Thanh thản, Hướng thiện, Nhân đức, … vừa mang lại sảng khoái, thăng bằng, mạnh khỏe, vừa dễ cả phòng bệnh lẫn chữa bệnh. Thuốc thang Đông y chỉ kích thích, bổ trợ cho nội lực của chúng ta chống lại bệnh tật. Trái lại, ỷ vào hóa dược của “y học hiện đại” (như dựa vào quân đội ngoại quốc làm lính đánh thuê) thường có tác dụng phụ không mong muốn, nguy hại cho sức khỏe và tuổi thọ !
Tâp chung đầy đủ ý chí và tinh thần để kiên trì tập luyện theo ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH là làm cho khí kuyết lưu thông đều khắp cơ thể, vào cả lục phủ ngũ tạng, các hệ mạch lạc thần kinh … nên có tác dụng kỳ diệu vậy đó !
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
“VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH”
Trước tiên nói về tinh thần:
Phải có hào khí: nghĩa là có quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn, vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà bỏ dở.
Phải lạc quan: không lo sợ vì bệnh mà mọi người cho là hiểm nghèo, và tươi tỉnh tin rằng mình sẽ thắng bệnh do luyện tập.
TƯ THẾ :
“Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy”
Trên phải không, dưới nên có. Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo, cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón tay xòe như quạt. Khi vẫy, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, ngón chân bấm chặt đất như trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu lĩnh khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh’.
Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên, phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý tập chung vào tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái trèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bấm chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng như cây gỗ.
Khi vẩy tay cần nhớ “lên không, xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa ra phía trước.
“Trên ba, dưới bảy” là phần trên để lỏng chỉ độ 3 phần khí lực, phần dưới lấy gắng sức tới bảy phần thể lực, vấn đề này phải quán triệt đầy đủ thì hiệu quả mới tốt.
Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi chỉ nhẩm đếm lần vẫy tay.
CÁC ĐỘNG TÁC TẬP CỤ THỂ:
1. Hai bàn chân để xích ra bằng khoảng cách của hai vai.
2. Hai tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía sau.
3. Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trạng thái bình thường.
4. Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
5. Hai mắt chọn một điểm đằng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
6. Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở hai phía trước theo quán tính, tuyện đối không dùng sức, chân vẫn lấy ân, hậu môn co lên không lòi.
7. Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên đến 1000 cái vẩy tay, ước chừng 30 phút.
8. Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẩy tay tăng dần lên, không miễn cưỡng vì “dục tốc bất đạt”, nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.
Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi luyện tập nên vê vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.
Nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.
Có quyết tâm, nhưng phải từ từ tiến lên mới đúng cách, sẽ thu được kết quả mỹ mãn.
Nếu tinh thần không tập chung, tư tưởng phân tán, khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nhẹ, dưới nặng” là sai và hỏng.
Khi vẩy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung tiện ” đánh rắm”, hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng … đấy là hiện tượng bình thường, có phản ứng là tốt, là đã có hiệu quả, đừng ngại.
Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với “trên nhẹ, dưới nặng”. Đây là quy luật của sinh lý hợp với vũ trụ “thiên khinh địa trọng”.
Bệnh gan:
Do khí huyết, tạng gan không tốt gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên là bệnh nan y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả.
Bệnh mắt:
Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể khỏi đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí nó có thể chữa được cả bệnh đục thủy tinh thể (thông manh).
Trong nội kinh có nói “mắt nhờ huyết mà nhìn được”, khi khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì đương nhiên sinh ra các bệnh của mắt. Con mắt là trong hệ thống của thị giác, nhưng cũng là bộ phận của cơ thể.
NHỮNG PHẢN ỨNG
Khi tập “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải bệnh, không đáng ngại. Xin liệt kê ra đây 34 phản ứng thông thường (có thể có những phản ứng khác nữa không liệt kê hết được).
1. Đau.
2. Buốt.
3. Lạnh.
4. Đầy hơi
5. Ngứa
6. Tê dại
7. Nóng.
8. Ra mồ hôi.
9. Đau lưng
10. Đầu nặng.
11. Nấc.
12. Nôn mửa,ho.
13. Lông, tóc dựng đứng.
14. Giật gân, giật thịt.
15. Âm nang (bìu dái) to lên.
16. Máy mắt, mí mắt giật.
17. Hơi thở ra nhiều, thở dốc.
18. Trung tiện (đánh rắm).
19. Huyết áp biến đổi.
20. Sắc mặt biến đổi.
21. Chảy máu cam.
22. Đau mỏi toàn thân.
23. Ứa nước miếng.
24. Tiểu tiện nhiều.
25. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen.
26. Có cảm giác như kiến bò, hoặc kiến cắn.
27. Đau xương, có tiếng kêu lục cục.
28. Có cảm giác máu chảy dồn dập.
29. Ngón chân nhức nhối như mưng mủ.
30. Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.
31. Da cứng và da dầy (chai chân, mụn cóc) dụng đi.
32. Trên đỉnh đầu mọc mụn.
33. Bênh từ trong da thịt tiết ra.
34. Ngứa từng chỗ hay toàn thân.
Các phản ứng trên là do trọc khí trong người bi bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ứ đọng, tức tử bệnh tật.
Có phản ứng là có sự xung đột giữa chính khí và tà khí. Ta vẫn tiếp tục tâp vẩy tay sẽ sinh sản ra chất bồi bổ, có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép là làm tăng mức đề kháng, thải cặn bã trong các gân, thần kinh và cả tế bào khác mà máu thường không thải nổi. Khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” khí huyết lưu thông mới thải nổi cặn bã ra, nên sinh ra phản ứng. Vậy ta đừng sợ, cứ tiếp tục tập như thường, hết một phản ứng là khỏi một căn bệnh, tập luyện dần dần đưa lai kết quả tốt.
BỐN TIÊU CHUẨN
Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” đạt được bốn tiêu chuẩn như sau:
Nội trung tố: tức là nâng can khi lên, là then chốt, điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết, thanh khí sẽ thông suốt lên tới đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố: tức là tứ chi phối hợp với động tác theo đúng nguyên tắc khi tập “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh”.Tứ trưởng tố song song với Nội trung tố sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trọc khí dắn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tâm phát: nghĩa là 5 trung tâm của huyệt dưới đây họat động mạnh hơn mức bình thường:
* Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu.
* Lão cung: hai huyệt của hai gan bàn tay.
* Dũng tuyền: hai huyệt của hai gan bàn chân.
Khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tời hiệu quả phi thường, nó làm tăng cường thân thể tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh: Lục phủ là ruột non, mật, dạ dày, ruột già, bong bóng, tam tiêu. Minh nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn tiêu hóa và bài tiết được thuận lợi, xúc tiến các cơ năng sinh sản, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể, tức là âm dương cân bằng, cơ thể thịnh vượng.
MỘT SỐ ĐIỂM CẨN CHÚ Ý
Số lần vẩy tay không nên ít: từ 600 lần đến 1.800 lần (30 phút mới là toại nguyện cho đợt điều trị).
Bệnh nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng vẫn phải nhớ thót đít và bấm 10 ngón chân
Số buổi tập:
* Buổi sáng thanh tâm -> tập mạnh.
* Buổi chiều trước khi ăn -> tập vừa.
* Buổi tối trước khi ngủ -> tập nhẹ.
Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu ? Ngưỡng cửa của sự chuyển biến bệnh là 1.800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy 3.000 tới 6.000. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.
Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh. Bình thường vẫy 1.800 cái hết 30 phút. Vẫy tay tới lúc nửa trừng thường nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lục động của khí. Khi mới vẫy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thì hẹp vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì nên vẫy chậm và hẹp vòng.
Vẫy tay nhanh quá làm cho nhịp tim đập nhanh, mà vẫy chậm quá thì không đạt tới mục đích luyện tập là cần cho mạch máu lưu thông
Vẫy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ ? Vẫy tay là môn thể dục chữa bệnh chứ không phải môn thể thao đặc biệt. Đây là môn thể dục mền dẻo, đặc biệt là không dùng sức. Nhưng nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và ngực, cũng không được chuyển động nhiều tác dụng sẽ giảm.