Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

Người giàu chân chính làm gì với tiền của họ?


Thiên Cầm, 17/04/2019 - Lẽ thường con người đều mong muốn có một cuộc sống vinh hoa, phú quý và nỗ lực cả một đời để theo đuổi nó. Nhưng khi ước nguyện đã thành, khi đứng trên đỉnh cao của sự thịnh vượng, trở thành những đại gia, tỷ phú, thì những người giàu làm gì với tiền của mình?

Người giỏi thì lại có người giỏi hơn, người giàu thì lại có người giàu hơn, nếu tranh nhau thể hiện ra sự giàu có của mình thì cuộc đua này tới khi nào mới kết thúc? Tả Truyện có viết rằng, “Tiết kiệm là đức lớn nhất trong các loại mỹ đức, xa xỉ là tội ác lớn nhất trong các việc hành ác.” Vậy nên người giàu có chân chính sẽ biết cách trân trọng tài sản của mình, làm giàu chính đáng, sử dụng tiền càng cần phải chính đáng.

Tư tưởng phụng sự xã hội

Nếu đã một lần đặt chân tới Viện bảo tàng Kỳ Mỹ tại Đài Nam, Đài Loan, hẳn du khách sẽ không khỏi trầm trồ ngưỡng mộ trước bộ sưu tập văn hoá khắp đông tây kim cổ của ông chủ Hứa Văn Long. Đây là một trong những viện bảo tàng, viện mỹ thuật tư nhân phong phú nhất của Đài Loan.

Lấy nghệ thuật phương Tây làm tư tưởng chủ đạo, viện bảo tàng đã triển hiện 4 lĩnh vực lớn là nghệ thuật, nhạc cụ, binh khí và lịch sử tự nhiên. Nơi đây lưu giữ hàng nghìn cây đàn violon, số lượng nhiều nhất trên toàn thế giới, cùng những tác phẩm nổi tiếng của các nhạc sỹ lừng danh, cũng như những bức tranh, những tác phẩm điêu khắc hoàn thiện bậc nhất của phương Tây. Thông qua bộ sưu tập hoàn thiện nhất về binh khí cổ đại của các nước châu Á, con người như được sống lại với thời xa xưa cũng như sự diễn tiến của lịch sử. Kỳ Mỹ còn thu thập số lượng tiêu bản động vật lớn nhất Đông Nam Á, gồm các loại động vật có vú và chim muông bao trùm khắp 5 châu. Vào năm 2012 ông chủ Hứa đã quyên góp toàn bộ bộ sưu tập của mình cho chính phủ Đài Loan.

Tại phương Tây, gia tộc Medici là danh gia vọng tộc có thế lực lớn ở châu Âu từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17. Thành tựu lớn nhất của gia tộc Medici là những cống hiến trong phương diện nghệ thuật và kiến trúc. Giovanni là người tài trợ số một giúp nghệ thuật Phục Hưng phát triển mạnh mẽ. Medici cũng sưu tầm số lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật mà ngày nay vẫn được triển lãm tại trung tâm của Phòng trưng bày Mỹ thuật Uffizi, vùng Florence. Gia tộc Medici còn để lại cho Florence rất nhiều công trình kiến trúc giá trị như Phòng trưng bày Mỹ thuật Uffizi, Cung điện Pitti, Vườn Boboli và Biệt thự Belvedere.

Ngoài lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật, gia tộc này còn tài trợ cho những thiên tài khoa học như Leonardo da Vinci và Galileo Galilei. Những thành tựu đáng kinh ngạc này đã khiến gia tộc Medici trở thành “Cha đẻ của nền Phục hưng văn hóa nghệ thuật”. Gia tộc Medici đã tận dụng khối tiền bạc khổng lồ của mình, đốt đuốc soi đường cho nhân loại tìm đến nghệ thuật truyền thống.


Không phải kiếm sống, mà là làm cho thế giới đầy đủ hơn
Bạch Khuê là một thương gia nổi tiếng tại thành Lạc Dương trong thời Chiến Quốc. Ông được xem là Thủy Tổ Thương Mại hay Thương Thánh, là nhà kinh doanh sớm nhất cho ra đời lý luận về kinh tế thương mại tại Trung Hoa cổ đại.

Lúc bấy giờ việc kinh doanh trong xã hội đã phát triển, những chuyện đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi là thói thường. Thậm chí xã hội đã chia thương nhân ra làm 2 phái thành thật, liêm sỉ, lương thiện và loại gian, tham, nịnh.

Bạch Khuê muốn việc kinh doanh phải đem lại lợi ích lâu dài cho nhiều người nên nói rằng “Dục trường tiền, thủ hạ cốc”, nghĩa là “Muốn tiền dài lâu, thì mua lương thực”. Ông không theo trào lưu buôn châu ngọc để phát tài nhanh lúc bấy giờ, mà giúp người nông dân tạo dựng một thị trường nông sản lớn. Ông mua giá cao ngũ cốc loại thượng phẩm, để khuyến khích người dân chú trọng đến chất lượng giống và công chăm sóc.

Ông chủ trương kinh tế cần vận hành tuần hoàn, bình ổn. Thứ nào được mùa, sản lượng nhiều thì ông mua tích trữ để đến lúc mất mùa, thiếu hụt thì đem ra bán lại đúng giá cho mọi người. Bởi vì học Đạo, có trí huệ thâm sâu, minh tường thiên văn, dự trù được thiên tai nên ông luôn có sự chuẩn bị trước.

Mặc dù là người kinh doanh vô cùng thành công, giàu có nhưng sinh hoạt của Bạch Khuê thì rất đạm bạc, thanh bạch – đúng với tác phong một người quân tử.

Gia tộc họ Phạm hưng vượng suốt 800 năm, từ thời Tống mãi cho đến thời Mạt Thanh, bắt đầu từ Phạm Trọng Yêm, một học giả Nho giáo giữ chức vị tể tướng dưới triều đại Bắc Tống. Ông được biết đến với câu danh ngôn: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”, nghĩa là “Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”.

Ông vô cùng tin theo Phật Pháp, thường hay làm việc thiện tạo phúc cho dân chúng. Dẫu tới nơi nào nhậm chức, Phạm Trọng Yêm cũng đều tu sửa chùa miếu, cung kính đối với tăng nhân, khuyên bảo dân chúng địa phương thờ phụng Phật Pháp. Phạm Trọng Yêm cứu tế học trò, giảm nô dịch, xây dựng nghĩa điền, hành thiện ân trạch khắp thiên hạ.

Ở vào địa vị của mình, Phạm Trọng Yêm hoàn toàn có khả năng làm giàu. Nhưng ông không làm giàu, mà lại có cách sử dụng tiền bạc rất đáng ngưỡng mộ.

Trong cuốn “Nghĩa Điền Ký” của Tiền Công Phụ có một đoạn ghi chép như sau: Phạm Trọng Yêm bỏ ra rất nhiều tiền mua mấy ngàn mẫu ruộng tốt. Ông không dùng ruộng đất để làm giàu, mà ngược lại mang tất cả ruộng đất đó coi là ruộng công ích, để bách tính khỏi phải chịu nỗi khổ đói khát, cơ hàn. Nhưng ông không cấp ruộng cho những người làm quan. Sau này do thời chiến loạn, ruộng công ích từng bị huỷ mất.Hai anh em Phạm Lương Khí, Phạm Chi Nhu, cháu đời thứ 5 của Phạm Trọng Yêm, lại tiếp tục cống hiến toàn bộ gia sản của mình để ruộng công ích được khôi phục trở lại.

Quả đúng như câu: Tổ tiên tích đức, con cháu đời sau được hưởng đức, nhờ vậy gia tộc nhà họ Phạm đã thoát khỏi quy luật “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời” mà hưng vượng suốt 800 năm lịch sử.

Thomas Woodrow Wilson, cựu tổng thống Hoa Kỳ, cũng từng khẳng định rằng: “Bạn không ở đây để kiếm sống. Bạn ở đây để làm cho thế giới đầy đủ hơn, với tầm nhìn rộng hơn. Bạn ở đây để làm giàu cho thế giới và bạn sẽ tự nghèo đi nếu bạn quên mất mục đích đó”.

Đây có lẽ là lời kết rất hay cho câu hỏi: “Người giàu làm gì với tiền của họ?”. Dẫu trong văn hoá cổ xưa hay sống giữa thời hiện đại, thì tư tưởng của cải để phụng sự nhân loại vẫn còn nguyên giá trị.

Thiên Cầm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ bắt một cựu quân nhân liên can vụ đột nhập sứ quán Triều Tiên tại Madrid


Đại sứ quán Bắc Triều Tiên tại Madrid. Ảnh chụp ngày 28/03/2019.


Chính quyền Mỹ đã bắt giữ một cựu thủy quân lục chiến là thành viên của một nhóm bí mật được cho là đã tấn công vào đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Tây Ban Nha hồi tháng Hai. Reuters hôm nay 20/04/2019 dẫn nguồn tin từ Washington Postcho biết như trên.

Christopher Ahn bị bắt hôm thứ Năm 18/4 và hôm qua đã ra trước tòa án liên bang ở Los Angeles. Cảnh sát liên bang cũng lục soát căn hộ của Adrian Hong, người gốc Mêhicô nhưng có thẻ thường trú ở Mỹ, là thủ lãnh Cheolima Civil Defense (CCD) - nhóm ly khai đã đột kích sứ quán Bắc Triều Tiên tại Madrid. Đương sự không có mặt tại nhà lúc bị khám xét. Bộ Tư pháp Mỹ từ chối bình luận.

Hôm 22/02/2019, một nhóm gồm ít nhất 10 người đã xâm nhập vào tòa đại sứ, đánh đập một số nhân viên và giữ họ trong nhiều tiếng đồng hồ trước khi tẩu thoát.

Các nhà điều tra Tây Ban Nha cho biết nhóm này đã lấy đi các máy tính, ổ cứng, bay sang Mỹ giao cho FBI. Nguồn tin tư pháp Tây Ban Nha nói rằng các thiết bị này đã được trao trả cho đại sứ quán Bắc Triều Tiên.

Sự kiện trên diễn ra vào thời điểm nhạy cảm, chỉ vài ngày trước thượng đỉnh Trump-Kim tại Hà Nội. Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên tố cáo « cuộc tấn công khủng bố », dẫn ra các lời đồn cho là FBI đứng phía sau vụ đột kích ; tuy nhiên Washington nói rằng không liên quan gì đến vụ này.

CCD là một nhóm ly khai chống Kim Jong Un, được cho là gồm cả một số quan chức cao cấp Bình Nhưỡng đào thoát, chuyên hỗ trợ những người Bắc Triều Tiên muốn trốn khỏi đất nước. Nhóm này được biết đến từ năm 2017, sau khi đăng một video về vụ ám sát ông Kim Yong Nam, anh cùng cha khác mẹ của Kim Jong Un.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CIA khẳng định Hoa Vi được an ninh Trung Quốc tài trợ


Hoa Vi, tập đoàn Trung Quốc luôn trong tầm ngắm của tình báo Mỹ. Ảnh minh họa.


Cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA khẳng định tập đoàn Hoa Vi (Huawei) được cơ quan an ninh của Nhà nước Trung Quốc tài trợ. Báo Anh The Times hôm nay 20/04/2019 dẫn một nguồn tin giấu tên cho biết như trên.
Tờ báo cho biết theo CIA, tập đoàn viễn thông Hoa Vi nhận được những khoản tiền từ Giải phóng quân Nhân dân tức quân đội Trung Quốc, từ Ủy ban An ninh Quốc gia và từ một nhánh thứ ba của mạng lưới tình báo Bắc Kinh. 

Cũng trên The Times, đại diện Hoa Vi bác bỏ cáo buộc, nói rằng không bình luận « về những tố cáo vô căn cứ, không có bằng chứng nào và dựa trên những nguồn ẩn danh ».Hoa Vi, CIA và bộ Ngoại Giao Trung Quốc hiện chưa trả lời Reuters về vấn đề này.

Trong năm nay phía Mỹ đã chia sẻ tin tức tình báo với các đối tác trong mạng lưới Five Eyes gồm Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, New Zealand.

Hoa Kỳ đang gây áp lực lên các đồng minh châu Âu để loại Hoa Vi ra khỏi mạng lưới 5G tương lai, tố cáo tập đoàn này làm gián điệp cho chính quyền Bắc Kinh. Đầu tuần này cũng có tin Washington trong cuộc họp ở Praha tháng tới sẽ thúc đẩy các đồng minh siết chặt các biện pháp an ninh để Hoa Vi không thể thống trị thị trường 5G.

Một công ty viễn thông khác của Trung Quốc là ZTE cũng đã bị Washington trừng phạt vì vi phạm lệnh cấm vận của Mỹ đối với Iran và Bắc Triều Tiên.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một diễn viên hài sắp tới rất có thể trở thành nguyên thủ Ukraina.

Bầu tổng thống Ukraina : Zelensky đầy hy vọng, hứa phá vỡ hệ thống cũ

Tổng thống Petro Porochenko (trái) tranh luận với đối thủ Volodymyr Zelenskiy (ngoài cùng bên phải) trên sân vận động Olimpiyskiy tại Kiev ngày 19/04/2019.


Chiến dịch tranh cử chính thức kết thúc từ tối qua, và ngày mai bắt đầu vòng hai cuộc bầu cử tổng thống Ukraina. Theo các cuộc thăm dò, diễn viên hài Volodymyr Zelensky sẽ giành được 72,2% số phiếu, so với tổng thống mãn nhiệm Petro Porochenko chỉ có 25,4%. Tối qua trong cuộc tranh luận đầy kịch tính tại sân vận động lớn ở Kiev, Zelensky hứa hẹn sẽ « phá vỡ hệ thống » chính trị hiện nay.

Đặc phái viên Anastasia Becchio tường thuật từ Kiev :

Trên các khán đài, những tiếng la ó, vỗ tay hoan hô của công chúng át đi các tuyên bố của hai ứng cử viên, đứng cạnh nhau sau các bục màu trắng, được dựng trên một góc trong của sân vận động. Không thực sự là đối thoại mà đa số là những lời thóa mạ.

Denis, đến từ Dnipro ở miền đông Ukraina, không chờ đợi một cuộc tranh luận mang tính xây dựng. Ông nói : « Về tranh luận, chẳng có gì để nói. Mỗi người phát biểu theo kiểu của mình, họ không sẵn sàng đối thoại. Tôi nghĩ rằng người dân đã chọn lựa rồi, và cuộc tranh luận này sẽ không có tác động gì ».

Phía sau ông Petro Porochenko là các cựu chiến binh trong cuộc chiến Donbass, còn sau lưng Volodymyr Zelensky là những nghệ sĩ, các bạn bè trong những chương trình giải trí của ông. 

Tetiana Diatchenko đến từ Kherson, ở miền nam. Bà nhận xét : « Ông Porochenko mới xứng tầm, còn Zelensky thì luôn là một anh hề, diễn hài kịch. Ông ta chỉ làm công việc đọc lên những gì đã được người khác viết sẵn ra giấy ».

Volodymyr Zelenski tấn công Petro Porochenko bằng câu : « Tôi là sản phẩm của những sai lầm và những hứa hẹn của ông ! ». 

Tuyên bố này được Ioulia, từ Lviv ở miền tây tán thành. Bà cho biết : « Tôi sẽ bầu cho Zelensky vì tôi muốn có một khuôn mặt mới, có sự thay đổi. Bản thân ông Porochenko phải chịu trách nhiệm về việc một nghệ sĩ lại muốn trở thành tổng thống ».

Một diễn viên hài sắp tới rất có thể trở thành nguyên thủ Ukraina. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nên nhớ về chiến tranh như thế nào?

Với tôi  một trong những ý nghĩa chắc chắn của ngày 30-4-1975 

***
Bài học từ trận lụt phố cổ Passau là tên một bài viết in trên TTCT số ra 03/06/2014, tác giả là Võ Văn Dũng (nghiên cứu sinh ngành Đông Nam Á - Trường đại học Tổng hợp Passau, CHLB Đức).
Bài báo kể:
Passau (bang Bayern, Cộng hòa liên bang Đức) thành phố hơn 2.700 năm tuổi. Tháng 6-13, thành phố bị một trận lụt. Gần bốn tháng sau, nhà nhiếp ảnh Christoph Brandl từ Berlin đến Passau để phối hợp tổ chức một cuộc triển lãm kéo dài sáu ngày về trận lụt với phong cách “mở” hoàn toàn: mọi người dân có thể tham gia triển lãm tranh ảnh, vật dụng... liên quan đến trận lụt và thoải mái sáng tạo cách sắp đặt theo ý tưởng của mình.
Triển lãm diễn ra trên các tuyến đường đi bộ của phố cổ, gồm nhiều bức ảnh, những đôi ủng dính đầy bùn đất, la liệt cuốc, xẻng, áo mưa... Cuộc triển lãm tự do ấy đã thật sự gợi nhớ những ký ức vừa đáng buồn bởi những mất mát do thiên tai, vừa ấm áp bởi sự xích lại gần nhau hơn của cả cộng đồng.
Những hình ảnh về trận lụt tiếp tục được tờ Tin Tức Passau (Passauer Neue Presse) kêu gọi công chúng gửi về, kết hợp với những hình ảnh ngập lụt của thành phố láng giềng Deggendorf để thực hiện cuốn sách ảnh 2013 Hochwasser In Passau und Deggendorf(2013 Ngập lụt ở Passau và Deggendorf).
Sách bán chạy như tôm tươi, nhanh chóng được tái bản, một phần lợi nhuận được góp vào quỹ sửa chữa phố cổ. Điều thú vị là nhiều du khách đã mua cuốn sách này để chứng kiến hình ảnh một Passau chìm sâu trong biển nước và xác xơ sau lụt, bên cạnh một Passau cổ kính, bình yên trong những tập sách ảnh thông thường.


 Chỉ có nhớ vặt không có suy nghĩ
So với một trận lụt ở một thành phố, thì một cuộc chiến tranh là một cuộc khủng hoảng lớn hơn nhiều. Nhưng bảo tàng không phải là ngành văn hóa phát triển ở ta, nên sự đòi hỏi có thể không đáp ứng ngay được. Giá bây giờ tôi đòi hỏi VN phải có một bảo tàng chiến tranh ra trò, hẳn sẽ vô lý.
Thế còn văn học VN hậu chiến? 
Có thể yêu cầu một cái gì tương tự như cách dân Đức làm  cho vụ lụt ở thành phố Passau lắm chứ! Có điều nói ra chỉ thêm buồn. 
Gần chục năm hậu chiến đã trôi qua, có một tình hình mọi người đều thấy. Đó là chúng ta lãng quên rất nhanh, nhất là không chịu khai thác quá khứ và rút ra ở đó những bài học.
 Nói rằng hoàn toàn vô tình thì không hẳn, giờ đây nhiều lễ lạt vẫn được tổ chức. Trong văn học, luôn luôn có những cuộc vận động để mọi người viết lại về chiến tranh. Nhưng điều làm được đã chẳng bao nhiêu, mà nhìn sâu vào tâm lý những người trong cuộc thì lại thấy chúng ta hiện ra như những kẻ rất bàng quan, rất nhạt nhẽo với quá khứ. 
Trong văn chương, thậm chí người ta có cảm tưởng nhiều nhà văn  không buồn để công làm kỹ một cái gì hết, mà chỉ chăm chăm tính xem có đơn đặt hàng của nhà nước thì lao vào, y như giành giật được một món bở.
 Những việc vụ lợi ấy sao không mang một chút tâm huyết nào hết, nhiều khi lại biến thành làm hàng giả. 

 Có mấy lý do khiến cho hình này ngày đang kéo dài và không biết bao giờ mới gỡ ra được.
Khi đặt tên cho cuốn hồi ký chiến tranh của mình là Nhớ lại và suy nghĩ, vị nguyên soái nổi tiếng của Liên xô G. Zhukov đã đưa ra một cái chuẩn cho hồi ký thời nay. 
Con người hiện đại không được phép dừng lại ở những nhớ nhung sướt mướt.
Nhớ và quên không chỉ là bản năng, tình cảm -  mà còn là vấn đề trí tuệ.
Trong khi đó, người Việt mình thường đối diện với các sự kiện xảy ra trong quá khứ một cách hời hợt. 
Rất nhiều "nhớ vặt" và rất ít suy nghĩ , nhất là nghĩ lại những cách nghĩ đã nhàm chán. 
Cả dân tộc kém tư duy lịch sử mà mỗi cá nhân cũng không bao giờ có mấy ai nghĩ tới chuyện làm cuốn sử của riêng mình. 
Tìm ra một người trong sự vội vã cuộc sống hàng ngày vẫn lo ghi chép về các sự kiện đã xảy ra xem chừng quá khó. 

Chẳng những ghi ít, trong xu thế ghi chép lại chỉ thiên về những cái tốt đẹp, mà không thích và không dám đối diện với cả đau thương và mất mát.
 Một cách tổng quát, tức là người mình trải qua các biến cố một cách quá nhẹ nhõm,  còn nặng về bản năng"tự nhiên nhi nhiên", mà thiếu sự tham gia của lý trí. 
Nhìn riêng các cá nhân cũng vậy mà nhìn chung xã hội cũng vậy.
  Một nguyên nhân khác, trong nhận thức của người Việt, giữa chiến tranh và hậu chiến đang có sự đứt đoạn. 
Lấy quá khứ để giải thích hiện tại là chuyện dân ta vẫn làm nhưng chỉ làm một cách công thức.
 Ta thường nghĩ cắt khúc từng đoạn chứ không nghĩ được cả giai đoạn lớn của lịch sử. Thiếu một tầm vóc trí tuệ trong việc làm sống lại quá khứ.

Những người mau quên đáng thương
và những kẻ nhớ lâu đáng ghét
 Có một quy luật tâm lý chi phối con người khi nhớ lại quá khứ.  Nhớ và quên là hai mặt của cùng một hiện tượng. Không ai đủ sức cái gì cũng nhớ. Nhớ cái này nghĩa là quên đi cái khác.
 Lỗ Tấn từng có một bài tạp văn nổi tiếng mang tên Kỷ niệm để quên đi,viết về Lưu Hòa Trân một đồng chí của ông.
Còn những người đang yêu ở bất cứ lứa tuổi nào đều biết câu danh ngônMuốn quên ai đi tức là đang nhớ người đó.
Mấy năm cuối đời, tuy mới ở tuổi ngoài bốn mươi, nhà thơ Xuân Quỳnh (1940-1988) có một vài bài thơ có tính chất tổng kết đời mình. Như bài thơ được phổ nhạc Thơ tình  cuối mùa thu.
Lại như bài Có một thời như thế (1985), trong đó, để nói về sự trưởng thành của mình, nhà thơ tự nhận với người yêu:
Em biết quên những chuyện đáng quên
Và biết nhớ những điều em phải nhớ.
Tôi đã nói ngay với tác giả khi chị còn sống, trên đời này loại người biết nhớ và quên như thế ít lắm, trong niềm tự hào nói trên đã bao gồm một ảo tưởng. 
Nếu có người nào đó đủ sức làm chủ mình đến độ đó thì một là một cái máy, hai là các ông thánh.
 Còn phần đông chúng ta, khi quên khi nhớ, lung tung tùy tiện.
Hôm nay đây, có một ví dụ mà giá Xuân Quỳnh còn sống tôi sẽ trình ra với nhà thơ: cái sự quên nhớ sai lạc chung quanh câu chuyện chiến tranh của cả cộng đồng ta. 
Gần bốn mươi năm đã qua, đối với chiến tranh, đang thấy có tình trạng nước đôi.
Cả quên và nhớ đều có cả.
Chỉ  có điều xẩy ra một sự lỗi nhịp.

CÁI ĐÁNG NHỚ THÌ TA QUÊN và CÁI ĐÁNG QUÊN THÌ TA NHỚ



 

 Hình trên là một trong nhng bnh miêu t chiến tranh ca nhà nhiếp ảnh Đoàn Công Tính. Là người quen của tác giả tôi được  biết làm tập ảnh KHOẢNH KHẮC, anh còn ngại ngần không dám đưa ra công khai, và  chỉ nh phát hin ca mt nhà báo Nht tác gi mi cm thy hết giá tr ca nó và giới thiệu nó với bạn đọc rộng rãi trong ngoài nước. Theo tôi bức ảnh nói lên mt khía cnh mà chúng ta hay quên: CHIẾN TRANH ĐỔ SẬP TRÊN SỐ PHẬN CON NGƯỜI. 
----

Hình như có ai đó, vào khoảng 1975-85 đã có lần tự hào nói rằng không có dân tộc nào biết quên đi chiến tranh nhanh chóng để bắt tay vào cuộc kiến thiết trong hòa bình như chúng ta. 
Do nhu cầu tái thiết đất nước, sự quên đi đó là cần thiết.
Nhưng nhìn vào một phương diện khác lại thấy hoàn toàn ngược lại.
Với chiến tranh lại có sự nhớ cũng đáng trách không kém, tức là gây hậu quả đình trệ.

 Theo sự quan sát của tôi, những người luôn luôn nhớ tới chiến tranh một cách dung tục ở ta có nhiều loại, bao gồm từ các chiến binh công trạng lẫy lừng tới các nhân vật dây máu ăn phần, đóng góp thì ít mà tự thổi phồng lên thì nhiều.
 Phần lý trí sáng suốt của họ đã bị chiến tranh lấy đi gần hết. 
Ở một số người trong họ chỉ còn cái phần bản năng.
 Họ nhớ chiến tranh với nghĩa ở đó cộng đồng đã mắc nợ họ. 
Thời hậu chiến là lúc họ đòi nợ. Họ muốn lu loa ăn vạ. 
Trong lúc thả sức làm giàu một cách bất lương, họ sống y như những người từng bị chiến tranh ám ảnh và không bao giờ ra khỏi nó.
 Họ luôn luôn nhắc tới chiến tranh và muốn xã hội nhắc tới chiến tranh chỉ cốt để biện hộ cho sự hư hỏng của mình.

 Trong chữ nghĩa của khoa kinh tế ở VN hiện nay, có khái niệm xí nghiệp nhà nước, bao trùm cả những ngành chủ đạo của kinh tế quốc gia. Thực chất của các xí nghiệp này là gì nếu không phải là hình thức sau chiến tranh, nhà nước trao quyền làm chủ xã hội cho các công thần.
 Người ta cho đó là việc đương nhiên không cần giải thích, ai không hiểu thì người đó là kẻ vong ơn bội nghĩa. 
Ẩn kín sau đó còn là quan niệm vô cùng sai lầm song lại ôm trùm trên phạm vi rộng lớn “ai đã biết làm chiến tranh thì làm gì cũng được” hoặc “kẻ chiến thắng trong chiến tranh là kẻ thành đạt trong mọi lĩnh vực khác – nói theo chữ nghĩa thời nay - tức là kẻ chiến thắng trong mọi mặt trận khác.”

Đây chính là cái lối sùng bái quá khứ để trục lợi. Cách tổ chức xã hội cổ lỗ lỏng lẻo vốn đã mở đường cho tham nhũng tồn tại, nay lại được lý luận về sự đền ơn trả nghĩa nói trên hỗ trợ, hỏi làm sao nó không phát triển đến mức đè cả xã hội bẹp dí như chúng ta đang thấy. 

Những người thích thú với tư tưởng sùng bái quá khứ kiểu này hay lý sự “kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào họ bằng đại bác”.
 Họ quên rằng tác giả câu danh ngôn trên,-- nhà thơ xô viết Rasul Gamzatov 1920-2003,-- là một người của nước Nga thời trì trệ, và tư tưởng của ông cũng nằm trong không khí trì trệ đó.
 Sống trong một thế giới bị cô lập, những người này không biết rằng quá khứ không phải chỉ có một khuôn mặt mà bao giờ cũng có nhiều khuôn mặt, và việc khám phá ra bài học cần thiết của quá khứ sẽ là cái biện pháp hiệu nghiệm nhất để đi tới tương lai chân chính.
 Trong bài thơ Có một thời như thế mà trên kia tôi nhắc,  Xuân Quỳnh cũng đã có  câu thơ dành để nói về thời chiến, theo tôi là vượt xa hơn cả R. Gamzatov:
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng không phải là điều em ao ước.
Việc "quên đi" cái phần quá khứ nói như thế này cố nhiên cũng là kết quả của sự hiểu biết tương lai trên cơ sở khảo sát cả quá khứ lẫn hiện tại. 

Không thể bị cầm tù trong quá khứ
Một hướng suy nghĩ của nhiều dân tộc sau chiến tranh cũng bao hàm một thái độ hai mặt cả biết nhớ lẫn biết quên như trên. 
Tôi biết điều này nhân đọc bài thơ của   Wisława Szymborska do Thái Linh dịch.
 Theo lời giới thiệu trên mạng Lilia,  Wisława Szymborska ( 1923 – 2012) là nhà thơ lớn của Ba Lan.
 Năm 1996, bà được trao giải Nobel 
cho "những tác phẩm thơ tái hiện chân thực một thế giới 
trong đó cái thiện và cái ác đan xen, giành giật nhau chỗ đứng cả lẫn trong tư duy và hành động của con người. 
Bà đã thể hiện tấm lòng một công dân, một nghệ sĩ có nhân cách lớn và đầy trách nhiệm trước những thực trạng các giá trị tinh thần bị đảo lộn, trước nguy cơ suy đồi đạo đức trong cuộc sống hiện đại".

Bài thơ sau đây là một chứng minh cho nhận định đó.


Kết thúc và khởi đầu      
Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.
Phải có người xúc đống gạch nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy xác
đi qua.
Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.
Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.

Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh khác.

Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.
Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa mất.
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm thấy
những thứ đó chán ngấy.
Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào lên
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.
Những người biết
về những điều từng xảy ra nơi đây
phải nhường chỗ cho những người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.

Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm
và ngây ngắm mây bay.

Với cả bạn đọc người sáng tác ở VN, bài thơ trên hẳn gây ngạc nhiên. Nó nêu lên một đề nghị vượt lên trên cách xử lý thông thường. 
Nhưng giá kể biết được văn học viết về chiến tranh ở VN  đang ở trong tình trạng thế nào, các nhà thơ và bạn đọc thế giới sẽ ngạc nhiên, không ngờ chúng ta bị cầm tù trong quá khứ chắc chắn đến thế, cách tiêu hóa quá khứ ở ta lại cổ lỗ đến thế. 
Biết bao giờ chúng ta mới gia nhập được vào thế giới hiện đại! 



sắp tới “kỷ niệm 30 tháng 4” rồi.

Chuyện đặc công (phần 3)

Kết quả hình ảnh cho đặc công việt nam

Một ông bạn tôi cười bảo mày không đi lính, càng không phải đặc công, biết đếch gì về đặc công mà kể lắm thế. Tôi chỉ còn nước cười trừ, thôi thì mình sống vào cái thời ấy, cũng chỉ do may mắn mà không bị xếp vào diện “hoặc xanh cỏ, hoặc đỏ ngực” nhưng chứng kiến nhiều, nghe nhiều, giờ tua cuộn băng ký ức lại mà biên ra, kẻo quên mất. Vả lại cũng lẩn thẩn nghĩ, bây giờ có biết bao nhiêu ông bà chẳng hề biết mặt mũi cụ Hồ mà vẫn đi thi “Học tập và làm theo” kể vanh vách bác như thế này, bác như thế nọ đó sao.

Lại nhớ hồi còn bé, tầm học lớp 6 lớp 7 gì đấy (khoảng năm 68 - 69) đội chiếu phim lưu động của huyện về sân hợp tác chiếu bộ phim “Biển lửa”. Loa oang oang thông báo “A lô, a lô, tối nay đội chiếu bóng số 2 sẽ phục vụ bà con bộ phim đặc sắc về chiến công bộ đội ta đánh sân bay Cát Bi, đốt cháy mấy chục máy bay của thực dân Pháp, mời bà con tới mua vé xem phim, a lô, a lô”. Vé giá 1 hào, ai tới sớm thì được ngồi gần màn ảnh, bệt xuống sân gạch. Không may cho đội chiếu, sẩm tối thì mưa to, đành phải hoãn sang tối hôm sau, chiếu tháo khoán, ai cũng vào được. Tôi còn nhớ, ông anh tôi và anh Tân con bác Ỷ thấy đội chiếu bóng bị hoãn thì khoái lắm, hai ông còn làm thơ tức cảnh, ông này đọc một câu trước, ông kia lại đọc tiếp một câu. Thơ rằng “Trời làm một trận mưa rào/Mấy thằng chiếu bóng xô vào dọn phim/Mưa trôi cả cây gỗ lim/Mấy thằng chiếu bóng dọn phim về chuồng”, đọc xong cười ha hả. Các ông ngâm đi ngâm lại mãi nên tôi cũng thuộc, thuộc tới bây giờ. Buồn cười nhất là câu thứ 3 của ông Tân. Thày tôi bảo thơ vớ thơ vẩn, mưa nào trôi được cả cây gỗ lim, gỗ lim ở đâu ra mà trôi. Anh Tân sau đi bộ đội, vào lính cao xạ, bị sức ép bom, về nhà một thời gian thì mất.

Lại nói về phim. Phim “Biển lửa” dựng trận đánh sân bay Cát Bi. Giờ đây hàng triệu người đến và đi ở sân bay này, chắc không mấy ai nghĩ rằng cái cảng hàng không quốc tế hoành tráng ấy từng là chiến trường dữ dội. Những người lính tinh nhuệ (thời chống Pháp chưa gọi là đặc công) đã đánh một trận ra trò, đốt máy bay Pháp cháy sáng rực trời. Trong phim có cả những hình ảnh quen thuộc như cầu Rào, mấy cái lô cốt trên đường 14 (con đường chạy từ nội thành đi Đồ Sơn hồi ấy là quốc lộ số 14), coi tới cảnh đó, tụi trẻ con reo vang trời. A, chúng mày ơi, Hải Phòng quê mình được lên phim.

Tôi cũng được nghe kể bộ đội "đặc công" đánh 2 sân bay Bạch Mai và Gia Lâm ở Hà Nội. Mãi sau mới biết, một trong những người chỉ huy trận đánh Bạch Mai và Gia Lâm lừng lẫy ấy là ông Hoàng Minh Chính. Kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông Chính không theo đường binh nghiệp mà chuyển qua nghiên cứu. Ông học triết học ở Liên Xô, bị “dính” vào cái gọi là chủ nghĩa xét lại. Ông từng làm Viện trưởng Viện Triết học, là người cương trực và bản lĩnh. Ông quyết liệt phản đối đường lối và chính sách cai trị độc tài của cái đảng mà ông từng phục vụ. Tù tây tù ta đủ cả. Chính quyền “ta” bắt ông mấy lần, giam cầm hết năm này năm khác cũng không khuất phục được ông. Nhớ hồi năm 73 - 74, đám sinh viên chúng tôi xì xào, hết sức ngưỡng mộ hai ông Tạ Đình Đề và Hoàng Minh Chính. Họ mở tòa xử ông Đề, khi ông được trắng án, dân hoan hô rầm trời, kín đặc góc phố Lý Thường Kiệt. Nhưng với ông Chính, họ coi là nguy hiểm hơn, xử kín và giam ông trong Hỏa Lò, sau đày tuốt tận cổng trời Đồng Văn (Hà Giang), nơi từng giam các ông Nguyễn Hữu Đang, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn. Tất nhiên, với một người từng bản lĩnh đặc công như ông Chính, nhà cầm quyền đã thất bại hoàn toàn.

Gần hai chục năm nay, tôi là hàng xóm của một ông đặc công. Ông là lính đoàn 10 đặc công rừng Sác. Chuyện ông kể về những ngày đánh giặc, lặn lội trong rừng, chống chọi với cá sấu, với rắn độc, với chất hóa học do máy bay Mỹ phun xuống, với những cuộc càn quét của quân Mỹ và quân Việt Nam cộng hòa bằng hobo (ca nô cao tốc)… nghe còn hay hơn đọc sử chiến tranh do nhà nước soạn. Ông buồn bã bảo, em ạ, anh còn sống mà ngồi đây thế này là cao số đấy. Cả đoàn 10 chết gần hết, cứ bổ sung một thời gian rồi lại ngót gần sạch, hy sinh có khi tới cả nghìn, tinh những người tài giỏi. Nhiều đồng đội không tìm thấy xác, bị vùi chìm ở khúc sông, con rạch nào, cũng chẳng biết nữa. Cứ nghĩ tới anh em lại ứa nước mắt.

Năm 1992, cả nước ồn ào vụ việc xảy ra ở làng Lạc Nhuế, tỉnh Hà Nam (Nam Hà cũ), khi người dân dưới sự dẫn dắt của một cựu binh đặc công là Trịnh Văn Khải đứng lên chống lại bộ máy cầm quyền tham nhũng bóc lột ở địa phương. Vừa mới có vài vụ phản đối ở tỉnh Thái Bình năm 1991, đảng phải loay hoay mãi mới dẹp được lửa Thái Bình nên nhà cai trị rất sợ cục than hồng Lạc Nhuế cháy lan ra cả nước. Tuy nhiên Hà Nam bị dẹp nhưng Thái Bình vài năm sau lại lan rộng ra mấy huyện, đích thân ông "bí thư thứ 2" Phạm Thế Duyệt phải về tận nơi phủ dụ, trấn an (điều này đã được Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học kể lại rất chi tiết trong báo cáo trình Thủ tướng Võ Văn Kiệt). Ở Lạc Nhuế, họ huy động cả tiểu đoàn quân đội, công an, cảnh sát cơ động vào trấn áp, vu cho ông Khải nhiều tội tày trời, vội vàng lôi ông ra xử, khép án tử hình, bắn ông. Một lính đặc công vào sinh ra tử không chết bởi tay kẻ thù mà bởi chính những viên đạn của người trước kia được anh ta đổ máu bảo vệ. Điều rất đáng tiếc là ông nhà văn Nguyễn Quang Thiều xớn xa xớn xác vội dựa vào nguồn tư liệu của... công an viết ra cái kịch bản phim "Chuyện làng Nhô" chiếu trên tivi, dù cũng nổi đình đám một thời nhưng bóp méo sự thật, chỉ làm cái loa cho nhà cầm quyền.

Những năm chiến tranh, ở miền Nam, nhất là đô thị, phe quân giải phóng có một lực lượng tinh nhuệ nhưng không gọi là đặc công mà là biệt động. Chuyện về biệt động, sau này để lịch sử phán xét. Suốt mấy chục năm sau 1975, báo chí, truyền thông, văn học, điện ảnh, sân khấu tung hô ca ngợi biệt động, nào đánh tòa đại sứ Mỹ, đánh nhà hàng Mỹ Cảnh, các khách sạn Caraven, Brink, Victory, rạp chiếu phim, khiến quân Mỹ thất điên bát đảo, thiệt hại chết không biết bao nhiêu mà kể. Về sau, nhất là những năm gần đây, dường như thấy có gì ngài ngại, “ca nhau thì lại bằng mười phụ nhau”, việc ca ngợi biệt động dần lắng xuống. Cũng phải thôi, quả mìn hay trái bom đánh vào khách sạn, nhà hàng, rạp chiếu phim… đâu phải nó có mắt chỉ tìm “quân xâm lược Mỹ” mà chừa dân thường, người vô tội ra. Thôi, tôi ngại, chả biên nữa, sắp tới “kỷ niệm 30 tháng 4” rồi.

Nguyễn Thông


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

Những cô dâu Việt giá sáu vạn tệ.


- Đi, đi với anh, lên Lào Cai chơi thăm nhà anh.
- Không đi đâu, em còn phải về học.
- Đi ba ngày thôi rồi về. Không về học nữa thì anh cưới em.
Đó là khung cảnh một buổi chiều thứ Bảy, tháng Mười năm 2016, tại bến xe khách thành phố Yên Bái.
Lù Thị Chang học lớp 9 một trường nội trú ở Yên Bái. Tan học sau buổi trưa, cô rủ người bạn Giàng Thị Dung ra quốc lộ bắt xe. Người bạn trai quen trên Facebook được một tháng hẹn gặp đi uống nước. Trước lúc rời phòng trọ, cô gái đứng ngắm mình trong gương, chọn bộ quần áo đẹp nhất, và thoa thêm một chút son màu hồng. Đây là lần đầu tiên cô gặp "người ấy".
Chuyến xe khách xuất phát từ Nghĩa Lộ, đưa các cô xuống thành phố Yên Bái. Trên xe, chuông điện thoại của Chang liên tục reo bởi cuộc gọi của bạn trai với câu hỏi "Em tới đâu rồi?".
Đón hai cô gái  là bạn trai quen qua mạng của Chang, tên Cư Seo Quang và "một anh già hơn", tên Thào Seo Chúng. Cô gái có chút thất vọng, khi người bạn ở ngoài đời thực "nhỏ con và không đẹp trai như ảnh gửi qua Facebook".
Mặc người bạn trai năn nỉ về nhà chơi, Chang vẫn lắc đầu từ chối. Chàng trai liền quay sang thuyết phục Dung. "Về nhà anh ấy chơi một hôm, rồi chiều mai mình bắt xe về trường", Dung lên tiếng.
Nhận được cái gật đầu từ bạn gái, Cư Seo Quang không giấu nổi nụ cười, quay sang hỏi Thào Seo Chúng "3h chiều rồi, có xe khách về Lào Cai không?". "Bắt taxi đi cho nhanh", Chúng nói.
Chiếc taxi dừng ở thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng khi trời đã nhập nhoạng tối.
"Đói rồi. Mình đi ăn gì đi", Chang rủ. Cô không biết mình đang ở đâu. Ngửi mùi phở từ bên đường, Chang thấy đói bụng. Cô biết trời đã tối. Đầu đông, quốc lộ không có bóng người.
"Về nhà anh rồi ăn. Cả nhà đang đợi cơm, một đoạn nữa rồi đến", Cư Seo Quang trấn an.
Họ đổi một chiếc taxi khác. Xe tới nửa đường thì dừng lại. Bên vệ đường, hai chiếc xe máy đã đợi sẵn. Trên xe là Cư Seo Đồng - em trai Quang và Sùng Seo Vảng. Mỗi chiếc xe kẹp ba người, cô gái ngồi giữa, theo hướng Quốc lộ 70 tiến về biên giới Việt-Trung.
Mỗi lần thấy xe ngược chiều chạy xẹt qua, Chang đều hỏi "Gần đến nhà anh chưa?". "Sắp rồi", Quang ậm ừ, mắt dán vào màn hình điện thoại cầm trên tay.
Trong tiếng gió thổi vù vù bên tai, cô gái chỉ nghe loáng thoáng một cuộc gọi: "Sắp đến rồi, ra đón đi". Hai chiếc xe máy rẽ vào đoạn đường đất. Xung quanh không có nhà cửa, không ánh điện. Từ ánh sáng của đèn pha, cô chỉ nhận ra hai bên đường trồng rất nhiều chuối. Họ đến một khúc suối cạn, thì thấy một người đàn ông.
Chang lúc lội qua con suối vẫn nghĩ rằng mình sắp tới bản của người bạn trai. Chang không biết con suối ấy là đường phân thủy biên giới. Bên này là Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai. Bên kia là Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
"Lúc thấy chữ Trung Quốc, em biết mình bị bán rồi".
Lù Thị Chang và Giàng Thị Dung đã bị bán cho một người đàn ông Trung Quốc tên Lình, với giá 38.000 NDT. Số tiền được chia đều cho bốn tên Quang, Đồng, Chúng và Vảng. Mỗi tên cầm 9.500 NDT, tương đương 33 triệu đồng. Từ tay Lình, hai cô gái bị bán đi hai nơi, cho đến khi trở thành vợ của những người đàn ông Trung Quốc.
Theo thống kê của Bộ Công an, trung bình một năm ở Việt Nam có 400 vụ buôn bán người. "70% vụ buôn bán người từ Việt Nam sang Trung Quốc". Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an nhận định có ba điểm trung chuyển của các đường dây buôn bán phụ nữ: Lạng Sơn; Quảng Ninh và Lào Cai.
Điểm cuối của các tuyến vận chuyển đều là Trung Quốc - nơi có hơn 30 triệu đàn ông đang "đói vợ" sau hơn ba thập niên thực thi chính sách một con.
Chương 1.
Năm 17 tuổi, Miên lấy chồng. Đám cưới diễn ra hai ngày, tại một nhà hàng ở Bắc Kinh. Khi quan khách chắp tay nói cung hỷ, cô dâu trong bộ váy cưới màu trắng, nước mắt đầm đìa đứng cạnh chú rể. Chồng Miên 28 tuổi. Anh ta làm nghề gì, Miên không biết. Anh ta tên gì, Miên không nhớ.
Lễ cưới của Miên không có người thân bên cạnh. Cô không được mặc váy hoa thêu tay. Nhà trai không làm lễ dạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới theo phong tục của người Mông ở Bắc Hà quê Miên.
Người yêu Miên đã bán cô sang Trung Quốc, vào đúng ngày cô gái tròn 17 tuổi.
"Mình đi chợ đêm Mường Khương, xong qua nhà chú ở Na Lốc lấy ít đồ, rồi về nhà anh", Ao nói với Miên sau buổi sinh nhật được tổ chức ở phòng trọ. Hôm ấy là ngày 4 tháng 5 năm 2017.
Khi đặt chân đến đoạn suối Pạc Chì chảy qua thôn Na Lốc, nhìn thấy cánh rừng cao su, cô vội quay đầu. Nhưng dao đã kề ngay bên cổ. Hai đồng phạm của Ao xuất hiện, gằn giọng: "Mày đi theo, hoặc là chết".
Miên ngoái lại cầu cứu người yêu. Nhưng Ao chỉ đứng nhìn bạn kẹp dao vào cổ cô dẫn đi. Phía bên kia, là ba người đàn ông Trung Quốc chờ sẵn.
Con đường dẫn Miên qua biên giới, cũng là đoạn suối mà Lù Thị Chang đã lội qua.
Cảnh sát Trung Quốc cho rằng nguyên nhân dẫn đến ngành buôn cô dâu Việt ở Trung Quốc là "nhu cầu thị trường quá lớn".
Chồng của Miên sinh năm 1989. Người đàn ông này sinh ra đã mang định mệnh của một thanh niên khát vợ. Năm 1989, cả nước Trung Quốc có 8,7 triệu ca triệt sản; 10,6 triệu ca phá thai. Những con số được thống kê chi li: nó theo dõi một chính sách quan trọng. Năm đó, ở Hồ Nam, người ta thậm chí phải tống một cán bộ dân số vào tù, khi người này ép một phụ nữ phải bỏ thai.
Hơn ba mươi năm thực hiện Chính sách một con, cộng với tâm lý cần con trai để nối dõi tông đường, đã tạo ra một xã hội mất cân bằng giới. Mâu thuẫn xã hội được bù đắp bởi quan hệ kinh tế: phụ nữ trở nên đắt giá trên khía cạnh hiện kim. Ngay cả ở các vùng nông thôn Trung Quốc, số tiền để cưới một cô dâu bản địa có thể tiêu tốn hàng trăm nghìn tệ.
Một bộ phận tổ chức nhập khẩu cô dâu. Một số bằng các đường dây môi giới hợp pháp, xem mặt và tổ chức cưới tự nguyện. Một số tìm đến bọn tội phạm buôn người: các cô gái Việt Nam bị bán làm tù nhân và được gọi tên là "cô dâu".
Đoạn biên giới gần 20 cây số, chạy dọc theo sông Nậm Thi, từ tổ 9 phường Duyên Hải, TP Lào Cai đến thôn Na Lốc, xã Bản Lầu được xác định là nơi tội phạm thường đưa người qua biên giới.
Qua dòng Nậm Thi - biên giới tự nhiên giữa hai nước ở khu vực cửa khẩu quốc tế Lào Cai - khoảng 10 cây số, sẽ gặp suối Pạc Chì - cái tên có nghĩa là "suối biên giới". Càng ngược về hướng Mường Khương, con suối càng thu mình lại. Đến địa phận các thôn Na Lốc, xã Bản Lầu, Pạc Chì biến thành một con mương nhỏ trong mùa nước cạn. Trên dòng suối ấy, người ta có thể bắc một chiếc cầu bằng ván, bước ba nhịp là sang bên kia biên giới.
Trên cung đường vắng nhà cửa, chỉ có những quả đồi trồng chuối, trồng dứa nối tiếp nhau. Một chiếc xe lạ lạc vào đây chẳng ai để ý. Bản làng nằm sâu trong thung lũng, xa đường biên chục cây số. Bên kia biên giới là nông trường cao su Mã Hoàng Pao, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
"Vị trí địa lý, địa hình đã biến Lào Cai thành địa bàn trực tiếp, vừa là điểm trung chuyển của các đường dây buôn người từ các tỉnh lân cận sang Trung Quốc", thiếu tá Phạm Văn Năm, Phó phòng cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Lào Cai nhận định.
Khu vực nơi các đối tượng buôn bán phụ nữ đưa "hàng" qua biên giới.
Đường đi và phương thức vận hành của những đường dây buôn người xuyên biên giới này được hé lộ thông qua một chuyên án mà công an Trung Quốc thực hiện năm 2017.
Cuối năm 2016, cảnh sát Côn Minh bắt đầu chú ý đến hành trình của một người đàn ông họ Diệp, khi anh ta thường xuyên đi về giữa Chiết Giang và Vân Nam. Sau khi rời ga tàu Côn Minh - thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Diệp ngồi ôtô tới Văn Sơn - châu tự trị giáp với tỉnh Lào Cai của Việt Nam. Từ Chiết Giang tới Côn Minh, Diệp đi một mình. Nhưng từ Văn Sơn quay về ga tàu Côn Minh, Diệp thường đi cùng vài cô gái.
Khi cảnh sát thực hiện cuộc kiểm tra, những cô gái này không hiểu tiếng Trung Quốc. Thẻ căn cước dùng mua vé tàu đều là giả. Họ đến từ Việt Nam.
Trịnh Quân Di, Đội trưởng Cảnh sát hình sự thuộc Sở công an đường sắt Côn Minh phân tích trên tờ Tin tức Bắc Kinh: trong đường dây có sự cấu kết chặt của người trong và ngoài nước. Việc lựa chọn đối tượng và lừa sang Trung Quốc do người Việt Nam đảm nhiệm. Người sống ở biên giới hai nước, thông thuộc địa hình, giao tiếp được tiếng Việt, lo liệu đưa nạn nhân nhập cảnh Trung Quốc, đợi người mua liên hệ. Tiếp đó, người Trung Quốc lo phân phối nạn nhân tới các vùng.
"Gần như mỗi tỉnh ở Trung Quốc đều có các đại lý phân phối nạn nhân buôn người như vậy", đại diện công an Côn Minh khẳng định.
Sau khi bị cưỡng ép sang Trung Quốc, các cô gái thường bị giam tại một ngôi nhà sát biên giới. Ảnh, thông tin của các cô sẽ được gửi tới môi giới ở các tỉnh qua WeChat. Môi giới liên hệ khách hàng. Nếu ưng ý, khách tới Vân Nam "kiểm tra hàng". Giao dịch này luôn dùng tiền mặt. Giá một cô dâu Việt thường từ 60.000 tới 70.000 NDT, có trường hợp 80.000 đến 90.000 NDT, tức hơn 300 triệu đồng. Trả tiền xong, khách có thể đưa "hàng" lên tàu hỏa từ Côn Minh về nhà.
Đầu năm 2018, đường dây này bị triệt phá. Cảnh sát bắt giữ 78 nghi phạm, cứu 33 nạn nhân, trao trả cho công an Việt Nam. Các cô gái đều ở tuổi từ 13 tới ngoài 20.
Con đường đưa phụ nữ từ Lào Cai sang các tỉnh Trung Quốc.
Trong các hồ sơ mua bán người của công an Việt Nam, các "đại lý cấp một" ở biên giới thường xuất hiện với thông tin người đàn ông tên Lình, tên Sử hoặc người phụ nữ lạ mặt. Họ là người Trung Quốc, hoặc người Việt Nam sang làm ăn, sinh sống lâu năm ở biên giới. Những cuộc móc ngoặc với bên này chỉ bằng câu nói "về Việt Nam tìm phụ nữ bán" và cho số điện thoại để liên lạc.
Bên này Việt Nam, các trai bản đóng vai trò như những người giao hàng, chuyên tìm kiếm nguồn hàng là những cô gái mới quen biết, người yêu, bạn học... cho các đại lý bên kia biên giới. Mỗi cô gái bị đưa đi, mắt xích này nhận từ 10.000 đến 15.000 NDT, khoảng 30 đến 40 triệu đồng.
Cư Seo Quang là một người giao vận điển hình trong các đường dây này. Quang vào nghề từ năm 16 tuổi, trong một lần được Sùng Seo Vảng rủ rê. Khi biết người bên Trung Quốc có nhu cầu mua phụ nữ, Quang đã chủ động móc nối để "chào hàng". Nạn nhân của Quang là bạn gái, bạn học, người quen trên mạng xã hội.
Thủ đoạn của tên này là làm quen với các cô gái qua mạng xã hội, hẹn gặp, rủ về nhà ở Lào Cai chơi. Trên đường đi, Quang liên lạc với đồng bọn thông báo, rồi chở nạn nhân đến thẳng suối Pạc Chì để bán.
"Nó học cùng cấp hai với em, nên em chẳng nghi ngờ gì", Lư Thị Đòa, bạn học cùng trường đã bị Cư Seo Quang bán với giá 8.000 NDT, bằng một tin nhắn rủ đi sinh nhật.
Còn tiếp...
Theo VNExpress


Phần nhận xét hiển thị trên trang