Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

Nguyễn Văn Vĩnh 'cậu bé chăn bò' thành học giả lừng lẫy


BM

Do gia cảnh nghèo khó, thuở nhỏ Nguyễn Văn Vĩnh đã phải chăn bò thuê. Rồi sau đó, để đỡ đần cho gia đình, ông nhận làm công việc kéo quạt thuê tại trường Hậu bổ (Thông ngôn) của Pháp, mở ở Đình Yên Phụ (Đình An Trí)… Từ đây cuộc đời ông bước vào một hành trình đầy thăng hoa mà cũng nhiều phần ai oán.

Bước ngoặt cuộc đời của 'cậu bé chăn bò'

BM
  
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15/6/1882), tại làng Phượng Vũ, Phượng Dực, Thường Tín, Hà Đông (nay là Phú Xuyên, Hà Nội). Cha là ông Nguyễn Văn Trực, bỏ quê ra Hà Nội mưu sinh và ở nhờ gia đình ông nghè Phạm Huy Hổ tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội.

BM  
Nguyễn Văn Vĩnh là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ quốc ngữ. 

Ông Nguyễn Lân Bình - cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, cho biết: "Theo các bác, các chú và cha tôi kể lại, ông nội tôi là người tầm thước, nhưng dáng bệ vệ.

Thời đó mà cụ đã thích mặc áo sơ mi, quần “short”, cưỡi xe mô tô, giao du với các giới trong thiên hạ. Ngày ấy, Nguyễn Văn Vĩnh có câu nói nổi tiếng: “Làm một nhà báo, phải biết đi mô tô”.

Đặc biệt, Nguyễn Văn Vĩnh có giọng nói to, vang, hay cười. Ông thích tổ tôm, săn bắn và có óc phiêu lưu.

Ông Lân Bình thuật lại những giai thoại được lưu truyền trong gia đình, rằng: “Gia cảnh ngày đó nghèo khó lắm, con thì đông, không có nghề mưu sinh, cụ bà thân sinh của Nguyễn Văn Vĩnh thường chỉ buôn hàng xén bán ngoài chợ Đồng Xuân, kiếm tiền nuôi gia đình.

Khi Nguyễn Văn Vĩnh mới 8 tuổi, tuy thấy con sáng dạ nhưng vì nghèo, nên không thể cho đi học, hai cụ xin cho Nguyễn Văn Vĩnh đi chăn bò thuê ngoài bãi Long Biên (sau này là khu vực chân cầu Long Biên) kiếm thêm chút ít. Những năm đó là năm 1889 - 1890.

BM
Hình minh họa

Trong những lần đi chăn bò, Nguyễn Văn Vĩnh thường thả bò theo triền đê Yên Phụ lên hướng Bắc, và chứng kiến có lớp học của người Pháp mở trong một ngôi đình. Ông nhiều lần mon men đến gần lớp học vì tò mò và thật sự bị cuốn hút. Ông về nhà thưa với thầy (cha), rằng muốn cha tìm và xin cho làm việc gì cũng được, ở trong ngôi trường này, để thay việc phải đi chăn bò.

Khi Nguyễn Văn Vĩnh bày tỏ nguyện vọng, cha ông đã trao đổi với ông nghè Phạm Huy Hổ nhờ những người có quan hệ, cuối cùng, xin được cho Nguyễn Văn Vĩnh chân ngồi kéo quạt mát cho lớp học, vì thời đó chưa có điện.

Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng với tư chất khác người, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nghe thầy giáo người Tây giảng bài, mặc nhiên thành sự học lỏm.

Cậu đã thuộc nhiều bài học sâu hơn cả các học viên là ông tú, ông cử của lớp. Với tính cách hiếu động, Nguyễn Văn Vĩnh đã nhiều lần, cứ theo bản năng, cậu nhắc các đàn anh khi ấp úng không trả lời được các bài tập của thầy giáo và bị đòn vì làm mất trật tự, ảnh hưởng đến cả lớp.

Vậy nhưng, bên cạnh những trận đòn, sự quát nạt và mắng mỏ của ông giáo Tây, cậu đã gieo vào lòng người thầy một sự ngạc nhiên, có cả một chút nể phục. Đặc biệt, ông giáo không thể không kinh ngạc khi thấy cậu nói và viết được tiếng Pháp khá thành thạo dù không được học chính thức.

Ông giáo Tây có tên là A. D’ Argence khi đó, thầm phục và có cả chút thử nhiệm, đã để Nguyễn Văn Vĩnh cùng dự thi tốt nghiệp khi lớp học mãn khóa (năm 1893). Đây chính là lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa sứ, cùng với 40 học sinh của khóa học, và kết quả ông đứng thứ 12.

Lúc này, mọi người mới biết rằng đây chính là trường Hậu bổ (Collège des Interprètes du Tonkin - sau khi học xong sẽ được bổ nhiệm làm thông ngôn - nv). Hôm nay, người ta vẫn thấy ngôi đình còn nguyên và nằm trong khuôn viên của Trường THCS Mạc Đĩnh Chi, sát hồ Trúc Bạch, Hà Nội ngày nay.

Năm đó, Nguyễn Văn Vĩnh mới tròn 10 tuổi, quá nhỏ để bổ nhiệm đi đâu được, nên nhà trường quyết định đặc cách cho ông học lại từ đầu của khóa học tiếp theo.

Nguyễn Văn Vĩnh về kể lại với cha, cha ông nói luôn rằng, làm gì có tiền mà học tiếp. Ông lại đưa ra “tối hậu thư”, một là tiếp tục kéo quạt, hai là lại quay về chăn bò!

Nguyễn Văn Vĩnh đành nghe lời cha, tiếp tục về chăn bò. Người thầy giáo Tây khá ngạc nhiên khi không thấy Nguyễn Văn Vĩnh đến trường, ông đã đến nhà tìm hiểu nguyên nhân vì sao.

Khi gặp gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, ông đã “ngã người” vì biết cậu trò nhỏ không được đi học vì do nhà quá nghèo, không có tiền! Thầy D'Argence đã khẳng định với bố mẹ của cậu bé rằng, cậu trò nhỏ sẽ được đi học mà gia đình không phải lo đóng tiền (ngày nay chúng ta hay gọi đó là học bổng - nv).

Nguyễn Văn Vĩnh đã chính thức được học chính khóa thông ngôn tòa sứ khóa 1893-1896 (ngoài thầy d'Argence còn có ông Đỗ Đức Toại - thủ khoa khóa 1890, cùng dạy). Kết thúc khóa học này, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa, lúc đó cậu mới 14 tuổi.

15 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm thông ngôn (phiên dịch - nv) tại Tòa sứ Lào Cai. Năm 1898, Nguyễn Văn Vĩnh khi đó 16 tuổi, được điều về Tòa sứ Hải Phòng, đúng lúc người Pháp đang mở mang việc kiến thiết bến cảng. 

BM
Ông Nguyễn Lân Bình - cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Do tính chất công việc nên Nguyễn Văn Vĩnh đã được giao tiếp hằng ngày với thủy thủ của các tàu Pháp, Anh, Hoa... Vì vậy, ông đã học thêm tiếng Trung và tiếng Anh để giúp cho công việc được thuận lợi.

Sau này, khi có cơ hội đọc lại những di cảo của Nguyễn Văn Vĩnh, người ta mới thấy việc học ngoại ngữ với ông là một khả năng thiên bẩm. Trong thiên phóng sự cuối cùng của cuộc đời làm báo (1936), Nguyễn Văn Vĩnh gửi từ miền Nam nước Lào về và đăng trên tờ báo L’Annam Nouveau - Nước Nam mới, có đầu đề “Một tháng với những người tìm vàng”, gồm 11 bài, ông đã tâm sự khi đến nước Lào, ông mất có 8 ngày để học tiếng Lào.

BM
trái: Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh

Cũng chính giai đoạn Nguyễn Văn Vĩnh làm việc ở Tòa sứ Hải Phòng, ông đã “tự tốt nghiệp phổ thông” nhờ việc mua lại từ một thuỷ thủ người Anh, bộ sách giáo khoa tiếng Pháp (Encyclopédie autodidactique quilet - Sách tự học chương trình phổ thông). Ngày đó, ông đã tâm sự với người thân rằng: “Tôi mua bộ sách hết 15 đồng, thế là mất toi nửa tháng lương”.

Ông Lân Bình giải thích: “Đây là số tiền rất lớn thời bấy giờ. Vì hơn 100 năm trước, nước ta vẫn còn tiêu bằng tiền chinh, xu, hào rồi mới đến đồng”...

Giai thoại suýt mất mạng vì bắt tay vua Khải Định

Trong nhiều giai thoại của gia đình kể lại, ông Bình nhớ một cách đầy đủ việc vì sao trong những người con của Nguyễn Văn Vĩnh, có người mang tên Nguyễn Kỳ (1918-2013).

Câu chuyện cũng đã được Phạm Huy Lục, nhân sĩ danh tiếng cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh và là người đại diện cho báo giới đọc điếu văn trong lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ghi lại và đưa cho gia đình. Chuyện là thế này:

BM
  
Năm 1916, vua Khải Định (1885-1925) lên ngôi. Theo thông lệ, nhà vua mới phải thực hiện nghi lễ (nay ta hiểu như sự trình diện) yết kiến vị quan người Pháp là Toàn quyền Đông Dương (vị trí cao nhất của Chính phủ Thuộc địa).

Chuyến vi hành của vua Khải Định được diễn ra năm 1917, đi từ Huế đến kinh thành Thăng Long. Trong các nghi lễ mang tính lễ tân được tổ chức tại Phủ Toàn quyền (nay là Dinh Chủ tịch) ở Hà Nội, ngài Toàn quyền Albert Pierre Sarraut (1872-1962) đứng trên khán đường sát bên cạnh là vua Khải Định, để đón các nhân vật đại diện cho các giới chức trong xã hội lần lượt đến chào xã giao vị vua mới của Triều đình Nhà Nguyễn. Nghi thức muôn đời của Triều đình Phong kiến dành cho mọi đối tượng khi tiếp xúc Đức Vua, chỉ được phép bái lạy (hai tay chắp trước ngực và cúi chào).

Nguyễn Văn Vĩnh dẫn đầu nhóm dân biểu Hà Nội (nay gọi là Hội đồng Nhân dân), khi đến trước ngài Toàn quyền (đứng tiếp là Đức Vua), vì đã từng biết nhau từ trước, quan Toàn quyền thấy Nguyễn Văn Vĩnh đến trước mặt, liền giơ tay ra bắt. Vua Khải Định thấy vậy, cũng giơ tay ra bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh. Vào thời khắc và bối cảnh đó, ông không thể lùi, và đành giơ tay bắt tay nhà vua.

Lập tức cả khán phòng ồ lên khi chứng kiến sự bất thường này của Nguyễn Văn Vĩnh. Các triều thần râm ran, rằng ông mắc tội khi quân, dám động vào long thể của Đức Vua.

Khi nhà vua nhận được bản tấu của các quan trong triều dâng lên, kết tội Nguyễn Văn Vĩnh xử trảm. Vua Khải Định nói: “Các ông lạ kỳ thật, chuyện có thế mà đòi chém người ta!”.

Đầu năm 1918, người vợ cả của Nguyễn Văn Vĩnh sinh thêm người con trai. Nguyễn Văn Vĩnh lại nói với vợ: “Đặt tên con là Kỳ, để nhớ mình bị chém hụt”.

BM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHẢN ỨNG ĐẦU TIÊN CỦA CHÍNH PHỦ VN VỀ VỤ ÔNG TRỊNH VĨNH BÌNH



Bộ Tư pháp lên tiếng về vụ 
ông Trịnh Vĩnh Bình kiện Chính phủ

VNE
 Thứ sáu, 12/4/2019, 19:04 (GMT+7) 

Thông tin về phán quyết vụ kiện đầu tư của ông Trịnh Vĩnh Bình với Chính phủ Việt Nam bị Bộ Tư pháp cho rằng "không chính xác".

Vì sao ông Trịnh Vĩnh Bình kiện Chính phủ đòi 1,25 tỷ USD?

Trong thông cáo phát chiều 12/4, Bộ Tư pháp cho hay ngày 10/4 Hội đồng Trọng tài được thành lập theo Quy tắc Trọng tài UNCITRAL đã ra phán quyết về vụ kiện đầu tư của ông Trịnh Vĩnh Bình với Chính phủ Việt Nam. Theo quy định tố tụng, các bên "có trách nhiệm giữ bí mật phán quyết".

Bộ Tư pháp khẳng định một số trang thông tin điện tử và mạng xã hội đưa thông tin về kết quả phán quyết là "phản ánh không chính xác nội dung cùng với những diễn giải, suy đoán chủ quan, gây hiểu nhầm".

Đảm bảo tối đa quyền lợi của Chính phủ Việt Nam, Bộ Tư pháp cho hay đang phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền cùng công ty luật đại diện để thực hiện các bước tiếp theo.

Trước đó, từ ngày 10/4, trên một số trang mạng đã đưa tin Hội đồng Trọng tài quốc tế ra phán quyết ông Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện và Chính phủ Việt Nam phải bồi thường số tiền lớn.
.
Ông Trịnh Vĩnh Bình bị Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát lệnh truy nã 
do không thi hành án.

Năm 1998, ông Bình bị tòa án sơ thẩm phạt 13 năm tù về hai tội: Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ đất đai và Đưa hối lộ. HĐXX huỷ toàn bộ các quyết định giao đất, hợp đồng mua bán đất trái phép và giao những bất động sản của ông Bình cho chính quyền địa phương quản lý...

Cơ quan tố tụng xác định, năm 1976 ông Trịnh Vĩnh Bình cùng một số người thân vượt biên sang Hà Lan. Từ năm 1981 đến tháng 8/1996, ông về nước 63 lần, mang theo tổng cộng hơn 2,3 triệu USD và gần 100 kg vàng. Thời điểm này pháp luật chưa cho phép Việt kiều mua bán, sở hữu, đứng tên nhà cửa, đất đai.

Năm 1992, ông Bình và một số nhân viên đưa hối lộ 510 triệu đồng hai cán bộ nhà nước để mẹ và các em vợ được nhận hơn 500 ha đất trồng rừng... Cuối năm 1996, ông Bình thu gom gần 2,5 triệu m2 đất, 11 căn nhà nằm rải rác từ TP HCM, dọc Quốc lộ 51, thành phố Vũng Tàu.

Tại phiên phúc thẩm sau đó, Toà Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP HCM tiếp tục khẳng định "hành vi mua bán đất đai trái phép của ông Bình không được coi là đầu tư". Bản án phúc thẩm giảm hình phạt với ông Bình xuống còn 11 năm tù.

Không thi hành bản án đã có hiệu lực, ông Bình về Hà Lan.
.
Ông Trịnh Vĩnh Bình (đứng đầu) trong phiên tòa phúc thẩm.

Năm 2003 với tư cách nhà đầu tư, ông Bình nhờ tổ hợp luật sư kiện Chính phủ Việt Nam đòi bồi thường thiệt hại. Căn cứ khởi kiện là các quy định của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết với Hà Lan vào năm 1994.

Năm 2006, ông Bình được Chính phủ Việt Nam miễn chấp hành hình phạt tù trước đó, cho về Việt Nam và xem xét giải quyết trả một số tài sản hợp pháp. Tuy nhiên, do sai phạm của một số cá nhân tại cơ quan thi hành án ảnh hưởng đến tài sản của ông Bình nên việc này chưa được thực hiện.

Tháng 1/2015, ông Bình đâm đơn kiện lần thứ hai, đòi bồi thường 1,25 tỷ USD.

Việt Dũng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đường Tăng viết sách


Nguyễn Trọng Huân


Đêm ấy ngủ lại cửa rừng kia, thầy trò nhà này chuyên ngủ rừng rú, mấy khi được ngủ trong nhà, Đường Tăng nghĩ vẩn vơ, liền thổ lộ trước các trò:
- Chúng mày ơi, bố định viết, in cuốn sách.
Ngộ Không vừa nghe, đã ôm bụng cười, nghĩ: cái lão thầy này, mặt nom vừa ngây đần, đầu óc lại đao đao. Giá như thắng lợn họ Chư, nó viết, tên là sách lợn, trong đó miêu tả nhảy được bao phát, cái hoa lợn nào ấn tượng, hay như nó, sách khỉ, từng ăn trộm bao trái đào, bao lần bỏ bộ hộp số ra gãi và bắt chấy dận...
Chợt nghe Đường Tăng hỏi Sa Tăng:
- Con nghĩ thế nào?
Sa Tăng choảng luôn, vì nó chuyên phải gánh hành lý:
- Bát đĩa, quần áo tôi đã è cổ rồi, thêm cái của nợ của nhà ông...
Ngộ Không chơi đểu ngay:
- Này này chú Sa Tăng, của nợ của thầy, bao con yêu tinh nó ước ao, nựng, nứng đó.
Tự dưng Đường Tăng cảm thấy, cái của nợ của mình, hình như bị đứa nào nựng thì phải, liền thò ngay tay xuống. Hóa ra con yêu râu xanh Linh đang nựng, đâm ra thầy nứng.
Ha ha, hết hồi 1.011.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÔNG LÝ ĐÒI HỎI SỰ VĂN MINH



 
Câu chuyện Việt Nam thua kiện một người, tổ chức nước ngoài không phải là vấn đề mới hay sự vụ đơn lẻ. Trong vụ án trước đây VNA cũng coi khinh các trát toà từ Ý gửi sang triệu tập tham gia phiên toà từ nguyên đơn là một luật sư người Ý do VNA bội tín trong làm ăn. Sau này VNA phải thi hành án với mức khoảng 8 triệu USD vì toà ở Ý yêu cầu thi hành án bằng cách phong toả tài sản và tài khoản của VNA tại Pháp. Vậy là luật pháp quốc tế không thể đùa giỡn và càng không thể nằm dưới sự chỉ đạo của đảng hay chính quyền.

Khi đã bước chân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, tòa án và công lý hoàn toàn được hiểu theo nội hàm và được đảm bảo theo đúng nghĩa đen của nó, hơn hết là nguyên tắc luật pháp là bình đẳng cho mọi chủ thể. Toà án quốc tế rất công minh, không có yếu tố chính trị hay bị kiểm soát bởi đảng phái nào. Họ chỉ tuân theo luật pháp và lẽ phải để thiết lập công lý.

Một Việt kiều người Hà Lan, bị bắt ạm giam và tịch thu tài sản rất lớn và may thay, ông này chạy thoát được trên đường ra trình diện tại Đại Sứ Quán thời đó. Và ông ta đã kiện chính phủ Việt Nam ra toà án quốc tế. Ngay lập tức chính phủ Việt Nam đã thoả thuận bồi thường và hoàn trả tài sản và đề nghị bảo mật trước truyền thông. Nhưng chính vì sau hơn một thập kỷ chính phủ Việt Nam không thực hiện cam kết như đã hứa, nên một lần nữa ông ta khởi kiện ra toà quốc tế để phân xử với mức đòi bồi thường là 1.2 tỷ USD.

Hôm qua, truyền thông quốc tế đưa tin, một phán quyết dài hơn 200 trang đã được tuyên và bất lợi hoàn toàn thuộc về phía chính quyền Việt Nam, với mức tiền phạt có thể lên tới hàng trăm triệu USD, trong đó phí luật sư của bên nguyên đơn (ông Trịnh Vĩnh Bình) mà bên bị đơn (Chính phủ Việt Nam) phải trả lên tới gần 10 triệu USD và án phí cũng tương đương với con số này.

Án phí luật sư nước ngoài là vô cùng đắt đỏ và toà án quốc tế cũng là một thiết chế tư pháp đảm bảo công lý thực sự của nó. Hơn thế là nó có sức mạnh thực thi trn bình diện quốc tế chứ không phải chỉ là một bản án tuyên xong rồi để đó như trong nội quốc của chúng ta. Bất cứ khi nào bên bị thua kiện mà có tài sản ở nước ngoài thì sẽ bị áp lệnh phong toả và thi hành án ngay lập tức. Như nhiều vụ tàu biển Việt Nam đã bị giữ khi chở hàng hoặc vận tải trên biển khi ra khỏi vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam.

Những sân chơi lớn và trên bình diện quốc tế, trước những quốc gia văn kinh và pháp trị hàng đầu thế giới, luật pháp là công cụ đầu tiên và cũng là phương tiện cuối cùng được sử dụng để bảo vệ quyền lợi cho bất kỳ chủ thể nào. Không phải là câu chuyện đảng lãnh đạo hay chỉ đạo cả nền tư pháp vào cuộc như ở xứ ta mà Hiến pháp còn ấn định cả điều tréo ngoe này ngay tại Điều 4 và trong mọi văn bản luật được ban hành cũng như trong việc thực thi.

Án phí một vụ kiện tụng và phí luật sư khẳng định giá trị của luật pháp, nền tư pháp và vị trí của công lý là như thế nào. Nếu không thể thay đổi tư duy, nhận thức và trình độ, ngay cả văn hoá hành xử vô nguyên tắc của mình, chính chúng ta sẽ là những kẻ thua thiệt đầu tiên, lâu dài với những cái giá là vô cùng lớn, không những vậy, chúng ta cũng bị đánh giá và đặt vào trong vòng cô lập, không thể thực hiện các giao kết hoặc hợp tác được với những quốc gia và khối, liên minh quốc tế mà họ trọng thị luật pháp hơn cả.

Những món nợ phát sinh do những sai lầm của chính phủ, tất thảy, nhân dân chính là người gánh lấy hậu quả và trách nhiệm phải trả, không ai khác thực hiện điều này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ DU TỬ LÊ:

Khúc Thứ Năm: Cõi Mẹ Về


em đâu biết, tôi có những giấc mơ
bay dọc lộ trình Hà Nam-Hà Nội 
cùng những chiếc ghe muối
những chiếc thuyền đinh
chở bương, chở nứa
chúng chở hồn tôi trôi dọc sông Đáy
và tấm lòng thủy chung của mẹ tôi
cũng không đáy. 
em đâu biết, tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
như có chuyến xe lửa vừa mới khởi hành
về Hà Đông
nơi mẹ tôi được sinh ra, lớn lên,
rồi theo chồng đi miết.
quê ngoại với tôi tới giờ vẫn còn là niềm bí mật
như những sợi tơ giăng khắp bầu trời
tôi từng vói, mà, chưa lần nắm được. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
thấy rõ mẹ về
đắp lại tôi, tấm chăn
vuốt lại tôi, mái tóc...
đã bao năm mất hút sau lưng,
mà, mẹ tôi vẫn không thể tin rằng mái tóc xanh của con bà đã bạc
những đường kẻ dọc, ngang vầng trán tối
đôi mắt nay đã mờ
(đôi mắt trong veo nhìn theo mẹ tôi những ngày họp chợ)
đôi mắt giờ xụp lở nắng, mưa. 
mẹ tôi hỏi sao tóc con lại trắng?
những sợi gân nào lấp ló dưới da nhăn?
tôi hỏi bà, lúc rày người có khỏe?
mẹ tôi cười.
quết trầu đỏ,
đôi làn môi cắn chỉ
bà vẫn buồn như thuở bố đi luôn. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
tuổi thơ mình vẫn còn ở đâu đó
con đường Trần Hưng Đạo
căn nhà số 1029
đôi hàng cây Sao
Saigòn, những chú Ba Tàu mặc quần sà-lỏn
vê chiếc áo thung cháo lòng lên cao
xì xồ khoe bụng mỡ. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
bay mềm con đường Trần Bình Trọng
nơi mỗi sớm mai tôi phải đi ngang
ngôi nhà thờ mang tên Huyện Sĩ
lối dẫn tới ngôi trường
có băng ghế dài
có bảng đen
có bài học vỡ lòng về tình bạn
nhờ tình bạn này mà tôi biết yêu em! 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn nghe tiếng sóng biển
vỗ đâu đây!
Hải Phòng? Đồ Sơn? Vũng Tầu? Hà Tiên? Guam?
nơi tôi phơi mình trần trụi
trên một trong những doi cát
nơi người con gái tên Thư
học trường Tây, nói với tôi bằng tiếng Pháp
rằng tôi là tình yêu thứ nhất của nàng,
lúc hai đứa ôm nhau trong bụi rậm.
Thư rất buồn khi hỏi mẹ tôi đâu?
em đâu biết tôi có những giấc mơ
buổi sáng, Camp Pendleton, xếp hàng, đợi bữa
nơi có rất nhiều chuyến xe buýt miễn phí
nối liền Processing Center với Trại Một
người con gái ốm o ngồi cùng băng ghế 
hỏi có phải tôi là người mới tới, vài hôm
và, nàng muốn được nghe từ tôi, một bài thơ cũ
nàng đọc:
“mừng em sinh nhật mới này
“nến đau đớn thắp lên đầy cuộc vui.” 
tiếng động cơ, tiếng gió, tiếng chim gõ kiến
tiếng cười, tiếng khóc
tiếng loa phóng thanh nhắn tin tìm thân nhân
và, hơi thở gấp gáp trong lồng ngực nhấp nhô mới nhú
của người con gái
tan trên miệng vực sâu. 
tôi đưa nàng xuống đáy thung lũng
chỗ an nghỉ của những cành sồi bị gió, sương đánh gẫy
nàng đọc lõm bõm những câu thơ còn sót lại của bài 
“sinh nhật, 12”
tôi hỏi, mới bây nhiêu mà sao đã lần về nát tan sớm vậy?
nàng mỉm cười
(nụ cười tựa vết nứt của một trái cây non)
nàng bảo tuổi thơ nàng thế đó! 
lúc ngang qua khu nhà ăn
tôi thấy người yêu tôi đang xếp hàng
nàng mỏng tanh như một chiếc lá thuộc bài bị ép
sau này, tôi mới hay
đó là lúc nàng đã mang thai, hơn tháng...
người con gái tên Thảo không biết có còn ở San Jose?
riêng người yêu của tôi, bây giờ
đã có chồng và, đang nuôi hai đứa con của tôi rất mực tử tế. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
lập lại hoài, như cuộn băng nhão
những tiếng rè, đứt quãng
như con đường Ranchero Way cụt ngủn
xe chẳng cần quay đầu.
như ngôi nhà có mảnh vườn bát ngát
bao lần mẹ tôi ngã ngồi dưới gốc cây chanh
bà ưa hỏi: 
“chanh đâu mà lắm thế?
“hãy coi chừng kẻ trộm nghe con!”
như người con gái mắt mưa
tóc dài gió bão
đã bỏ đi
cho lời nguyền ở lại. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
bùn lầy khu chợ Cầu Ông Lãnh
mùi cá ươn. Mùi bùn. Mùi rác
mùi thoi thóp từ những xác thân đợi chết 
mùi mồ hôi. Mùi nước mắt vô tri
mùi áo len người con gái có khuôn mặt giống hình ảnh Đức Mẹ
nàng sống huyễn hoặc nhờ những trang thư
hơn đời thật.
đoạn đường có quán cà phê mở khuya.
nghe nói hồi mồ ma Lê Văn Trương
ông đặt tên là Quán Biên Thùy. 
chiếc quán tôi ngôi gần hềt thời mới lớn
với những người bạn
(nhiều đứa chết lúc còn rất trẻ
như Hoài Lữ, như Hoàng Đình Tập...)
nơi tôi trở lại
lúc tóc bạc tơi
cùng giọt lệ muộn của người con gái hiện thân Quán Thế Âm
ở đó, tôi nhớ mùi con đường Westminster
chạy dài tới biển
mùi tóc đẫm nhà thương. Lãm;
mùi những ngón tay run trên nền ngực trắng.
mùi nước mắt của người đàn bà
(mà tôi thích gọi bằng Hựu)
mùi hàng găng ngày xưa
mùi tóc ngắn.
mùi tiệm phở tôi thường ngồi với bạn mỗi sớm mai
và tiệm mì, cũng không xa lắm. 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
đầy chim. Về núi.
khu rừng phong. Dăm tờ thư cũ
không ai còn hỏi nữa: Tôi đâu?!
mọi người đều bận việc
chẳng ai đủ rỗi
để hỏi mình là ai?
ở chốn nào trên mặt đất đang khô?
và, đời ta cớ sao lại mau tối vậy? 
em đâu biết tôi có những giấc mơ
tỉnh dạy còn nhớ tới ngày chết trong bệnh viện
mẹ tôi chưa từng ăn một cọng bún
một tô phở, một tô bánh canh
một hột vịt lộn
một miếng cá chiên!
dù bây giờ mỗi ngày tôi vẫn ăn
như mùa xuân vẫn tới
như con đường Garden Grove
đương nhiên cắt ngang Magnolia
cắt ngang Brookhurst... 
nhưng em ạ, mọi điều nay đã đổi 
bởi vì em, như mẹ, đã không còn.
(14-Nov-1990.)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - Thi Sĩ Du Tử Lê: Vườn thơ của một người thơ

Khi mùa hạ California nở bung cơn gió, nhè nhẹ lay những vòm hoa phượng tím thẫm đang nhuộm đẫm cả vùng trời, cô bạn Jenny Nguyễn lái xe chở tôi đến thăm nhà thơ Du Tử Lê tại tư gia của ông ở thành phố Garden Grove. Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du, bài hát phổ thơ Du Tử Lê, đang ngân lên qua giọng ca ngọt ngào đến thắt lòng của ca sĩ Tuấn Ngọc: ‘Hãy nói về cuộc đời/ Tình yêu như lưỡi dao/Tình yêu như mũi nhọn/Êm ái và ngọt ngào/Cắt đứt cuộc tình đầu/Thụy bây giờ về đâu?’
1_ảnh Jenny Nguyễn (1)
Tác giả Nguyễn Phan Quế Mai và nhà thơ Du Tử Lê (Hình: Jenny Nguyễn)

Khúc Thụy Du – tuyển thơ Du Tử Lê vừa được tủ sách Tinh hoa Sài Gòn do Phanbook tổ chức phát hành tại Việt Nam cũng chính là lý do tôi được đến thăm nhà thơ Du Tử Lê tại tư gia, nơi chỉ có những bạn bè thân thiết nhất của người thi sĩ đa tài này mới được dịp lui tới. Trước đó, khi Jenny và tôi hẹn gặp ông ở một nhà hàng trên phố, để rồi chúng tôi được ông thết đãi món hủ tiếu đầy hương vị quê nhà bằng nhuận bút tuyển thơ Khúc Thụy Du, tôi đã năn nỉ được mua tuyển thơ này với chữ ký của ông. Vì không đem theo quyển sách nào, ông vui vẻ bảo chúng tôi ghé qua nhà ông lấy sách.

KhucThuyDu - VN
Khi những âm hưởng thơ Du Tử Lê vẫn còn vang trong tâm trí, xe đưa tôi tiến vào một con phố thanh bình, hai bên đường là những căn nhà nằm nguy nga giữa những khu vườn thênh thang cỏ, nơi những hàng hoa phượng trổ lên bầu trời xanh ngát những chùm hoa tím miên man. Rồi xe dừng lại trước khuôn viên rộng rãi của một ngôi nhà yên bình, lặng lẽ giữa con phố thưa người. Một nốt nhạc giữa thiên nhiên bao la và khoáng đạt. Một ngôi nhà nhìn bề ngoài rất Tây, rất Mỹ.
Nhưng cảm giác ban đầu về ngôi nhà ‘rất Mỹ’ ấy hoàn toàn sai khi tôi bước chân vào ngôi nhà ấy – tổ ấm của thi sĩ Du Tử Lê, nơi ông đã sáng tác nhiều tác phẩm trong gia tài hàng nghìn bài thơ, trong đó có hơn 300 bài đã được phổ nhạc. Đằng sau cánh cửa vững chãi vừa mở ra đón tôi và Jenny vẫn là dáng người dong dỏng gầy của thi sĩ 76 tuổi – người vừa trải qua cơn bạo bệnh. Nhưng bệnh tật và tuổi tác không hề hiện lên trên khuôn mặt sáng ngời, rạng rỡ nụ cười nồng ấm của ông. Ông mời chúng tôi vào nhà bằng giọng trầm quen thuộc, tiếng Việt thuần túy của ông cho tôi cảm giác chúng tôi đang gặp nhau ở quê cha đất tổ, chứ không phải ở Garden Grove – thành phố cách Sài Gòn hơn 13.000 km.
Chuyện trò với tôi và Jenny ở phòng khách, nhà thơ Du Tử Lê tiếp tục hỏi tôi rất nhiều câu hỏi về đời sống văn học trong nước. Đã định cư ở Mỹ 43 năm nay, nhưng quê hương vẫn hiện diện trong từng nhịp tim, hơi thở của ông. Những tủ sách bề thế và đồ sộ vây quanh chúng tôi minh chứng cho điều đó: trong hàng nhìn cuốn sách mà ông sưu tập cho công tác nghiên cứu và biên soạn, sách về Việt Nam và viết bằng tiếng Việt chiếm đại đa số. Tôi lướt mắt qua hàng trăm tác phẩm văn học nghệ thuật quý hiếm, rồi dừng lại trước hai quyển dày cộp, gáy đã sờn: Tục ngữ ca dao Việt Nam và Cây cỏ vị thuốc ở Việt Nam. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao các tác phẩm thơ Du Tử Lê lại rộng và sâu đến vậy: chúng đã băng qua bao chân trời góc biển cùng ông, để rồi nảy nở sinh sôi giữa biển kiến thức mang tầm quốc tế nhưng vẫn mang theo hồn vía và tinh thần của người Việt.
Quê hương theo chân nhà thơ Du Tử Lê không chỉ trong sách vở: quê hương hiện diện mọi nơi tại tổ ấm của ông. Khi ông dẫn tôi và Jenny đi thăm nhà, tôi dừng lại trước bức tường rộng lớn cạnh phòng khách, nơi đó những thủ bút của bạn bè thân quý của ông đã được đóng khung và treo trịnh trọng. Tôi không khỏi rưng rưng khi đọc những bài thơ viết tay của các nhà thơ Hoàng Cầm, Mai Thảo, Huy Cận... cùng những dòng chữ ghi trên gỗ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, họa sĩ Lê Thiết Cương... Dường như bút tích của những văn nghệ sĩ Việt Nam – những người đã ra đi mãi mãi hoặc đang sống ở bên kia đại dương – chính là những tác phẩm nghệ thuật mà nhà thơ Du Tử Lê nâng niu nhất.

NhaSan_04-content
Những người am hiểu về thơ Du Tử Lê hẳn cũng biết rằng ông còn là một họa sĩ tài hoa, với các tác phẩm được nhiều nhà sưu tập săn lùng. Được tận mắt chiêm ngưỡng những bức tranh do ông sáng tác được bày trí trong nhà, tôi dừng lại hồi lâu trước những nét vẽ phóng khoáng, mới mẻ và đầy sinh lực. Không chỉ trẻ trung trong thi ca, nhà thơ Du Tử Lê dường như là một họa sĩ không có tuổi trong hội họa. Những tác phẩm mà ông vẽ để tặng vợ mình - bà Hạnh Tuyền – nói lên điều ấy. Đó là những bức tranh mê hoặc của tình yêu, được vẽ lên cùng với những câu thơ ghi nắn nót ở góc tranh: ‘nhan sắc nàng duy nhất một ngôi thôi!’, ‘tươi tốt nào hơn em khỏa thân’...
Không chỉ bày tỏ tình yêu bằng hội họa, thi sĩ Du Tử Lê cũng không ngại ngùng ‘tỏ tình’ với vợ qua thi ca. Chiếc đèn trên bàn ăn của hai vợ chồng ông là một trong những tác phẩm nghệ thuật độc đáo nhất mà tôi từng thấy. Chiếc đèn ấy được kết bằng những tấm gỗ, mỗi tấm mang trên mình những câu thơ do chính ông viết bằng tay: ‘Vì em tôi biến thành sơn tự/mái đỏ, tường rêu, hoa hổ ngươi/tình tôi là thảm xin em bước/rất khẽ mà nghe đất nhớ trời’, hay ‘Khi em đọc tôi biến thành chữ viết/cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta.’
ThuPhong

Thi ca lan tỏa không chỉ trong từng ngóc ngách của căn nhà ông ở, mà nở tung ở khu vườn xanh mát, nơi gần trăm gốc lan vươn những búp xanh mơn mởn, dưới bóng mát của giàn chanh leo. Ngồi đó cạnh ông, dưới những cây hoa lan rung rinh tỏa sắc xuống bể nước – nơi những chú cá vàng tung tăng và an nhàn bơi lội, tôi hiểu nhà thơ Du Tử Lê không chỉ yêu con người mà còn mê đắm thiên nhiên, vạn vật. Khu vườn của ông, ngoài cây cỏ của Việt Nam, có cả những chiếc tổ chim bằng rơm mà ông đã kỳ công mang từ quê nhà sang.
Không lạ khi khu vườn này cũng là nơi ông gieo trồng và gặt hái thi ca, cũng như tung tẩy với những nét họa. Dù mưa hay nắng, đêm hay ngày, ông cũng có thể ngồi đây, với cỏ cây hoa lá, với những tổ chim, với tiếng róc rách của nước chảy và với tiếng quẫy của những chú cá vàng. Dường như thời gian quay chậm lại ở nơi đây, cạnh những bức vẽ đang dang dở của ông và bức tường gỗ cạnh giá vẽ nơi ông đã nắn nót câu thơ: ‘Làm sao em biết khi xa bạn/tôi cũng như chiều tôi mồ côi.’

LamSaoEm
Nhà thơ Du Tử Lê tự hào nói với tôi rằng, sự bài trí quan trọng nhất trong nhà và trong vườn đều do bàn tay đảm đang và sáng tạo của vợ ông: người đã sắp xếp kệ sách cho ông, đóng khung và treo thủ bút của bạn bè ông, bố trí vườn hoa cây cảnh, bài trí những bài thơ trên những thớ gỗ... Không chỉ là một người có tâm hồn nghệ sĩ, bàHạnh Tuyền đã tạo ra những tác phẩm đầy nghệ thuật trong ngôi nhà của họ bằng chính tình yêu và sự thấu hiểu dành cho chồng mình.

SachDTL
Thành công trong sự nghiệp, hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, không cần bươn chải lo toan về tài chính, tưởng như nhà thơ Du Tử Lê đang có tất cả. Nhưng không. Khi trò chuyện, tôi nhìn thấy trong đôi mắt ông một nỗi đau đáu nhớ quê hương. Ông tâm sự rằng, nỗi nhớ đó luôn bùng lên trong dịp Tết, nhất là khi màn đêm buông xuống. Đặt chân sang Hoa Kỳ vào năm 1975, ông đã trải qua những cái Tết đầu tiên đầy khó khăn. Ông đã khắc khoải nhớ những món ăn truyền thống của ngày Tết: bánh chưng, bánh dầy, giò, chả, gà luộc, thịt luộc, canh bóng su hào… thậm chí chè kho… Và ông đã thèm được hít hà mùi hương ngào ngạt của các nén nhang tỏa khói trên bàn thờ tổ tiên.
Những cái Tết gần đây của ông bớt đi sự trống trải nhờ bàn tay đảm đang của vợ ông. Tết cũng rộn rã hơn nhờ những nỗ lực của cộng đồng người Việt ở California nơi ông sinh sống. Ở đây, người ta hiện có thể mua được bất cứ thứ hàng hóa hay món ăn nào để phục vụ nhu cầu ăn uống vào dịp Tết. Hoa Tết cũng được bán khá đầy đủ và cũng có cả những hội chợ Tết nhộn nhịp trò chơi dân gian. Theo lời ông nói: ‘Có thiếu chăng là “không khí Tết” của truyền thống dân tộc ta mà thôi’.
Tết là thời điểm đặc biệt của cuộc đời mỗi người, nơi đó ai cũng gói ghém và nâng niu cho mình những ký ức đẹp. Nhưng đối với nhà thơ Du Tử Lê, kỷ niệm Tết đáng nhớ nhất của ông, thật không may, là một kỷ niệm kinh hoàng. Gần 60 năm đã trôi qua nhưng ông vẫn còn nhớ rõ đêm mồng 3 Tết ở Kim Bảng, Hà Nam. Lúc đó ông còn rất nhỏ (độ chừng 7 tuổi) và vẫn còn ngủ chung với mẹ. Thình lình có người dồn dập đập cửa nhà. Mẹ ông hấp tấp tung chăn đi ra. Ông cũng chạy theo, để rồi chứng kiến hình ảnh mẹ ông ngã quỵ xuống sân nhà. Người tìm đến nhà ông vào đêm đó, thay vì quà Tết, đã đem theo tin dữ: anh cả của ông đã bị máy bay Pháp bắn chết ở Khu Tư (Thanh Hóa).
Sự kiện đêm mùng 3 Tết ấy luôn dai dẳng đeo bám, ám ảnh nhà thơ Du Tử Lê, để rồi nỗi buồn cũng lan tỏa vào thơ ông. Trong một bài phỏng vấn với nhà thơ Mai Thảo, ông đã nói: ‘Tôi không có Nguyên Đán dù trong văn chương hay đời thường sau cái chết của người anh cả, vào ngày mồng 3 Tết ở Khu Tư’.
Đi qua chiến tranh và bao biến động của cuộc đời, nhà thơ Du Tử Lê đã gieo trồng thi ca không chỉ với tình yêu dành cho quê hương mà còn trên khu vườn của buồn đau và nước mắt. Ông đã vắt kiệt mình, cần mẫn gạn lọc để dâng hiến cho đời những tinh hoa cảm xúc – những vần thơ dù buồn nhưng lóng lánh vẻ đẹp của tình yêu và tình nhân ái. Đọc những câu thơ tài hoa của ông như: ‘tóc người chảy suốt cơn mưa/ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về’, tôi cảm nhận rằng thơ của ông đã băng qua đau khổ để đến vươn tới bến bờ của niềm tin và sự bình an trong tâm tưởng.

hinh_gia_dinh_DTL_nam_1964-content-content
Trong khu vườn của ông, khi ngước nhìn lên những tán lá chanh leo rung rinh toả sắc xanh, tôi chợt nhớ những câu thơ Du Tử Lê viết về mẹ ông – người đã gánh trên đôi vai hai cuộc chiến tranh: ‘Ta đi trên đường gai/dù Chúa không hề rải/thương mẹ đã lưng đồi/còn nghe rừng hú mãi/người đi trên đường vui/bước chân mềm cứu chuộc;/tiếng cười ròn phía trước;/sau lưng ta, lá bày /ta ngồi mòn ghế cũ/nghe mưa trên ngọn cây’. Nhà thơ Du Tử Lê đã viết nhiều về Mẹ, trong đó đồ sộ nhất là trường khúc Mẹ Về Biển Đông, ở đó với 5 chương dài, ông đã kể những câu chuyện về tình mẫu tử 88 năm của mẹ mình khi bà vừa tất tả mưu sinh vừa che chở cho sinh mạng của con mình qua khắp nhiều địa danh của đất nước, từ Bắc vào Nam. Mẹ Về Biển Đông là khúc ca về sự vĩ đại không chỉ của mẹ ông và của tất cả những bà mẹ đã từng đi qua chiến tranh, bởi ở đó, người đau khổ nhất vẫn là Mẹ, dù người Mẹ ấy thuộc về dân tộc nào, ở đông hay tây.
Mẹ của nhà thơ Du Tử Lê đã quỵ xuống trước sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng tôi tin con trai bà – nhà thơ Du Tử Lê – đã nâng bà dậy bằng thi ca. Trong những năm tháng cuối đời, hai mẹ con ông đã được đoàn tụ ở Mỹ, nơi bà được tận hưởng sự thanh bình của tiểu bang California cho đến năm 1988, hưởng thọ 88 tuổi.
Bịn rịn chia tay nhà thơ Du Tử Lê, tôi xin chụp một tấm ảnh của ông trong khu vườn để giữ làm kỷ niệm. Ông ngồi đó, mỉm cười hiền hậu cạnh tượng Phật, bên bình gốm với nét chữ của ông: ‘Nơi đây, quê hương thu nhỏ của chúng tôi: Ochid Lâm Quỳnh, Nguyễn Bá Hân, Hạnh Tuyền, Du Tử Lê.’

HoCa
Khi Jenny lái xe đưa tôi về lại Los Angeles, tôi nâng quyển sách Khúc Thụy Du trên tay, những lời thơ Du Tử Lê ngân lên trên môi tôi – bằng tiếng Việt – tiếng của quê hương, tiếng của đất mẹ. Qua những câu thơ ấy, tôi chợt nếm được vị ngọt của hòa bình mà thế hệ của tôi may mắn được nắm giữ trong tay. Giờ đây, viết những dòng này, tôi hồi tưởng tới ngôi nhà yên ả của thi sĩ Du Tử Lê, tới dáng ông cúi xuống bàn viết, nắn nót ghi lời đề tặng cho tôi và Jenny trên quyển sách. Và tôi nhớ những câu thơ còn thơm mùi mực của ông được xuất bản trong Khúc Thụy Du: ‘nuôi người: trang sách thơm,/trái tim từng con chữ./vết răng gửi trên lưng,/sang sông cùng cổ tích.’
Trước khi đặt bút viết bài viết này, tôi đã biên thư xin phép và hỏi thăm sức khỏe của nhà thơ Du Tử Lê. Tôi cũng hỏi liệu ông muốn chia sẻ điều gì với độc giả ở Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2019. Trong thư trả lời, ông viết: “Quế Mai cho tôi gửi lời chúc an lành, may mắn tới tất cả quý độc giả. Hạnh phúc thay cho những ai được hưởng Nguyên Đán tại quê cha, đất tổ của mình.”


Đôi nét về nhà thơ Du Tử Lê: 

Sinh năm 1942 tại Hà Nam, thơ ca đã nảy mầm vào Du Tử Lê khi ông còn học tiểu học tại Hà Nội, rồi thi ca theo chân ông vào miền Nam. Năm 1973, tại Sài Gòn, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm: “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”. Thơ của ông đã được phổ nhạc bởi các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức, Nguyên Bích, Đăng Khánh, Anh Bằng, Phạm Duy, Hoàng Quốc Bảo, Từ Công Phụng... Hiện là tác giả của 73 quyển sách (thơ, văn xuôi, phê bình) đã được in ở Việt Nam và hải ngoại, nhà thơ Du Tử Lê có tác phẩm được đăng tải trên các nhật báo hàng đầu của Mỹ như Los Angeles Times và New York Times. Thơ của ông cũng được một số trường đại học ở Mỹ và châu Âu sử dụng trong chương trình giảng dạy từ năm 1990. Các tác phẩm được ra mắt ở Việt Nam gần đây của ông bao gồm: tùy bút Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời, trường khúc Mẹ về biển Đông (2017), tuyển thơ Khúc Thụy Du, tuyển thơ Trên ngọn tình sầu, truyện dài Với nhau một ngày nào, tuyển tập tuỳ bút Giữ Đời Cho Nhau (2018).

Phần nhận xét hiển thị trên trang