Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Việt Nam thua kiện Trịnh Vĩnh Bình tại Tòa án Quốc tế


BM
Triệu phú Trịnh Vĩnh Bình là một trong những Việt kiều đầu tiên trở về nước đầu tư sau khi Việt Nam mở cửa.

Tòa án Trọng tài Quốc tế vừa gửi thông báo thắng kiện cho ông Trịnh Vĩnh Bình, người đã theo đuổi vụ kiện xuyên thế kỷ đối với chính phủ Việt Nam. Theo đó, chính phủ Việt Nam buộc phải bồi thường cho triệu phú người Hà Lan gốc Việt tổng cộng 37.581.596 đôla thiệt hại và gần 7,9 triệu đôla án phí.

Đây được xem là một sự kiện chưa từng có đối với chính phủ Việt Nam khi phải bồi thường số tiền lớn như vậy cho một doanh nhân gốc Việt vì đã chiếm đoạt sai trái tài sản đầu tư của họ tại Việt Nam.

BM

Trong thông báo kèm theo phán quyết dài gần 200 trang gửi cho ông Trịnh Vĩnh Bình, Tòa án Quốc tế nói rằng bên bị đơn (chính phủ Việt Nam) đã vi phạm Điều khoản 3(1) về Đối xử Công bằng và Thỏa đáng, và Điều 6 về trưng thu trong Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Vương quốc Hà Lan và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam bồi thường cho ông Bình 27.518.596  đôla cho phần tài sản đã chiếm của ông, 10 triệu đôla cho "thiệt hại tinh thần", 786.672,71 đôla cho án phí ở Tòa án Quốc tế và 7.111.170,94 đôla cho chi phí pháp lý, luật sư.

  
Ngay sau khi nhận được thông báo thắng kiện từ Tòa án Quốc tế, triệu phú đã hơn 70 tuổi xúc động nói: “Qua hơn 20 năm tranh đấu để đòi lại công lý, tôi thấy con đường Tòa án Quốc tế là rất tốt. Họ rất công tâm. Họ xử trắng ra trắng, đen ra đen. Cho nên về mặt luật pháp, công lý thì vụ này là rất rõ ràng. Tòa án đã cho mình thấy là những gì mình trông đợi ở Tòa án để cảnh báo chính phủ Việt Nam về những việc làm sai trái của họ, những gì đang xảy ra hằng ngày ở Việt Nam và vẫn đang tiếp tục xảy ra, thì họ phải điều chỉnh lại”.

BM
  
Triệu phú gốc Việt nói rằng ông hy vọng vụ kiện của ông sẽ mở ra một con đường cho những người dân khác mất đất đai, tài sản tại Việt Nam muốn giành lại công lý.

“Đây có thể là một dấu hiệu cho chính phủ Việt Nam thấy rằng những ngày tới đây, họ không nên khinh xuất bắt bớ người vô tội hoặc để cho con ông cháu cha, những người có thế lực, vây cánh chiếm đoạt tài sản một cách vô tội vạ, chiếm đoạt một cách hợp pháp bằng cách ‘cưỡng chế’ theo luật pháp Việt Nam, nhưng dĩ nhiên, theo luật pháp quốc tế thì đây là một sự vi phạm trắng trợn”.

Ông cảnh báo chính phủ Việt Nam “hãy coi chừng” vì từ vụ kiện của ông, người dân Việt Nam sẽ “có cơ sở” để tiếp tục khởi kiện trong tương lai.

Xuất phát của vụ kiện xuyên thế kỷ bắt đầu từ những năm thập niên 1990, khi ông Trịnh Vĩnh Bình, khi đó là triệu phú rất thành công ở Hà Lan với biệt danh “Vua Chả Giò”, trở về Việt Nam đầu tư theo tiếng gọi “Về nước đầu tư” của Hà Nội.

BM
Ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định trở về nước đầu tư.

Sau khi quyết định bán cơ sở kinh doanh tại Hà Lan, ông Bình đã mang về nước 2.338.250 đôla và 96 ký vàng sau 60 lần nhập cảnh, bắt đầu từ năm 1990, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Tổng cục hải quan Việt Nam và Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất.

Về nước, ông bắt tay vào kinh doanh trong nhiều lĩnh vực: khách sạn, thủy hải sản, xuất khẩu, nông sản, rau quả, trồng rừng… Nhưng chiến lược nhất, có lẽ là lãnh vực đất đai, vì theo như lời ông, “tôi có những bài toán lâu dài chứ không phải như Việt Nam nói là kinh doanh địa ốc”. Cứ như thế, trong vòng hơn 6 năm, giá trị số vốn ban đầu ông Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần.

BM
  
Theo lời cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nói , ông Bình đã trở nên “thành công và khá nổi tiếng ở Việt Nam” vào thời điểm đó nhờ tính năng động, chủ động và nhạy bén trong kinh doanh.

Tuy nhiên, sự thành công quá nhanh của ông Bình tại Việt Nam đã gây ra “sức cuốn hút không bình thường”, theo lời của cựu Đại sứ Việt Nam. Ông bị rơi vào những cái “bẫy” của các thế lực “đục nước béo cò”.

BM
Bộ sưu tập xe-một trong số rất nhiều tài sản của ông Bình tại Việt Nam.

Ngày 5/12/1996, ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức bị bắt với cáo buộc tội “trốn thuế”. Cáo buộc ban đầu này sau đó nhanh chóng được chuyển đổi thành “vi phạm các quy định về quản lý đất đai” và tội “hối lộ” vì thiếu căn cứ.

BM
  
Ông Trịnh Vĩnh Bình bị tạm giam hơn 18 tháng trước khi được đưa ra xét xử. Trong thời gian này, ông Bình cho biết ông không được phép tự ý chọn luật sư, mà PA 24 chỉ định luật sư cho ông và buộc ông phải trả 50 triệu đồng cho luật sư này.

Ông Bình kể  rằng điều kiện giam giữ khắc nghiệt trong thời gian này đã khiến ông suy sụp hoàn toàn và từng nghĩ đến chuyện tự tử.

BM
  
Tháng 8/1998, Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án 13 năm tù đối với ông Trịnh Vĩnh Bình về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai và tội đưa hối lộ, phạt 400 triệu đồng, tịch thu tài sản được cho là “sang nhượng bất hợp pháp”.

Báo Công An Nhân Dân ngày 6/6/2005 cho biết đến ngày ông Bình bị Cơ quan An ninh Điều tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt giữ (5/12/1996), ông nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất.

BM
Ông Bình tham quan địa điểm đầu tư tiềm năng tại Việt Nam vào tháng 4/1990.

Ngày 25/2/1999, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan có thư khẩn gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam, yêu cầu chính phủ Việt Nam hoãn thi hành án cho trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình cho đến khi các chính sách mới về chính sách đầu tư tại Việt Nam được làm rõ.

Sau bản án sơ thẩm, ông Bình đã kháng cáo, gửi đơn thư khiếu nại, cầu cứu lên khắp các cơ quan nhà nước, thậm chí lên các quan chức cấp cao ở trung ương và cũng đã có những chỉ đạo can thiệp từ Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và một số giới chức khác.

BM
  
Tuy nhiên, nỗ lực của ông Bình và một số quan chức Việt Nam, lẫn phía Hà Lan đều không mang lại hiệu quả. Lý do, theo lời cựu Đại sứ Việt Nam Đinh Hoàng Thắng nói  rằng “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện.”

Vị cựu Đại sứ này thừa nhận rằng vụ án Trịnh Vĩnh Bình đã gây ra rất nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Việt Nam và Hà Lan vào thời điểm đó.

Sau phiên phúc thẩm, bản án của ông Trịnh Vĩnh Bình giảm từ 13 năm xuống thành 11 năm tù (năm 1999). Báo Thanh Niên ngày 14/7/2012 cho hay nhiều tài sản (nhà và đất) của ông Bình được tòa phúc thẩm giao cho UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai tịch thu. Hai cơ sở sản xuất (diện tích gần 40.000 m2) cùng 9 căn nhà trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giao cho Cục Thi hành án dân sự bán đấu giá.

“Phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm không thay đổi gì mấy. Tôi thấy tình hình không êm rồi. Họ có giấy triệu tập tôi trở lại trại tù. Họ cho tôi thời gian 7 ngày. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại, nhưng thấy không êm rồi. Tới giờ chót, tức ngày hôm sau đi trình diện thì tôi trốn,” ông Bình nói.

BM
  
Sau khi ra khỏi Việt Nam, ông Bình đã nộp đơn kiện chính phủ Việt Nam ra tòa trọng tài quốc tế. Hai bên “dàn xếp” ngoài tòa vào năm 2005 và Việt Nam đền ông Bình 15 triệu đôla, miễn án, tạo điều kiện cho ông Bình trở lại Việt Nam, đồng thời hoàn trả tài sản đã tịch biên.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tin tức về vụ kiện đã bị cắt đứt hoàn toàn, cả trong nước lẫn quốc tế. Nguyên nhân, theo lời ông Bình, là vì đây là điều kiện phía Việt Nam đưa ra trong Thỏa thuận: Không tiết lộ thông tin cho truyền thông, báo chí.

Tháng 1/2015, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế lần thứ hai vì theo lời ông Bình, người cho là mình đã “bị lừa”, thì chính phủ Việt Nam đã lần lữa không trả lại bất kỳ tài sản nào cho ông ngoài số tiền bồi thường trên.

  



Khánh An

BM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: “Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi”


by anle20
Ông Nguyễn Trọng Thìn (67 tuổi) vừa trở về từ Nhật Bản sau khi đưa bát phở Việt Nam đến gần hơn bạn bè quốc tế. Trong chính quán phở nhỏ lụp xụp giữa lòng phố cổ Hà Nội, chúng tôi có dịp được lắng nghe người nghệ nhân kể về chuyện đời chuyện nghề, một cách cảm hứng và trọn vẹn nhất.
- Ông chủ cho xin một bát phở bò tái lăn nhé, thêm trứng chần nữa là hết nấc!
- Vâng, có ngay.
Bước vào quán ăn nhỏ lụp xụp đúng "mốt" phố cổ, đứng xếp hàng một hồi lâu mới đến lượt gọi món. Mùi thơm từ nồi nước dùng phảng phất, người thái hành, kẻ xào thịt - âm thanh, mùi vị, màu sắc cứ thế hoà quyện vào nhau. Ở đây chỉ phục vụ một loại phở duy nhất trong suốt 40 năm qua, khách gọi món chỉ cần yêu cầu thêm cái này hoặc bớt cái nọ, không phải đắn đo suy nghĩ nhiều.
Thực khách có thể phải mất 5- 10 phút xếp hàng, nhưng chỉ tốn 60 giây đợi chờ, trước khi tô phở nghi ngút khói được bưng ra. Thịt bò tái lăn có độ giòn, dai vừa phải; nước dùng ngọt thanh, khá ngậy với lớp mỡ nóng già bên trên; vài lát gừng chen lẫn giữa từng sợi phở; hành lá phủ xanh ngập bề mặt, sóng sánh.
Ai không thích thì ghé một lần cho biết, kẻ lỡ "si tình" thì đòi quay lại bằng được, để vơi bớt sự thèm thuồng những sáng Hà Nội buồn miệng.
Người Hà Nội ấy mà, chịu khó chịu khổ về nếp ăn uống chỉ để được thưởng thức những gì tinh tuý nhất của 36 phố phường. Họ biết rõ, khắp mảnh đất cứ hễ 100 mét lại mọc lên một quán phở này, chỉ có một địa chỉ đủ mạnh níu chân thực khách.
Đó là phở Thìn 13 Lò Đúc.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 1.
Quán Phở Thìn 13 Lò Đúc của ông Nguyễn Trọng Thìn.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 2.
Hãy cùng chúng tôi khám phá câu chuyện đằng sau tô phở Thìn nóng hổi.
Quán phở Thìn 13 Lò Đúc là một trong những thương hiệu lâu năm ở Hà Nội. Người xa xứ đặt chân tới Thủ đô đều muốn một lần thưởng thức bát phở trứ danh, vốn được "lăng xê" bởi những con người sành ăn, dù là khó tính, khó chiều nhất.
Trải qua bao thăng trầm, người đời đổi thay, chế biến phở theo nhiều kiểu để hút khách, đủ loại từ tái, chín, nạm, gầu, đến sốt vang, nhưng phở Thìn vẫn chỉ duy nhất một hình thức: phở bò tái lăn. Bởi thế, thương hiệu phở Thìn còn được biết đến nhiều hơn với cái tên "Phở tái lăn Lò Đúc".
Đằng sau bát phở bò tái lăn đầy mê hoặc là chuyện đời, chuyện nghề của người nghệ nhân nấu phở. Một trong những con người góp công viết nên câu chuyện dài kỳ ấy là ông Nguyễn Trọng Thìn (67 tuổi).
"Tôi tên Nguyễn Trọng Thìn, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội.
Kết thúc phổ thông, tôi thi tuyển vào trường Mỹ thuật Công Nghiệp, khoá 68 - 69 thế kỉ trước tại Hiệp Hoà Bắc. Tôi là một trong 4 học sinh xuất sắc lọt vào Khoa Điêu khắc của trường.
Tốt nghiệp, tôi công tác tại Đài truyền hình Việt Nam, khoảng 7 năm. Sau đó, tôi dành 2 năm tại Xưởng Mỹ Thuật Quốc gia. Quãng thời gian lúc trẻ đi học và làm việc, bối cảnh đời sống bấy giờ thời bao cấp, rất khó khăn đến độ tôi phải nghĩ rất nhiều. Bố mẹ có 10 người con, tôi là thứ 4 trong nhà, miệng ăn thì nhiều mà tiền làm ra lại không đủ.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 3.
Ông Thìn tự hào kể về câu chuyện cuộc đời mình.
Lúc trẻ, tôi đặc biệt thích... ăn, là đam mê chứ không phải ham ăn. Tôi sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để đa dạng sự lựa chọn. Chính trong quá trình đam mê ấy, tôi có một suy nghĩ không như mọi người. Bình thường chúng ta đi ăn chỉ để giải quyết vấn đề cơ thể, còn tôi vừa ăn vừa nghĩ: "Sao họ nấu thế này ngon thế, chỗ kia lại không ngon?".
Bẵng đi một thời gian, tôi quyết định bỏ cả xưởng mỹ thuật Quốc gia để theo đuổi ẩm thực. Chỉ vì tôi bỏ việc, vợ tôi bỏ tôi. Đây là điều sâu sắc nhất trong đời tôi, cô ấy không tin tôi đủ sức làm điều cá nhân, lúc bấy giờ là cuối những năm 79-80.
Kinh tế mở cửa, nhà nước cho phép người dân tự do kinh doanh, không ngăn cản, miễn là không nằm trong danh mục hàng cấm. Khi đó, cạnh nhà tôi có quán phở nhà bà Vũ, khách xếp hàng dài từ đầu đường tới cuối đường.
Lần thứ nhất đề cập với bố đẻ, ông không nói gì cả.
Lần thứ 2 sau đó khoảng đôi ba tuần, tôi lại đặt vấn đề, ông tiếp tục không nói gì.
Lần thứ 3 tôi đề cập, nguyên văn lời ông nói: "Cậu có tiền không? Liệu có "đấu" nổi bà Vũ bán phở không?".
Tôi trả lời: Bà Vũ đã có công mang bao nhiều khách đến, rất gần nhà mình, chỉ có 3 bước chân thôi. Con hứa với ông, con không làm điều này được thì con cảm thấy phí công ông, phí công bà nuôi dạy.
Cha tôi không nói gì nữa.
Đến gần đây tôi mới hiểu vì sao bố mình không nói gì. Vì ông từng trải và hiểu chuyện kinh doanh thời đó, ông lo cho con trai.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 4.
Ông Thìn xuất thân là một hoạ sĩ, cựu sinh viên trường Mỹ Thuật Công nghiệp.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 5.
Không ai dạy tôi nấu ăn. Bố mẹ tôi làm nghề nung gạch hoa, trong nhà cũng không có anh chị em nào là đầu bếp. Nhờ quá trình đam mê ăn cộng thêm nghiên cứu, nghiền ngẫm, bước đầu tôi sở hữu "vốn tự có".
Tôi nghĩ lại tất cả các bát phở tại Hà Nội từng ăn. Chúng không giống nhau về độ ngon, nhưng về cơ bản là giống. Tôi tự đặt câu hỏi trong đầu: "Có thể làm khác được không? Sao lại cứ phải theo cái cơ bản đó?".
Tôi bắt đầu từ nước dùng.
Bình thường, mọi người dùng xương lợn, xương bò, thậm chí là xương gà, ninh thật kĩ lấy nước. Tôi thì mạnh dạn hơn: tìm cách "phối màu".
Tôi thực chất là một hoạ sĩ, bên trong có một sự nhạy cảm cao. Thí dụ tôi nhìn màu nước ninh tôi biết nó được hay không được mà không cần nếm. Phối màu ở hoạ sĩ là 1 trạng thái, tôi bật ra "Tại sao lại không phối thực phẩm theo hướng vừa thực vật vừa động vật vào nồi nước dùng?".
Và cuộc thử nghiệm mang lại kết quả khác biệt. Ngọt của xương, thịt, ngọt của củ, quả hoà vào nhau, tạo nên một thứ ngọt "lạ". Tôi nấu canh, trong gia đình ai cũng tấm tắc khen ngon. Tôi nghĩ, cuối cùng cũng có công thức nước dùng của riêng mình.
Để làm nên một tô phở Thìn trứ danh, người nghệ nhân phải dành trọn cả tâm huyết vào từng công đoạn.
Khi quyết định mở nhà hàng, tôi tự xây một lò than đá để tiện bề nấu nướng. Với mức nhiệt lượng đạt khoảng 1.000 độ C, thịt bò thái mỏng được đem vào xào đến độ "chín tức tưởi". Nghĩa là thịt ko kịp chảy nước ra mà cái chín đã bọc lại.
Đầu tiên chảo mỡ phải nóng già, sau cho tỏi gừng và thịt bò vào, đảo thật nhanh. Thịt bò được xào tái qua một lần, không kỹ quá cũng không tái quá nên mềm và nhai khá là thích. Có nhiều hàng phở cũng làm tái lăn nhưng không đều tay, nên có bát thịt dai nhách, có bát lại mềm nhão. Xào thịt tái lăn không khó nhưng phải tay chuẩn mới xào được đều mọi lúc như thế.
Ngày đầu mở hàng, quán ăn vẫn chưa có khách. Nhìn sang nhà bên cạnh thấy hàng dài xếp hàng, tôi phát thèm. Tôi bèn đun chảo mỡ nóng già, ném hành tỏi, gừng và thịt bò thái mỏng vào, đảo thật nhanh, bén lửa rồi hắt vào lò, thế là mùi thơm cứ thế phảng phất. Thực khách chả biết ngon hay không ngon, cảm nhận mùi thơm, họ bèn sang ăn thử. Từng người xếp hàng bên nhà bà Vũ vì qua sốt sắng đều chuyển qua nhà tôi. Kết quả, bà Vũ bán nhà đi nơi khác.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 6.
Ở đây, kết cục tốt cho tôi, nhưng không tốt cho bà Vũ. Tôi không có lựa chọn nào khác. Tôi làm việc của riêng mình, miễn là không vi phạm pháp luật. Tạm gọi theo bây giờ là cạnh tranh lành mạnh.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 7.
Tô phở cùng ông Thìn lớn lên, trưởng thành và tới tận bây giờ.
3 tháng đầu, tôi không có một đồng nào trong túi. Nhưng dần về sau, tiếng lành đồn xa, khách Tây khách ta nườm nượp kéo tới. Họ thích hít hà mùi thơm từ bát phở nghi ngút khói, thêm chút hạt tiêu, ướt tươi và chanh. Một bát phở Thìn có giá 60.000 đồng, thực khách nào muốn nâng cao khẩu vị có thể dùng kèm với quẩy nóng giòn và quả trứng gà chần. Tất cả đều hoàn hảo như các vật liệu này được sinh ra là để cho nhau vậy!
Từ một quán phở nhỏ, lặng lẽ mọc lên bên cạnh một quán phở khác đã có khách quen trên phố Lò Đúc, lại chỉ bán độc một loại phở bò tái lăn, trải qua 40 năm, tôi tự hào tô phở của mình đã trở thành cái tên quen thuộc trong lòng người dân Thủ đô.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 8.
Phở Hà Nội là một câu chuyện dài của nhiều thế hệ, với nhiều cách nấu, đủ kiểu vị và hàng chục phương thức kinh doanh. Ở đây, quán phở nhiều, cạnh tranh nhiều, nhưng để có tiếng và hút khách, thì không phải ông chủ nào cũng đủ bản lĩnh.
Tháng 5/2009, sau 30 năm bán phở, lần đầu tiên tôi xuất ngoại sang Hàn Quốc dạy nấu phở. Ngày lên đường, tôi mang theo đủ thứ nguyên phụ liệu nào thịt bò, xương heo, chân gà, quế chi và cả nước mắm. Tôi "biểu diễn" 4 mòn xào giòn, xào mềm, áp chảo nước và tất nhiên không thể thiếu món sở trường phở bò tái lăn.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 9.
Người Hàn Quốc tế nhị, cẩn trọng trong giao tiếp, ăn uống là thế, nhưng đến khi họ ăn không còn một sợi phở, tôi biết mình đã thành công cỡ nào. Sau khi tiếp nhận kỹ thuật nấu phở, phía Hàn Quốc đã đề nghị hợp tác mở quán phở tại Seoul. Nhưng vì việc kinh doanh ở nhà còn chưa xuể, tôi đã từ chối và tặng lại công thức nấu để họ tự hoạt động.
Nếu họ thực sự có tâm nấu ngon cho người lao động Hàn Quốc cũng như người Việt Nam lao động ở Seoul thưởng thức, thì tôi sẵn sàng không lấy một đồng nào cả. Thật bất ngờ, sau đó ở Seoul đã xuất hiện nhà hàng "Phở Tặng", với hàm ý phở nấu từ công thức do người Việt tặng.
Ít ai biết, ở Việt Nam, chỉ có duy nhất một "xưởng" phở biết rõ công thức tôi làm. Lần đầu tiên, khi đề nghị gặp người đứng đầu của tập đoàn Vingroup, tôi ấn tượng với người ấy bởi câu hỏi: Có thể mở một xưởng dạy nấu phở được không?
Tôi không có lý do gì từ chối.
Anh Vượng là người làm kinh doanh, đương nhiên có tầm nhìn xa. Chính tâm huyết và mong ước của anh đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa ẩm thực Việt Nam đã khiến tôi thực sự xúc động.
Tôi nhận lời tới khắp các cơ sở của Vinpearl, thương hiệu nghỉ dưỡng 5 sao chuẩn quốc tế của tập đoàn Vingroup, để dạy nấu phở, một cách đến nơi đến chốn, không hời hợt, không giấu nghề và cũng không lấy một đồng chi phí nào. Bàn tay không thể che được hết bầu trời, cớ gì tôi phải giấu. Đến bây giờ tôi vẫn không thay đổi, cho đi là còn mãi!
Tôi tâm niệm, Vinpearl có thể lưu giữ ý nghĩ của tôi, trong phạm vi hẹp là bát phở, xa hơn là gìn giữ văn hoá truyền thống. Nhìn họ trân trọng và bảo tồn đúng những gì vốn có của Phở Thìn, tôi thấy rất vui lòng bởi tấm lòng của mình đã được ghi nhận.
Tôi thực nghĩ rằng, sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Vinpearl sẽ là một cách rất hay, rất nhanh để góp phần đưa phở Việt đến gần hơn với những vị khách quốc tế.
Ông Thìn tới Vinpearl nhận lời dạy nấu món phở Thìn tái lăn trứ danh.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 10.
Khu vực bán phở Thìn trong Vinpearl - thương hiệu nghỉ dưỡng 5 sao chuẩn quốc tế của tập đoàn Vingroup.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 11.
Đầu tháng 3 mới đây, 10 năm sau khi phở Thìn "đáp chân" tới Hàn Quốc, tôi tiếp tục xuất ngoại, trên hành trình đưa bát phở Việt Nam ra thế giới. Lần này là Tokyo - thủ đô của Nhật Bản. Tấm biển mô phỏng thương hiệu "Phở Thìn 13 Lò Đúc" cũng đã xuất hiện tại đây, trong sự háo hức xen lẫn tự hào.
Cũng giống hoa anh đào, nó chỉ đẹp nhất khi được lớn lên ở đất nước Mặt Trời mọc, đưa sang nước khác trồng nó không còn màu sắc, hương thơm giống như trước nữa. Phở cũng vậy. Công cuộc chuẩn bị cho cửa hàng phở có thể hoạt động suôn sẻ tại Nhật là không hề dễ dàng. Để quảng bá ẩm thực Việt ra thế giới, khó khăn đến đâu tôi cũng cố làm.
Các nguyên liệu làm phở không sẵn có như ở Việt Nam, chưa kể tới việc đảm bảo sao cho thật ngon, thật đúng vị. Bởi vậy, trước thời gian khai trương nhiều ngày, tôi tới Tokyo, cùng anh chủ quán là Kenji Sumi, lựa chọn, thử nghiệm nhiều nguyên liệu.
Tôi bắt mấy đứa học trò thái củ cải, thật nhanh. Đến lúc vào thái thịt mới bớt bỡ ngỡ. Củ cải rắn, còn thịt "nhún nhảy", nếu không cẩn thận dễ thái vào tay.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 12.
Ngày 9/3, phở Thìn tại Tokyo chính thức được khai trương. Dù giờ mở dự kiến là 11h nhưng từ sớm, thực khách nghe tin đã đứng xếp hàng trước quán. Hơn 100 bát phở được bán đi và trong vòng chưa đầy 1 giờ đồng hồ, chỉ tới khoảng 11h20 số phở chuẩn bị cho ngày đầu tiên được bán hết sạch.
Ngày thứ 2 kể từ khi khai trương, quán đã chuẩn bị số lượng gấp 1,5 lần so với ngày đầu tiên, nhưng những bát phở vẫn nhanh chóng bán hết bởi số lượt khách đến xếp hàng rất đông. Các vị khách Nhật Bản chia sẻ sự thích thú đối với tô phở Thìn đến từ Việt Nam.
Trong một chừng mực nhỏ, thực sự tôi đã chinh phục được người Nhật.
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 13.
Trước khi về nước một ngày, khách hàng vẫn kéo đến xếp hàng dài. Tôi ra nhìn cảnh đấy rồi chạy vào phòng, bật khóc. Thật hạnh phúc! Từ trẻ đến ngày hôm nay mới có được như vậy, không phải bỗng dưng một ngày mà được.
Anh Kenji Sumi thấy mắt tôi đỏ hoe, anh ôm tôi, cùng khóc. Giọt nước mắt 2 thế hệ hoà vào nhau, đầy trọn vẹn. Đôi khi hạnh phúc không nằm trong đồng tiền, còn đồng tiền đương nhiên quan trọng. Tôi không phải là người nhiều tiền, nhưng chưa bao giờ tôi rơi nước mắt như thế.
Đàn ông mà dễ rơi nước mắt thì phải xem lại!
Ông Thìn Lò Đúc và những bát phở danh tiếng: Chỉ vì tôi bỏ việc ở xưởng mỹ thuật, vợ bỏ tôi - Ảnh 14.
Ông Thìn bật khóc nhớ lại khoảnh khắc tô phở quê nhà vươn mình ra thế giới.
Theo Minh Nhân - thiết kế Jordy
Trí thức trẻ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổ tiên người Trung Quốc là ai?


Tác giả: Hà Văn Thùy
Lời giới thiệu: Theo tác giả Hà Văn Thùy, ông vừa dự lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Tạp chí Xưa & Nay. Giáo sư Mạc Đường có phát biểu bức xúc: “Trung Quốc công bố những tài liệu xuyên tạc lịch sử, cho rằng Bách Việt bao trùm cả Nam Hoàng Hà. Trong khi đó giới sử học của ta không một lời phản ứng.” Ông Thùy cho rằng điều này mới với ông Mạc Đường nhưng với ông không lạ. Từ những khảo cứu sai lầm và xuyên tạc sự thật của học giới TQ, cho rằng người từ châu Phi tới Hoa lục làm nên cộng đồng Bách Việt mà người Hán là trung tâm, còn VN là đám ly khai khỏi đất mẹ. Từ ý tưởng này, năm 2016 Thủ tướng TQ Lý Khắc Cường sang VN kêu gọi người VN “lãng tử hồi đầu” (đứa con đi hoang trở về nhà). Ông Thùy cho rằng đáng buồn là người VN không hiểu chiếu sâu của ý tứ này. Vì vậy tác giả đã gửi bài viết dưới đây về nguồn gốc người Việt và người Trung Quốc cho chúng tôi. Để rộng dư luận, chúng tôi xin đăng lại bài viết. 
Năm 2001, một tổ công nhân tình cờ tìm thấy ở hang Điền Nguyên những mảnh xương động vật có vú hóa thạch. Do không có kinh nghiệm, họ đã làm xáo trộn địa tầng trước khi báo cho các nhà khảo cổ. Không ngờ rằng đó là cái mốc quan trọng của lịch sử phương Đông. Năm 2003 và 2004 di chỉ đã được một nhóm nghiên cứu từ Viện Cổ sinh vật học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc khai quật.
Hang Điền Nguyên (Tianyuandong) là hang động nhỏ có cửa mở ra phía tây bắc, cao 175 m so với mực nước biển, nằm cách 6 km về phía Tây Nam của Chu Khẩu Điếm, một di chỉ khảo cổ quan trọng hàng đầu của thế giới gần Bắc Kinh, Trung Quốc. Ngày 22 tháng 10 năm 1926, nhà khảo cổ Thụy Điển Andersson đã công bố việc phát hiện ra hai chiếc răng của người đàn ông cổ từ Chu Khẩu Điếm. Điều này mang lại tiến bộ đột ngột cho các lý thuyết về nguồn gốc và sự tiến hóa của con người. Chủ nhân của hai chiếc răng được xếp vào giống mới và loài mới Sinanthropus pekinensis của Họ Người Hominidae, còn được gọi là “người Bắc Kinh ” Homo erectus pekinensis. Toàn bộ trầm tích hang Chu Khẩu Điếm được chia thành 17 lớp từ trên xuống dưới. Tuổi tuyệt đối của lớp 13 là khoảng 730.000 năm. Lớp thứ 10, lớp thấp nhất mang xương người Bắc Kinh hóa thạch, có tuổi khoảng 500.000 năm; trong khi lớp 3, lớp ở trên mang xương người hóa thạch, là từ 230.000 đến 250.000 năm trước. Như vậy, người Bắc Kinh đã sống trong hang động này khoảng 260.000 năm. Trong hai năm 1933-1934, khi khai quật Hang Thượng (Upper Cave), ba hộp sọ (số 101, 102 và 103) được phát hiện. Các nhà nhân chủng học cho rằng người Hang Thượng thuộc Homo sapiens muộn. Tuổi tuyệt đối họ khoảng 27.000 năm. Sọ 101 được coi là một Mongoloid nguyên thủy, sọ 102 là một Melanesian và sọ 103 là một Eskimo.
Chu Khẩu Điếm là phát hiện quan trọng hàng đầu của nhân loại. Đó là lần đầu tiên và duy nhất trên thế giới có một di chỉ phong phú đến vậy mang dấu vết con người trong thời gian dài. Việc xuất hiện từ người Homo sapiens giai đoạn sớm 100.000 – 200.000 năm trước tới người Homo sapiens thời kỳ muộn cùng một nơi với người Bắc Kinh 600.000 năm tuổi dường như nói rằng, nơi đây là sự thu gọn của lịch sử nhân loại. Phát hiện Chu Khẩu Điếm là một chứng cứ mạnh mẽ ủng hộ Thuyết nhiều vùng về nguồn gốc con người (Multiregional hypothesis). Chính điều này dẫn tới quan niệm thống trị một thời: “Trung Hoa là dân tộc lâu đời bậc nhất trên thế giới. Người Trung Hoa từ người cổ Bắc Kinh tiến hóa thành.” Nhưng sang thế kỷ này, khoa học cho thấy sự thực không phải như vậy.
Ngày 6 tháng 4 năm 2007, bài báo “Một người hiện đại sớm từ hang Điền Nguyên Chu Khẩu Điếm” (An early modern human from Tianyuan Cave, Zhoukoudian, China” mô tả như sau:
“Trầm tích hang Điền Nguyên gồm bốn lớp, từ trên xuống dưới. Một số trong 34 thành phần của bộ xương người bị công nhân địa phương làm xáo trộn, nhưng phần còn lại được tìm thấy trong lớp III. Không có hiện vật bằng đá hoặc các di tích văn hóa khác được tìm thấy trong di chỉ cho đến nay. Có rất nhiều mảnh xương trong trầm tích hang động Tianyuan, nhưng hiện tại không thể biết liệu chúng có liên quan đến hành vi của con người hay không. Sáu mẫu động vật từ lớp III cung cấp tuổi trung bình dao động từ 39.500 đến 30.500 14C BP.”
Phải nói rằng, bài báo đã trình bày một nghiên cứu công phu, với phong cách khoa học đáng nể nhưng kết quả thu được không như kỳ vọng vì nó chỉ xác định được chủ nhân bộ xương là người hiện đại, khoảng 40-50 tuổi, sống khoảng 40.000 năm trước, không cho biết giới tính của bộ xương. Nó cũng không cho thấy người Điền Nguyên từ đâu tới, có quan hệ thế nào với những người cổ khác trong vùng?
Phải sáu năm sau, khi công nghệ di truyền vào cuộc, sự thật mới được sáng tỏ. Ngày 21 tháng 1 năm 2013 một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế thuộc Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck ở Leipzig, Đức công bố bài viết “Họ hàng từ hang Điền Nguyên” (A relative from the Tianyuan Cave) nhận định: “Phân tích DNA xương chân của cá nhân này cho thấy rằng chủ nhân hang Điền Nguyên là người đàn ông sống 40.000 trước, có chung nguồn gốc với tổ tiên của nhiều người châu Á và người Mỹ bản địa ngày nay. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng tỷ lệ gen Neanderthal và Denisovan trong con người hiện đại sớm này không cao hơn so với những người sống trong vùng này ngày nay.”
Người Điền Nguyên
Trong thế kỷ 20, khảo cổ học Đông Nam Á phát hiện di cốt xưa nhất của người hiện đại tại Hang Niah, Indonesia khoảng 39.000 năm trước. Trên đất Việt Nam tìm được di cốt người sớm nhất tại Sơn Vi khoảng 32.000 năm tuổi. Đây được coi là bằng chứng đầu tiên về tổ tiên người Việt. Nhưng từ thập niên 1970, nhờ tìm được bộ xương người Mongoloid tại Lưu Giang, Quảng Tây 68.000 năm nên nảy sinh hy vọng người hiện đại nhiều khả năng có mặt trên đất nước ta sớm hơn nữa.
Sang đầu thế kỷ 21, nhiều nghiên cứu di truyền học dân cư châu Á đưa ra nhận định: 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Sau khi gặp gỡ hòa huyết và tăng nhân số, 40.000 năm trước, người từ Việt Nam đi lên chiếm lĩnh Hoa lục. Nếu điều này đúng thì suốt 40.000 năm sống trên đất Việt (từ 70.000 đến 30.000 năm trước) ngoài những công cụ đá, tổ tiên ta không để lại chút vết tích nào của xương thịt! Một việc không khỏi khiến chúng ta băn khoăn.
Tài liệu di truyền học cho rằng, 40.000 năm trước người từ Việt Nam đi lên hoa lục. Nhưng suốt thế kỷ 20 chỉ tìm thấy trên đất Trung Quốc sọ người hiện đại 27.000 năm tuổi tại Chu Khẩu Điếm. Sang thế kỷ 21 mới phát hiện tại Tiên Nhân Động tỉnh Giang Tây di cốt người 25.000 năm. Như vậy, vấn đề thời điểm người Việt Nam đi lên Hoa lục vẫn còn là câu hỏi. Trong khảo cứu của mình, tôi đặc biệt quan tâm tới điều này vì nó có ý nghĩa lớn trong lịch sử phương Đông.
Việc xuất hiện di cốt người đàn ông 40.000 năm trước ở Chu Khẩu Điếm cho thấy, khu vực này có điều gì đó đặc biệt nên đã thu hút nhiều lớp người tới cư trú và sinh sống lâu dài. Do đặc điểm của khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng, nơi đây đã bảo tồn được di cốt xưa nhất của dòng người từ Việt Nam lên. Các báo cáo khoa học chưa cho biết người Điền Nguyên từ đâu tới. Nhưng từ khảo cứu của mình, tôi khẳng định là từ Việt Nam lên. Có thể nói gọn về quá trình con người hình thành ở đây như sau: 600.000 năm trước, người Đứng thẳng Homo erectus có mặt. Cho tới 250.000 năm trước không hiểu vì sao họ rời khỏi đây cũng như toàn châu Á, để lại khoảng hơn 200.000 năm châu lục vắng bóng người. Trong ý nghĩa nào đó, xương Điền Nguyên được coi là di cốt người hiện đại xuất hiện sớm nhất ở phương Đông. Tuy nhiên sự thực không phải như vậy. Thập niên 1970 phát hiện bộ xương người Mongoloid tại Lưu Giang Quảng Tây và sọ người Australoid ở Hồ Mungo châu Úc, cùng 68.000 năm tuổi. Năm 2009 tìm được tại hang Tampaling Bắc Lào cốt sọ người hiện đại 63.000 năm trước. Điều này phù hợp với những khám phá di truyền học cho rằng người hiện đại từ châu Phi di cư tới Việt Nam 70.000 năm trước, làm nên dân cư Việt Nam và châu Á. Nhưng do sự tàn phá của thời gian và môi trường, phần lớn di cốt người cổ chỉ có thể giữ được tới 30.000 năm. Sọ Lào và xương người Lưu Giang là hai đại diện hiếm hoi của dòng người tới Việt Nam 70.000 năm trước. Tới nay xương người hang Điền Nguyên là dấu vết xưa nhất của tổ tiên người Trung Quốc được tìm thấy. Nhà nhân học Trung Quốc Ngô Tân Trí (吴新智)nói: “Trung Quốc từ 20.000 năm trước cho tới nay, không có bằng chứng nào cho thấy con người có những hoạt động di cư lớn. Vì vậy, cần phải nói rằng ông là tổ tiên của chúng tôi.” (而我们中国从2万年前一直到现在,没有任何证据表明人类有很大的迁徙活动。所以应该说,他就是我们的祖先.)
Khúc xương chân người Điền Nguyên kể với ta câu chuyện thú vị:
1. Với 40.000 năm tuổi và “có chung nguồn gốc với tổ tiên của nhiều người châu Á và người Mỹ bản địa ngày nay,” mảnh xương Điền Nguyên là di vật vô giá của Tổ tiên dân cư Đông Á và người Mỹ bản địa. Điều này phù hợp với nhận định của di truyền học cho rằng: người từ Việt Nam đi lên Trung Quốc và làm nên dân cư Đông Á. Đồng thời cũng xác nhận cuộc hành trình của người Việt cổ từ Hoa lục lên Siberia rồi vượt eo Bering sang chinh phục châu Mỹ 30.000 năm trước, trở thành cư dân bản địa châu Mỹ.
2. Thông tin “tỷ lệ gen Neanderthal và Denisovan trong con người hiện đại sớm này không cao hơn so với những người sống trong vùng này ngày nay” cho thấy, người Điền Nguyên là hậu duệ của dòng người di cư từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước. Trên đường đi, họ đã gặp và giao phối với người Đứng thẳng Neanderthal và Denisovan ở nơi nào đó và nhận gen của những người này mang tới Việt Nam. Tại Việt Nam, những dòng người di cư đã gặp gỡ, hòa huyết sinh ra người Việt cổ mang 1-2 % gen Neanderthal và Denisovan. Rời Việt Nam, con cháu người Việt cổ mang theo trong mình 1-2% gen của người Đứng thẳng như một “dấu ấn nòi giống” đi khắp châu Á sang châu Mỹ, mà người Điền Nguyên là một trong những dòng con cháu ấy.
3. Việc người hiện đại có mặt 40.000 năm trước ở hang Điền Nguyên Nam Hoàng Hà đã xác nhận kết quả nghiên cứu của di truyền học cho rằng 40.000 năm trước, người từ Việt Nam đi lên Hoa lục.
Xương chân người Điền Nguyên
Hang Điền Nguyên nơi tìm thấy xương chân
Tổ tiên người Đông Á  (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) có tuổi 40.000 năm. Trong khi đó tổ tiên người Việt Nam có tuổi 70.000 năm, sớm hơn tổ tiên người Đông Á 30.000 năm, chứng tỏ đất Việt Nam là nơi phát tích của dân cư châu Á và người Việt Nam gần tổ tiên nhất. Điều này còn được chứng minh bằng chỉ số đa dạng sinh học của người Việt Nam cao nhất trong dân cư châu Á.
Cây phả hệ của người Điền Nguyên (Tianyuan) và 36 bộ gen người Hiện đại và bản đồ phân bố (Qiaomei Fu et al)
Đó là sự thật được chứng minh bằng khảo cổ và di truyền học, không thể phản bác. Nhưng sự đời không  dừng ở đó. Bởi lẽ nếu chỉ có vậy, thì người Việt Nam hôm nay sẽ khác. Sẽ có nước da đen hơn một Đinh Núp hay một Ama Kông bởi vẫn mang mã di truyên của chủng người Australoid trong máu huyết! Nếu hôm nay hiện về, chắc Cụ Điền Nguyên sẽ lắc đầu không nhận những người xung quanh là con cháu! Bởi lẽ Cụ là người da đen. Không chỉ Cụ đen mà con cháu vạn năm sau của Cụ như Đế Khốc cũng đen như con chim cốc, Thành Thang đen như hòn than còn Lão Tử có nước da đen bóng! 40.000 năm với biết bao biến chuyển!
Tại sao lại như vậy? Một câu hỏi hóc búa đeo đẳng tôi suốt những tháng năm đi tìm nguồn cội. Trong cuốn sách Nhân chủng học Đông Nam Á, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa người Thầy của tôi thời đại học đã viết: “Suốt thời Đồ đá, người Việt Nam mang mã di truyền Australoid nhưng sang Thời Kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể của dân cư. Người Australoid biến mất khỏi đất nước này, không hiểu do nhập cư hay do đồng hóa?” Câu hỏi của Thầy gửi đến tôi như một thách đố nhưng cũng là gợi ý vô giá. Vấn đề là, người Mongoloid phương Nam từ đâu ra? Cố nhiên chỉ có thể từ phương Bắc! Tôi dõi theo những khai quật khảo cổ trên đất Trung Hoa. Và thật may mắn, gặp được tài liệu nói rằng người Ngưỡng Thiều 7.000 năm trước giống với người Trung Hoa hiện đại, mang mã di truyền Mongoloid phương Nam! Học giả Trung Quốc cho rằng họ từ phía Nam lên! Không thể như vậy,  bởi lúc này khu vực phía Nam chỉ có duy nhất người Australoid! Khi chứng cứ khoa học không đủ thì tưởng tượng nảy sinh. Tôi cho rằng, chỉ có thể là sự hòa huyết giữa người Việt cổ Australoid bờ Nam và người Mông Cổ North Mongoloid du mục trên bờ Bắc Hoàng Hà. Sống bên một dòng sông hàng nghìn năm, ai có thể cấm gái trai gặp gỡ? Tôi như thấy Tạo Hóa mỉm cười: “Thằng bé hiểu thâm ý của mình!” Quả đúng là sự kỳ diệu của Tạo Hóa! Vì lẽ gì, sau chuyến đi dài hàng nghìn năm từ châu Phi, khi đến Việt Nam, hầu hết người di cư tụ hội trên thềm Biển Đông ấm áp thì lại có những nhóm nhỏ lầm lụi đi tới vùng giá lạnh Tây Bắc Việt Nam để sống lẻ loi ở đấy hàng vạn năm? Rồi khi trời ấm lên họ lại theo “Thục đạo nan” đi lên đất Mông Cổ vẫn còn hoang lạnh! Cuộc hành trình gian khổ ấy đổi lấy điều gì? Phải chăng chỉ là giữ nguồn gen thuần Mông Cổ để rồi sau này kết hợp với người Việt cổ, sinh ra giống dòng mới Mongoloid phương Nam? Một sự huyền bí diệu kỳ của Tự Nhiên!
Cụ Điền Nguyên – ta tạm gọi tên Cụ theo tên quê- là người Việt cổ, thuộc nhóm loại hình Australoid được sinh ra trên đất Việt Nam. Cụ là lớp di dân đầu tiên. Sau Cụ, người Việt mang theo công cụ đá mới Hòa Bình rồi giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó cùng đồ gốm và tộc danh người Việt (chủ nhân đầy tự hào của cái việt – công cụ và vũ khí siêu việt của loài người thời đó) đi lên xây dựng kinh tế nông nghiệp trên lưu vực Hoàng Hà. Khoảng 7.000 năm trước, tại trung du Hoàng Hà, con cháu Cụ Điền Nguyên đã đông đúc, với nghề trồng lúa, trồng kê và đánh cá. Lúc này diễn ra sự tiếp xúc với người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) sống du mục bên kia sông. Hai dòng người gặp gỡ, hòa huyết, sinh ra chủng người Mông cổ phương Nam (South Mongoloid). Là con do mẹ Việt mang nặng đẻ đau, bú sữa mẹ Việt, sống trên đất Việt với tiếng nói cùng văn hóa Việt, người Mongoloid phương Nam thành chủng người Việt mới. Người Việt Mongoloid phương Nam tăng số lượng, thay thế cha ông Việt cổ, trở thành chủ nhân văn hóa trồng kê nổi tiếng Ngưỡng Thiều và lưu vực Hoàng Hà. Năm 2879 TCN theo ý chỉ của vua cha Đế Nghi, nơi đây thành lập vương quốc của Đế Lai với hai trung tâm Thái Sơn và Trong Nguồn. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ phương Bắc do Hiên Viên dẫn đầu đánh chiếm trung du Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Một bộ phận dân Việt nằm trong vương quốc Hoàng Đế. Dân tại vùng chưa bị chiếm tổ chức kháng chiến lâu dài. Một bộ phận dân Việt từ Thái Sơn-Trong Nguồn vượt Dương Tử di cư về phía Nam. Theo thời gian, dòng người đi tới Việt Nam và Đông Nam Á, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư phương Nam từ Australoid sang Mongoloid phương Nam. Hiện tượng này được nhân chủng học gọi là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á. Đến 2.000 năm TCN, hầu như toàn bộ dân cư Đông Nam Á chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam, được gọi là người Nam Á.
Như vậy, người Việt được hình thành theo hai giai đoạn: Ban đầu, 70.000 năm trước, hai đại chủng người Australod và Mongoloid từ châu Phi tới, hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc loại hình Australoid. 40.000 năm trước, người từ Việt Nam (chủ yếu là người Indonesian đa số) đi lên khai phá Hoa lục. Tại Nam Hoàng Hà, khoảng 7.000 năm trước, người Việt cổ hòa huyến với người Mông Cổ, sinh ra người Việt chủng Mongoloid phương Nam. Khoảng năm 2698 TCN, do cuộc xâm lăng của người Mông Cổ, một bộ phận người Việt di cư về Việt Nam và Đông Nam Á, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư trong vùng sang chủng Mongoloid phương Nam, được gọi là người Việt hiện đại.
Từ quá trình hình thành như vậy cho thấy, người Việt Nam hiện nay không chỉ là hậu duệ của Cụ Thủy Tổ 70.000 năm trước mà còn là con cháu của Cụ Tổ Điền Nguyên. Vấn đề cần làm rõ là Cụ Tổ Điền Nguyên đóng góp bao nhiêu trong bộ gen của người Việt hôm nay? Đó là chuyện “nhạy cảm” vì nó sẽ phân định rằng người Việt Nam có bị Hán hóa hay không? Hai khả năng có thể xảy ra. Khả năng thứ nhất: người từ Hoa lục xuống rất đông, tiêu diệt hay xua đuổi người Việt cổ đi nơi khác, chiếm đất thành lập nhà nước của mình. Khả năng thứ hai: người từ Hoa lục di cư tới từ từ, trong thời gian dài rồi hòa huyết chuyển hóa dân cư sang chủng người mới. Khả năng đầu chỉ xảy ra bằng một cuộc xâm lăng có tổ chức của nhà nước mạnh, dẫn tới chiến tranh khốc liệt. Một sự kiện như vậy sẽ ghi dấu ấn sâu trong lịch sử và cả trong bộ gen con người ngày nay, như cuộc xâm lăng của người Arian vào Ấn Độ 1500 năm TCN. Sự kiện như thế chưa từng xảy ra ở Việt Nam. Trên thực tế đây là quá trình người từ Thái Sơn – Trong Nguồn trở về quê cũ theo từng làn sóng rải rác trong nửa sau thiên niên kỷ III TCN. Cũng phải kể đến đặc điểm của máu huyết. Trong số bốn chủng người Việt cổ được sinh ra 70.000 năm trước thì theo nguyên lý di truyền học, người đa số Indonesian (sau này được gọi là Lạc Việt) nhận được lượng máu Mongoloid cao nhất. Do vậy, chỉ cần thêm lượng nhỏ gen Mongoloid thì như giọt nước làm tràn ly, người Lạc Việt Australoid đễ dàng chuyển hóa sang chủng Mongoloid phương Nam. Việc Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á diễn ra như phản ứng dây chuyền. Cho tới 2.000 năm TCN, dân cư Đông Á đã gần như cùng một chủng tộc và văn hóa. Minh chứng rõ ràng nhất là năm 2005 phát hiện tại di chỉ Mán Bạc Ninh Bình một khu mộ với 30 thi hài người Ausrtraloid và Mongoloid được chôn chung, là kết quả của viêc chung sống lâu dài. Ngày nay, khi khảo sát di truyền người châu Á, khoa học cho thấy người Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao hơn cả, chứng tỏ người Việt cổ là tổ tiên dân cư châu Á. Do vậy chẳng làm gì có chuyện Hán hóa ở đây. Cho rằng người Việt Nam bị Hán hóa về dòng giống và văn hóa là sự nhầm lẫn đáng buồn trong lịch sử. Nửa thiên niên kỷ di cư và chuyển hóa di truyền đã để lại cho người Việt câu ca:
Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra.
Nhưng đấy mới chỉ là một nửa sự thật về nguồn cội. Ký ức sâu thẳm của người Việt qua ca dao và truyền thuyết cũng chỉ có thể ghi nhận được giai đoạn sau của quá trình hình thành dân tộc, khoảng 5000 năm. Còn nửa đầu vì dài tới 70.000 năm nên chìm sâu trong bụi thời gian. Không chỉ ký ức cộng đồng mà cả xương cốt cũng đành bất lực trước sự tàn phá của năm tháng. Chỉ hôm nay, nhờ đọc được cuốn “thiên thư” ADN trong máu huyết con cháu sống tại Việt Nam và châu Á, ta mới thưc sự nhận biết đầy đủ về tổ tiên của mình!


Phần nhận xét hiển thị trên trang