Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

Mặc biến động kinh tế và chính trị, nước Mỹ vẫn khiến thế giới ngỡ ngàng khi sở hữu số triệu phú nhiều hơn cả dân số Thụy Điển


Mặc biến động kinh tế và chính trị, nước Mỹ vẫn khiến thế giới ngỡ ngàng khi sở hữu số triệu phú nhiều hơn cả dân số Thụy Điển
Năm ngoái, dân số Thụy Điển rơi vào khoảng 10,02 triệu người.
Theo số liệu thống kê, số hộ gia đình giàu có ở Mỹ đã đạt một mức cao mới trong năm ngoái. Điều đáng chú ý là con số này gần tương đương với toàn bộ dân số của Thụy Điển hay Bồ Đào Nha.
Khảo sát của Spectrem Group cho thấy hơn 10,2 triệu hộ gia đình Mỹ có giá trị tài sản ròng từ 1 triệu USD đến 5 triệu USD, không tính đến giá trị bất động sản của họ. Tỷ lệ này đã tăng 2,5% so với năm 2017.
Kết quả của Spectrem dựa trên các cuộc phỏng vấn với hơn 2.300 hộ gia đình giàu có; 4.450 hộ gia đình triệu phú và 1.850 nhà đầu tư siêu giàu. Sai số của khảo sát rơi vào khoảng 4%.
Chủ tịch Spectrem Group, ông George Walper cho biết tuy vị trí xếp hạng của những người giàu có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng bị chậm lại do ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu và môi trường chính trị gây tranh cãi của Mỹ.
Trong năm 2018, số hộ giàu có tại Mỹ đã tăng trong mọi phân khúc về tài sản.
Mặc biến động kinh tế và chính trị, nước Mỹ vẫn khiến thế giới ngỡ ngàng khi sở hữu số triệu phú nhiều hơn cả dân số Thụy Điển - Ảnh 1.
Số hộ gia đình triệu phú tại Mỹ có xu hướng gia tăng.
Số hộ gia đình có tài sản ròng cao, từ 5 triệu USD đến 25 triệu USD đã tăng 3,7% lên khoảng 1,4 triệu hộ. Trong khi đó, những hộ gia đình sở hữu hơn 25 triệu USD tăng 0,6% lên 173.000 hộ.
Ngoài ra theo khảo sát, số người Mỹ thuộc nhóm giàu nhất đã tăng hơn gấp đôi kể từ cuộc Đại suy thoái ngay cả khi tốc độ gia tăng có phần giảm bớt.
Greg Soueid, người đứng đầu bộ phận quản lý tài sản tại công ty tư vấn Treliant chia sẻ: "Một trong những lý do khiến việc làm giàu bị chậm lại là thị trường chứng khoán nhiều biến động sau gần một thập kỷ phát triển mạnh. Bên cạnh đó là tác động ban đầu của cải cách thuế đối với các hộ gia đình giàu có".
Mặc biến động kinh tế và chính trị, nước Mỹ vẫn khiến thế giới ngỡ ngàng khi sở hữu số triệu phú nhiều hơn cả dân số Thụy Điển - Ảnh 2.
Triệu phú Mỹ thậm chí còn đông hơn dân số của Thụy Điển.
Cuối tháng 1 vừa qua, nữ Nghị sĩ Elizabeth Warren dự định sẽ đề xuất mức thuế 2% đối với những người có tài sản từ 50 triệu USD đến 1 tỷ USD và 3% đối với tất cả các tài sản vượt quá 1 tỷ USD. Theo đó, chế độ thuế mới nếu được thông qua sẽ làm tăng thêm 2,75 nghìn tỷ USD trong hơn một thập kỷ từ khoảng 75.000 gia đình tại Mỹ.
Giới siêu giàu tham gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới được tổ chức tại Davos tháng 1/2019 đã tỏ ra lo lắng về mức thuế 70% đánh vào thu nhập cá nhân trên 10 triệu USD do nữ Nghị sĩ trẻ tuổi Alexandrian Ocasio-Cortez đề xuất. Có thể nói, ngày càng nhiều chính trị gia quan tâm đến vấn đề khoảng cách giàu nghèo ngày một gia tăng trong xã hội Mỹ và muốn cải thiện điều này bằng cách đề xuất tăng thuế với giới siêu giàu.
Mặc dù vậy, vẫn có một số người giàu ủng hộ quan điểm tăng thuế. Một số triệu phú ở New York đã yêu cầu tăng thuế đới với triệu phú để tài trợ cho các lĩnh vực quan trọng như nhà ở và trường học. Tỷ phú Bill Gates từng phát biểu rằng để có nền giáo dục và chăm sóc sức khỏe tốt thì chính phủ cần thu thêm thuế và khi tăng thuế, nước Mỹ sẽ có thêm tiền từ những người giàu. Thậm chí năm ngoái ông còn chia sẻ với với CNN: "Tôi cần trả nhiều tiền thuế hơn. Tôi đã trả hơn 10 tỷ USD nhưng chính phủ cần yêu cầu những người ở cùng vị thế như tôi trả mức thuế cao hơn nữa".
Theo Gia Vũ /Trí Thức Trẻ/Bloomberg

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CIA thẩm vấn Saddam Hussein như thế nào?

Nguồn: The ex-CIA agent who interrogated Saddam Hussein”, BBC, 04/01/2017.
Biên dịch: Dương Thị Thùy Trang | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Khi Saddam Hussein – cố tổng thống Iraq bị bắt vào tháng 12 năm 2003, CIA đã yêu cầu một chuyên gia đến nhận diện và thẩm vấn ông. Người chuyên gia này tên là John Nixon.
Nixon đã nghiên cứu về Saddam Hussein từ khi mới gia nhập CIA vào năm 1998. Nhiệm vụ của ông là hiểu tường tận về những nhà lãnh đạo trên thế giới, phân tích được “những gì họ nghĩ” – theo như ông chia sẻ trên chương trình Victoria Derbyshire của đài BBC.
“Khi một cuộc khủng hoảng xảy ra, các nhà hoạch định chính sách tìm đến chúng tôi với những câu hỏi như những người lãnh đạo đó là ai, họ muốn gì và tại sao họ làm như vậy”.
Nixon đang ở Iraq khi nhà lãnh đạo bị phế truất được quân đội Mỹ phát hiện trong một căn hầm nhỏ dưới lòng đất bên cạnh khu nông trại gần quê nhà ông ta ở Tikrit.
Khi tin tức về việc phát hiện ra Hussein lan truyền, Mỹ muốn xác nhận chắc chắn đó có thật sự là ông ta hay không và nhiệm vụ này được giao cho Nixon.
Tại thời điểm đó, có một vài tin đồn rằng Saddam Hussein có rất nhiều “hình nhân thế mạng”, nhưng Nixon – người đã rời khỏi CIA từ năm 2011 nói: “Ngay khi nhìn thấy, tôi biết đó chính là ông ta, không một chút nghi ngờ”.
“Ngay từ khi bắt đầu cuộc nói chuyện, tôi đã nhận ra ánh mắt ông ta nhìn tôi chính là ánh mắt tôi đã nhìn thấy trên trang bìa một cuốn sách viết về ông đặt trên bàn làm việc của tôi trong nhiều năm, không hề khác biệt.”
Nixon nhận nhiệm vụ thẩm vấn Saddam Hussein và ông là người đầu tiên thực hiện nhiệm vụ này một cách kỹ lưỡng, suốt mấy ngày.
“Tôi phải luôn nhủ thầm rằng tôi đang phỏng vấn kẻ đang bị truy nã gắt gao nhất thế giới, điều này thật sự rất khôi hài”, ông nói.
Trong cuốn sách của mình: “Debriefing the President: The Interrogation of Saddam Hussein” (“Báo cáo cho Tổng thống: Thẩm vấn Saddam Hussein”), Nixon đã miêu tả vị lãnh đạo quá cố này là “đầy mâu thuẫn”.
Ông nhìn thấy “phần người” trong Saddam Hussein, ông nói, có một sự trái ngược rất lớn với những gì truyền thông Mỹ miêu tả.
“Đó là một trong những người lôi cuốn nhất mà tôi từng chạm trán. Ông ta có thể trở nên quyến rũ, tử tế, hài hước và lịch thiệp nếu ông ấy muốn.”
Nhưng ông ta cũng có thể trở nên đáng sợ hơn bao giờ hết. Nixon miêu tả ông ta là một tên thô lỗ, ngạo mạn, độc ác và đáng sợ khi trở nên mất bình tĩnh.
“Đã có 2 đến 3 lần những chất vấn của tôi khơi dậy phần xấu xa của ông ta.” -Nixon nói.
Và, trong căn phòng thẩm vấn nhỏ bé, bẩn thỉu, Hussein ngồi trên một cái ghế xếp bằng kim loại và không bị ai khống chế cả.
Chỉ có Nixon, một nhà chuyên gia về ngôn ngữ cơ thể và một người phiên dịch trong phòng.
Tuy nhiên, Nixon cho rằng Hussein, một người ái kỷ (tự yêu bản thân mình quá mức), “thích sự tương tác mà ông ta có được bằng cách nói chuyện với tôi”.
Kết thúc cuộc thẩm vấn đầu tiên, sau khi Nixon cố gắng xây dựng quan hệ với Saddam Hussein với hi vọng rằng ông ta sẽ hợp tác, Saddam nói rằng ông ta thích buổi nói chuyện này.
“Ông ấy đã phải lẩn trốn trong nhiều tháng trời và không mấy khi được trò chuyện.” Nixon nói.
Dù đã có một khởi đầu khả quan như vậy, nhưng sang ngày tiếp theo, Nixon nhận thấy Saddam Hussein “lại trở nên cảnh giác hơn”.
“Ông ta là một trong những người đàn ông đa nghi nhất mà tôi từng gặp – cứ mỗi câu hỏi tôi đưa ra ông ta lại có một câu hỏi khác dành cho tôi”.
Nixon thừa nhận CIA không đưa ra được nhiều lợi ích để thuyết phục Hussein mở miệng.
“Chúng tôi phải thuyết phục ông ấy rằng lời khai của ông mang nhiều ý nghĩa lịch sử và tạo ra một viễn cảnh rằng những quan điểm của ông sẽ được ghi âm lại và gửi đến các cường quốc mạnh nhất trên thế giới”.
Có những vùng thông tin Nixon buộc phải giữ bí mật, nhưng có những thông tin CIA cho ông toàn quyền giữ trên các thiết bị của mình.
“Tôi biết tôi phải cố gắng có được câu trả lời từ ông ta.
“Khi làm việc cho CIA, bạn được dạy cách để moi thông tin và biến chúng thành tài sản khả dụng.
“Nhưng bạn cũng phải rất cẩn trọng nếu không muốn đánh mất cơ hội lấy được thông tin khi lái vào chủ đề sai cách.”
Thông tin quan trọng nhất ở đây chính là về vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDs)
Mỹ và Anh đã dùng những cáo buộc về việc phát triển vụ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq làm lý do chính để phát động chiến tranh.
Nixon nói “đó là tất cả những gì Nhà Trắng muốn biết”, tuy nhiên, từ cuộc nói chuyện với Saddam Hussein, với các cố vấn của ông ta cũng như từ các nghiên cứu sau đó để khẳng định hay bác bỏ các tuyên bố của ông ta  – Nixon đi đến kết luận rằng vị lãnh đạo quá cố của Iraq đã chấm dứt các chương trình vũ khí hạt nhân từ nhiều năm trước và không hề có ý định khởi động lại.
Đây là quan điểm đã khiến nhiệm vụ của ông cùng các cộng sự bị xem là “thất bại”.
Ông không được mời đến báo cáo với Tổng Thống George W Bush cho đến tận 5 năm sau, vào năm 2008 khi xuất hiện những phát hiện riêng về Saddam Hussein từ FBI.
Nixon phê phán kịch liệt Tổng Thống Bush, ông cho rằng – với tư cách là một trong số ít người có cơ hội tiếp xúc với cả vị Tổng thống Mỹ lẫn Saddam Hussein – ông ấy thà dành thời gian cho Hussein còn hơn.
Theo ông Tổng thống Bush “đã bị tách biệt với thực tại”, khi các vị cố vấn “luôn vây quanh và nói những lời mà tổng thống muốn nghe”.
“Tôi từng nghĩ rằng những gì chúng tôi nói tại CIA là quan trọng và sẽ được tổng thống lắng nghe, nhưng dù chúng tôi có nói gì đi nữa, chính trị vẫn quan trọng hơn tin tức tình báo.”
Nixon nói ông cảm thấy “xấu hổ” về những gì đã diễn ra ở Iraq kể từ khi Saddam Hussein bị lật đổ.
Ông cho rằng chính quyền của Tổng thống Bush đã không nghĩ đến những diễn biến có thể xảy ra sau khi loại bỏ Saddam và với sự trỗi dậy của các tổ chức cực đoan như cái gọi là “Nhà nước Hồi Giáo” (ISIS) – ông vẫn tin rằng tình hình trong khu vực sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu Saddam vẫn còn cầm quyền.
Những ý kiến đó đã bị bác bỏ bởi cựu Thủ tướng Anh – Tony Blair, người lãnh đạo đất nước trong khoảng thời gian thực hiện cuộc xâm lược Iraq.

nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Có một trí thức như thế trong nước


Tác giả: Mặc Lâm 
.Khác với nhiều người hoạt động cho dân chủ, nhân quyền Tiến Sĩ Sơn tuyên bố thẳng thừng ông là một nhà khoa học, một sử gia và không phải là người hoạt động chính trị. Ông bị khai trừ đảng với lý do giống như nhiều người khác: do viết, đăng tin, bài trên Facebook, mà chính quyền cáo buộc là sai sự thật… không đúng với quan điểm của đảng, chính sách, pháp luật của Việt Nam trên mạng xã hội.
KDTừ Đài Loan trở về, mải tập trung vào vụ nước mắm, mình quên mất sự kiện này- Ts Trần Đức Anh Sơn- bị khai trừ khỏi Đảng. Điều lạ, cư dân mạng xúm lại chúc mừng ông. Mình không quan tâm lắm chuyện ra Đảng hay vào Đảng, bởi mình xác định không vào Đảng từ lúc còn rất trẻ, chỉ vì luôn muốn “bảo toàn nhân cách”- đó là ý thức về cách sống của mình. Nhưng đọc bài này, mình thấy TĐAS đúng là một trí thức, một nhà sử học yêu nước, có nhân cách- đúng nghĩa. Mà ở đời này, mình chỉ trọng những người có nhân cách, bất kể họ là đảng viên hay không. Bởi quan sát ở Đời, mình nhận thấy, tài năng thì không thiếu nhưng rất thiếu những người có nhân cách
.
Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ về một nhân cách đáng quý!
.
* Bài viết này, như mọi lần về cá nhân, mình ko đưa fb tránh mọi kiểu chém gió. Nhưng bất chợt nhận được tin nhắn của một bạn đọc nữ quen biết. Tuổi trẻ, chị cũng từng đi chiến trường (làm về phần kỹ thuật của Đài TNVN) cuộc sống vất vả, rất thích đọc Blog KD/KD, nhắn tin cho mình một câu thế này: “Không lấy thước Đảng để đo Nhân cách!”
.
Mình lặng người. Một câu tuyệt hay- mà một con bé học trò ngây thơ và đầy lý tưởng như mình, từng khốn khổ biết bao khi gan lì chọn lựa con đường đi và sống sao cho có nhân cách- lại không thể nghĩ ra được. Xin đăng lên như một sự đồng cảm thấm thía!
———————-
Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn. (Hình: rfa.org)
Sau Giáo Sư Chu Hảo, bây giờ tới lượt nhà nghiên cứu Biển Đông, Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn bị khai trừ đảng. Bản tin từ báo chí trong nước cho biết Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn, phó viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế-Xã Hội Đà Nẵng, vừa bị Thành Ủy Đà Nẵng khai trừ khỏi Đảng hôm 7 Tháng Ba, 2019. Đặc biệt là tin này không làm cho ai ngạc nhiên mà thậm chí rất nhiều người tỏ ra phấn khởi, vui mừng.
Trên trang facebook riêng của mình, Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn bình thản cám ơn người hâm mộ, bạn bè trong và ngoài nước của ông khi nghe tin. Không một lời biện bạch, phân giải hay xúc động, ông chỉ bình thản cho rằng mình đang hạnh phúc, hạnh phúc vì được trở về với chính mình.
Khác với nhiều người hoạt động cho dân chủ, nhân quyền Tiến Sĩ Sơn tuyên bố thẳng thừng ông là một nhà khoa học, một sử gia và không phải là người hoạt động chính trị. Ông bị khai trừ đảng với lý do giống như nhiều người khác: do viết, đăng tin, bài trên Facebook, mà chính quyền cáo buộc là sai sự thật… không đúng với quan điểm của đảng, chính sách, pháp luật của Việt Nam trên mạng xã hội.
Trong vai trò phó viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế-Xã Hội Đà Nẵng, Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn nhiều lần trả lời những vấn đề hóc búa về Hoàng Sa hay Trường Sa cho các đài phát thanh ngoại quốc. Sự thẳng thắn của ông chỉ gói gọn trong một mục đích: trả lại cái gì của Caesar và đừng vin vào bất cứ lý do gì để biện minh hành động trí trá của mình. Từ năm 2009 khi nhận trách nhiệm với Viện Nghiên Cứu Phát Triển, Tiến Sĩ Sơn không ít lần gây đau đầu cho chính quyền Đà Nẵng khi đòi công bố bản đồ mà ông phát hiện được chứng tỏ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ông nhiều lần tổ chức kỷ niệm ngày mất Hoàng Sa tại Đà Nẵng và không ít lần bị cảnh cáo từ Thành Ủy.
Cho tới Tháng Hai, năm 2018, thì Thành Ủy Đà Nẵng đã quyết định cách chức phó viện trưởng của ông.
Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn là người “ăn cơm đảng mà lại chống Tàu,” không những chống trên mặt trận báo chí và mạng xã hội ông còn bỏ công sức nhiều năm ra để thu nhặt các bản đồ quý giá nhiều nơi trên thế giới để chống lại mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh. Quan niệm của ông là nhà nước phải công bố những bản đồ này và dùng nó trong việc kiện Trung Quốc đề đòi lại chủ quyền biển đảo như Philippines đã làm và thành công.
Tuy nhiên, Việt Nam không phải là Philippines nên nỗ lực của ông không thực hiện được. Trả lời nhà báo Mike Ives của tờ New York Time, Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn gay gắt cho rằng: “Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam là những người nô lệ của Bắc Kinh, đó là lý do tại sao chúng tôi có rất nhiều tài liệu vẫn còn nằm trong bóng tối.”
Gọi ông là “người săn bản đồ,” New York Times cho rằng trong số các học giả Việt Nam nghiên cứu về các yêu sách lãnh thổ của chính phủ về vấn đề Biển Đông, Tiến Sĩ Sơn là một trong những người nổi bật nhất. Ông từng bỏ tiền túi ra để sang các nước mà ông nghĩ có lưu giữ những tấm bản đồ ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong lãnh hải Việt Nam và bộ sưu tập của ông tuy có giá trị nhưng Việt Nam không hài lòng vì ông muốn dùng chúng như những bằng chứng mạnh mẽ chống lại Trung Quốc.
Theo New York Times thì ông là người xuất thân từ nghèo khó, cha của ông đã bị giết chết vào năm 1970 trong khi chiến đấu cho miền Nam Việt Nam, Tiến Sĩ Sơn đã vươn lên bằng sự kiên trì và lòng hiếu học. Ông là một nhà sử học và luôn trung thành với những dữ liệu chính xác và đáng tin cậy. Từ cách nhìn của người hoạt động ghi lại lịch sử ông đã lặn lội tới Nhật để tiếp tục nghiên cứu và trình luận án tiến sĩ. Thành công này giúp ông thực hiện giấc mơ nóng bỏng của một trí thức muốn đóng góp cho quê hương bằng chính sở học của mình.
Sự nguy hiểm của Trung Quốc đối với giấc mộng thôn tính Việt Nam đã khiến ông mạnh mẽ kêu gọi Quốc Hội ngưng lại việc thông qua Luật Đặc Khu mà theo ông nó sẽ là bàn đạp để Việt Nam nằm gọn trong vòng tay kiểm soát của Trung Quốc. Bức thư ngỏ gửi 496 vị đại biểu Quốc Hội của ông có lẽ là một sản phẩm lạ lùng nhất từ trước tới nay khi ông không rào đón mà thẳng thắn cho rằng:
…“Tôi cũng biết nhiều vị trong số quý vị đang đóng rất nhiều vai: vừa là đại biểu Quốc Hội (lập pháp), vừa là thành viên của chính phủ và đại diện chính quyền các cấp (hành pháp); vừa là đảng viên kiên định với đường lối của chủ nghĩa Mác-Lênin, lại vừa là những ‘mắc xích ngầm’ của nhóm lợi ích trong guồng quay của chủ nghĩa tư bản thân hữu và hoang dã… Vì thế, quý vị sẽ khó vùng vẫy để thoát ra khỏi những mối quan hệ này để bấm nút theo chính kiến và lương tri của mình”…
Không đề nghị, không yêu sách và không thỏ thẻ, ông ngắn gọn như một tuyên bố thách thức kẻ nào trong số 496 đại biểu ấy dám bấm nút thông qua:
…“Tôi là một người học Sử và đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong suốt 30 năm qua. Nay, tôi bắt đầu học làm người chép Sử. Tôi nguyện sẽ ghi chép trung thành tất cả những gì mà tôi có thể ghi chép được về giai đoạn lịch sử hiện tại của nước nhà để lưu lại cho đời sau.
Và, một trong những việc đầu tiên mà tôi bắt tay vào việc chép sử này là tìm mọi cách, mọi phương tiện, mọi kênh thông tin… để biết được vị đại biểu Quốc Hội nào bấm nút THÔNG QUA, vị đại biểu nào bấm nút KHÔNG THÔNG QUA ‘dự luật đặc khu’ vào ngày 15 Tháng Sáu, 2018 để chép lại và lưu truyền cho các thế hệ sau.”
Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn bị khai trừ đảng là điều dễ hiểu vì vai trò chức trách của ông khá lớn để làm cho Trung Quốc phải nghĩ cách đối phó nếu tiếp tục ý đồ xem Biển Đông là ao nhà và đường lưỡi bò 9 đoạn không thể nào tranh cãi. Nỗ lực của Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn nếu được người dân khắp nơi biết ơn thì ngược lại lãnh đạo sẽ không bao giờ chấp nhận có một đồng chí chống bạn bè mình như thế. Bi kịch đối phó với Trung Quốc tuy xảy ra quá nhiều nhưng công trình dài hơi đầy tâm huyết của một nhà khoa học như Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn càng làm bóng tối che khuất sự thật mỏng đi cho tới ngày ánh sáng tràn vào xóa tan mọi lấp liếm, ngụy tạo và độc đoán của ngày hôm nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cả nước tưởng nhớ các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ Gạc Ma


Sáng nay, LĐLĐ tỉnh Khánh Hòa cùng hàng ngàn người khắp cả nước đã về tại Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma để dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ bãi đá Gạc Ma 31 năm trước.
Từ sáng sớm, Ban Quản lý Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma (tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) đã chuẩn bị cờ, hoa để các đoàn khách từ mọi miền Tổ quốc về đây dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống tại đảo đá Gạc Ma, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa để bảo vệ biển đảo thiêng liêng Tổ quốc 41 năm trước.
LĐLĐ tỉnh Khánh Hòa tổ chức lễ tưởng nhớ 64 anh hùng đã ngã xuống trong sự kiện Gạc Ma 31 năm trước
Ông Bùi Thanh Bình, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Khánh Hòa, ôn lại sự kiện Gạc Ma cách đây 31 năm vào ngày 14-3-1988. Thời điểm đó, các chiến sĩ Hải quân Việt Nam đang xây dựng đảo đá Gạc Ma thì bị địch tấn công làm 64 cán bộ chiến sĩ anh dũng hy sinh khi quyết giữ đảo.
LĐLĐ tỉnh Khánh Hòa dâng hương hoa tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ biển đảo Tô quốc
Kể từ khi đi vào hoạt động (tháng 7-2017) đến nay, khu tưởng niệm đã đón hơn 1.520 đoàn với gần 80.000 lượt người đến tham quan, tìm hiểu sự kiện lịch sử này. Có đoàn tham quan rất đông với trên 1.000 người.
Khu mộ gió để các đoàn thắp hương cho 64 anh hùng liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ Gạc Ma
Nhiều đoàn từ các tỉnh, thành đến viếng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma
Khu tưởng niệm hiện là địa chỉ đỏ được rất nhiều trường học, đơn vị, đoàn thể đã tổ chức tham quan, kết nạp hàng chục đảng viên mới, nhiều trường học tuyên dương học sinh trước tượng đài chiến sĩ Gạc Ma. Nhiều tour du lịch cũng tổ chức thành một điểm tham quan khi đến Khánh Hòa.
Đồng đội cũ của Lữ đoàn Trường Sa về thắp hương cho 64 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh bảo vệ đảo đá Gạc Ma
Một cô gái với áo dài mang sắc phục hải quân mang hoa viếng tại Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma
Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma tại xã Cam Hải Đông (huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) được Tổng LĐLĐ Việt Nam phát động xây dựng nhằm tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì biển đảo Tổ quốc.
Nhiều đoàn khách từ các tỉnh, thành tham quan, tìm hiểu sự kiện Gạc Ma
Khu tưởng niệm rộng 2,5 ha đã hoàn thành 2 phần chính là: Cụm tượng đài "Những người nằm lại phía chân trời" với "vòng tròn bất tử" cao trên 15 m, 9 hình tượng các chiến sĩ, thể hiện tinh thần hiên ngang, bất khuất của những người lính sẵn sàng xả thân để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Phần 2 là khu trưng bày ngầm lưu giữ những hiện vật liên quan đến cuộc đời và gia đình các liệt sĩ Gạc Ma; khu quảng trường Hòa Bình, khu mộ gió của 64 liệt sĩ Gạc Ma với đầy đủ họ, tên, địa chỉ…
Thực hiện: Kỳ Nam

nhận xét hiển thị trên trang

Ai kiểm soát Internet?


TƯỜNG ANH 12.03.2019 - Một nỗi lo đã thực sự hiện hữu: Trở thành thuộc địa mạng và mất chủ quyền số. Ngày 12-2, Đuma Quốc gia Nga đã thông qua trong phiên điều trần thứ nhất dự thảo luật về “Internet có chủ quyền”, như biện pháp đối phó với “Chiến lược an ninh mạng” của Hoa Kỳ được thông qua vào tháng 9-2018. Thời gian gần đây, người Nga ngày càng quan tâm tình trạng “chủ quyền số”. Mối bận tâm đó thể hiện qua rất nhiều sắc thái, được kể lại trong cuộc trò chuyện của chuyên gia trí tuệ nhân tạo Nga Igor Stanislavovich Ashmanov với tờ Ngày Mai (Zavtra).

Ảnh: Fusion
Igor Ashmanov (I.A): Liên quan đến an ninh mạng, cần chia vấn đề thành hai phần. Một là bảo mật mạng hoặc bảo mật điện tử, gắn với hoạt động an toàn của phần mềm, các thiết bị, các kênh, là nơi mà các mối đe dọa chính nhắm vào là tấn công mạng, virút, tin tặc, trojan, botnet. Hai là bảo mật thông tin liên quan đến tác động có chủ ý. Từ quan điểm an ninh mạng thì Nga, như đa số các nước khác, từ lâu đã là “thuộc địa số” của Hoa Kỳ. Dù so với các nước khác thì tình hình của Nga có đỡ hơn, bởi ta còn có gì đó của mình.

NỖI LO CỦA NƯỚC NGA

Zavtra (Z): Nga bị rơi vào tình trạng thuộc địa số từ khi nào vậy?

I.A: Nếu không tính đến quyết định có tính định mệnh của Liên Xô sao chép một loạt máy tính lớn IBM-360 vào đầu những năm 1970 thì việc này đã bắt đầu ồ ạt từ cuối những năm 1980, khi nhiều phát triển của chúng ta bị từ bỏ và chúng ta hấp thụ vô tội vạ công nghệ nước ngoài, chủ yếu vì tình trạng kiệt quệ kinh tế và nạn vi phạm bản quyền.

Suốt 20 - 25 năm, như một đất nước, chúng ta đã không trả cho Microsoft khoảng 200 tỉ USD cho giấy phép sử dụng Windows, Office... vì ta được cho không và chính bằng cách đó, ta đã móc nối vào phần mềm của họ như xỏ chỉ vào kim và kể từ đó ta chỉ sử dụng nó.

Z: Những cơ cấu nào của Mỹ kiểm soát Internet?

I.A: Phần quan trọng nhất của Internet là các máy chủ gốc của các địa chỉ tên miền (DNS root server). Phần này vẫn được Bộ Thương mại Hoa Kỳ quản lý.

Phần thứ hai là các chứng chỉ mã hóa gốc đang được sử dụng bởi các ngân hàng của chúng ta, tất cả các tổ chức phát hành mật khẩu Internet nói chung và tất cả các trang web có ít nhất một đăng ký với một mật khẩu. Phần này được chính thức quản lý bởi Hiệp hội Kế toán Bắc Mỹ. Các dự án Internet lớn như Google, Facebook, Twitter, Instagram, YouTube... phục tùng “Đạo luật tự do” năm 2015 (từng là “Đạo luật yêu nước” năm 2001), yêu cầu phải chuyển tất cả dữ liệu cho tình báo Hoa Kỳ, tức chúng được kiểm soát bởi tình báo Mỹ.

Z: Nhưng người ta vẫn hay nói về các cơ quan quốc tế trong lĩnh vực này?

I.A: Đúng, có nhiều tổ chức quốc tế quản lý Internet như ICAAN nhưng theo tôi, đây chỉ là những tổ chức ngụy trang cho việc Internet trên thực tế vẫn nằm trong quyền kiểm soát của người Mỹ. Đóng vai trò chính trong tổ chức này vẫn là những người Anglo Saxon và cũng chính họ nắm những ủy ban chính trong tổ chức này.

Thực sự việc quản lý Internet ở cấp độ dịch vụ và ứng dụng đều nằm trong tay Hoa Kỳ. Cả thế giới đang sống trong dịch vụ Internet của Mỹ: công cụ tìm kiếm Google, mạng xã hội Facebook, các mini blog Twitter, Instagram và YouTube, hệ điều hành Android cho điện thoại thông minh, cửa hàng ứng dụng Google Play, điện thoại thông minh iOS...

Phần lớn các nước trên thế giới không có công nghệ phần mềm phát triển và không có khả năng phát triển công cụ tìm kiếm của riêng họ lẫn mạng xã hội hay gì khác. Kể cả khi họ từng có chúng (như ở Đức hay Cộng hòa Czech), từ lâu chúng đã bị loại khỏi thị trường. Trong chừng mực này, Nga và Trung Quốc trong tình thế khá hơn vì họ có mạng xã hội của mình, hộp thư điện tử, công cụ tìm kiếm, nhắn tin...



Igor Ashmanov.-Ảnh: Wikipedia

LỢI ÍCH TOÀN CẦU HAY THUỘC ĐỊA KỸ THUẬT SỐ?

6 yếu tố của chủ quyền số

Theo tiến sĩ khoa học kỹ thuật, chuyên gia trí tuệ nhân tạo và phát triển phần mềm Igor Ashmanov, một nền chủ quyền số lý tưởng có những yếu tố cấu thành sau: (1) nền phần cứng riêng (mạng, điện thoại di động và PC), (2) nền phần mềm kiểm soát/sở hữu riêng (mạng và PC), (3) nền di động kiểm soát/sở hữu riêng, (4) cơ sở hạ tầng Internet riêng, (5) hệ thống tuyên truyền và tiến hành chiến tranh thông tin riêng, và (6) luật pháp và các dịch vụ thị trường phát triển.

Z: Liệu có thể nói hiện đang bắt đầu một vòng xoắn mới của tình trạng thuộc địa kỹ thuật số?

I.A: Đúng, ở vòng xoắn mới này, chúng ta đang được tích cực áp cho những công nghệ mới, được cho là kỳ diệu, có khả năng thay đổi thế giới. Tất cả chúng ta đều nghe thấy “blockchain”, “neural networks” (mạng thần kinh nhân tạo), “AI” (trí tuệ nhân tạo), “cryptocurrency” (tiền điện tử), “Internet of things” (Internet vạn vật), “big data” (dữ liệu lớn)... Giống như hồi thập niên 1990 chúng ta được nói rằng các công nghệ mới tuyệt lắm, cần phải ứng dụng ngay, nếu không sẽ trễ chuyến tàu...

Và tôi sẽ kể cho bạn nghe cơ chế này hoạt động thế nào. Cha tôi là tiến sĩ toán, tác giả nhiều công trình về toán kinh tế. Ông làm thư ký khoa học của khoa toán tin và điều khiển học của Đại học Quốc gia Matxcơva (MGU), tham gia tính toán dữ liệu cho Ủy ban kế hoạch Nhà nước Liên Xô.

Năm 1988, tôi đến gặp ông và nói chúng tôi vừa hoàn thiện một chương trình kiểm tra chính tả, bán nó cho các tổ chức nhà nước và có một ít tiền. Tôi muốn trả tiền trước thời hạn cho hợp tác xã nhà ở để chốt lại luôn vụ mua nhà của chúng tôi. Năm đó tôi 26 tuổi, mới tốt nghiệp MGU và chưa nghĩ gì về những vấn đề lớn. Nhưng cha tôi bảo chẳng cần trả gì trước thời hạn, vì chẳng bao lâu nữa số tiền ấy sẽ chẳng là gì.

Tôi rất ngạc nhiên, bởi thời điểm đó hoàn toàn chưa có lạm phát. Cha tôi giải thích khi đó ở Liên Xô, một con đê dày đang được dựng giữa tiền mặt và không phải tiền mặt. Đó là những dạng tiền khác nhau. Các công ty đang hoạt động trên thứ không phải là tiền mặt này và gần như không thể chuyển chúng thành tiền mặt. Việc chuyển đổi này chỉ diễn ra thông qua những cái “cổng” là thưởng và lương, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Cơ quan Đấu tranh chống cướp bóc tài sản xã hội chủ nghĩa, KGB... Cha tôi nói hiện một lỗ hổng đã được khoét trên con đê này dưới hình thức các “trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật trẻ” và nhiều phương thức “rút tiền mặt” khác (mà giới tài phiệt tương lai lúc đó bắt đầu khai thác “tận tình”), và lỗ hổng này sẽ đánh sập con đê kinh tế Xô viết. Ông khuyên tôi đừng trả tiền nhà, mà hãy mua gì đó giá trị bởi chẳng bao lâu đồng rúp sẽ chẳng là gì cả.

Z: Dự báo đã thành sự thật...

I.A: Vâng, Liên Xô sụp đổ bằng nhiều phương thức có tổ chức, có chủ ý. Chẳng hạn những năm đó họ bỏ tất cả thuế đánh vào việc xuất khẩu hàng hóa Liên Xô và nhiều sản phẩm của chúng tôi biến mất trong một đêm, chỉ vì chúng rẻ hơn hàng phương Tây cùng chất lượng tới mấy lần. Người ta xuất đi hàng toa tàu giày, bột giặt...

Z: Tức là thêm một “lỗ thủng” qua biên giới...

A.I: Vâng, sự sụp đổ có chủ ý của việc lưu thông tiền tệ và nền kinh tế này đã nuốt chửng mọi thứ mà người Liên Xô tích lũy được. Nó giúp làm giàu cho các nhà tài phiệt đầu tiên... Hiện giờ, tiền điện tử, bitcoin..., theo tôi, cũng là những lỗ hổng tương tự có thể xuất hiện trong chủ quyền kinh tế quốc gia. Trên thực tế, đó là một loại “tiền đen” không có hệ thống kiểm soát, tưởng như chẳng thuộc về ai, một hệ thống toàn cầu. Đây là một cơ hội rút tiền không ai có thể kiểm soát được. Nếu chúng ta đưa hệ thống này vào, toàn bộ nền kinh tế Nga sẽ bị hút vào đó...

Z: Đến nay may quá, chúng ta chưa có cryptocurrency nhưng đã ứng dụng nhiều thứ khác...

A.I: Vâng, thí dụ như Internet vạn vật. Tưởng như thật tốt khi các cảm biến được gắn trên tất cả thiết bị, cho phép kiểm soát việc sản xuất, năng lượng, vận chuyển hoặc hoạt động của các thiết bị gia dụng, nhưng vấn đề là chúng ta không có tiêu chuẩn riêng cho các cảm biến và giao thức truyền dữ liệu. Một lần nữa chúng ta lại vay mượn, cả cảm biến lẫn máy chủ, mà việc phát triển chúng chủ yếu được thực hiện ở phương Tây...

Z: Và việc sụp đổ toàn bộ hệ thống của chúng ta có thể xảy ra bằng chỉ một cú nhấp chuột?

A.I: Vâng, việc tắt toàn bộ Internet của chúng ta cũng chẳng khó khăn gì. Năm 2014, Bộ Thông tin liên lạc đã tổ chức diễn tập bí mật trong trường hợp bị tắt Internet. Kết quả được báo cáo là họ xử lý được. Rồi đến năm 2017 lại thêm một cuộc diễn tập nữa với nhiều công ty công nghệ lớn, tư lẫn công, và một báo cáo mật được gửi cho Hội đồng An ninh và tổng thống, dường như với kết luận là nếu chuyện đó xảy ra thì chúng ta vẫn xoay xở được.

Nhưng kết luận này rất hẹp. Nó chỉ đúng với những điều kiện hạn chế, thí dụ không ai kiểm tra tình huống khi đồng thời với việc ngắt kết nối Internet, họ rút luôn những chứng chỉ mã hóa gốc. Nếu chúng bị thu hồi và việc này có thể thực hiện trong vài giờ, tất cả sẽ đình trệ: từ những hệ thống ngân hàng đến các trang web hoạt động trên HTTPs, trong đó có công cụ tìm kiếm Nga Yandex, hộp thư điện tử mail.ru, tin nhắn...■

(Nguồn: http://zavtra.ru/blogs/tcifrovaya_okkupatciya)

Dự luật chủ quyền Internet

Một số nét chính của Dự luật “Internet có chủ quyền”:

- Các nhà mạng Nga có nghĩa vụ cung cấp dữ liệu về các nguồn của đường truyền dữ liệu. - - Những ai sở hữu “các tuyến liên lạc xuyên biên giới”, mà qua đó dữ liệu Nga được truyền ra nước ngoài, có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho một cơ quan nhất định (không được nêu trong dự luật.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia Nga cho rằng đó sẽ là Roskomnadzor - Cơ quan Kiểm tra và giám sát thông tin, công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông đại chúng Nga, trực thuộc Bộ Thông tin liên lạc Nga). Nếu xuất hiện các mối đe dọa đối với sự ổn định, tính toàn vẹn và bảo mật cho hoạt động của mạng Internet trên lãnh thổ Nga, cơ quan kiểm soát này phải chuẩn bị sẵn sàng để bảo đảm mạng Internet của Nga vẫn vận hành trơn tru.

Các tác giả dự luật ước tính Chính phủ Nga sẽ phải bỏ ra hơn 20 tỉ rúp (khoảng 305 triệu USD) thực hiện kế hoạch này.

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20190312/ai-kiem-soat-internet/1488399.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khôn khéo


Tôi đã hình dung và nói ra cách nay cả tuần, rằng vụ bênh vực cho cô Đoàn Thị Hương khỏi ra tòa ở Malaysia sẽ chả đi đến đâu. Chưa đề cập tới việc cô Hương có phạm tội hay không, chỉ riêng chuyện nhà chức trách Mã Lai coi thường sự sắng sở của Việt Nam đã bất lợi rồi.
Tại sao? Suốt thời gian dài, với bị cáo người Indonesia, cả bộ máy cầm quyền Indo, các bộ ngành, thậm chí cả tổng thống, đều tích cực can thiệp, đòi trả tự do cho công dân của họ. Và họ đã có kết quả tốt nhất.
Còn xứ ta, ngoài mấy vị luật sư tự nguyện hoặc được chỉ định tham gia vào việc bênh vực, bào chữa cho cô Hương, hầu như không cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nào của chính quyền lên tiếng, nhào vô bảo vệ công dân mình. Họ cứ im lặng, kiểu như "lỡ cô kia phạm tội thì sao", cứ từ từ, làm gì mà vội... Một dạng khôn vặt để bảo toàn lực lượng, danh tiếng.
Nhưng thấy công dân Indo được thả, tha bổng, thế là "cả hệ thống chính trị" vội vàng vào cuộc... chữa cháy, bù lại thời gian đã mất, nào Đại sứ quán, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, bộ này ngành nọ... Nhưng giới chức Malaysia thì nghĩ khác, cho rằng trước kia các vị thờ ơ với công dân mình, nay các vị lại cuống lên thế. Đừng thấy người ta ăn khoai, vội vác mai đi đào. Trước đã không cứu, không lên tiếng, thì nay có đòi bã bọt mép cũng chả chạy được cho ai. Sự khôn khéo vặt nhiều khi cũng phải trả giá, thậm chí rất đắt.

Phần nhận xét hiển thị trên trang