Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

CÁC THẾ GIỚI KHẢ HỮU TRONG LÝ THUYẾT VĂN HỌC


RUTH RONEN

DẪN NHẬP

Tính hư cấu như là một vấn đề liên ngành
Khái niệm tính hư cấu (fictionality) có mặt ở trong những diễn ngôn của rất nhiều bộ môn khác nhau và việc hiểu được tính hư cấu, vì thế, cần có một hướng tiếp cận liên ngành. Tính hư cấu là một tính chất chuyên biệt của các văn bản văn học, và chính vì thế, nó hình thành nên một chủ đề khả dĩ đối với nghiên cứu văn học. Các văn bản văn học cũng thiết lập nên một thực tại của riêng chúng mà thứ thực tại đó dường như đầy hồ nghi đối với các quan niệm cơ bản ở trong logic học và ngữ nghĩa học, do đó, các thế giới khả hữu (fictional worlds) có thể được kỳ vọng là mối quan tâm của các nhà triết học. Dẫu vậy, lịch sử của hai bộ môn này cho thấy rằng tính hư cấu đã thu hút một sự chú ý còn giới hạn và rời rạc từ cả hai phía văn học và triết học. Chỉ trong những năm gần đây, hai bộ môn này đã cùng nhau hướng sự quan tâm đến tính hư cấu; hơn nữa, chỉ trong những năm gần đây, hai bộ môn, khi trình bày về vấn đề hư cấu, đã bắt đầu quy chiếu đến cùng một đối tượng nghiên cứu. Cho đến giữa những năm 1970, tính hư cấu là một đối tượng của những cuộc truy tầm lý thuyết có tính chuyên môn riêng biệt: nó đã được các lý thuyết gia văn học diễn giải như là một đặc tính của các văn bản, còn đối với các nhà triết học thì nó hoặc bị tống khứ đi như là một tính phi chuẩn logic hoặc họ hoàn toàn phớt lờ đi nó. Nói như thế có nghĩa rằng, tuy lý thuyết văn học truyền thống đã không phớt lờ đi vấn đề hư cấu, nó đã coi tính hư cấu của các văn bản như là một loại hình tổ chức bên trong của chúng, nhưng nói rộng ra nó lại không đoái hoài đến thực tế rằng cái hư cấu, xét theo định nghĩa, quy chiếu đến các mối tương quan giữa một thế giới và những gì nằm bên ngoài những giới hạn của thế giới đó. Những năm gần đây đã có bằng chứng cho thấy có một nỗ lực đặc biệt từ phía các lý thuyết gia văn học trong việc vượt qua những giới hạn của văn bản văn học để từ đó trình bày một quan niệm về tính hư cấu ở trong một bối cảnh văn hóa rộng lớn hơn. Song song với những sự phát triển này, triết học (mà cụ thể là logic học triết học) đã phát triển các công cụ phân tích tiến hành giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các thế giới khả hữu. Ở giai đoạn này, các diễn ngôn triết học lẫn văn học bàn về tính hư cấu đã bắt đầu tương tác (và đôi khi khỏa lấp) với nhau, và ở điểm này một cuộc đối thoại liên ngành về những vấn đề có liên quan đến tính hư cấu đã bắt đầu được đánh dấu ở trong cả hai bộ môn.[1]
Như đã lưu ý ở trên, tính hư cấu, như là một đặc tính văn học, rõ ràng không phải là một chủ đề mới ở trong các nghiên cứu văn học ở cả truyền thống Anh-Mỹ (Wellek & Warren, 1963: 142 và tiếp và 212 và tiếp; Frye, 1957: đặc biệt 248 và tiếp, 303 và tiếp)[2] và truyền thống Đức (Auerbach, 1968). Tuy lý thuyết văn học đã luôn xem tính hư cấu như là một đặc tính chuyên biệt của các văn bản văn học (và do vậy, đã đương lượng tính hư cấu với tính văn học (literarity)), thế nhưng sự định hướng đã được điển phạm hóa (canonized orientation) nhắm đến hư cấu, chịu ảnh hưởng rộng rãi bởi truyền thống cấu trúc-hình thức luận và bởi các học thuyết của trường phái Phê bình Mới, đã nỗ lực thiết đặt đặc tính hư cấu của các văn bản theo một số yếu tố cấu thành văn bản, từ đó đã tạo ra những ý kiến khác biệt nhau theo đường hướng này (Hamburger, 1973 với quá khứ có tính chất sử thi; Banfield, 1982 với diễn ngôn gián tiếp tự do; Jakobson, 1960 với các khuôn mẫu tương đương). Đối với các quan niệm lý thuyết này, đường hướng tiếp cận của chúng nhắm đến tính hư cấu phản ánh một nỗ lực cách ly đối tượng văn học ra khỏi mọi đối tượng khác của văn hóa và cho thấy mọi đặc tính và mọi phạm trù tương ứng với sự hiểu văn học, kể cả tính hư cấu của nó, đều có thể được giải minh và được xác định bởi chỉ mỗi một mình văn bản văn học mà thôi. Việc thiết đặt một quan niệm “hướng tâm” (centripetal) như thế, xác nhận một cuộc tìm kiếm về những giới hạn của văn học, tìm kiếm những sự xác định bên trong hệ thống, đã khiến cho tính hư cấu của các thế giới và của các văn bản vẫn không được giải thích về mặt thực hành ở trong các nghiên cứu văn học. Các nhánh nghiên cứu văn học truyền thống khởi đầu từ một lập trường hướng tâm như thế, sẽ không và không thể chỉ ra được vấn đề của mối quan hệ giữa hư cấu và thực tại, hoặc vấn đề về việc kiểu mẫu hư cấu được liên hệ như thế nào với các tình huống và các sự kiện không có thực (kiểu như huyền thoại, giấc mơ, ao ước, v.v.). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bộ môn văn học đã chứng kiến sự xuất hiện của một mối quan tâm đang ngày càng tiến triển đi theo những sự truy vấn hữu thể học, trong sự phân biệt giữa các văn bản văn học nào là có tính hư cấu và các văn bản nào là phi hư cấu, trong những vấn đề của sự trình hiện, mô phỏng, v.v. Tính hư câu không còn được xác định như là một đặc tính của các văn bản nữa: nó hoặc được nhìn nhận như là một kiểu loại tình huống hành ngôn (speech situation), được coi như là một khuynh hướng ở trong một nền văn hóa, hoặc như là một kiểu loại logic học hoặc ngữ nghĩa học đặc thù. Theo bất cứ một định nghĩa nào trong số này, thì hướng tiếp cận nhắm đến tính hư cấu đều hợp thức hóa cho một tập hợp các vấn đề mới chưa được chỉ ra trước đó bởi lý thuyết văn học.
Nhu cầu cần để hiểu được tính hư cấu và hợp thức hóa cho tập hợp những sự xem xét vừa được nhắc đến này đã khiến cho các nhà lý thuyết muốn vượt qua các mô hình văn học để tiến đến một cuộc tìm kiếm các công cụ và các phương pháp giải thích ở trong những phạm vi khác. Từ lý thuyết hoạt động hành ngôn cho đến ngữ nghĩa học thế giới khả hữu, các mô hình liên ngành, về cơ bản, không có nghĩa là để giải thích các hiện tượng văn học đã xuất hiện ở trong phạm vi nghiên cứu văn học đáp ứng một nhu cầu gay gắt nhằm lý giải quan niệm về tính hư cấu, quan niệm đã thay đổi cả ở vị thế lẫn ý nghĩa của nó. Các nguồn mạch căn bản của các mô hình này gợi ý về một quan niệm rộng hơn về hiện tượng văn học, và một quan niệm khái quát hơn về tính hư cấu, một cách tự nhiên nằm trong phạm vi triết học: cụ thể là ở trong logic học triết học, trong triết học ngôn ngữ và trong mỹ học. Các khái niệm đã phát sinh từ các nhánh triết học khác nhau thật sự đã được thai nghén nên bởi các nhà lý thuyết văn học và sự vay mượn này đã không dừng lại ở cấp độ của hệ thuật ngữ. Sự thịnh hành của các khái niệm như dự phóng thế giới (world-projection), tác lập niềm tin (make-believe), mô phỏng (mimesis),trình hiện (representation) và các khái niệm khác được rút ra từ mỹ học, bên cạnh các quan niệm thể thức (modal notions) – như tình huống khả hữu (possible states of affairs), tính đồng nhất xuyên thế giới (cross-world identity), tính có thể truy cập (accessibility) – đã phát triển ở trong logic học triết học, chứng thực cho không chỉ cuộc tìm kiếm từ phía các nhà lý thuyết văn học nhắm đến các mô hình lý giải về tính hư cấu vượt qua những sự xem xét của lý thuyết văn học truyền thống; nó còn thể hiện rằng cuộc tìm kiếm này đã tạo ra một cứ địa cho một cuộc nghiên cứu liên ngành. Đến nay, cả hai bó khái niệm đều đã được hợp nhất lại đầy đủ thành một hệ từ vựng văn học và được sử dụng rộng rãi ở trong diễn ngôn văn học.
Để phân tích ảnh hưởng của logic học triết học và mỹ học lên diễn ngôn văn học về tính hư cấu, việc tập trung vào chính diễn ngôn văn học là chưa đủ. Cần phải khám phá sâu hơn phạm vi của một sự thiết lập quan niệm theo hướng liên ngành này. Vì mục đích này, nguồn mạch cụ thể của ảnh hưởng triết học đối với lý thuyết văn học về tính hư cấu và phạm vi trao đổi cụ thể giữa hai bộ môn phải được xác định một cách chính xác để giải thích cho sự thay đổi trong các bộ môn văn học và triết học và cho khái niệm tính hư cấu do những thay đổi này tạo ra. Vì mối quan tâm mới trong vấn đề tính hư cấu trong các nghiên cứu văn học được đánh dấu bởi sự ảnh hưởng của các phạm vi cụ thể trong triết học, nên mục đích đầu tiên của nghiên cứu này là chỉ ra các nguồn, các phân tuyến và các chức năng của sự ảnh hưởng này. Tức là, để hiểu được vị trí của tính hư cấu trong lý thuyết văn học hiện tại và khám phá khái niệm này hơn nữa, sự trao đổi giữa hai bộ môn phải được chỉ ra và được nắm bắt một cách đầy đủ. Thực tế là bản chất của hư cấu đã chạm đến một số câu hỏi cơ bản trong logic học triết học và triết học ngôn ngữ không ngụ ý rằng tính hư cấu là một khái niệm triết học thuần túy cần thiết vượt ra khỏi các công cụ giải thích của các mô hình văn học. Nó cũng không ngụ ý rằng các mối quan hệ giữa các diễn ngôn triết học và văn học về tính hư cấu là liền mạch; mà đúng ra có một chỉnh thể phức tạp của các vấn đề liên quan đến việc trao đổi liên ngành xung quanh vấn đề hư cấu.
Lưu ý rằng trong việc chỉ ra các truyền thống triết học khác nhau để giải quyết vấn đề hư cấu, tôi sẽ không đề cập đến những ảnh hưởng riêng biệt của chúng đối với bộ môn văn học. Mặc dù, ít nhất trong truyền thống tư tưởng, logic học và mỹ học Anh-Mỹ là các kiểu mẫu diễn ngôn triết học khác nhau (nói một cách thô thiển, cái trước trình hiện cho “sự thừa thãi” của triết học phân tích-hình thức, và cái sau biểu hiện một khuynh hướng triết học nhân bản, tư biện hơn), những sự phát triển độc lập trong lĩnh vực triết học tự chúng không phải là một đối tượng trực tiếp của nghiên cứu này. Tính hư cấu và các quan niệm liên quan có thể được mô tả một cách bừa bãi như là các đối tượng của logic học và mỹ học, đặc biệt là bởi vì có các quan niệm triết học, thậm chí là cả siêu hình học, đằng sau logic học hình thức và ngữ nghĩa học (và không phải là những sự hình thức hóa tự thân) liên quan đến nghiên cứu này. Tác phẩm của các nhà mỹ học (như Goodman, Walton, Wolterstorff, Brinker và những người khác) vì thế sẽ được đề cập đến bên cạnh các tác phẩm của các nhà logic học (từ Hintikka và Kripke tới Lewis và Adams), nhưng chỉ trong chừng mực mà tác phẩm của họ liên quan đến mối liên hệ giữa các quan niệm triết học và vấn đề hư cấu. Tôi cũng sẽ hạn chế tham khảo diễn ngôn triết học liên quan đến logic học về hư cấu vì mục đích của riêng nó. Trong một chừng mực được coi là đỉnh cao nhất theo cách nhìn này, đã được tóm tắt khá ổn trong các tuyển tập cụ thể những bài luận mà các nhà ngữ nghĩa học và các nhà logic học hình thức đã đóng góp trong tác phẩm của họ.[3] Mặc dù các giải pháp cho hư cấu được đề xuất bởi các nhà triết học đã được thay đổi và thậm chí trở nên mâu thuẫn, những giải pháp này sẽ không được khảo sát vì mục đích của riêng chúng. Các khía cạnh cụ thể của cuộc thảo luận triết học về hư cấu và các chủ đề liên quan sẽ được trình bày ở các giai đoạn khác nhau của nghiên cứu này để làm sáng tỏ các nguồn và những hàm ý của sự ảnh hưởng của logic học triết học đối với lý thuyết văn học. Những điều này cũng sẽ cho thấy những gì sau cùng có thể rút ra được từ quá trình mà ở đó lý thuyết văn học đã trở nên dễ tiếp nhận hơn đối với diễn ngôn về các tình huống không có thực nói chung và về tính hư cấu nói riêng được phát triển trong một bộ môn khác.
Các thế giới khả hữu và tính hư cấu
Nghiên cứu này tập trung vào một ẩn dụ trung tâm, ẩn dụ các thế giới khả hữu (possible worlds), có nguồn gốc của nó gắn với Leibnitz. Trong triết học, các thế giới khả hữu gắn với các mục đích khác nhau: chúng được sử dụng như là một thuật ngữ siêu hình học, như là một khái niệm của logic thể thức, như là một cách để mô tả tính có thể truy cập về mặt tri thức và thậm chí như là một ẩn dụ trong triết học khoa học để biểu thị các mối quan hệ giữa các hệ hình loại trừ lẫn nhau. Các thế giới khả hữu cũng được sử dụng rộng rãi trong các cuộc thảo luận mỹ học về sự trình hiện, mô phỏng và quy chiếu nghệ thuật. Các thế giới khả hữu đã không chỉ được sử dụng trên khắp các lĩnh vực triết học mà còn trên khắp các môn học và, trên hết, tỏa khắp phạm vi lý thuyết văn học (còn cả ngôn ngữ học, lý thuyết nghệ thuật và các khoa học tự nhiên). Các thế giới khả hữu xuất hiện trong nghiên cứu này trước tiên như là một nhãn hiệu chung để chỉ một tập hợp các khái niệm thể thức và quy chiếu được phát triển trong logic học và được vay mượn bởi các bộ môn khác để mô tả các vấn đề khác nhau: từ các vũ trụ diễn ngôn trong ngôn ngữ học, thông qua các thế giới hư cấu và đa viễn tượng trần thuật trong lý thuyết văn học, đến thực tại vật lý ở trong các khoa học tự nhiên. Tập hợp này bao gồm các khái niệm về tính tất yếu và tính khả hữu, của thế giới, tập hợp thế giới và các mối quan hệ xuyên thế giới, các khái niệm quy chiếu đến các thành phần thế giới, và các kiểu mẫu hiện hữu (không hiện hữu, hiện hữu không đầy đủ, v.v…). Những khái niệm này đã thâm nhập vào diễn ngôn lý thuyết văn học như đã được chứng minh trong việc giới thiệu lại các vấn đề quy chiếu vào phạm vi văn học và trong hệ thuật ngữ đang phổ biến ở trong các phạm vi lý thuyết hóa văn học nhằm giải quyết vấn đề về tính hư cấu. Các thế giới khả hữu, do đó, cung cấp một khuôn khổ và bối cảnh chung để mô tả sự ảnh hưởng đáng chú ý nhất của diễn ngôn triết học lên lý thuyết văn học về tính hư cấu và chúng cũng bổ sung những cơ sở cho việc định hướng lại lý thuyết văn học đối với các vấn đề quy chiếu, hữu thể học và sự trình hiện. “Các thế giới khả hữu” cũng là một thuật ngữ đặc biệt đã xuất hiện trở lại ở trong logic học thể thức vào những năm 1970 để đề ra các quan niệm trừu tượng về logic học thể thức với nội dung cụ thể: tính khả hữu và tính tất yếu được mô tả trong bối cảnh này như là các thế giới hoặc như là các tình huốngCác thế giới khả hữu, tự nó, đã đạt được một sự thịnh hành được đánh dấu trong phạm vi diễn ngôn văn học. Theo ý nghĩa cụ thể này, ý niệm về các thế giới khả hữu là mang tính dấu hiệu của những sự sửa đổi và những sự sửa chữa lại trong chính bộ môn triết học trong hai thập niên qua. Theo ý nghĩa riêng biệt của nó lẫn theo ý nghĩa rộng hơn của nó, khái niệm các thế giới khả hữu trình hiện một bối cảnh rộng lớn hơn đằng sau nó và nó không xuất hiện như là một khái niệm bị cô lập ở trong triết học. Các cuộc thảo luận về các thế giới khả hữu và các vấn đề liên quan trong triết học, trình hiện những sự thay đổi khái quát hơn ở trong phạm vi này. Những sự thay đổi tiến triển ở trong sự định hướng của việc nới lỏng các quan niệm triết học vềchân lýhiện hữu và các quan hệ ngôn ngữ-thế giới, những quan niệm được công nhận các giới hạn nghiêm ngặt theo truyền thống. Việc hiểu được sự ảnh hưởng của diễn ngôn triết học lên lý thuyết văn học, do đó, không thể tiến hành mà không nhờ vào sự chú ý thích hợp dành cho những sự thay đổi này. Trong việc áp dụng các thế giới khả hữu vào bộ môn văn học không có lý do nào để giả định rằng khái niệm này có thể được tách rời khỏi bối cảnh triết học rộng hơn của nó. Tác động của sự khái niệm hóa triết học và việc lý thuyết hoá lên lý thuyết văn học về tính hư cấu thực sự đã vượt qua quan niệm về các thế giới khả hữu theo nghĩa hạn chế của nó, và để giải thích tác động này, do đó người ta phải rút ra từ các nguồn triết học rộng lớn hơn. Về mặt này, các thế giới khả hữu có thể, một lần nữa, gắn với một ẩn dụ tiện dụng, như một thấu kính qua đó những sự thay đổi ở trong phạm vi triết học có thể được khảo sát và trong chừng mực nào đó ảnh hưởng của chúng được đánh giá. Cách mà các thế giới khả hữu và các khái niệm liên quan (như tính có thể truy cập, tính tất yếu, tính ngẫu nhiên) được giải thích trong lý thuyết văn học phản ánh một giai đoạn đặc biệt ở trong lịch sử của cuộc hôn phối xuyên ngành xung quanh vấn đề hư cấu, như nghiên cứu này nhằm mục đích chứng minh. Bản chất của giai đoạn này đặc biệt rõ ràng không chỉ bởi vì nó được gói gọn trong chính quan niệm của các thế giới khả hữu và theo các nghĩa rộng hữu thể học mà khái niệm này mang lại, mà còn bởi vì nó đã đánh dấu giai đoạn đầu của sự trao đổi liên ngành trong một lịch sử mà phần lớn là một lịch sử của những sự đảm đương chuyên môn riêng biệt. Nhờ lý do này mà các thế giới khả hữu có thể phản ánh những sự thay đổi được củng cố sâu hơn theo sự định hướng và tái định hướng trong cả hai bộ môn.
Những điểm cốt yếu của sự trao đổi liên ngành xung quanh các thế giới khả hữu có thể được tóm tắt theo cách sau (và chúng sẽ được giải thích rõ ràng đầy đủ ở chương 1 của nghiên cứu này):
(1) Các thế giới khả hữu (và các khái niệm liên quan) được vay mượn từ logic học triết học, chỉ ra sự lập thức (legitimization) của các vấn đề quy chiếu và các vấn đề phải được thực hiện cùng với các quan hệ hiện thực-hư cấu trong lý thuyết văn học.
(2) Các thế giới khả hữu lần đầu tiên đưa ra một bộ khung giải thích triết học liên quan đến vấn đề hư cấu. Đây là một ngoại lệ trong quan điểm của truyền thống triết học lâu đời, từ Plato đến Russell, đã loại trừ hư cấu ra khỏi cuộc thảo luận triết học (hư cấu đã được xem xét, ví dụ, như là một chuỗi các mệnh đề không có giá trị chân lý).
(3) Các thế giới khả hữu cho thấy rằng hư cấu không phải là một hiện tượng đặc biệt về mặt logic và về mặt ngữ nghĩa. Mặc dù hư cấu được tạo thành bởi các mệnh đề có vẻ giống như các khẳng định chính quy nhưng không quy chiếu đến các tình huống thực tế hay đến bất cứ điều gì đó nói chung, có những sản phẩm văn hoá khác có các đặc điểm tương tự, các sản phẩm thể hiện các tình huống không thực tế thông qua sức mạnh của ngôn ngữ (các điều kiện thể, các mệnh đề liên quan đến mong muốn, dự đoán hoặc ký ức của người nói, các mệnh đề xây dựng có tính thần thoại, v.v…). Vì vậy, hư cấu không được xem như là một hiện tượng đặc biệt bị cô lập mà là một phần của một bối cảnh rộng lớn hơn của các diễn ngôn không quy chiếu đến những sự vật có một cách thực sự ở trong thế giới.
(4) Các thế giới khả hữu chọc thủng sự uyên mặc (hermetics) của tính văn học và sự định hướng bên trong hệ thống vốn đã là một đặc trưng phổ biến của lý thuyết văn học trong vài thập niên qua. Tuy nhiên, điều này đạt được nhưng không cản trở tính khả hữu của chủ nghĩa hình thức ở trong lý thuyết văn học. Về mặt này, nguồn gốc ngữ nghĩa-logic của các thế giới khả hữu phù hợp với nhu cầu của các nhà nghiên cứu văn học lo lắng duy trì các phương pháp mô tả hình thức ở trong các nghiên cứu văn học.
Bốn điểm này đề ra những nền tảng và động lực cho việc sử dụng các thế giới khả hữu theo hướng văn học tiến hành mô tả chỉ một mặt của bức tranh trao đổi liên ngành. Mặt khác của sự trao đổi này cho thấy những khó khăn có tính triệu chứng mà việc vay mượn khái niệm xuyên ngành có liên quan đến. Trong bối cảnh này, một vấn đề có tính hai mặt với việc sử dụng văn học của các thế giới khả hữu đòi hỏi một sự giải thích nhất định. Thứ nhất, lý thuyết văn học đưa ra một lối giải thích không đầy đủ về các nguồn gốc triết học trong việc suy tư về các thế giới khả hữu, và thứ hai, trong quá trình chuyển giao các thế giới khả hữu cho lĩnh vực văn học, khái niệm này đánh mất đi ý nghĩa căn nguyên của nó và trở thành một ẩn dụ bị khuếch tán. Nói tóm lại, các thế giới khả hữu là một khái niệm dường như đã được tích hợp đầy đủ vào bộ môn văn học mà không có sự giải thích đầy đủ về ý nghĩa căn nguyên của nó. Kết quả là một sự thích ứng ngây thơ hoặc là một phép ẩn dụ không có chủ ý về một khái niệm mà ý nghĩa căn nguyên không được định hình của nó (có tính triết học và văn học) là không được rõ ràng. Một tình huống tương tự xảy ra liên quan đến các khái niệm khác như tính có thể truy cập, tính thực hữu và những sự thể không hiện hữu. Thông thường thì, việc sử dụng những khái niệm này theo hướng văn học khác với ý nghĩa triết học căn nguyên của nó: nó bỏ qua các mục đích mà các khái niệm này được định sẵn để đáp ứng và những vấn đề mà chúng được nhắm tới giải quyết trong lĩnh vực triết học. Thêm vào cho lối giải thích bộ phận này về ý nghĩa căn nguyên của các thế giới khả hữu, đó là đôi khi dường như trong vũ đài văn học, các thế giới khả hữu có chức năng như là những sự thay thế “hiện đại” cho các khái niệm truyền thống hơn, và do đó, các thế giới khả hữu tiềm ẩn có tính giải thích đi cùng với chúng là các hiện tượng văn học không được rút ra một cách đầy đủ. Do đó, mặc dù sự tương tác liên ngành xung quanh khái niệm các thế giới khả hữu đã làm nảy sinh một số quan niệm liên quan đến hư cấu văn học và đã cho phép những hướng đi tư tưởng mới, nhưng sự tương tác này vẫn chưa được khám phá đầy đủ ở một số khía cạnh, trong khi ở các khía cạnh khác thì nó lại gây hiểu nhầm. Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các thế giới khả hữu qua các bộ môn sẽ được mô tả trong chương thứ hai của nghiên cứu này, ở đó nó sẽ được chỉ ra rằng các thế giới hư cấu chỉ có thể được coi là các thế giới khả hữu khi mà một phần của các đặc tính ngữ nghĩa-logic của khái niệm các thế giới khả hữu bị bỏ qua. Mặc dù các cuộc nói chuyện về các thế giới khả hữu đánh dấu sự ra đời của một loại diễn ngôn mới về tính hư cấu ở trong bộ môn văn học, các thế giới hư cấu, không giống như các thế giới khả hữu, thể hiện mô hình thế giới dựa trên quan niệm của sự song song (parallelism) chứ không phải trên sự phân nhánh (ramification). Các thế giới khả hữu dựa trên một logic học của sự phân nhánh xác định phạm vi của những tính khả năng nổi lên từ một tình huống thực tế; còn các thế giới hư cấu dựa trên một logic học của sự song song đảm bảo tính tự chủ của chúng trong quan hệ với thế giới thực tế.
Một thế giới của bất kỳ trạng thái hữu thể học nào cũng đều chứa đựng một tập hợp các thực thể (vật thể, con người) được tổ chức và được tương quan với nhau theo các cách thức cụ thể (thông qua các tình huống, các sự kiện và không gian-thời gian). Một thế giới như là một hệ thống các thực thể và các mối quan hệ, là một miền tự trị theo nghĩa rằng nó có thể được phân biệt với các miền khác được xác định với tập hợp các thực thể và các quan hệ khác. Một thế giới hư cấu, tương tự, cũng bao gồm tập hợp các thực thể (các nhân vật, các vật thể, các địa điểm) và mạng lưới các mối quan hệ có thể được mô tả như là các nguyên tắc tổ chức: các mối quan hệ không gian-thời gian, sự kiện và sự nối tiếp hành động. Các thế giới, dù là hư cấu, khả hữu hay thực tế, vì thế, đều có thể phân biệt được với nhau. Tuy nhiên, thế giới hư cấu được xây dựng như là một thế giới có vị thế hữu thể học riêng biệt của nó, và như là một thế giới thể hiện một hệ thống các cấu trúc và các quan hệ tự cung tự cấp. Thế nhưng, các thế giới khả hữu, dù là những thế giới có thể phân biệt, lại không chia sẻ quyền tự trị hữu thể học này. Một triệu chứng trung tâm của loại hình tự trị được gán cho các thế giới hư cấu được thể hiện theo cách mà hư cấu cấu thành nên một cấu trúc thể thức độc lập. Được hình thành như là một thế giới song song, mọi thế giới hư cấu bao gồm một hạt nhân của các sự kiện xung quanh tập hợp quỹ đạo của các tình huống giảm dần tính thực tế hư cấu. Cấu trúc thể thức hư cấu thể hiện sự song song của các hữu thể học hư cấu cho thấy các sự kiện hư cấu không liên quan đến những gì có thể hoặc không thể xảy ra trong thực tế, mà đúng ra là những gì đã xảy ra và những gì đã có thể xảy ra ở trong hư cấu.
Tính hư cấu và ngữ dụng học về hư cấu
Tầm quan trọng của việc hạn định phạm vi của sự trao đổi giữa hai bộ môn, của việc nắm bắt nguồn gốc của sự ảnh hưởng triết học đối với lý thuyết văn học về tính hư cấu và của việc phân biệt các thế giới hư cấu với các thế giới khả hữu, nằm trong cách tiếp cận mới đối với tính hư cấu mà phân tích này tạo ra. Ở một chừng mực nào đó, việc sử dụng đơn thuần các khái niệm được vay mượn từ logic học triết học, và đặc biệt là lối sử dụng các khái niệm thuộc khuôn khổ của các thế giới khả hữu sẽ đi đôi với một quan niệm mới về tính hư cấu. Đó là mục đích của chương 3 của nghiên cứu này để làm sáng tỏ bản chất và ý nghĩa của quan niệm về tính hư cấu xuất hiện từ phạm vi lý thuyết hóa có tính liên ngành về các vấn đề quy chiếu. Công việc của một nhóm các nhà nghiên cứu văn học làm việc trong truyền thống hình thức luận (Dolezel, Pavel, Eco, Ryan, Vaina, Margolin) dự đoán, ngụ ý và đôi khi thực hiện một cách rõ ràng một sự xem xét lại về tính hư cấu. Hệ thuật ngữ mà các lý thuyết gia này đã vay mượn từ khuôn khổ logic học được áp dụng để giải quyết một số lượng lớn các vấn đề: để làm rõ khái niệm về tính hư cấu (Pavel, 1986; Dolezel, 1988), để làm rõ những sự phân biệt thể loại (Ryan, 1991; Dolezel, 1985), để phân tích hoạt động hành ngôn khác biệt với sự tác lập hư cấu (Martinez-Bonati, 1981, Ryan, 1984, Petrey, 1990) và thậm chí để giải quyết các vấn đề thi pháp được nảy sinh bởi các xu hướng văn học đặc thù (McHale, 1987) hoặc để mô tả quá trình đọc và việc giải mã ngữ nghĩa của văn bản văn học (Eco, 1979). Phạm vi của các vấn đề mà theo đó các khái niệm logic được áp dụng phê chuẩn cho mối quan tâm gần đây của các nhà lý thuyết văn học trong các câu hỏi chung liên quan đến logic học và ngữ nghĩa học có nguồn gốc từ vị trí “hư cấu” của một văn bản trong một nền văn hoá. Tuy nhiên, ngoài rất nhiều những vấn đề này, và dựa trên một sự xem xét kỹ lưỡng hơn về các mô hình này, một đặc điểm chung xuất hiện: điều gì đặc trưng cho toàn bộ hướng đi này, trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi cuộc thảo luận triết học về tính tất yếu, tính khả hữu và các thế giới khả hữu, những thứ đã không còn là một cố gắng xác định vị trí của tính hư cấu của các văn bản theo một đặc tính văn bản. Mặc dù không được tuyên bố một cách rõ ràng, vị trí đã trình bày trong những nghiên cứu này ngụ ý rằng một logic học về hư cấu tự nó không dựa vào các tính năng nội tại về mặt văn bản. Trạng thái của cái hư cấu được nhận dạng với một sự phức hợp của những sự xem xét có tính văn học, văn hoá và định chế. Hướng đi nghiên cứu này cho thấy rằng thuộc tính hư cấu của các văn bản có thể được xác định liên quan đến một bối cảnh văn hoá nhất định, như là một tính năng được quyết định về mặt ngữ dụng của các văn bản. Mọi nền văn hóa đều viện dẫn các tiêu chuẩn tương đối riêng của nó dành cho sự phân loại các văn bản: một số văn bản được xem như là có tính hư cấu nhưng chỉ liên quan đến các văn bản được xem xét ở trong cùng một bối cảnh này là không có tính hư cấu – lịch sử, hoặc các phiên bản khoa học về thế giới thực. Tính hư cấu, do đó, không còn được xem như là nội tại nữa: tính hư cấu chỉ như là một thuộc tính được xác định về mặt ngữ dụng, từ đó ta có thể phân biệt Anna Karenina như là một hư cấu so với Lịch sử nước Phápcủa Michelet như là phi hư cấu, mặc dù có nhiều thành phần hư cấu nổi bật mà tác phẩm của Michelet chứa đựng. Tính hư cấu cũng có thể phân biệt theo bối cảnh giữa hư cấu với huyền thoại (các văn bản có thể được coi là hư cấu hoặc là thực tế theo thời điểm lịch sử được lựa chọn) và với các văn bản khoa học (các văn bản trình hiện các phiên bản có thẩm quyền về cách thế giới hiện hữu như thế nào).
Chương 3, vì thế, sẽ nhằm mục đích đề xuất một mô hình có hệ thống về cái mà một định nghĩa có tính ngữ dụng về tính hư cấu chứa đựng qua việc kết hợp các kết quả của phê bình dựa trên việc sử dụng các thế giới khả hữu có tính liên ngành với một mô tả về các thuộc tính ngữ nghĩa-logic của hư cấu. Nếu một thế giới hư cấu không phải là một thế giới khả hữu, vấn đề còn lại đó là cái gì đặc trưng cho các hữu thể học hư cấu và cái gì là vị thế của chúng có liên quan đến những người tạo ra chúng và những người nhận biết chúng. Để khám phá bản chất độc đáo của hư cấu, trước tiên chúng ta sẽ tra hỏi xem sự tương đồng giữa thế giới khả hữu và thế giới hư cấu đã mang lại cho chúng ta sự lưu tâm này đến đâu. Các thế giới khả hữu rõ ràng đã có những tác động lâu dài và sâu sắc đến bộ môn văn học trong các hoạt động của nó liên quan đến tính hư cấu. Tình hình trông có vẻ như thế này: tác động của các thế giới khả hữu và các khái niệm logic khác đối với lý thuyết văn học được chứng minh nơi những gì có thể được mô tả như là sự thuyên chuyển của tính hư cấu thành một khái niệm ngữ dụng; ngữ dụng học về hư cấu, trong sự chuyển hướng của nó, là cơ sở cho việc xác định loại đường phân cách phụ thuộc vào ngữ cảnh giữa các hữu thể học hư cấu và phi hư cấu, và cũng là cơ sở để mô tả các đặc tính logic học và ngữ nghĩa học có liên quan đến tính thể thức hư cấu.
Một đường phân chia được xác định về mặt ngữ dụng giữa hư cấu và phi hư cấu có nghĩa là cách thức mà tính hư cấu được tiếp cận trong nghiên cứu này tương phản với cả các cách tiếp cận “phân biệt” (segregationist) lẫn cách tiếp cận “kết nhập” (integrationist) về hư cấu.[4] Khác với loại đường phân chia giữa hư cấu và phi hư cấu đã đề xuất trong nghiên cứu này, những người phân biệt khác có khuynh hướng áp dụng một đường phân chia phạm trù giữa hư cấu và phi hư cấu và giải thích bản chất của hư cấu như một sự sai lệch (deviation) so với các tình huống thực tế, với logic chuẩn hoặc với các quy tắc thông thường của ngữ nghĩa học. Ngữ dụng học về hư cấu được mô tả trong nghiên cứu này cũng phản đối quan điểm của những nhà kết nhập, người có khuynh hướng bắt đầu làm mờ những sự khác biệt giữa các hữu thể học mẫu thuẫn nhau. Các cách tiếp cận kết nhập nhấn mạnh sự dị biệt hữu thể học giữa các thế giới và đặt ra một tính có thể truy cập hiển nhiên giữa các hệ thống thế giới. Hơn nữa, cả hai cách tiếp cận kết nhập và phân biệt đều có xu hướng xem bản chất của các thực thể hư cấu như được chỉ ra bởi một quan điểm siêu hình học và nhận thức luận về bản chất của thực tại. Các lý thuyết về hư cấu, tôi cho rằng, không phải theo hướng phân biệt mà cũng chẳng theo hướng kết nhập trong cách tiếp cận của chúng; một sự tự trị nhất định sẽ được trao cho logic học và ngữ nghĩa học về hư cấu, một quyền tự trị có thể ngăn cản những nỗ lực không chính đáng, một phần của các nhà lý thuyết văn học, để xúc tiến hoặc ngụ ý những tuyên bố về những gì được gọi là “những tình huống thực tế.”
Mặc dù tính tương đối với nó mà thuộc tính của cái hư cấu được thâm nhập, nhưng tính hư cấu của một văn bản đòi hỏi phải có những quy tắc ngữ nghĩa-logic cụ thể, theo đó thế giới hư cấu được đọc. Trong một số trường hợp ngữ dụng cụ thể hoặc trong một bối cảnh văn hoá cụ thể, một quyết định được đưa ra để phân loại các văn bản dưới dạng “hư cấu”. Một khi nhãn hiệu “hư cấu” đã được quy cho, các quy ước ghi rõ vị thế và sự diễn giải đúng đắn về các mệnh đề hư cấu được kích hoạt. Khi một văn bản được coi là có tính hư cấu, tập hợp các mệnh đề của nó được đọc theo các quy ước kiến tạo thế giới hư cấu và nó được biểu hiện bằng cách quan sát tập hợp các quy ước kiến tạo thế giới hư cấu (được mô tả ở trong chương 3). Từ tập hợp các quy ước trước đây theo sau sự phân lập hữu thể học về hư cấu khỏi tính thực hữu, và từ tập hợp thứ hai theo đó, đã nắm bắt được sự phân lập này, các lĩnh vực cấu thành thế giới hư cấu (các nhân vật, các vật thể, các sự kiện, thời gian và không gian) tuân theo các kiểu mẫu tổ chức là duy nhất dành cho hư cấu.[5] Tức là, khi các mệnh đề của một văn bản được trực chỉ bởi thuộc tính “hư cấu” trong một bối cảnh văn hoá nhất định, các nhân vật, ví dụ, được xây dựng bởi những mệnh đề này, được xem là những người tham gia vào trong một hệ thống thế giới hư cấu song song, và theo quan điểm của sự song song này (nghĩa là, quyền tự chủ ngữ nghĩa-logic có liên hệ với các hệ thống thế giới khác) các nhân vật này được xem như là đang chứng minh cho một kiểu mẫu tổ chức thống nhất (ví dụ, theo quy ước xây dựng thế giới thích hợp, chúng ta giả định rằng các nhân vật trong các thế giới hư cấu được tổ chức ở các tập hợp trung tâm và thứ cấp, mà các nhân vật có bản chất phẳng hoặc tròn, v.v.). Mỗi miền hư cấu, do đó, có chức năng như vừa là một miền hữu thể học và vừa như là một miền cấu trúc: nó xác định vị thế hữu thể học duy nhất của hư cấu so với các thế giới khác của sự tồn tại phi thực tế và nó xác định mô thức cấu trúc của hư cấu xuất hiện từ các nguyên tắc tổ chức hạn định thế giới.[6]
Quan điểm này về quyền tự trị của các thế giới hư cấu ngụ ý rằng các thế giới hư cấu là riêng biệt về mặt hữu thể học và về mặt cấu trúc: các sự kiện của thế giới thực tế không có đặc ân hữu thể học tiên nghiệm hơn hẳn các sự kiện của thế giới hư cấu. Hệ thống thế giới hư cấu là một hệ thống độc lập bất kể loại hư cấu nào được xây dựng và phạm vi của sự phác thảo của nó theo tri thức của chúng ta về thế giới thực tế. Vì các thế giới hư cấu là tự trị, chúng không phải ít nhiều có tính hư cấu theo các mức độ của sự đồng thuộc giữa hư cấu và thực tế: các sự kiện của thế giới thực tế không phải là các điểm quy chiếu hằng cửu cho các sự kiện hư cấu. Việc vẽ ra một sự phân biệt ngữ dụng giữa hư cấu và thực tế, rằng cả hai đều nhấn mạnh đến tính tương đối của phạm trù hư cấu, và đồng thời là sự tự trị của các thế giới hư cấu, do đó không áp đặt một quan niệm cụ thể về thực tại là gì, hoặc nó liên quan đến hư cấu như thế nào. Sự kích hoạt các quy ước cho việc đọc hư cấu có nghĩa là thế giới hư cấu được nắm bắt như là tự trị về mặt logic một cách tương đối so với bất kỳ quan niệm nào về thực tế (mặc dù nó có thể dựa nhiều vào các quan niệm thực tế như vậy).
Tính hư cấu và tính trần thuật
Trong khi phần đầu của nghiên cứu này được dành riêng cho sự tương tác giữa các thế giới khả hữu (possible worlds) và tính hư cấu (fictionality), thì phần thứ hai sẽ tập trung vào các mối quan hệ giữa các thế giới hư cấu (fictional worlds) và tính trần thuật (narrativity). Có thể khẳng định rằng tính hư cấu của các thế giới văn học là một hiện tượng phức hợp vừa giả định những mối quan hệ liên thế giới (inter-world relations) (hư cấu không thể được định nghĩa bên ngoài một hệ thống văn hoá, cái vốn dĩ còn xác định cả những kiểu mẫu tồn tại phi hư cấu) vừa giả định sự tổ chức nội thế giới (intra-world organization). Trong trường hợp của các thế giới trần thuật, sự tổ chức nội thế giới được xác định bởi tính tính trần thuật.
Nghiên cứu này tập trung vào nơi gặp gỡ của tính kết giới (nationality) và tính trần thuật mặc dù các văn bản có tính kịch cũng như thơ trữ tình và văn xuôi trần thuật tất cả đều xây dựng các thế giới hoặc các mảnh thế giới. Do đó, người ta có thể nghiên cứu một cách tương đương nơi gặp gỡ của tính hư cấu với những tính chất kịch hoặc tính chất trữ tình của các thế giới. Sự nhấn mạnh vào tính trần thuật tuy vẫn được thúc đẩy bởi niềm tin được nhìn nhận chung rằng trong số các thể loại văn học, hư cấu/tiểu thuyết trần thuật kiến tạo rõ ràng nhất nên những tập hợp và các tình huống có hệ thống qua đó mà khái niệm thế giới có liên quan đến. Một niềm tin trực quan như vậy có thể giải thích tại sao trong các lĩnh vực của lý thuyết văn học, lý thuyết trần thuật vẫn còn chiếm đóng nhiều hơn với vấn đề kiến tạo thế giới hơn so với lý thuyết về kịch hoặc lý thuyết về thơ trữ tình, mặc dù ta có thể thấy rằng các thế giới không được xác định với sự kiến tạo trần thuật. Bởi vì hư cấu/tiểu thuyết trần thuật kiến tạo rõ ràng nhất nên các thế giới mà người ta có thể mong đợi, từ quan điểm xem xét trạng thái tổng thể của bộ môn văn học, mà bất kỳ nỗ lực lý thuyết nào để mô tả các thế giới hư cấu cũng đều sẽ dựa vào một sự kết hợp của hai khái niệm này: tính hư cấu và tính trần thuật.
Mối quan tâm gần đây của các nhà lý thuyết văn học trong các vấn đề quy chiếu, trình hiện và tính hư cấu thật sự được đánh dấu đặc biệt trong diễn ngôn của các nhà trần thuật học (các nhà lý thuyết bàn về trần thuật).[7] Sự giao thoa có tính định chế này (và bản sắc cá nhân) của các chuyên gia được biết đến như những nhà trần thuật học và những người làm việc về các vấn đề về tính hư cấu và về hữu thể học hư cấu, tuy thế, sẽ không tạo ra một ấn tượng sai lầm nào cả. Cho đến gần đây rất hiếm khi có các nghiên cứu trần thuật cho rằng các vấn đề quy chiếu và các lý thuyết mới về tính hư cấu đã được thực hiện dựa trên cốt lõi của nghiên cứu trần thuật. Như đã đề cập ở trên, sự nhấn mạnh đến độ tự cảm (susceptibility) của phạm trù hư cấu đối với những sự thăng giáng lịch sử văn hoá thể hiện một sự thay đổi căn bản của quan niệm về bản chất của các thế giới văn học. Tuy nhiên, cho đến cuối những năm tám mươi, sự thay đổi quan niệm này có được thông qua và vẫn còn bị tách ra khỏi dòng chủ lưu của lý thuyết trần thuật. Nói cách khác, tác động của các khái niệm triết học lên bộ môn văn học đã bị giới hạn trong các lĩnh vực nghiên cứu rất hạn chế, hoặc ít nhất là những hàm ý của tác động này đã không được đánh giá đầy đủ. Tức là, mặc dù một ngữ dụng được phát triển theo kiểu mới về hư cấu hoan nghênh một quan niệm mới về các cấu trúc cốt truyện, các điểm nhìn và các quan điểm, các nhân vật và các đối tượng, cùng cấu trúc thời gian, những điều này chủ yếu vẫn tiếp tục được giải quyết bằng các thuật ngữ truyền thống hoặc ít ra những thứ như vậy dường như cũng có được giá trị nào đó. Dòng chủ lưu của lý thuyết trần thuật, nói cách khác, ít chú ý đến cách mà tính hư cấu ảnh hưởng đến sự tổ chức nội tại của các văn bản trần thuật. Do đó, mặc dù theo nghĩa đã được giải thích ở trên, tính hư cấu và tính trần thuật là những khía cạnh không thể tách rời của các thế giới văn học thuộc loại hình trần thuật, câu hỏi đặt ra là tại sao sự kết hợp của hai hình tượng này lại quá ít ỏi ở trong lý thuyết văn học. Lịch sử của những mối bận tâm văn học với vấn đề tính hư cấu gián tiếp giải quyết vấn đề này: một lý thuyết kết hợp cả hai thuật ngữ ấy phải đối mặt với một số khó khăn hiển nhiên thuộc về phương pháp và phương pháp luận. Trong khi tính trần thuật đã phát triển hầu như chỉ trong các nghiên cứu văn học và phản ánh các khuynh hướng “hướng tâm” (centripetal) phổ biến ở trong lịch sử của bộ môn này, thì điểm xuất phát để gắn với khái niệm về tính hư cấu nhất thiết phải nằm ngoài nghiên cứu văn học và đòi hỏi một cách tiếp cận “ly tâm” (centrifugal). Chính vì lý do này, cho đến những thay đổi gần đây trong bộ môn văn học, những nỗ lực từ phía các nhà lý thuyết trần thuật để giải quyết vấn đề về tính hư cấu vẫn chỉ dừng lại ở cấp độ nội hệ thống (intra-systemic level).
Chương 4 đến chương 7 của nghiên cứu này nhằm mục đích làm cân bằng các yêu sách của một lý thuyết về tính hư cấu với một cái nhìn phù hợp hơn với các khái niệm trần thuật. Các xu hướng “hướng tâm” có thể phát hiện ra được ở trong lý thuyết trần thuật đòi hỏi một lý thuyết thích hợp sẽ cho phép trần thuật hư cấu với một sự tự trị, sẽ phác thảo các ranh giới văn học của các thế giới trần thuật, phân biệt hệ thống trần thuật với những gì nằm bên ngoài nó. Tôi xin khẳng định rằng tính tự trị và sự tự túc được tiền giả định cho các thế giới trần thuật tương thích với một số khía cạnh chủ đạo của định nghĩa ngữ dụng về tính hư cấu. Ngữ dụng về hư cấu, do đó, trình bày hai mặt của thế giới trần thuật là không thể tách rời nhau: tính hư cấu tạo ra một sự xác định liên thế giới và tính hư cấu của các thế giới tạo ra các nguyên tắc tổ chức nội thế giới của hệ thống hư cấu. Mục đích chính của nghiên cứu này, vì thế, là để khám phá những hàm ý của sự trao đổi liên ngành về tính hư cấu đối với cấu trúc nội tại của các thế giới hư cấu. Trò chơi liên ngành (interdisciplinary game), tập trung vào khái niệm các thế giới khả hữu, ảnh hưởng đến cách mà tính hư cấu được định nghĩa bởi các nhà lý thuyết văn học, cũng có thể chứng minh ý nghĩa cho sự hiểu biết của chúng ta về một số khái niệm và phương thức mô tả cơ bản về thế giới được kiến tạo bằng các văn bản trần thuật. Thứ nhất, một sự mô tả có hệ thống về các thế giới hư cấu phải giải quyết khái niệm về tính hư cấu: để giải thích đặc tính riêng biệt của các thế giới hư cấu tách rời chúng khỏi những tình huống thực tế của việc soạn ra cái được coi như là hiện thực hoặc một phiên bản của nó. Tuy nhiên, việc giải quyết tính kết giới của các thế giới chỉ cấu tạo nên được bước chuyển đầu tiên trong việc mô tả các thực thể, các quan hệ và các phương thức tổ chức cụ thể thống nhất các thế giới của hư cấu/truyện. Tính trần thuật của các thế giới dường như là một sự bổ sung không thể thiếu cho tính hư cấu của chúng, điều này sẽ giải thích cho phương thức tồn tại đặc biệt của các thế giới trần thuật.
Sự kiện, sự thiết lập, nhân vật và không gian-thời gian là các phương thức tổ chức trần thuật phản ánh bản chất và các mối quan tâm của sự kiến tạo thế giới hư cấu. Ở nghiên cứu này, bốn lĩnh vực hư cấu được thẩm tra: lĩnh vực của các thực thể hư cấu (fictional entities), lĩnh vực của các sự kiện hư cấu (fictional events), lĩnh vực của các viễn tượng hư cấu (fictional perspectives) và lĩnh vực của thời gian hư cấu (fictional time); trong sự kiến tạo mỗi lĩnh vực cả về phương diện hữu thể học và cả về phương diện cấu trúc của các phương thức tổ chức nội thế giới sẽ được nghiên cứu. Quan điểm này bàn về cách mà một thế giới hư cấu mang lại một sự truy cập khả hữu vào sự tổ chức trần thuật thông qua lăng kính của kiểu mẫu tồn tại có tính hư cấu của nó. Một thế giới hư cấu có thể được mô tả như là một hệ thống duy nhất tách biệt với, mặc dù phụ thuộc vào, thực tế văn hoá-lịch sử mà nó được tạo ra, và với điều đó, nó nắm bắt các mối quan hệ gần gũi ít nhiều rõ ràng. Những tính chất đặc trưng của các thế giới hư cấu không chỉ được phản ánh trong mối quan hệ giữa vị thế hư cấu của một thế giới và các vị thế thay thế khác của các thế giới khác; cái hư cấu cũng được phản ánh trong các cấu trúc trần thuật và có tính dung hợp của các thế giới văn học. Mặc dù các thế giới trần thuật không bị giới hạn vào lĩnh vực hư cấu, khi tính trần thuật được kết hợp với tính hư cấu thì thế giới được sản sinh ra có các đặc điểm riêng biệt của nó. Một đường phân chia hữu thể học giữa hư cấu trần thuật và phi hư cấu, vì thế, không phải là nội tại; điều này được ngụ ý ở trong việc hệ định của chúng ta, trong một bối cảnh văn hoá nhất định, thuộc tính “hư cấu” cấp cho một văn bản trần thuật và thế giới của nó, cũng như bằng cách tái kiến tạo của chúng ta hun đúc nên các cấu trúc trần thuật của thế giới này dựa theo tính hư cấu của nó. Sự hệ định này có thể xảy ra ngay cả khi những gì nằm bên ngoài hư cấu còn có nhiều văn bản hư cấu hơn nữa hoặc các câu chuyện khác nữa cùng nhau cấu tạo nên không chỉ là các phiên bản của thực tại.
Các văn bản hư cấu và các thế giới hư cấu đã được tuyên bố là không sở hữu các thuộc tính tiên nghiệm (a priori properties) nào trong việc phân biệt giữa chúng với các văn bản phi hư cấu và các thế giới phi hư cấu cả. Tuy nhiên, tôi cho rằng những văn bản này là dễ bị tổn thương (susceptible) hoặc chúng cho phép có được một sự thiết lập quyền tự chủ (autonomization) của chúng, cũng như cái khiến cho chúng trở nên dễ bị tổn thương trước sự thiết lập quyền tự chủ có tính cách văn hoá của chúng là những phương thức tổ chức cụ thể được thể hiện qua các thế giới hư cấu. Mặt khác, tôi sẽ chỉ ra rằng khía cạnh cấu trúc (structural aspect) của hư cấu trần thuật (narrative fiction) là một dẫn xuất của khía cạnh hữu thể học (ontological aspect): một khi thế giới được phân phối thành phạm trù hư cấu, thì sự hiểu biết về hư cấu đòi hỏi phải xác định các phương thức tổ chức hợp nhất cho kiểu thế giới này. Việc xem xét sự tương tác giữa tính hư cấu và tính trần thuật chứng minh cho lý do tại sao tính hư cấu, được định nghĩa như là một sự định vị ngữ cảnh (contextual position) của một văn bản, xét như là một thuộc tính đã được tương đối hóa (relativized property), là một đối tượng nghiên cứu hiển nhiên thuộc về bộ môn văn học. Khi các câu hỏi về tính hư cấu được lồng ghép chứ không phải được tách rời khỏi các mối quan tâm có tính cách “văn học” và có tính cách “trần thuật”, khi những sự xem xét về quy chiếu được đưa ra để giải quyết các vấn đề có liên quan đến các phương thức tổ chức nội thế giới (inner-world modes of organization), thì tính hư cấu trở thành một phần thống nhất của lý thuyết về các thế giới văn học.
Phạm Tấn Xuân Cao dịch từ phần “Introduction” in trong
Ruth Ronen (1994) Possible Worlds in Literary Theory,
Cambridge University Press, trang 1-16.
[1] Xem Brinker, 1987, với một cuộc khảo sát phân tích về sự tương tác đáng chú ý trong thời gian gần đây giữa triết học và lý thuyết văn học xung quanh các vấn đề diễn giải và ý nghĩa. Ở đây, cũng như ở những nơi khác, Brinker, là một nhà triết học loại bỏ tình huống mà ở đó các siêu lập trường triết học (chủ nghĩa duy thực, chủ nghĩa thực dụng) được coi như là “các chủ đề” văn học; thay vào đó ông đã cổ xúy một sự tương tác giữa hai bộ môn, nhờ đó một hệ hình có hệ thống đã được kiến tạo nên cho bộ môn văn học (một lập trường được chia sẻ bởi tác giả của nghiên cứu này.)
[2] Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng trong khi Wellek và Warren dành một chương cho vấn đề về các quan hệ giữa hư cấu và thực tại, thì Frye, lại gộp vấn đề hư cấu vào dưới nghiên cứu thể loại về các hình thức, ở đó ông nhận dạng hư cấu với các hình thức tiểu thuyết. Các nhà phê bình xứ Anh-Mỹ khác như Scholes và Kellogg, Forster và Booth không quy chiếu đến tính hư cấu một cách trực tiếp nói chung, mà chỉ quy chiếu một cách gián tiếp thông qua vấn đề của chủ nghĩa hiện thực. Dĩ nhiên, theo lý thuyết văn học truyền thống, tính hư cấu không phải là một vấn đề lý thuyết xét theo tự thân nó trừ khi nó liên quan đến các hình thức và các thủ pháp đặc biệt của sự cấu thành văn học.
[3] Nguồn tham khảo căn bản tương ứng với vấn đề này là ở số báo của tạp chí Poetics (tập 8, 1979).
[4] Sự phân biệt giữa các cách tiếp cận phân biệt và kết nhập về hư cấu đã được đề ra trong Pavel, 1986.
[5] Điều này nên được lưu ý rằng các thế giới khả hữu ấp ủ quan niệm này về tính hư cấu. Định nghĩa theo hướng ngữ dụng về tính hư cấu được cụ thể hóa dựa trên cơ sở của các đặc tính ngữ nghĩa logic rút ra một cách trực tiếp từ kiểu loại ngữ nghĩa học logic mà các thế giới khả hữu được giới thiệu ở trong nghiên cứu về tính thể thức và các thế giới không có thực.
[6] “… có rất nhiều thế giới của ngữ nghĩa học phổ quát [các thế giới khả hữu của ngữ nghĩa học hiện đại nhất] không phải là các thế giới hư cấu, vì hai lý do: chúng không có tác giả hoặc tập hợp các tác giả; và chúng thiếu những yêu sách cấu trúc mạch lạc, liên tục, có tính tổ chức, v.v., tiến hành phân biệt các thế giới hư cấu, thậm chí là những thế giới hư cấu của các tác phẩm hư cấu tệ hại, so với các thế giới khác” (Routley, 1979: 7).
[7] Cả sự định hướng liên ngành và mối bận tâm với các vấn đề quy chiếu đều được thể hiện trong các công bố gần đây của tạp chí Poetique (1989) và Poetics Today (1990, 1991) dành riêng cho trần thuật học. Các công bố này phản ánh thực tế rằng những sự xem xét về quy chiếu đã bắt đầu thâm nhập vào dòng chủ lưu của lý thuyết văn học.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam



Năm 2012, khi trở thành Chủ tịch HĐQT ACB – ngân hàng cổ phần số 1 Việt Nam lúc đó, ông Trần Hùng Huy mới 34 tuổi. Thời điểm ngồi “yên chiến mã”, ông Huy thừa nhận “mình chưa chuẩn bị gì cả” nhưng “nhận trách nhiệm với niềm tự hào lẫn lo lắng”.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 1.
Không giống với bất kỳ vị chủ tịch ngân hàng nào tại Việt Nam, ông Trần Hùng Huy được trao trọng trách khi còn khá trẻ (34 tuổi). Hầu hết những người đồng cấp ở nhà băng khác đều ở độ tuổi già hơn rất nhiều. Thế nhưng, thâm niêm gắn bó với ACB của vị Chủ tịch HĐQT ngân hàng trẻ nhất Việt Nam lại không hề “trẻ”.
Khi ông Trần Mộng Hùng (bố của Trần Hùng Huy), làm đề án thành lập ngân hàng ACB cùng một số người khác, địa điểm làm nơi tụ họp chính là nhà riêng, năm đó Huy 14 tuổi. Ngân hàng thương mại Á Châu (ACB) ra đời, trụ sở của nhà băng này cũng chính là nhà riêng của ông Trần Mộng Hùng.
Chính vì vậy, ông Huy không chỉ nghe chuyện về ngân hàng mà còn được chứng kiến ngân hàng hoạt động từ những ngày đầu tiên. Và một cách tự nhiên, giá trị quan trọng nhất mà ông Huy được ba mẹ dạy dỗ từ khi còn nhỏ – sự chính trực, cũng trùng khớp với một trong 5 giá trị cốt lõi của ACB.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 2.
Sau nhiều năm học tập, làm việc ở nước ngoài, ông Huy trở lại ACB với vị trí đầu tiên là làm nhân viên marketing. Người sau này trở thành Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam được “về nhà với người thân” và chấp nhận làm từ đầu để học hỏi.
Năm 2012, sự cố khủng hoảng xảy ra với ACB khi ông Huy đang giữ vị trí Phó Tổng giám đốc ACB. Thời điểm đó, hàng loạt thành viên HĐQT ngân hàng từ nhiệm và vị trí Chủ tịch ACB trở thành “ghế nóng” mà không nhiều người muốn nhận – một số người được đề nghị đã từ chối bởi sự khó khăn cũng như rủi ro mà “cái ghế” này đem đến.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 3.
Và ông Trần Hùng Huy – con trai cả của nhà sáng lập ACB, trở thành một lựa chọn của ngân hàng. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, nhiều người sẽ không hiểu rõ sự lựa chọn của HĐQT ACB, nhưng nếu hiểu rõ câu chuyện bên trong, ông Huy là một lựa chọn có yếu tố hợp lý vào thời điểm đó.
Ông Huy từng chia sẻ dù chưa bao giờ có kế hoạch trở thành chủ tịch HĐQT ACB, nhưng trên thực tế, khi được đặt vào vị thế “phải lựa chọn làm hoặc đứng qua một bên”, ông Huy đã “lựa chọn nhận trách nhiệm trong sự tự hào và lo lắng”.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 4.
Trở thành Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam năm đó (khi 34 tuổi), ông Huy cũng thừa nhận: “Việc là con của người sáng lập ACB đem lại cho mình lợi thế lớn”. Thế nhưng, người đứng đầu ACB bổ sung: “Sau 6 tháng bầu lại mà HĐQT vẫn chọn thì mình phải làm được điều gì đó khiến họ đồng ý cho làm tiếp chứ (cười)”. Đó cũng là giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử hoạt động của ACB.
Trên thực tế, trong 3 năm đầu tái cấu trúc, ông Huy có sự trợ lực rất lớn đến từ ba mẹ của mình và những thành viên thuộc thế hệ đầu tiên tại ACB. Khi ngân hàng lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, ông Trần Mộng Hùng trở lại HĐQT cùng vợ.
Ngoài việc được trợ giúp của ba mẹ, ông Huy còn tìm được tư vấn rất hữu ích của một cựu thành viên HĐQT người Singpore – người có cả kiến thức quốc tế cũng như kinh nghiệm nhiều năm ở Việt Nam với ACB. “Đó là những tư vấn quý giá ở vào thời điểm phải ra nhiều quyết định quan trọng với trách nhiệm rất lớn mà chỉ một thời gian ngắn trước đó mình cũng chưa nghĩ tới”, ông Huy chia sẻ.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 5.
Và kỷ niệm khó quên nhất với ông Huy khi nhận ghế Chủ tịch trong năm đầu tiên là cắt giảm nhân sự. “Lúc đó, tôi đứng trước quyết định phải giảm vài nghìn người để tối ưu hóa chi phí, giúp ACB vận hành hiệu quả hơn”, ông Huy cho biết. Đó cũng là sức ép lớn đến từ các thành viên HĐQT nước ngoài và cũng là nguyên lý quen thuộc khi các công ty lâm vào khủng hoảng mà ông Huy học được khi ở nước ngoài.
Thế nhưng, khi ra quyết định cuối cùng, người đứng đầu ACB đã không cắt giảm con số hàng nghìn người như dự kiến. Thay vào đó, ngân hàng thực chất chỉ cắt giảm khoảng vài trăm nhân sự nhưng hiệu quả về tối ưu hóa chi phí vẫn đạt được.
“Đó là nhờ Huy có ba nó là người Việt (cười), đủ kinh nghiệm và ảnh hưởng để cùng thuyết phục HĐQT làm theo cách của ACB”, ông Nguyễn Thanh Toại – nguyên Phó Tổng giám đốc, tiết lộ chuyện hậu trường về quyết định cắt giảm nhân sự tại ACB trong khủng hoảng.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 6.
Trong lúc khó khăn nhất, lãnh đạo phải là những người làm gương và chia sẻ khó khăn với tổ chức. Thay vì giảm tối đa lực lượng nhân sự, ACB thực hiện cắt giảm từ 25% đến 40% thu nhập cấp quản lý trước tiên, cấp càng cao, mức cắt giảm thu nhập càng lớn. Từ số lượng dự kiến cắt giảm là vài nghìn người, ACB trên thực tế chỉ phải cắt giảm vài trăm người và chỉ ở các vị trí vận hành hiệu quả thấp.
“Sau khi trải qua việc cắt giảm nhân sự, tôi thấy mình gần gũi hơn rất nhiều với các cấp quản lý tại ACB bởi cảm nhận được sự chia sẻ của họ với mình và ngân hàng. Họ phải thực sự coi ACB là gia đình thì mới đồng lòng cùng vượt qua khó khăn như vậy. Đó cũng là thành công lớn nhất của ACB trong khủng hoảng, mọi người vẫn giữ được niềm tin vào tương lai”, ông Huy tâm sự.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 7.
Trong buổi trả lời phỏng vấn báo Trí thức trẻ, khi được hỏi: “Sau 1 nhiệm kỳ chủ tịch HĐQT thì anh tự đánh giá ngắn gọn mình như thế nào?”, ông Huy nói: “Phối hợp tốt”.
Người đứng đầu ACB giải thích thêm: “Trong khoảng thời gian đầu tiên, mình có những thành công nhất định khi phối hợp tốt với các thành viên HĐQT khác và kết hợp tốt với ban điều hành để truyền lửa cho anh em, tạo nên một nền tảng tốt để bắt đầu một thời kỳ mới với nhiều tham vọng hơn”.
Tuy nhiên, ông Huy không nói về những dấu ấn cá nhân mà cho rằng: “Đó là kết quả do rất nhiều thành viên trong gia đình ACB tạo nên và mình chỉ là một trong số đó”.
Chia sẻ về khó khăn lớn nhất trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Huy nói: “Điều đó không đến từ những người thuộc thế hệ đầu tiên trong HĐQT hay ban điều hành. Họ có sự tự hào khi thấy học trò của mình trưởng thành, thành công nên tìm mọi cách hỗ trợ. Khó khăn lớn nhất là thuyết phục các quản lý cấp trung cần thay đổi nhanh và chấp nhận rủi ro”.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 8.
Vị chủ tịch ACB nói về những cán bộ quản lý ở tầm tuổi như mình (người không còn quá trẻ) phải sẵn sàng thay đổi, “dám chấp nhận một cuộc chơi lớn”.
Theo ông Huy, thuyết phục được những quản lý cấp trung thay đổi mạnh mẽ và chấp nhận rủi ro trong bối cảnh ACB đang ở hoàn cảnh khó khăn nhất trong lịch sử là không dễ dàng. Thế nhưng, “người được lựa chọn” ở ACB vẫn kiên trì thực hiện.
Trong buổi lễ kỷ niệm 25 năm thành lập ACB, ông Trần Hùng Huy và một số cán bộ quản lý của mình thực hiện một tiết mục văn nghệ đặc biệt khi thể hiện hàng loạt hit như: Ngày mai em đi, Sau tất cả, Uptown Funk, Attention…. Điều thú vị như chủ tịch của ACB thú nhận là ông hát và nhảy dở tệ.
Nhưng ông vẫn quyết tâm thực hiện điều mình dở vì theo ông “không biết thì có thể học”. Đây cũng là thông điệp mà người đứng đầu ACB muốn chia sẻ với các cấp quản lý cũng như nhân viên của mình trong giai đoạn phát triển mới: đừng ngại thử những việc bạn chưa từng làm, hãy ra khỏi vùng an toàn để tìm cách bứt phá.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 9.
Kỳ đại hội cổ đông năm 2018, ông Trần Mộng Hùng thoải mái rời HĐQT ACB sau khi nói với Huy “con làm ổn rồi, ba không cần làm nữa, về nghỉ thôi”. Sự chuyển giao đã diễn ra nhẹ nhàng và đầy tin tưởng giữa hai thế hệ.
Và sau hơn 6 năm đảm nhận vị trí Chủ tịch HĐQT, banker này rất thoải mái và tự tin khi nói về “cái bóng” của thế hệ đầu tiên: “Họ luôn có những ý kiến rất quý giá với mình và HĐQT, đặc biệt là những lời khuyên mang tính cảnh báo. Họ có những linh cảm đặc biệt về rủi ro. Mình và HĐQT luôn lắng nghe nhưng ý thức được trách nhiệm khi ra quyết định”. Điểm khác biệt về ngoại hình của ông Huy là chỉ sau vài năm trở thành Chủ tịch ACB, mái tóc của banker này từ "đầu xanh" đã sang rất nhiều sợi bạc
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 10.
Sự khác biệt của ông Huy với cha mình không chỉ mang tính thế hệ mà còn về “khẩu vị rủi ro”. Thế hệ của ông Trần Mộng Hùng hay Nguyễn Thanh Toại sẽ không quen thuộc với fintech cùng những đối thủ phi truyền thống như Grab, Alibaba, Amazon…. Trong khi đó, ông Huy cùng thế hệ của mình sống và nghĩ về tương lai luôn tính đến những điều phi truyền thống cũng như khả năng chấp nhận rủi ro trong mức cho phép.
Ông Huy chia sẻ thời gian ông ở ACB còn nhiều hơn thời gian ở gia đình. Do đó, khi được đề nghị bình luận về việc “ACB là mang dấu ấn của gia đình ông”, Chủ tịch HĐQT ngân hàng trẻ nhất Việt Nam vui vẻ cho biết “không ngại”.
“Trên thực tế ngân hàng có tới 20.000 cổ đông. Mọi người nói thì mình thoải mái thôi. Cái quan trọng khi nói như vậy là họ cảm nhận điều đó là tích cực hay tiêu cực. Với nhân viên ở đây, mình nghĩ họ có sự tự hào riêng khi là thành viên của gia đình ACB”, ông Huy nói.
Chuyện ngồi “yên chiến mã” của vị Chủ tịch ngân hàng trẻ nhất Việt Nam - Ảnh 11.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phát hiện khoa học mới: Bài tập nắm tay đơn giản chữa cao huyết áp chỉ mất 16 phút



Tỷ lệ người mắc cao huyết áp ở Việt Nam đang tăng lên một cách báo động và ngày càng nghiêm trọng. Trung bình, cứ 10 người lớn lại có 4 người bị tăng huyết áp và phổ biến nhất ở nhóm người trung niên và cao tuổi. Cao huyết áp là nguồn gốc dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, tai biến mạch máu não… và có thể cướp đi mạng sống của người bệnh. Nhưng một tin vui với bệnh nhân cao huyết áp là trong một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học tại Canada đã tìm ra một bài tập vô cùng đơn giản, chỉ cần nắm tay 16 phút mỗi ngày là đã có thể chữa cao huyết áp rất hiệu quả. Mời quý độc giả cùng tham khảo!
Bài tập nắm tay – tin vui cho người bị cao huyết áp
Trong một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học tại trường đại học McMaster, Otario, Canada đã tiến hành một cuộc nghiên cứu về lợi ích của việc thực hiện bài tập chữa cao huyết áp bằng cách nắm tay 16 phút mỗi ngày.
Những người cao huyết áp tham gia nghiên cứu đã được yêu cầu thực hiện bài tập thể dục chữa cao huyết áp bằng cách nắm tay theo các bước hướng dẫn, thời gian cho 1 lần chỉ mất 4 phút, tổng cộng thời gian mất 16 phút mỗi ngày.
Kết quả cho thấy, tình trạng cao huyết áp của những bệnh nhân tham gia nghiên cứu được cải thiện rất đáng kể. Chỉ số huyết áp tâm thu của các bệnh nhân giảm rõ rệt mà không cần phải kiêng khem quá kỹ trong ăn uống hoặc rèn luyện thể thao quá nhiều.
Bài tập này rất dễ thực hiện, có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi, thực hiện hàng ngày một cách dễ dàng để từ từ điều chỉnh huyết áp về mức độ cân bằng hoặc sử dụng khi huyết áp tăng cao đột ngột.
Sau đây là hướng dẫn chi tiết bài tập nắm tay cho bệnh nhân cao huyết áp
Bước 1: Thả lỏng toàn bộ cơ thể, tay phải xòe tự nhiên để trên bàn hoặc buông thỏng.
Bước 2: Nắm chặt tay lại, giữ trong vòng 5 giây rồi thả ra, nếu được, bạn có thể nắm trong tay 1 trái banh da nhỏ.
Bước 3: Thực hiện lặp lại nhiều lần như trên trong 2 phút, sau đó, nghỉ ngơi 2 phút.
Bước 4: Tương tự, đổi sang tay trái và thực hiện như trên trong vòng 2 phút, nghỉ 2 phút.
Bước 5: Tiếp tục đổi bên thực hiện mỗi tay thêm 1 lần. Như vậy, tổng cộng bạn sẽ mất 16 phút cho bài tập này, mỗi tay 8 phút tương đương 2 lần tập.

Bài tập chữa cao huyết áp thật đơn giản chỉ bằng việc nắm chặt tay (Ảnh: Internet)
Lời khuyên cho bệnh nhân cao huyết áp
Bên cạnh việc thực hiện bài tập như trên, các thầy thuốc Đông y cũng dành những lời khuyên về thời gian biểu hợp lý dành cho bệnh nhân cao huyết áp về sinh hoạt, ăn uống cũng như làm việc trong 1 ngày. Nếu áp dụng đúng, bệnh cao huyết áp sẽ dần dần được đẩy lùi và người bệnh sẽ sống khỏe mạnh.
Buổi sáng
1. Thức giấc
Để không xảy ra tình trạng thay đổi huyết áp đột ngột, khi thức giấc vào buổi sáng, đừng vội đứng dậy mà hãy ngồi trên giường, vận động nhẹ nhàng phần chân, tay, đầu, cổ để các cơ bắp và mạch máu trở lại trạng thái bình thường sau một đêm ngủ dài. Sau đó từ từ đứng dậy, vận động thêm phần thân trên nhiều lần rồi mới rời khỏi giường. Đừng đột ngột ngồi và đứng dậy có thể gây chóng mặt, choáng váng.
2. Vệ sinh cá nhân
Người bị cao huyết áp cần cẩn thận hơn một chút khi vệ sinh cá nhân buổi sáng. Đánh răng, rửa mặt, vệ sinh cá nhân bằng nước ấm từ 30-35 độ C là hợp lý. Nếu quá nóng hoặc quá lạnh có thể gây kích ứng da, khiến các mạch máu đột ngột thay đổi, ảnh hưởng đến huyết áp.
Nên xây dựng thói quen đi đại tiện vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, việc này rất tốt cho sức khỏe, đặc biệt là một hệ tiêu hóa khỏe mạnh.
3. Nhớ uống nước ấm
Ngay sau khi đánh răng, vệ sinh cá nhân xong thì người bị cao huyết áp nên uống ngay một cốc nước ấm, vừa có tác dụng làm sạch đường tiêu hóa, lại vừa làm loãng máu, giúp tuần hoàn máu thông suốt, thúc đẩy sự trao đổi chất và điều hòa huyết áp.
4. Tập thể dục nhẹ nhàng
Một bài tập về tay như hướng dẫn ở trên có thể thực hiện vào buổi sáng hoàn toàn hợp lý. Hoặc người cao huyết áp có thể tập luyện những bài thể dục nhẹ nhàng như: thái cực quyền, yoga, đi bộ vừa phải tầm 5-6km/giờ,…

Một bài tập thể dục nhẹ nhàng như Thái cực quyền vào buổi sáng sẽ rất tốt cho người bị cao huyết áp (Ảnh: Internet)
5. Ăn sáng vừa đủ
Người bị cao huyết áp nên ăn một bữa sáng với thực phẩm mềm, dễ tiêu hóa, không ăn quá no hoặc quá ít. Các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như sữa ấm, sữa đậu nành,… hay cháo là những lựa chọn rất tốt cho bữa sáng.
Buổi trưa
1. Ăn trưa đúng giờ, đủ chất
Đối với người có bệnh huyết áp, bữa trưa nên chú ý ăn đúng giờ và ăn đầy đủ chất, có đạm và chất xơ, ít muối ít dầu mỡ. Hạn chế tối thiểu bia rượu, đồ cay nóng, thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ. Nên ăn theo thứ tự lần lượt là súp cháo canh, rau, thịt và tinh bột. Không nên ăn quá no.
2. Ngủ trưa
Hãy xem một giấc ngủ ngắn là điều bạn cần phải có trong lịch sinh hoạt. Ngủ trưa hoặc chợp mắt khoảng từ 30 phút là hợp lý. Giấc ngủ này có khả năng điều chỉnh huyết áp rất tốt.
Buổi tối
1. Ăn tối ít, dễ tiêu hóa
Người có bệnh huyết áp thì nên ăn tối ít, chọn ăn những món dễ tiêu hóa. Không nên vì sợ phải thức dậy đi tiểu tiện mà bỏ món cháo hay súp ra khỏi thực đơn. Loại thức ăn lỏng này có tác dụng rất tốt cho người bệnh huyết áp.
Nên uống nước trước khi ngủ để đảm bảo cơ thể không bị thiếu nước, tạo điều kiện cho bệnh nhớt máu hình thành, gây ra tình trạng máu vón cục, nguy hiểm tính mạng.
2. Giải trí
Người bệnh dễ bị mất ngủ, vì vậy đừng xem TV trước khi đi ngủ quá 1-2 tiếng. Nên ngồi gọn gàng thoải mái và thư giãn trước giờ đi ngủ, có thể nghe nhạc để thoải mái tinh thần.
3. Ngâm chân với nước ấm
Người có bệnh huyết áp nên ngâm chân vào nước ấm trước khi đi ngủ, sau đó xoa bóp bàn chân và phần chi dưới để thúc đẩy tuần hoàn máu, tạo điều kiện tốt để có giấc ngủ tự nhiên. Hạn chế uống thuốc ngủ để tạo thói quen “tự ngủ” lành mạnh.
4. Ngủ đúng giờ, sâu giấc
Nên đi ngủ và thức dậy đúng giờ, ngủ đủ giấc để cải thiện hệ thống miễn dịch, tăng cường sự tự tin, khả năng làm việc độc lập; thúc đẩy sự bài tiết hormone tăng trưởng, nâng cao hiệu quả công việc; giữ cho làn da mịn màng, hồng hào và đàn hồi tốt. Một giấc ngủ ngon sẽ là nền tảng tuyệt vời để có một mức huyết áp ổn định.
Hy vọng bài tập nắm tay 16 phút mỗi ngày cùng với những lời khuyên trên sẽ giúp những bệnh nhân cao huyết áp có thể đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm này, có một cuộc sống vui vẻ và mạnh khỏe!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cân nhắc tập đoàn Trung Quốc muốn đầu tư cao tốc Bắc-Nam

Tốt nhất là không nên!
Với cả hai hình thức đầu tư cao tốc Bắc-Nam (EPC và BTO) mà tập đoàn Trung Quốc gợi ý, chuyên gia lo Việt Nam sẽ đều bị phụ thuộc. Trong buổi làm việc với Bộ GTVT vào ngày 7/3, lãnh đạo Tập đoàn Thái Bình Dương của Trung Quốc bày tỏ mong muốn được tham gia đầu tư dự án đường cao tốc Bắc - Nam tại Việt Nam theo hai hình thức: EPC và BTO. Việt Nam phải hết sức cân nhắc trước ý định hợp tác làm cao tốc Bắc-Nam của tập đoàn Trung Quốc bởi về nguyên tắc, chúng ta phải làm chủ thì mới quyết định được, còn khi không nắm được gì thì sẽ bị dẫn dắt, phụ thuộc và mất quyền chủ động, điều đó đẩy Việt Nam vào thế yếu.

Cao tốc Bắc-Nam có 8 dự án đầu tư theo hình thức PPP
Trước thông tin tập đoàn Trung Quốc ngỏ ý muốn đầu tư cao tốc Bắc-Nam, PGS.TS Nguyễn Đình Thám, nguyên Trưởng Bộ môn công nghệ quản lý và xây dựng, Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng, với cả hai hình thức EPC và BTO, Việt Nam đều dễ rơi vào thế bị động, bị phụ thuộc vào nhà đầu tư. Phân tích cụ thể, ông cho biết, hợp đồng tổng thầu EPC là hợp đồng trọn gói, một chủ thể thực hiện tất cả các công đoạn từ thiết kế đến cung cấp thiết bị công nghệ, thi công xây dựng công trình, và chính quyền chỉ cần giám sát chủ thể đó. "Hợp đồng EPC có cái lợi là khi nhà đầu tư cho vay vốn. Họ sẽ làm tất cả mọi thứ rồi chuyển giao cho phía Việt Nam, Việt Nam không phải lo gì cả ngoài việc vay vốn, thế nhưng khi ấy chắc chắc giá thành sẽ rất cao. Điều quan trọng là chúng ta không làm chủ được! Chúng ta vay vốn trên giấy, trên cái mà mình không chủ động và khi ấy chúng ta rất khó được quyết định mọi thứ.

Việt Nam đã có quá nhiều bài học về hợp đồng EPC, nhất là với phía doanh nghiệp Trung Quốc, chúng ta không nắm được cái gì của họ", PGS.TS Nguyễn Đình Thám chỉ rõ.


Đối với hợp đồng BTO, đó là hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, trong đó phần kinh doanh chủ đầu tư sẽ tự quyết định giao cho ai kinh doanh, có thể là chính chủ đầu tư, hoặc giao cho nhà thầu hoặc một chủ thể nào khác. Nhiều ý kiến cho rằng, hình thức hợp đồng này sẽ gắn trách nhiệm của chủ thể trong xây dựng và duy tu; doanh nghiệp muốn không tốn chi phí cho duy tu sau này, có lợi nhuận tốt thì phải đảm bảo chất lượng công trình ngay từ khi thi công.

Lãnh đạo Tập đoàn Thái Bình Dương cũng nhận xét, BTO là mô hình được đánh giá cao và được áp dụng rất thành công tại Trung Quốc và có thể là mô hình hoàn thiện của hình thức đầu tư đối tác công - tư PPP.

Thế nhưng, PGS.TS Nguyễn Đình Thám bày tỏ băn khoăn: Với hợp đồng BTO, nhà đầu tư xây dựng, chuyển giao và tham gia khai thác, như vậy họ có thể "ăn" ở khâu thi công, chiếm lãi phần này, trong khi khâu khai thác sau này thì lỗ lãi hai bên cùng chịu.

Nhấn mạnh với hai hình thức hợp đồng này, Việt Nam sẽ đều bị phụ thuộc hoàn toàn, vị chuyên gia cho biết, xét về mặt kỹ thuật, Việt Nam hoàn toàn có thể làm được cao tốc Bắc-Nam và thực tế, chúng ta đã xây dựng nhiều tuyến cao tốc, tiêu biểu như cao tốc Hải Phòng. Đó là một kinh nghiệm và cũng là lý do mà Việt Nam cần cân nhắc trước khi hợp tác với nhà đầu tư Trung Quốc.

Xét về yếu tố vốn, bởi Việt Nam không có vốn mới phải hợp tác với nhà đầu tư dưới dạng góp vốn. Nhưng theo ông Thám, nếu vay trước thì có thể trả trước một phần lãi, phần còn lại có thể trả chậm sau, trong khi nếu nhà đầu tư xây xong Việt Nam cũng phải trả cả vốn lẫn lãi nhưng số tiền sẽ được tính cao hơn.

"Đều là vay trả sau, tại sao Việt Nam không tìm nguồn vốn ODA để vay, dù lãi suất không còn thấp như trước nhưng ít ra cũng ưu đãi hơn nếu đi vay thị trường. Đã đi vay thì nên vay sòng phẳng, còn vay mà không biết kết quả, vay "tù mù" thì khó trong mọi chuyện", PGS.TS Nguyễn Đình Thám lưu ý.

Từ những phân tích ở trên, vị chuyên gia thẳng thắn cho rằng, Việt Nam phải hết sức cân nhắc trước ý định hợp tác làm cao tốc Bắc-Nam của tập đoàn Trung Quốc bởi về nguyên tắc, chúng ta phải làm chủ thì mới quyết định được, còn khi không nắm được gì thì sẽ bị dẫn dắt, phụ thuộc và mất quyền chủ động, điều đó đẩy Việt Nam vào thế yếu.

Trước câu hỏi Việt Nam vẫn có thể thực hiện giám sát đối với nhà đầu tư, ông Thám tỏ ra hoài nghi về năng lực giám sát của những người được giao trọng trách này.

"Trình độ giám sát thì ta có nhưng cái khó nhất chính là tìm được người có tâm, thực sự vì nước, vì dân mà làm chuyện đó. Kinh nghiệm trước nay cho thấy, trong nhiều dự án, nơi hay xảy ra tiêu cực nhất chính là ban quản lý dự án. Lựa chọn ban quản lý dự án thế nào chính là chìa khóa quyết định thành công của dự án.

Khó nhất là phải làm sao tìm được người trong ban quản lý có tâm và để tránh tiêu cực, quan trọng là vấn đề đãi ngộ thế nào", PGS.TS Nguyễn Đình Thám nói.

Khẳng định "ta làm chủ được thì ta làm được", vị chuyên gia đề nghị, với dự án cao tốc Bắc-Nam, Việt Nam nên tổ chức đấu thầu quốc tế công khai, minh bạch, khi nhiều nhà thầu cùng tham gia Việt Nam sẽ có nhiều lựa chọn.

Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông thực hiện trong giai đoạn 2017-2020, được chia thành 11 dự án thành phần, trong đó có 3 đoạn đầu tư bằng ngân sách nhà nước, 8 đoạn còn lại sẽ được kêu gọi đầu tư vốn tư nhân theo hình thức PPP.

Với 8 dự án đầu tư theo hình thức PPP, Bộ GTVT đã phát hành hồ sơ mời thầu 21 gói thầu/8 dự án. Về cơ bản, các gói thầu/dự án đã được đánh giá xong đề xuất kỹ thuật, dự kiến hoàn thành công tác lựa chọn nhà thầu trong Quý I/2019.

Toàn tuyến cao tốc có tổng chiều dài 654km, tổng mức đầu tư khoảng 118.716 tỷ đồng, đi qua địa phận 13 tỉnh, gồm: Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang và Vĩnh Long.

Thành Luân

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/can-nhac-tap-doan-trung-quoc-muon-dau-tu-cao-toc-bac-nam-3376051/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thà một mình còn hơn sát cánh cùng kẻo mất TIỀN, mất BẠN, mất cả TƯƠNG LAI

Cứ tưởng "Muốn bay xa đừng bay một mình" nhưng với 10 kiểu người giả tạo sau, thà một mình còn hơn sát cánh cùng kẻo mất TIỀN, mất BẠN, mất cả TƯƠNG LAI
Muốn đi nhanh hãy đi một mình, muốn đi xa hãy đi cùng nhau nhưng muốn đi lâu dài thì tuyệt đối tránh xa những kẻ giả tạo nếu nhận ra các dấu hiệu sau đây.
Kết giao với mọi người phải dựa vào sự chân thành. Bạn bè nhiều hay ít không quan trọng, quan trọng là chất lượng. Có đôi khi, thà rằng một mình gánh vác mọi khó khăn chứ không cần sát cánh cùng những kẻ giả tạo tự nhận mình là "bạn" nhưng sẵn sàng đâm sau lưng ta bất cứ lúc nào.
1. Lúc đi vay thì quỵ lụy van xin, lúc phải trả thì như "bố thí ăn mày"
Có một số người khi thiếu tiền thì sẵn sàng van xin, năn nỉ người khác giúp đỡ. Họ có thể đi khắp nơi kể lể với tất cả mọi người về sự đáng thương và thiếu thốn của mình để chiếm được sự thương hại, tranh thủ vay mượn. Cho dù lúc đi vay, họ có thề thốt thế nào thì chỉ cần cầm được tiền trong tay, họ lập tức trở mặt. Đến lúc chủ nợ đi đòi, họ lên án bạn bè không nể tình nghĩa chỉ biết tiền bạc, rồi thản nhiên trả lại một phần nợ rất nhỏ mà thái độ không khác gì bố thí cho ăn mày. Loại người này, nhất định phải tránh xa. Lỡ giúp một lần, sau nhất định "cạch mặt".
2. Nói một đằng, nghĩ một nẻo
Trước mặt tươi cười, sau lưng chửi bới, trở mặt nhanh hơn cả lật sách, những người như vậy thích a dua nịnh hót và cúi đầu khom lưng đối với người đem lại ích lợi cho họ. Với người không có giá trị lợi dụng, tuy họ không thể hiện sự chán ghét ra ngoài nhưng có thể âm thầm làm chuyện xấu, ngáng chân cản trở sự nghiệp sau lưng bạn.
Cứ tưởng Muốn bay xa đừng bay một mình nhưng với 10 kiểu người giả tạo sau, thà một mình còn hơn sát cánh cùng kẻo mất TIỀN, mất BẠN, mất cả TƯƠNG LAI - Ảnh 1.
Ảnh minh họa.
3. Những người bất hiếu
Một người có thể làm tổn thương chính cha mẹ có công ơn dưỡng dục sinh thành thì chắc chắn không có nhân phẩm tốt đẹp và biết đối xử tử tế với người ngoài. Họ chỉ biết tư lợi cá nhân, sẵn sàng đạp đổ công danh của người khác cũng như cách họ bỏ mặc cha mẹ mình tuổi già sức yếu, không người chăm nom.
4. Chiếm đoạt thành quả của người khác
"Tu hú chiếm tổ" chính là câu nói phù hợp nhất đối với loại người này. Vì lợi ích bản thân, họ có thể tàn nhẫn chiếm đoạt tất cả thành quả lao động, công sức nghiên cứu của người khác, ngang nhiên coi đó là của riêng của mình, cho dù đó là bạn bè, anh em thân thiết nhất, họ cũng chẳng hề nể tình nghĩa bấy lâu.
5. Lòng tham không đáy
Với người chân thành, chỉ cần một lần giúp đỡ họ cũng biết ơn cả đời. Nhưng với một số người khác, sự giúp đỡ của chúng ta giống như lẽ thường phải thế. Họ chẳng những không biết ơn mà còn không ngừng đòi hỏi hết lần này tới lần khác. Bạn trả tiền ăn một bữa thì cũng phải trả cả những bữa sau. Bạn làm hộ họ một lần thì sau này lần nào họ cũng nhờ bạn làm hết.
6. Chỉ nói mà không làm
Khi bạn nghĩ rằng mình đã gặp tri kỷ đích thực, hãy cẩn thận vì có thể đó chỉ là lời ba hoa bốc phét của đối phương. Họ có thể vẽ ra trước mắt bạn một tương lai tươi sáng như hoa, tiền đồ như gấm nhưng kết quả là gì? Sau khi đối mặt với vài lần thất bại, thâm hụt hết số vốn liếng đầu tư, họ lập tức phủi tay bỏ mặc bạn một mình xoay xở với khó khăn để đi tìm một "tri kỷ" mới. Bản lĩnh của họ không xuất phát từ tài năng mà chỉ đến bằng miệng lưỡi, giỏi nói mà không biết làm thì chẳng bao giờ trở thành bạn đồng hành xuất sắc.
7. Tính toán chi li, không bao giờ chịu thiệt
Kiểu người này có một đặc điểm rõ ràng chính là: Cái lợi không bao giờ nhường, cái thiệt không bao giờ chịu. Cho dù thu nhập vài chục triệu, người ta vẫn có thể canh cánh trong lòng hoặc cãi nhau ầm ỹ chỉ vì chênh lệch mấy đồng tiền lẻ. Với bạn bè hay với người thân, mọi thứ đều phải được tính toán rõ ràng. Nếu bản thân chịu thiệt dù chỉ là một xu, họ sẵn sàng tìm tới tận cửa để đòi cho bằng được. Chính vì thế, kết giao với họ, có thể bạn sẽ thấy công bằng nhưng cũng vô cùng mệt mỏi.
Cứ tưởng Muốn bay xa đừng bay một mình nhưng với 10 kiểu người giả tạo sau, thà một mình còn hơn sát cánh cùng kẻo mất TIỀN, mất BẠN, mất cả TƯƠNG LAI - Ảnh 2.
8. Tự cao tự đai 
Những người như vậy thích tự cho mình là trung tâm của mọi sự chú ý. Họ không tiếp thu ý kiến ​​người khác vì cho rằng bản thân luôn đúng và tự ý làm chủ, tất cả đều phải nghe theo. Một khi không đạt được điều mình muốn, họ có thể "nổi điên cắn người" mà bất kể đúng sai thị phi như nào.
9. Trốn tránh trách nhiệm và đổ lỗi cho người khác
Cho dù sai trái rành rành nhưng vẫn không chịu nhận, thậm chí đổ lỗi cho người khác, kiểu người này có thể biến bạn thành "lá chắn" cho lỗi lầm của mình bất cứ lúc nào.
10. Gió chiều nào nghiêng chiều ấy
Làm bạn với một người không có chủ kiến của riêng mình, bạn dễ bị ảnh hưởng tính cách yếu đuối của họ. Không chỉ như vậy, một khi ngả sang "chiều khác", họ có thể sẽ là người sẵn sàng nói ra những bí mật của bạn, cho dù điều đó có ảnh hưởng hết kế hoạch kinh doanh và tiền đồ sự nghiệp của người khác. Lòng tin của họ cũng mềm yếu như tính cách, chỉ bằng vài ba lời nói từ người ngoài, họ lập tức nghi thần nghi quỷ, coi ý tốt của người khác là giả tạo.
Trên thực tế, chúng ta có thể gặp phải hàng ngàn, hàng vạn kiểu người khác nhau trong cuộc sống thường ngày mà không phải lúc nào cũng đủ may mắn để nhìn rõ bản chất thật của họ. Người ta đã nói: "Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm." Đôi khi, chính những người chúng ta tin tưởng hết lòng lại phản bội trong thời điểm mấu chốt, khiến sự nghiệp và tương lai đi vào ngõ cụt. Chính vì vậy, một khi phát hiện những dấu hiệu giả tạo trong mối quan hệ, hãy mạnh dạn nói "Không" và từ chối kết giao với những kẻ như vậy. Càng tránh xa tiểu nhân, bạn càng có thể hưởng thụ cuộc sống an lành.
Dương Mộc / Theo Trí thức trẻ
nhận xét hiển thị trên trang