Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2019

Sự kiện khó hiểu:



Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng Trần Đình Hồng sáng nay cho biết, hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy ngày 5/3 đã quyết định khai trừ Đảng đối với Phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế xã hội Đà Nẵng Trần Đức Anh Sơn.
Ông Sơn đã viết, đăng tin, bài sai sự thật, không đúng với quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên mạng xã hội, vi phạm quy định của BCH TƯ về những điều đảng viên không được làm và vi phạm quy định của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Khai trừ Đảng với Phó viện trưởng viết sai sự thật trên Facebook
Ông Trần Đức Anh Sơn thuyết trình tại một sự kiện ở Quảng Trị. Ảnh: Cao Thái
Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhận định: Vi phạm của ông Sơn là rất nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan nơi công tác.
Căn cứ quy định của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm và xét nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm, Thành ủy Đà Nẵng quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ Đảng đối với ông.
Trước đó, tại kỳ họp thứ 20 (năm 2018), UB Kiểm tra Thành ủy Đà Nẵng cũng đã kỷ luật cảnh cáo ông Sơn.
Cao Thái

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/khai-tru-dang-voi-pho-vien-truong-viet-sai-su-that-tren-facebook-512305.html





---

BỔ SUNG

LÊN BÁO
Hôm nay, 8/3/2019, cả hai vợ chồng NGƯỜI NƯỚC HUỆ đều được lên báo có môn bài.
Vợ lên trước (ở link này):
https://baodanang.vn/…/phu-nu-net-dep-doi-thuong-…/index.htm
Chồng lên sau (ở link này và nhiều link khác): https://m.plo.vn/…/dang-facebook-ong-tran-duc-anh-son-bi-da…
Sau đó thì rất nhiều người nhắn tin hỏi thăm và chúc mừng.
Nhiều người hỏi tôi: Anh thấy thế nào?
Tôi thấy khó trả lời cho đầy đủ, nên mượn bức ảnh chụp tờ lịch có thủ bút của thầy Nhất Hạnh mà tôi được tặng trong dịp Tết Kỷ Hợi vừa rồi, để trả lời chung cho mọi người.
Rứa hỉ!
NGƯỜI NƯỚC HUỆ
Bình luận

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hội Nhà văn VN đã chính thức tổ chức trọng thể lễ tưởng niệm 50 năm ngày nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý hy sinh


Sau những cuộc tưởng niệm diễn ra ở Càphe Trung Nguyên HN, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng. Sáng nay, Hội Nhà văn VN đã chính thức tổ chức trọng thể lễ tưởng niệm 50 năm ngày nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý hy sinh. Rất đông các thế hệ nhà văn đã đến dự cùng đại diện gia đình chị Quý. Anh Quốc cùng vợ chồng cháu Ly và Nguyễn Đình Toán đã trở lại HN. Một không khí nghiêm túc chưa từng thấy ở một sự kiện do Hội Nhà văn tổ chức đúng như nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét. Hơn trăm người im phăng 
phắc lăng nghe các phát biểu, có dở có dài cũng không ai phản ứng và đặc biệt là không ai về trước khi buổi lễ kết thúc. Nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhà phê bình Lê Thành Nghị điều hành. Nhà thơ Hữu Thỉnh có bài đề dẫn đầy xúc động. Nhà văn Ngô Thảo, các nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Thị Minh Khanh, PGSTS Tôn Phương Lan, nhà văn Đặng Hiển...đã có những nhận xét đánh giá sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của chị Quý. Được mời phát biểu, minh cho rằng dù chỉ sống chưa đến 28 năm nhu một số tài năng văn chương lớn của nước nhà như Hàn Mạc Tử, Lê Anh Xuân, .nhưng cũng như Hàn Mạc Tử, Lê Anh Xuân, chị Quý cũng đã kịp để lại cho hậu thế những tác phẩm xứng đáng với tài năng, khát vọng, ý chí và sự hy sinh phi thường của mình Mình đặc biệt nhấn mạnh 200 trang sách "Nhật ký chiến trương" của chị Quý là một trong những tác phẩm thật nhất, lớn nhất, gây xúc động mạnh mẽ nhất về cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại. Cần phải coi đây là một tác phẩm ,"đặc biệt xuất sâc, phục vụ đắc lực sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc", tức là một tác phâm rất xứng đáng được trao tặng Giải thưởng HCM. ...
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

Những nỗi thê thảm của sách vở thời nay



VTN
Nguyên là bài Từ vứt bỏ sách cũ có giá trị đến… ồ ạt làm ra sách mới sách rởm đưa trên blog này ngày 5 thg 6, 2013

Nguyên nhân sâu xa: nỗi thê thảm của trí tuệ
Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều đám thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm,có một điều liên quan đến sự học làm người, đó là phải có định hướng về  thực tiễn.
Thực tiễn mới là số một
Sách vở không là gì cả.
Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách, đang đi học.
Một người thích đọc sách dễ bị những người khác coi là ấm đầu,không thức thời, không thể đi xa trên đường lập nghiệp.
Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn.
Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương
Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu khinh rẻ sách chà đạp lên sách như vậy.

Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đưởng sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác, đang bị từ bỏ.
Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ, sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.
Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội là người giàu (tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)

Từ tạm thời bỏ sách
đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở
Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay là thời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường.
Lúc này chỉ có hành động là quan trọng.
 Không được trù trừ phân vân.
Không được tính trước tính sau gì cả.
Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.
Cái tinh thần chế giễu học vấn mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.
Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết.
Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn.
Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.
Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới.
Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử, nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.

Những cuốn sách bị cấm
Có lần  tôi đã kể ấn tượng mãi về những cuốn sách Pháp gọn gàng mộc mạc mà lại nuột nà, sách của những nhà Gallimard, Grasset, Hachette...Sách vừa đẹp vừa nhã, giấy không trắng quá, chữ in rõ ràng. Cầm quyển sách cứ nhẹ bỗng mà đọc vào lại thấy một nội dung thật nặng, thật nghiêm chỉnh.
Đó là số sách mà trong chiến tranh chống Mỹ Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng cho Hội nhà văn VN. Hồi ấy còn nhiều nhà văn biết tiếng Pháp nên đó là cả một kích thích thú vị cho những người ham hiểu biết.
Nhưng có lệnh từ trên là không được cho dịch đã đành, mà cũng không được phổ biến rộng rãi. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi dặn bà Huệ phụ trách Thư viện, chỉ những nhà văn cỡ trung kiên, được gọi là thường vụ Ban chấp hành và những người được ông Thi trực tiếp đồng ý, mới được mượn.
Cái có giá trị và được cả thế giới công nhận phải được coi cái xa lạ hơn thế nữa, hư hỏng sai lạc, không bằng những cái ta làm ra(!).
Sự tự cô lập về mặt trí tuệ là đầu mối của mọi thảm họa trên mọi phương diện khác.

Sự hoàn lương nửa vời
Sau chiến tranh, mọi chuyện đã có phần thay đổi.
Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài.
Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu.

Vì phong trào làm sách thời thượng này  quá ồ ạt nên những  người có thiện chí và muốn tiếp nhận  phần tốt đẹp của kiến thức khoa học xã hội và văn học tiên tiến nhất trên thế giới cũng bị lép vế  và không sao tìm  được  cách chuyển tải những tư tưởng đó tới đông đảo bạn đọc. Nói cách khác bộ phận  trí thức nước ta tiếp nhận những cái tốt đẹp của tư tưởng  tiên  tiến ấy và văn học còn là rất bé nhỏ và tác động của họ với toàn xã hội cũng còn rất hạn chế.
Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng hiện nay ở vào một độ lùi đáng kể với sách vở thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.

Việc nào tác hại hơn?
Chỗ đau nhất của sách thời nay như vậy là ở sự lộn sòng giữa sách thực và sách giả, giữa cái không phải là sách và sách thực sự. Và theo tôi hiểu, không thời nào sự lộn sòng đó công khai và tràn lan như bây giờ.
Ai cũng có thể rút ra kết luận đó nếu có lần vào đọc ở các thư viện công cộng. Ở đó, sách cũ sách có giá trị thì bị xếp xó. Sách mới , những cuốn sách cạn cợt nông nổi thì được trưng ra thật đẹp và sự thực là trở thành cần thiết với một lớp trẻ chỉ biết lao vào thi cử, nghĩa là nói y hệt điều người ta đã nhét vào đầu mình để ăn điểm.
Giá mang đặt lên bàn cân hai sự kiện, một là việc rẻ rúng những cuốn số sách cũ có giá trị và hai là việc làm ra vô vàn những cuốn sách mới nghèo nàn mỏng mảnh kém coỉ giả dối rồi lại thượng chúng lên như những tài sản vô giá mà con ngưởi thời nay gửi cho tương lai, không rõ việc nào gây tác hại hơn.

Thời nay sách đã được viết như thế nào?
Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê người viết một cuốn tiểu thuyết đứng tên ông.
Tiền in đã có cơ quan lo.
Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng, để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép.
Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.
Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp.
Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng.
Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng, đi thuổng đi nhặt nhạnh, rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán.
Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy.
Thế thì có khác chi ông cán bộ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?
Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.

Một loại tác giả “ăn khách” chỉ có ở thời nay
Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW.
Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.

Sách dùng để làm gì?
Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng.
Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?
Nhớ một mẩu chuyện vui vui.
Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:
-- Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.
-- Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?
-- Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.
Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phản đối Trung Quốc khủng bố ngư dân Việt Nam!



Một tàu cá ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc tấn công, phá tài sản năm 2017.
Ảnh: Tử Trực

Tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam 
ở Hoàng Sa

Người lao động
06/03/2019 21:50 

(NLĐO)- Tàu cá QNg 90819 TS/05 LĐ bị tàu Trung Quốc mang BKS 44101 đâm chìm cách Đông Đà Nẵng khoảng 198 hải lý, trong khu vực đảo Đá Lồi thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tối 6-3, tin từ Văn phòng Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, cho biết vào lúc 10 giờ 10 ngày 6-3, tại tọa độ 16015' N - 111038' E (cách Đông Đà Nẵng khoảng 198 hải lý, trong khu vực đảo Đá Lồi thuộc quần đảo Hoàng Sa), tàu cá QNg 90819 TS/05 LĐ bị tàu Trung Quốc BKS 44101 đâm chìm.

Sau khi bị đâm, tàu cá QNg 90819 chỉ còn nổi phần mũi, 5 ngư dân phải bám vào phần mũi tàu. Văn phòng Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn đã yêu cầu Trung tâm phối hợp Tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm Tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Trung Quốc cứu nạn các ngư dân. Đến 12 giờ 14 cùng ngày, 5 ngư dân đã được tàu cá QNg 90620 TS tiếp cận cứu vớt an toàn và rời khu vực tiếp tục đi đánh bắt hải sản. 
V.Duẩn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mâu thuẫn xã hội ẩn sau những bất cập của chính sách quản lý đất đai


Minh Ngọc 05/03/2019 Không khó nhận thấy các tranh chấp quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam những năm gần đây vẫn liên tục gia tăng quy mô và mức độ phức tạp. Đâu đó, mâu thuẫn tích tụ trở thành các cuộc xung đột tự phát giữa người dân và chính quyền địa phương. Thực tế, nguồn gốc thực sự của mâu thuẫn này đến từ bất cập về thể chế quản lý, khai thác bất động sản – là nguồn gốc của phân chia tài sản bất công bằng, là “cơ hội” để phát sinh tham nhũng, tước đi tiền đề “công nghiệp hóa”, làm méo mó chính sách tiền tệ, gia tăng bất ổn kinh tế…
Góc nhìn từ bán đảo Thủ Thiêm sang khu đô thị quận 1
 – trung tâm tài chính mới của TP.HCM. (Ảnh: Shutterstock)
1. Bất cập về xác lập quyền sở hữu
Quyền sở hữu không được xác lập minh xác và được bảo vệ bởi pháp luật, được giao dịch theo nguyên tắc thị trường là nguyên nhân khiến bất động sản bị tham nhũng, phân mảnh và lãng phí.
Đặc trưng lớn nhất về chính sách bất động sản (BĐS) Việt Nam là “không thừa nhận quyền sở hữu BĐS bởi quyền sở hữu BĐS thuộc về toàn dân”, chỉ thừa nhận quyền sử dụng BĐS. Đây là nguyên nhân căn bản dẫn đến sự chênh lệch quá lớn về giá BĐS theo mục đích sử dụng (đất nông nghiệp, đất đô thị…). Chuyển đổi mục đích sử dụng khi được các cơ quan quản lý chấp thuận sẽ dẫn tới các khoảng cách chênh lệch rất lớn về giá. Bên cạnh đó, do sự phức tạp của quyền sử dụng BĐS nên quản lý BĐS còn lúng túng, nhiều bất cập, cơ chế giá không phản ánh đúng cung – cầu của thị trường dẫn đến tồn tại nhiều loại giá trong quản lý BĐS ở nhiều cấp, ngành khi tính toán phí, thuế liên quan.

Khi giá hàng hóa không được xác định trên quy luật cung – cầu sẽ dẫn tới “thông tin thị trường bị méo mó”, giá cả cũng không phản ánh đúng quy luật; phần đa lợi ích của thị trường sẽ thuộc vào nhóm có thông tin đầy đủ hơn. Điều này dẫn tới các mâu thuẫn xã hội liên quan đến BĐS gia tăng, xử lý các mâu thuẫn lợi ích này cũng khiến chi phí xã hội gia tăng, chi phí ngầm trong các giao dịch BĐS lớn.

Quan trọng hơn, khi quyền sở hữu không được xác lập, “hệ thống khuôn khổ pháp lý cho BĐS trở nên nặng nề, chồng chéo, không minh bạch”. Ví dụ như vấn đề đăng ký BĐS, Việt Nam chưa có đạo luật riêng về đăng ký BĐS, các quy định về đăng ký BĐS nằm rải rác tại các văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Kinh doanh bất động sản cùng các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật nêu trên. Việc này dẫn đến các văn bản luật này mâu thuẫn, chồng chéo; gây khó khăn cho cả người dân và cơ quan thực thi pháp luật. 


Kết quả là, khi khuôn khổ pháp lý không đủ hiệu lực sẽ làm bùng nổ các giao dịch ngầm, nhà nước chưa kiểm soát được đầy đủ các diễn biến của thị trường cũng như không đủ thông tin và sở cứ pháp lý để giải quyết các khiếu kiện, tranh chấp về BĐS. Sự không ổn định về tổ chức cơ quan đăng ký (do những thay đổi thường xuyên về thẩm quyền đăng ký tại các văn bản quy phạm pháp luật hoặc do sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chịu trách nhiệm giúp Ủy ban thực hiện công tác này) dẫn đến hệ quả là hồ sơ được quản lý không thống nhất, thông tin về giao dịch bất động sản không tập trung, bị gián đoạn. Nhà nước tốn kém nhiều chi phí cho mỗi lần thay đổi về hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bất động sản.

Tồn tại căn bản này về thể chế BĐS Việt Nam không chỉ khiến thị trường tự phát (do các giao dịch ngầm phát triển), thông tin không minh bạch dẫn tới hiện tượng đầu cơ, thị trường BĐS phát triển không cân xứng, nhà đầu tư và người tiêu dùng không được bảo vệ thích đáng…

Quan trọng hơn, BĐS là một nguồn lực lớn của nền kinh tế – do sự hạn chế về khuôn khổ chính sách- đã không được giải phóng thích đáng nên không phát huy được hiệu quả kinh tế, thậm chí còn trở thành rào cản, là rủi ro với khu vực ngân hàng trong vai trò là tài sản đảm bảo. Việc thiếu một khuôn khổ pháp lý đủ hiệu lực trong xác lập quyền sử dụng, quyền sở hữu đã khiến các Ngân hàng thương mại (NHTM) khó khăn khi xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo là BĐS. Đây là một trong những nhân tố làm chậm lại tiến trình xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng, tăng rủi ro cho hệ thống NHTM nói riêng và nền kinh tế nói chung.

2. Bất cập trong việc thu thuế tài nguyên đất

Cấp quản lý địa phương (từ cấp huyện) có quyền thay đổi mục đích sử dụng đất, trong khi chính quyền địa phương tỉnh được giữ lại 100% thuế từ tài nguyên đất cho ngân sách của tỉnh nhà. Về cơ bản, thu ngân sách tại địa phương có ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các khoản thu phát sinh tại địa phương nhưng phải nộp 100% về trung ương (gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa nhập khẩu, thu từ bán tài sản nhà nước…).

Nhóm 2: Các khoản thu địa phương được giữ lại 100% (gồm các khoản thuế và phí liên quan đến nhà đất, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, thuế tài nguyên trừ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí… ).

Nhóm 3: Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân…), tỷ lệ này sẽ thay đổi, điều chỉnh theo từng thời kỳ.

Cơ chế này tạo ra một số bất cân đối và bất cập. Chẳng hạn như, tại một số địa phương, xuất hiện tình trạng “trung ương hụt thu, địa phương lại vượt thu”; thực trạng một số địa phương chưa quản lý thu tốt với các các khoản thuế nộp 100% về trung ương, trong khi luôn thu tốt các khoản 100% giữ lại địa phương.Hàng nghìn lô đất nông nghiệp tại Gia Lai bị phân lô bán nền, biến thành đất ở. Ảnh: Xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp, một công trình bị đình chỉ xây dựng tại xã Chư Á, TP. Pleiku, 2018. (Ảnh: Nguyễn Sang/baogialai.com.vn)

Trong các khoản thu để lại 100% tại địa phương, đáng lưu ý là khoản thuế, phí liên quan đến nhà đất (thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; tiền sử dụng đất, trừ tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ).

Tuy nhiên, với tài nguyên đất, các địa phương cũng có quyền trong vấn đề quy hoạch, chuyển quyền sử dụng đất. Giá đất phụ thuộc rất lớn vào chênh lệch quyền sử dụng. Như vậy, việc thay đổi quyền sử dụng đất, khai thác tài sản công (là bất động sản), đối với địa phương, còn là một nguồn thu lớn.

Việc có quyền quyết định với việc chuyển quyền sử dụng đất và giữ 100% thuế đất cho ngân sách địa phương, chỉ xét về lý thuyết, có thể tạo ra lỗ hổng thể chế không tốt, làm lãng phí tài nguyên đất, thúc đẩy phát triển hoặc ngoài quy hoạch tại nếu việc giám sát, quản lý tại địa phương đó không được tốt. Trên thực tế, một số địa phương và tại một số thời điểm, nguồn thu từ đất được đánh giá là lớn. Ví dụ, 7 tháng đầu năm 2017, thu từ đất của tỉnh Hà Tĩnh là 799 tỷ đồng, chiếm 25% tổng thu ngân sách của của tỉnh. Hà Nội, thu từ đất năm 2016 chiếm tới 18% tổng thu ngân sách, …

Tóm tắt Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2017 của Kiểm toán Nhà nước có đề cập đến công tác quản lý và thu tiền sử dụng đất đô thị tại các địa phương còn nhiều bất cập.

Thứ nhất, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch của các dự án đa số theo xu hướng tăng số tầng, vượt quá số tầng và chiều cao tầng so với quy định, tăng diện tích sàn, chia nhỏ diện tích căn hộ hoặc bổ sung chức năng nhà ở vào các lô đất thương mại, văn phòng, giảm diện tích công cộng, cây xanh đây là yếu tố cơ bản gây áp lực lớn tới hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đặc biệt là giao thông đô thị, y tế, giáo dục làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của cộng đồng dân cư.

Thứ hai, việc thực hiện chỉ định nhà đầu tư không đúng quy định; đặc biệt có tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất từ thương mại dịch vụ sang “đất ở không hình thành đơn vị ở”, xác định người mua biệt thự, căn hộ sử dụng đất ổn định lâu dài không đúng Luật Đất đai.

Thứ ba, phương pháp xác định giá đất hiện nay còn nhiều bất cập, không rõ ràng, vướng mắc trong quá trình thực hiện và là kẽ hở gây thất thoát Ngân sách nhà nước (NSNN). Qua kết quả kiểm toán, đối chiếu 329 dự án, Kiểm toán Nhà nước kiến nghị xử lý tài chính 7.778 tỷ đồng, trong đó tăng thu, giảm chi NSNN 3.856 tỷ đồng. Đáng lưu ý là, nguồn thu từ đất không phải là nguồn thu bền vững khi một phần trong đó là thu một lần. Trong khi thuế tài sản – là nguồn thu bền vững cho ngân sách – lại chưa hình thành khuôn khổ pháp lý phù hợp.

Trong thực hành và lý thuyết, khi phân cấp thu ngân sách giữa trung ương – địa phương tại các quốc gia, việc địa phương được giữ lại 100% thuế BĐS là khá phổ biến do tính dễ thu, minh bạch của loại thuế này. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa Việt Nam và các nền kinh tế khác là tính minh bạch khi định giá giá trị của BĐS như đã phân tích. Bởi vậy, nguyên tắc phân cấp thu ngân sách này khi áp dụng trong môi trường thiếu minh bạch về quyền sở hữu, quyền sử dụng, giao dịch và thiếu nguyên tắc thị trường thì lỗ hổng chính sách sẽ bị nới rộng thêm.

3. Mâu thuẫn xã hội gay gắt do lỗ hổng chính sách của BĐS


Trên góc độ kinh tế vĩ mô, lỗ hổng chính sách thực sự tạo ra sự méo mó của thị trường BĐS; khuyến khích nhóm có lợi thế về thông tin đầu cơ khiến thị trường méo mó, giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ, tăng rủi ro chéo tới hệ thống ngân hàng… 

Như vậy, nhóm bị tổn thương nhiều nhất chính là nhóm dân cư thu nhập thấp: khả năng sở hữu nhà ở giảm do giá cao, thiếu nhà ở cho phân khúc thu nhập thấp (nguồn cung tập trung vào nhà ở phân khúc trung- cao cấp). Kế đó, nhóm doanh nghiệp cũng phải trả chi phí cao hơn khi tiếp cận tài nguyên đất, hoặc nhiều trường hợp không dùng tài sản là đất đai để vay vốn từ NHTM. Chưa kể, khi rủi ro khu vực ngân hàng gia tăng, lãi suất tăng, lạm phát tăng cũng làm giảm cầu tiêu dùng và đầu tư của hộ gia đình và doanh nghiệp.

Thực tế, các mâu thuẫn phát sinh do thay đổi quy hoạch đất đai, do chính sách trong quy hoạch trong suốt nhiều thập kỷ qua ngày một nhiều và trở nên gay gắt.

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất khu vực bán đảo Thủ Thiêm, quận 2, TP.HCM. (Nguồn: thuthiem.hochiminhcity.gov.vn)

Năm 2018, một trong những sự kiện nổi bật nhất trong lĩnh vực bất động sản chính là vụ sai phạm trong quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Hơn 20 năm sau quy hoạch, dự án đã giải phóng hơn 99% mặt bằng. Tuy nhiên, hàng trăm hộ dân vẫn không ngừng khiếu nại từ thành phố đến trung ương trong nhiều năm liền, cho rằng đất của họ nằm ngoài ranh quy hoạch theo quyết định của thủ tướng năm 1996 nhưng vẫn bị giải tỏa; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư sai quy định.

Tháng 9/2018, Thanh tra Chính phủ sau quá trình tìm hiểu cũng kết luận: TP HCM, Bộ Xây dựng và Văn phòng Chính phủ có nhiều sai phạm trong quá trình quy hoạch Thủ Thiêm, phá vỡ quy hoạch Thủ tướng phê duyệt; thể hiện sự buông lỏng quản lý, sử dụng đất.

Tính đến ngày 18/10/2018, có tới 2.206 hộ dân thuộc Khu đô thị mới Thủ Thiêm nộp đơn kiến nghị, phản ánh đến UBND quận 2. Họ yêu cầu được biết chính sách, chủ trương và được giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi nhà đất nằm ngoài ranh quy hoạch dự án.

Vụ khiếu kiện này đã tác động mạnh đến các hộ dân tại các dự án phát sinh khiếu nại tố cáo đông người kéo dài từ nhiều năm trước, như dự án 1Bis-1Kep Nguyễn Đình Chiểu (Quận 1), Khu công nghệ cao (Quận 9) và dự án Thảo Cầm viên mới ở Củ Chi. Người dân ở các khu này có thái độ gay gắt hơn, chủ yếu là so sánh về chính sách giải quyết, trách nhiệm của chính quyền và có dấu hiệu phát sinh khiếu nại về ranh quy hoạch.

Hồi tháng 10/2019, TAND tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử vụ án 147 hộ dân ở huyện Yên Thế (Bắc Giang) khởi kiện một quyết định hành chính của UBND tỉnh Bắc Giang. Vụ việc liên quan đến sự kiện ngày 27/01/2015, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 35/QĐ-UBND, cho Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Yên Thế thuê rừng gắn với thuê đất lâm nghiệp để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp tại huyện Yên Thế. Người dân cho rằng, chính quyết định này đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, 147 hộ dân ở huyện Yên Thế đã khởi kiện UBND tỉnh Bắc Giang ra tòa.

Liên quan đến vấn đề khiếu kiện của người dân, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Huỳnh Cách Mạng cho hay năm 2018, cả nước có 664 vụ khiếu nại nổi cộm thì phía Bắc có 200 vụ, phía Nam có 280 vụ. Ông Mạng thẳng thắn nhìn nhận chính sách về đất đai còn nhiều bất cập dẫn đến khiếu kiện liên quan đến đất đai luôn dẫn đầu với tỷ lệ 75% ở TP.HCM và 90% trên cả nước.

Ngoài ra, việc thu hồi đất của dân làm khu thương mại,… giá bồi thường cho dân thấp hơn quá nhiều so với giá sản phẩm doanh nghiệp bán ra. Trong khi đó công tác quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy, thậm chí vụ lợi.

Mới đây nhất, Thanh tra Chính phủ sau khi thanh tra về việc chuyển đổi nhà, đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác trên địa bàn TP Đà Nẵng, đã xác định trong thời gian từ 1/1/2010 đến 31/12/2010 trên địa bàn TP Đà Nẵng đã triển khai thực hiện chuyển đổi 52 cơ sở nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước sang mục đích khác và chuyển tiền sử dụng, giao cho thuê 169 thửa đất để tạo nguồn thu cho TP Đà Nẵng. Trong đó, có 8 cơ sở nhà đất được thuê, được mua không thông qua hình thức đấu giá liên quan đến Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”). Việc định giá thu tiền sử dụng đất của 52 cơ sở nhà đất có số tiền sai phạm là hơn 156 tỷ đồng. Vụ án liên quan đến Vũ “nhôm” cũng kéo theo hơn 10 bị can bị khởi tố liên quan đến việc bán 31 nhà, đất công sản.

Trên thực tế, hàng loạt các quan chức trục lợi từ đất công khi “hóa phép” nhà, đất công tại những vị trí đắc địa, vị trí vàng cho doanh nghiệp tư nhân bỏ túi nhiều tỷ đồng chênh lệch so với giá thị trường gây bức xúc dư luận đã bị “lộ mặt” khiến không ít người đặt ra câu hỏi phải chăng có sự câu kết, chia chác, lợi ích nhóm trong đó.

Để chấm dứt tình trạng này, đưa đất đai trở thành tài nguyên được khai hiệu quả nhất theo đúng quy luật của thị trường thì nhất thiết cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân cốt lõi của nó bằng khuôn khổ hệ thống pháp luật đồng nhất về quyền sở hữu; được xác lập đầy đủ, được bảo vệ công khai, minh bạch bởi pháp luật, được giao dịch theo nguyên tắc thị trường.

Minh Ngọc
https://trithucvn.net/kinh-te/chinh-sach-moi/mau-thuan-xa-hoi-an-sau-nhung-bat-cap-cua-chinh-sach-quan-ly-dat-dai.html

Xem thêm:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồi ức về Triều Tiên của Đại sứ VN tại Triều Tiên


Thái Kế Toại 

Triều Tiên và Việt Nam là hai đất nước có nhiều gắn bó bởi những điểm tương đồng trong lịch sử: Cùng trải qua cuộc kháng chiến. Hạ tầng nhiều cái họ hơn mình. Thời kỳ trước đây, khi khối XHCN còn tồn tại, trình độ phát triển của họ đã có lúc đạt được như các nước Đông Âu. Lúc ấy thì mình còn đang chống Mỹ. Sau này khi mình tiến lên thì bạn lại bị bao vây cấm vận. Họ sống thu mình lại.
Image result for Triều Tiên
Năm 1964, tôi bắt đầu sang Triều Tiên học. Triều Tiên lúc đó vừa vượt qua chiến tranh, vẫn còn khó khăn, ở Liên Xô chủ nghĩa xét lại nổi lên, họ không nhận lưu học sinh của mình, Trung Quốc thì diễn ra cách mạng văn hóa. Trong lúc đó, Triều Tiên vẫn nhận 30 lưu học sinh của ta. Năm sau nữa họ nhận 700 rồi 1.000, rất nhiều thực tập sinh nữa. Những năm 1967 – 1968, dù khó khăn, bạn vẫn điều chỉnh ngân sách để có một khoản viện trợ giúp mình. Sự ủng hộ của Triều Tiên rất nhiệt tình. 

Giai đoạn đó, Mỹ liên tục ném bom. Có những ngày, sáng Sứ quán ta vừa đề nghị ra tuyên bố ủng hộ, chiều lại tiếp tục đề nghị ủng hộ. Đây là thời kỳ quan hệ hai nước rất tốt, ông Kim Nhật Thành dành tình cảm rất lớn cho Việt Nam, coi Đại sứ Lê Thiết Hùng là người bạn Bác Hồ gửi sang và mong muốn kề vai sát cánh cùng Việt Nam đánh Mỹ.
Tôi từng đứng trong hàng ngũ cùng dân Triều Tiên xuống đường biểu tình ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Người dân Triều Tiên rất đông, diễu hành từ trường Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành đến Quảng trường.
Tuy nhiên, quan hệ hai bên đi xuống dần khi ta thiết lập quan hệ với Hàn Quốc vào năm 1992. Họ hiểu lầm rằng mình bắt tay với phía bên kia nên dần xa nhau.
Đến khi Tổng thống dân sự của Hàn Quốc là ông Kim Dea-jung sang thăm Triều Tiên thì quan hệ Nam - Bắc dần hòa dịu, họ cũng đỡ đi hiểu lầm trong quan hệ với ta và mối giao tình hai bên dần dần cải thiện được.
Cuối năm 2000 Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên sang thăm Triều Tiên có trao đổi đoàn ở cấp Bộ trưởng, đã bàn về quan hệ hai nước, dần dần quan hệ hai bên phát triển lên. Tháng 7/2001, Chủ tịch Quốc hội Kim Young Nam thăm Việt Nam và năm sau là Chủ tịch nước Trần Đức Lương có chuyến thăm.
Phải đến thời điểm đó, quan hệ hai nước mới được khai thông và trong vòng một năm rưỡi đã tiến nhanh. Đến bây giờ nhìn lại, những gì trong quá khứ chỉ nên xét trong bối cảnh lịch sử, không ai phê phán ai. Tất cả đều do bối cảnh lịch sử.



Thực tế, trước chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương vào năm 2002, ta vẫn cố gắng thúc đẩy quan hệ với Triều Tiên. Thời điểm đó Triều Tiên rất khó khăn. Năm 1994, ông Kim Nhật Thành mất, 2 năm liền Triều Tiên gặp nạn lụt. Có năm lụt lớn đến mức báo Triều Tiên đưa tin, mô tả cảnh khăn tang đầy đường. Báo chí Triều Tiên hồi đó viết ông Kim Jong Il cũng ứa nước mắt khi nhìn mọi của cải vật chất trôi ra sông ra biển.
Địa hình Triều Tiên có đặc điểm giống miền Trung nước ta là địa hình núi, ngắn, mưa không giữ được nước nên trôi hết ra biển. Họ vừa thiếu thốn về lương thực, về năng lượng, điện không có, than không có, không chạy được điện… không phục vụ được nông nghiệp, khai khoáng.
Vì thế, chỉ một trận lụt như thế xảy ra thì không phải thiếu lương thực một năm mà mấy năm sau. Đến năm 1997, chính người Triều Tiên đánh giá họ đã xuống đến đáy. Có những người Triều Tiên thân với tôi nói rằng đau lòng lắm, mới bước lên tàu thôi thì gục luôn, vì đói quá không đi được nữa.



Khoảng năm 1997 - 1998, đoàn Triều Tiên có sang Việt Nam đàm phán. Cậu phiên dịch là người Triều Tiên đang nói về tình hình khó khăn của đất nước thì không kìm được, khóc luôn ở phòng họp. Bác Vũ Khoan có tham gia kể lại rằng, chưa có cuộc hội đàm nào mà thấy buồn và thương cảm đến thế.
Họ đề nghị mình viện trợ lương thực. Mình lúc thì tặng, lúc thì họ mua trả sau. Qua những chuyện đấy bạn cũng hiểu tấm lòng của mình.
Năm 2000, khi tôi nhận nhiệm vụ Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên, mặc dù nạn lụt đã qua nhưng Triều Tiên vẫn còn rất khó khăn. Ở ngoài đường không có điện, đèn pha ô tô chiếu đến ở đâu thì ở đó sáng, đoàn đón tôi về Đại sứ quán phải dùng đèn pin soi cho tôi đi. Về đến sứ quán thì anh em phải đốt đèn cầy tôi mới lên được phòng.
Ở Triều Tiên, muốn mua gì cũng khó. Triều Tiên bị cấm vận, không được tiêu USD mà chỉ được tiêu bằng tiền Thụy Sĩ. Tôi và anh em Sứ quán cứ 3 tháng một lần lại sang Bắc Kinh nhận kinh phí cho Đại sứ quán từ trong nước gửi sang. Nhân dịp đấy, chúng tôi tranh thủ mua hàng cho cơ quan, từ cái nút phích, dây buộc đồ cho đến bát, đĩa, nồi, niêu, thịt thì tích trữ trong tủ lạnh.
Làm Đại sứ ở Triều Tiên, chính tôi cũng kiêm luôn việc bếp núc, chuẩn bị tiệc chiêu đãi cho sứ quán. Mỗi lần có tiệc chiêu đãi, tôi phải chuẩn bị hàng tháng trước, đi Trung Quốc mua thức ăn. Đến ngày mở tiệc chiêu đãi thì hôm trước anh em trong Sứ quán dọn vệ sinh. Tôi viết và tự dịch diễn văn, dịch xong thì xuống làm bếp. Mà trong các tiệc chiêu đãi của Đại sứ quán Việt Nam không thể thiếu món nem, chuẩn bị thức ăn thì có thể từ vài tháng nhưng nem thì phải lúc gần tiệc chiêu đãi mới rán. Tôi phải che chắn thật kỹ để mùi nem không bám vào đầu tóc quần áo. Xong xuôi lại tháo ra, trang điểm đi xuống đón khách, đọc diễn văn. Kết thúc tiệc chiêu đãi thì lại thay áo dài ra ra đi lau bếp.
Từ năm 1994, khi còn là Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên, tôi cũng không ít lần phải đi "chợ đen" mua đồ. Có một chuyện, nhỏ thôi, mà tôi nhớ mãi. Một lần, tôi đang đi bộ thì một người phụ nữ bước qua tôi, hỏi thoảng rất nhỏ:
- "Có mua cá không?"
- "Cá gì?" - Tôi đáp lại
- "Cá chép"
- "Mấy kg? Giá bao nhiêu?"
Sau khi hỏi giá xong xuôi, người phụ nữ đấy lững thững đi vào nhà vệ sinh, tôi đi theo. Bên trong nhà vệ sinh, bà ấy trút cá vào túi của tôi xong đi ra. Một lúc sau, tôi cũng đi ra với con cá chép ở trong túi.
Sau này, đến khi làm Đại sứ thì tôi không còn phải đi mua hàng ở chợ dân nữa mà chỉ nuôi gà, trồng rau trong sứ quán để có thêm nguồn thực phẩm.



Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương là chuyến thăm đáp lễ chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội Kim Young Nam hồi tháng 7/2001. Sẽ có nhiều người thắc mắc là tại sao lại có chuyện Chủ tịch nước đáp lễ một chuyến thăm của Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội?
Nguyên nhân của việc "không giống ai" này là do ông Kim Nhật Thành là Chủ tịch vĩnh viễn nên các vị trí lãnh đạo Đảng như Tổng Bí thư thì có thể thay thế nhưng Chủ tịch thì không. Khi ông Kim Nhật Thành qua đời, chức Chủ tịch bỏ trống.
Sau khi ông Kim Nhật Thành từ trần, trong Quốc thư gửi đi các nước vẫn có tên của ông. Còn về giao tiếp quốc tế, Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên - cơ quan lãnh đạo về mặt Nhà nước - đã cử Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội làm nhiệm vụ đối ngoại cấp nhà nước, tiếp đại sứ các nước, cử đại sứ và gặp các nước, hay có các chuyến thăm trên danh nghĩa Chủ tịch nước.
Tháng 7/2001, Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên sang thăm ta. Năm sau thì Chủ tịch nước mình thăm bạn. Tất nhiên, quan hệ của mình lúc đó tốt thì mới có chuyến thăm như vậy. Năm đó ông Kim Jong Il mời Chủ tịch Trần Đức Lương xem đồng diễn thể dục Mass Game và còn có nhã ý muốn mời Chủ tịch nước ta mùa hè năm sau sang xem tiếp.
Tuy nhiên, còn một điều đặc biệt mà ít người biết, đó là chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương năm ấy không chỉ làm nồng ấm lại quan hệ hai nước, mà còn đem lại cơ hội nối lại mối duyên của một chàng trai Việt Nam và một cô gái Triều Tiêu sau 31 năm chờ đợi.
Nhiều thập kỷ trước, Phạm Ngọc Cảnh là một du học sinh ngành hóa ở Thành phố Hàm Hưng, Triều Tiên. Trong một lần đi thực tập, Cảnh vô tình quen biết một cô gái Triều Tiên đang làm kỹ thuật tại nơi anh thực tập. Cô gái Ri Yong Hui mang nét dịu dàng đặc trưng của những cô gái Triều Tiên. Đến bây giờ, sau nhiều năm bà Ri vẫn còn rất đẹp.
Hai người yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Lần đầu tiên nhìn thấy cô gái Ri Yong Hui, anh Cảnh đã nghĩ, phải lấy cô gái này làm vợ. Nhưng vì những quy định khắt khe thời ấy, hai người chỉ dám giữ kín tình cảm trong lòng.
Năm 1973, chàng thanh niên Phạm Ngọc Cảnh về nước, ôm mối tình vô vọng. Sau này, năm 1978, anh Cảnh có cơ hội quay trở lại Triều Tiên và đến tìm Ri Yong Hui.
Hai người cùng nói với nhau, là chỉ có thể nhớ nhau trong tâm tưởng mà thôi, và cả hai đều quyết định không lấy người nào khác.
Nhưng số phận lại thử thách tình yêu của hai người một lần nữa. Khoảng năm 1994, Triều Tiên gặp phải nạn lụt nặng. Người dân lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực trong mấy năm liền. Khi anh Cảnh nhờ người dò hỏi thông tin của cô Ri thì hay tin là cô đã mất. Anh đau đớn vô cùng. Nhưng thực ra, người mất khi ấy là mẹ và em gái cô Ri. Chỉ vì thông tin khó khăn mà có sự hiểu lầm này. Còn cô Ri, giống như nhiều người Triều Tiên khác ở vùng bị ảnh hưởng của thiên tai khi đó, cô cũng phải rời khỏi quê nhà đi sơ tán. Cô sống sót nhưng hai người cũng mất liên lạc từ đó.
Sau này may mắn là một người bạn Triều Tiên đáng tin cậy tìm được thông tin của cô Ri và báo với Cảnh. Người này cũng hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của hai người nên đã nhận làm người gửi những bức thư của anh Cảnh đến cô Ri.
Những bức thư tình lúc ấy phải hết sức bí mật: Phải dùng đúng loại phong bì dùng trong nội bộ Triều Tiên, viết bằng tiếng Triều Tiên, và với những nội dung thật khô khan để tránh sự nghi ngờ, bởi trong hoàn cảnh lúc ấy ở Triều Tiên, chuyện có tình cảm với người nước ngoài vẫn bị coi như một điều cấm kỵ. Thế nhưng chỉ cần đọc được những câu từ đơn giản như "Chào đồng chí, Đồng chí thế nào? Tôi vẫn khỏe" là hai người đã trào nước mắt vì nhận ra nhau.
Năm 1997, biết được chuyện này, Bộ trưởng Ngoại giao ta là ông Nguyễn Mạnh Cầm đã từng đặt vấn đề với phía Triều Tiên, nhưng phía bạn chưa trả lời.
5 năm sau, khi Chủ tịch nước Trần Đức Lương sang thăm, nhân quan hệ hai nước đang tiến triển khá nhanh sau một thời gian trầm lắng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhắc lại câu chuyện này với người đồng cấp phía Triều Tiên. Nhưng ông chỉ đề cập đến việc anh Cảnh mong muốn được gặp mặt, thăm hỏi cô Ri chứ không hề nhắc đến chuyện kết hôn.
Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương diễn ra vào đầu tháng 5/2002 thì đến tháng 9/2002, Sứ quán Triều Tiên ở Hà Nội thông báo cho Bộ Ngoại giao của ta là phía Triều Tiên đã đồng ý. Nhận được tin, anh Cảnh sắp xếp để sang Triều Tiên, đồ đạc mang theo chỉ có một bộ comple, một mảnh vải may áo Hanbok tặng cho cô Ri cùng với một niềm tin mong manh.
Cuối cùng, vào cuối tháng 10 năm đó, hai người được gặp lại nhau sau hàng chục năm xa cách. Địa điểm là một khách sạn ở thành phố Bình Nhưỡng.
Triều Tiên lúc đó vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu năng lượng. Khách sạn này có tên là Thanh niên, cao tầng nhưng tối om, chỉ ở sảnh là có đèn. Tôi và một tham tán của Đại sứ quán ta tại Triều Tiên phải soi đèn pin, mọi người mới dò dẫm đi được.
Anh Cảnh đến trước, một lúc sau cô Ri đến, hai người ôm nhau chầm lấy nhau, òa khóc. Đến lúc này, sự chờ đợi của hai người đã là 31 năm.
Cảnh tượng khi ấy khiến cho mọi người chứng kiến ở cả phía Việt Nam và Triều Tiên đều thương cảm.
Ngày hôm sau, tôi mời một số bạn bè Triều Tiên đã giúp cho hai người đến được với nhau tới Sứ quán ta để cảm ơn, cũng là làm một cái lễ nhỏ của nhà gái để tiễn cô Ri sang Việt Nam trước sự có mặt của quan chức Triều Tiên. Hôm đó, anh em Sứ quán ta cũng mua được con gà ở chợ dân, cùng ít bánh kẹo để tổ chức lễ trao nhẫn cho hai người.
Niềm hạnh phúc này quá lớn và bất ngờ, nên cả anh Cảnh và cô Ri đều vẫn chưa dám tin. Sau này, một vị tham tán Đại sứ quán Cuba cùng có mặt trên chuyến tàu từ Bình Nhưỡng về Bắc Kinh kể lại, trên suốt chuyến tàu, cô Ri Yong Hui ngồi nép vào một chỗ, không dám nói, dám cười, dường như cô sợ niềm hạnh phúc mới chớm nở có thể tan vỡ bất cứ lúc nào. Chỉ đến khi tàu tiến qua biên giới Trung - Triều, Ri Yong Hui mới tin đó là sự thật.
Chuyện tình xa cách 31 năm của cặp đôi Việt - Triều nếu đặt trong bối cảnh hiện tại thì ít người hiểu hết được. Cái kết có hậu của mối tình không chỉ là thành quả của những yêu thương chờ đợi, của những lá thư khô khan suốt nhiều năm trời và tình yêu bền chặt, mà còn là kết quả từ những tiến triển tốt đẹp trong quan hệ hai nước.
Và đến năm nay, cuối cùng, hai nước chúng ta lại có một chuyến thăm chính thức sau 6 thập kỷ kể từ khi Chủ tịch Kim Nhật Thành đến thăm Việt Nam.


Nguồn:Theo Soha.

Phần nhận xét hiển thị trên trang