Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

LINH NGHIỆM


Truyện ngắn của Trần Huy Quang 
Kết quả hình ảnh cho ảnh  Trần Huy Quang
*
Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân, không nghèo nhưng cũng chẳng giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy học ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ…bằng nguyên bản, nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.
Hằng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chuỳ gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các. Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn ! Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái đầu mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiên hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.
Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói :"Ơn người. Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con…Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người…"
Thế rồi, như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí linh.
Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm, toả một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy toả hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.
- Kính thưa…Hinh bàng hoàng thốt lên.
- Không phải ! – cô gái mỉm cười độ lượng – Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập đạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không ? Người đang bận, việc hành đạo chỉ ở bước khởi đầu.
- Kính thưa, tôi là người của xứ Nhọc nhằn tăm tối…
- Thôi, anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Đây anh cầm lấy, theo Đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.
Vị sứ giả trao cho Hinh Đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc :
"Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó ; đừng nhìn vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi :"Có đi không ?" thì đừng đi. Đó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Đi tiếp, sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm bước từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để "tìm cái này". Cứ thế…chỉ cần một lúc sau,anh sẽ có được thiên hạ."
Hinh ấp cuốn Đạo thư vào ngực tức tưởi : "Trời ơi,bảo bối, bảo bối…". Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụa. "Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi…"
Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất ,mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dấn bước ra đi. Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng một bên biển. Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Đường phố trong veo, lui cui mấy chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích-lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô gái điếm vật vờ.
- Có đi không ?
Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống ; trong mơ cũng ba chữ ấy. Đến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật ; chủ quán vừa mở cửa. Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách ? Đi tiếp gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hoá đã thấy vườn hoa Mùa Xuân.
Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Địa Thánh, không biết con đang đứng giữa Địa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lại..."Tìm cái này" là tìm cái gì , anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên tri. Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoa, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba đi học sắp qua. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất… Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ gíáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và bước từng bước một chậm rãi.
Những người đang qua đường lấy làm lạ. Bắt đầu là nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ ? Chúng không thể tự giải đáp được.
- Anh ơi, anh tìm cái gì đấy ?
Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời :
- Tìm cái này.
Đối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.
Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ càng tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm…đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi:
- Tìm cái gì đấy ?
Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời :
- Tìm cái này !
Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường.
Rồi tiếp đến... Bây giờ là dân xích-lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.
- Tìm cái gì đấy ?
- Tìm cái này.
Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru-bi, có lẽ tối qua tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra một bị đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ông kia được một viên rồi hả , bắt nộp phạt, chúng mày !
Cứ thế...
Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như đàn kiến.
Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng nhìn họ. Hoá ra thiên hạ đang bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ. Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về.
Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước thất vọng ra về trước, người đến sau thất vọng ra về sau. "Tìm cái này" là cái gì thì không ai biết, nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn lắm, để họ trở thành một dòng nước.
Trưa.
Rồi chiều.
Và... vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.
Trần Huy Quang
(Từ fb Hoàng Tám Bùi)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Diễn văn kêu gọi tự do cho Venezuela của Tổng thống Trump tại Miami 18/2/2019





Ngày 18/2/2019, trước những người Venezuela và Cuba lưu vong và nhập cư tại thành phố Miami, Hoa Kỳ.

"Tại Venezuela và trên khắp Tây bán cầu, chủ nghĩa xã hội đang chết dần, trong khi tự do, thịnh vượng và dân chủ đang được tái sinh. Hôm nay, trái tim của chúng ta tràn đầy hy vọng đối với quyết tâm của hàng triệu thường dân Venezuela, sự ái quốc của Quốc hội Venezuela, và sự dũng cảm phi thường của Tổng thống Juan Guaido.

Nhân dân Venezuela đang đứng lên vì tự do và dân chủ, và Hoa Kỳ đang kề vai sát cánh với họ".




Tôi đặc biệt muốn cảm ơn cộng đồng lưu vong Venezuela, những người đã làm quá nhiều để ủng hộ Tổng thống Guaido trong tổ chức viện trợ cho những người dân yêu nước của họ. Cảm ơn các bạn rất nhiều. Chúng tôi sát cánh cùng các bạn.

Chúng tôi vô cùng cảm kích đối với mỗi nhà bất đồng chính kiến, mỗi người dân lưu vong, mỗi tù nhân chính trị và bất cứ ai phải chứng kiến sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, và những ai đã dũng cảm lên tiếng chống lại những giáo điều này.

Thực tế là các bạn đã nhìn thấy tội phạm và tham nhũng. Các bạn đã chứng kiến đói kém và khổ đau. Các bạn đã nghe về những lời cầu xin thống khổ. Các bạn đã phản kháng, và phản kháng với sự tôn trọng, nhưng dõng dạc. Và các bạn đã cầu nguyện có một ngày mà giờ chúng ta có thể nhìn thấy, chỉ ở phía trước thôi – ngày mà toàn bộ nhân dân của xứ này cuối cùng sẽ được tự do.

Khi chúng ta họp mặt hôm nay, nhân dân Venezuela đang đứng trước ngưỡng cửa của lịch sử, sẵn sàng đòi lại đất nước và tương lai của mình.

Cách đây không lâu, Venezuela là một quốc gia giàu có nhất, hơn nhiều các nước khác ở Nam Mỹ. Nhưng nhiều năm dưới sự cai quản của chủ nghĩa xã hội đã khiến một quốc gia từng thịnh vượng đi tới bờ vực của đổ nát. Đó là thực trạng của đất nước này hôm nay.

Chính quyền xã hội chủ nghĩa độc tài đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế tư nhân và tước đoạt các doanh nghiệp tư. Họ tiến hành những cuộc tịch thu tài sản khổng lồ, bóp nghẹt thị trường tự do, đàn áp tự do ngôn luận và tạo ra một cỗ máy tuyên truyền không ngơi miệng, các cuộc bầu cử gian lận, sử dụng chính quyền để khởi tố các đối thủ chính trị và phá hoại sự công bằng của pháp luật.

Nói cách khác, điều những người xã hội chủ nghĩa đã gây ra ở Venezuela cũng giống tất cả những gì mà những kẻ xã hội chủ nghĩa, cộng sản, và độc tài đã gây ra ở bất cứ đâu chúng có cơ hội cai trị. Kết quả đều là thảm họa.

Gần 90% dân số Venezuela nay sống trong nghèo đói.

Năm 2018, siêu lạm phát tại Venezuela vượt mức 1 triệu phần trăm. Thiếu thốn trầm trọng thức ăn và thuốc men đã làm què quặt quốc gia. Chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn tàn phá đất nước tuyệt vời này đến mức mà những mỏ dầu dự trữ dầu mỏ lớn nhất thế giới cũng không đủ để thắp sáng bóng đèn điện. Điều này sẽ không bao giờ xảy ra với chúng ta.

Hơn 3 triệu người Venezuela đã chạy trốn sự ngược đãi tàn bạo của chế độ Maduro.

Hôm nay, chúng ta vinh dự với sự có mặt của Amintha Perez, mẹ của Oscar Perez – một sĩ quan cảnh sát Venezuela dũng cảm. Các bạn biết câu chuyện này.

Vào tháng 6/2017, Oscar đã lái chiếc máy bay trực thăng bay lên bầu trời thành phố Baruta kéo theo dòng chữ “350 Tự do”. Anh nói đến Điều 350 trong Hiến pháp Venezuela rằng: “Nhân dân Venezuela sẽ chối bỏ bất cứ chế độ, luật pháp hay quyền lực nào vi phạm các giá trị dân chủ hoặc xâm phạm nhân quyền.”

Oscar nói anh muốn mang lại hy vọng cho con người. Anh ấy yêu nhân dân của mình. Anh đã chiến đấu vì họ, và họ yêu anh. Nhưng Oscar đã bị bắt và giết hại bởi lực lượng an ninh Venezuela một cách dã man. Các bạn đều đã biết câu chuyện này.

Amintha, trái tim chúng tôi quặn đau vì sự mất mát của bạn. Oscar đã hy sinh vì tự do cho người dân của mình. Chúng ta đều được ở đây bởi những con người vĩ đại và trung kiên như Oscar.

Vài tuần trước, vào ngày 23/1, Quốc hội Venezuela sử dụng Hiến pháp để tuyên bố Chủ tịch Quốc hội Juan Guaido là lãnh đạo chính danh của đất nước. Một trong những hành động đầu tiên của Chủ tịch Guaido là kích hoạt cùng điều luật trong hiến pháp mà Oscar đã mang theo trên bầu trời Venezuela để thông báo cho thế giới biết Maduro là kẻ bất chính.

Trong vòng 30 phút, Hoa Kỳ tự hào là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Tổng thống Guaido.

Hôm nay, hơn 50 quốc gia trên thế giới đã công nhận chính phủ hợp pháp của Venezuela. Người dân Venezuela đã cất tiếng, thế giới đã nghe giọng nói tuyệt đẹp của họ. Họ đang khép lại những trang cuối của chủ nghĩa xã hội, của chế độ độc tài và họ sẽ không quay trở lại.

Các quốc gia yêu mến hòa bình sẵn sàng giúp đỡ Venezuela đòi lại dân chủ, sự tôn nghiêm và định mệnh của mình. Tất cả các quốc gia trong bán cầu của chúng ta đều có chung mong muốn ngăn chặn sự lan rộng của chuyên chính xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội, từ chính bản chất của nó, không tôn trọng biên giới. Nó không tôn trọng những ranh giới hoặc chủ quyền của công dân hay nước láng giềng. Nó luôn luôn tìm cách bành trướng, để xâm lấn và nô dịch những người khác theo ý muốn của nó.

Mặt trời sắp lặn đối với chủ nghĩa xã hội trên bán cầu chúng ta, và nói thẳng ra, ở trên rất nhiều nơi trên thế giới. Những ngày của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chẳng còn là bao không chỉ ở Venezuela, mà trên cả Nicaragua và Cuba.

Trong lúc đó, tất cả chúng ta phải phối hợp với nhau để chấm dứt một thảm họa nhân đạo. Trong khi ta đang nói chuyện, có những hàng xe tải chở hàng trăm tấn hàng cứu trợ nhân đạo bị chặn tại biên giới Venezuela, phải chờ đợi để phục vụ hàng triệu người cần nó đến tuyệt vọng.

Hai ngày trước, chiếc C-17 đầu tiên của không quân Mỹ hạ cánh xuống Colombia, chở đầy hàng cứu trợ quan trọng, bao gồm hàng chục gói dinh dưỡng cho những trẻ em Venezuela. Bất hạnh là tên độc tài Maduro đã chặn không cho những chuyến hàng cứu trợ cứu mạng này vào Venezuela. Hắn ta thà nhìn người dân chết đói còn hơn cho họ cứu trợ và giúp họ.

Hàng triệu người dân Venezuela đang chết đói và chịu khổ trong khi một nhóm những kẻ chóp bu trong chính quyền vơ vét khiến quốc gia kiệt quệ cho đến chết. Chúng ta biết họ là ai, và chúng ta biết nơi họ giấu hàng tỷ đô la đã bỏ túi riêng. 

Đáng ngạc nhiên là vẫn còn những thành viên trong quân đội Venezuela vẫn duy trì ủng hộ chế độ độc tài thất bại này. Họ đang đánh bạc với tương lai, sinh mạng của chính họ và tương lai của Venezuela vì một kẻ bị điều khiển bởi quân đội Cuba và được bảo vệ bởi quân lính Cuba. Maduro không phải là một người Venezuela yêu nước, ông ta là con rối của Cuba.

Nhớ rằng hàng triệu USD đã được hắn trả cho Cuba, nhưng sẽ không còn thế nữa, bởi hắn không còn đủ tiền để làm như vậy. Vì thế mọi chuyện đang thay đổi, và thay đổi rất nhanh.

Hôm nay, tôi có một thông điệp gửi tới tất cả các viên chức còn đang giúp duy trì chế độ Maduro:

Con mắt của toàn bộ thế giới đang hướng về các vị hôm nay, mỗi ngày và mỗi ngày trong tương lai. Các vị không thể trốn tránh khỏi lựa chọn đang đối chất với các vị. Các vị có thể chọn chấp nhận đề nghị ân xá hào phóng của Tổng thống Guaido, để sống trong hòa bình với gia đình và đồng bào của mình. Tổng thống Guaido không muốn trả thù các vị, và chúng tôi cũng vậy. Nhưng các vị không được nghe theo lệnh của Maduro chặn hàng cứu viện, và các vị không được đe dọa dùng bất cứ hình thức bạo lực nào lên những người biểu tình ôn hòa, các lãnh đạo đối lập, thành viên Quốc hội hay Tổng thống Guaido và gia đình của ông.

Chúng tôi muốn chuyển giao quyền lực trong hòa bình, nhưng tất cả lựa chọn đều đang được cân nhắc. Chúng tôi muốn khôi phục nền dân chủ Venezuela và tin rằng quân đội Venezuela và lãnh đạo của họ đóng một vai trò chủ đạo trong tiến trình này. Nếu các vị chọn con đường này, bạn sẽ có cơ hội gây dựng một tương lai an toàn và thịnh vượng cho tất cả nhân dân Venezuela.

Hoặc các vị có thể chọn con đường thứ hai: tiếp tục ủng hộ Maduro.

Nếu chọn con đường này, các vị sẽ không bao giờ tìm thấy một nơi chốn an toàn, không thể rút lui dễ dàng và không lối thoát. Các vị sẽ mất tất cả.

Vì thế hôm nay, tôi kêu gọi tất cả thành viên của chế độ Maduro: Hãy chấm dứt cơn ác mộng đói nghèo và chết chóc này đối với người dân của các vị. Hãy cởi trói cho nhân dân, để cho đất nước được tự do. Bây giờ là lúc toàn bộ nhân dân ái quốc Venezuela hành động cùng nhau như một dân tộc đoàn kết. Không gì tốt đẹp hơn tương lai của Venezuela. Và không gì có thể tốt cho tương lai của một quốc gia bị cầm giữ khác – Cuba – hơn là sự tái sinh của tự do và dân chủ ở Venezuela.

Trong hàng thập kỷ, những chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa ở Cuba và Venezuela đã chống đỡ cho nhau trong những hợp đồng đầy tham nhũng. Venezuela cho Cuba dầu mỏ. Ngược lại, Cuba cho Venezuela một nhà nước cảnh sát, được giật dây trực tiếp từ Havana.

Nhưng hôm nay là ngày khác trước rất nhiều, và những ngày trước đó đã kết thúc. Liên minh xấu xí giữa 2 chế độ độc tài đang chóng vánh đi đến cáo chung. Một tương lai mới đang bắt đầu. Tất cả chúng ta trong sân khấu này, và hàng ngàn, hàng ngàn người bên ngoài, cảm thông với nhau bởi vì chúng ta biết sự thật về chủ nghĩa xã hội ở Venezuela, ở Cuba, ở Nicaragua và trên khắp thế giới.

Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn giàu sang nhưng chỉ đem đến nghèo khổ.

Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn đoàn kết, nhưng đem đến thù hận và chia rẽ. Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng nó luôn luôn mang những chương đen tối nhất trong lịch sử trở lại với loài người. Chưa bao giờ sai, luôn luôn là như vậy.

Chủ nghĩa xã hội là một ý thức hệ buồn đau đầy tai tiếng, có gốc rễ nảy sinh từ sự ngu dốt hoàn toàn của lịch sử và bản chất con người, đó là lý do vì sao chủ nghĩa xã hội, đến cuối cùng luôn luôn khiến bạo chúa ra đời. Những người chuộng chủ nghĩa xã hội thuyết giảng về tình yêu đối với những người khác biết, nhưng họ khăng khăng bắt tất cả đều phải khuất phục hoàn toàn.

Chúng ta biết rằng chủ nghĩa xã hội không phải tồn tại vì công lý, không vì bình đẳng, không vì giúp người thoát nghèo khổ. Chủ nghĩa xã hội tồn tại vì một mục đích duy nhất: Quyền lực cho những kẻ thống trị. Và khi chúng có càng nhiều quyền lực, chúng càng thèm khát quyền lực. Họ muốn cai quản y tế, cai quản giao thông, tài chính, năng lượng, giáo dục – tất cả mọi thứ.

Họ muốn có quyền phán quyết ai thắng ai bại, cho phép ai ngoi lên và ai phải hạ đài, cái gì đúng cái gì sai và thậm chí là ai sống ai chết.

Tóm lại, tất cả chúng ta ở đây hôm nay biết rằng không có điều gì kém dân chủ hơn chủ nghĩa xã hội. Ở mọi nơi, bất cứ đâu nó xuất hiện, chủ nghĩa xã hội sinh sôi dưới lá cờ tiến bộ, nhưng cuối cùng nó chỉ mang lại tham nhũng, bóc lột và tàn phá.

Ở cùng với chúng ta hôm nay là David Smolansky. David và một trong những thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử Venezuela khi chính quyền Maduro cách chức và ra lệnh truy nã anh. David bỏ trốn vào khu rừng rậm đầy nguy hiểm phía nam. Cuối cùng, anh đến được Brazil, nơi chào đón anh với vòng tay rộng mở.

Hôm nay, David sống lưu vong ở Mỹ, nơi anh tiếp tục lên tiếng cho nhân dân Venezuela. Một bi kịch là David là thế hệ thứ ba trong gia đình chạy trốn khỏi nỗi thống khổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ông bà David chạy khỏi Liên Xô năm 1927 và cha anh chạy trốn cộng sản Cuba năm 1970.

Như David nói: “Tôi muốn một điều khác với ông tôi và cha tôi, đó là trở về quê hương. Ông bà tôi chưa bao giờ trở lại Kiev, cha tôi chưa bao giờ trở lại Havana. Tôi hy vọng có thể sớm trở lại Venezuela”.

Tôi nghĩ rằng điều đó sẽ sớm xảy ra. Sự dũng cảm của bạn, David, là một niềm cảm hứng. Mà không chỉ David, rất nhiều người trong phòng này đã phải chịu đựng quá nhiều, nhưng các bạn đang chứng kiến nó kết thúc. Lần đầu tiên, các bạn sẽ nhìn thấy nó kết thúc, bởi vì Hoa Kỳ, một quốc gia thực vĩ đại, đang ở sau lưng các bạn.

Và trong khi Hoa Kỳ ủng hộ dân chủ ở Venezuela, chúng tôi tái xác nhận tình đoàn kết với nhân dân khổ đau Cuba và Nicaragua, và những dân tộc bất cứ nơi đâu đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản.

Và hỡi những kẻ đang muốn áp đặt chủ nghĩa xã hội cho nước Mỹ, chúng tôi lặp lại một thông điệp vô cùng đơn giản: Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta sinh ra đã tự do và sẽ mãi mãi tự do.

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Venezuela bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ngay ở đây, ở Doral.

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Cuba bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ở Miami. 

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Nicaragua bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ở Sweetwater.

Và một ngày nào đó, với hồng ân của Chúa, chúng ta sẽ chứng kiến những gì người dân sẽ thực hiện ở Caracas, Managua và Havana.

Và khi Venezuela tự do, khi Cuba tự do và Nicaragua tự do, chúng ta sẽ trở thành bán cầu đầu tiên được hưởng tự do trong toàn bộ lịch sử loài người.

Được ở đây với các bạn ở đây là vinh hạnh của tôi và Đệ nhất phu nhân. Chúng ta đang chiến thắng. Chúng ta đang thắng ở tất cả các mặt trận.

Cảm ơn các bạn. Cầu Chúa phù hộ cho các bạn. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Venezuela. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Cuba. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Nicaragua. Và Xin Chúa phù hộ cho Hoa Kỳ.



Trọng Đức chuyển nghĩa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỪ VĂN ĐẾN... MIẾU

Phạm Lưu Vũ
Nhân chuyện vui ở Văn Miếu tiết nguyên tiêu vừa qua, tôi lại poste lại bài này:
Kết quả hình ảnh cho ảnh hội thơ Văn Miếu
Văn chương là sự nô đùa của những kẻ sĩ ngồi không lông bông trông rất chán. Đám này lơ lửng giữa cái bận rộn, âm mưu vì quyền lực, ghế ngồi, v.v… của chính trị và cái vất vả, hối hả vì miếng cơm, manh áo, v.v… của thợ thuyền. Tóm lại đó là những công cụ hạng bét trong tay Tạo hoá nhằm sản sinh ra những sản phẩm tuyệt chẳng có tí prôtêin hay chất đạm, chất béo nào mà có khi vẫn gây độc hại. Song chính vì sự nô, đùa ấy mà nó cũng chia những “kẻ sĩ” ra thành hai hạng theo đúng thứ tự của 2 từ đó. Chỉ tiếc rằng lịch sử đã chứng tỏ cái việc chia này vừa rõ ràng lại vừa mờ mịt, đặc biệt là cứ sau mỗi cuộc "đổi mới".
Đùa mà không nô. Thế mới đích thị là đùa. Song mấy ai giữ được như thế suốt đời, kể cả những bậc văn chương lừng lẫy, đã và đang là những pho tượng sống tượng chết cũng khó mà giữ được. Còn nô mà không đùa thì hạng sĩ ấy, thiên hạ thường vẫn lấy làm kinh lắm. Có lần, kẻ viết những dòng này từng ví cái sự “nô” mà không “đùa” ấy là “quạ mổ”. Song xem ra, sự ví ấy vẫn còn nhẹ lắm. Chính trị lưu manh vì có dao có súng, có nhà tù trong tay nên nếu cần thì sẵn sàng “ngậm máu phun người”. Thế còn những kẻ gọi là “sĩ” [nô], trí thức [nô], không có dao có súng trong tay thì “ngậm” cái gì mà phun? Nói thật nhé, nếu cần a dua thì [họ] cũng sẵn sàng… “ngậm cứt phun người” đấy. Khác nhau mỗi chữ đó thôi. Chẳng phải chỉ có cái thời “quạ mổ” ấy hay thời nay mới có chuyện vu cho một vị sư sắp xuống lỗ còn ăn tiền đâu đó để làm chuyện thị phi. Thời nào cũng có những chuyện tương tự. Ví dụ đời nhà Trần, có danh sĩ Trương Hán Siêu cậy được vua yêu, bèn đặt điều vu vạ cho người khác cốt nâng cao địa vị của mình lên. Đến khi đuối lý bị phạt 300 quan tiền, còn mặt dày mà nhơn nhơn nói rằng: “Tôi làm việc ở chính phủ, được Chúa thượng tin dùng, cho nên mới nói [bừa] thế, biết đâu lại có chuyện tra xét này!”. Một kẻ sĩ, thân làm đến chức Hành khiển mà nói câu ấy, chứng tỏ sự vô trách nhiệm trước số phận của người khác đã trở thành một thứ… phản xạ vô điều kiện mất rồi. Hán Siêu về sau chết được tòng tự ở Văn Miếu, ngang với cụ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An là vì cái thời mạt đức nó thế. Việc này tuy có làm ô danh Văn Miếu chút ít, song vẫn còn chưa ăn thua gì.
Chính trị cũng thích “nô đùa” như văn chương. Nhưng là những sự “nô đùa” chết người. Nói ra điều này cũng chẳng mới mẻ gì. Kinh Dịch từ “bát quái” (tám quẻ), biến ra sáu mươi tư quẻ, chỉ độc mỗi quẻ “Sư” là nói về việc “võ”. Còn lại sáu mươi ba quẻ toàn nói về “văn”. Ấy là bởi thánh nhân mong đời có đạo lý nên mới phải làm như vậy. Thế nhưng cả sáu mươi ba quẻ “văn” kia cũng không át nổi một quẻ “võ”. Vì thế lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp giữa các “triều đại”, cũng là sự nối tiếp các cuộc chiến tranh. Nói cách khác, chiến tranh làm nên lịch sử. Vệ là một nước nhỏ bé, hèn mạt vào loại nhất nhì trong số “liệt quốc” thời Xuân Thu. Vậy mà khi gặp Khổng Tử, vua Vệ không hỏi điều gì khác, lại hỏi ngay đến việc chiến tranh. Thì ra vua chúa vì có quyền tiêu xài vận mạng của hàng triệu triệu sinh linh nên chỉ thích quẻ “Sư”, luôn nghĩ đến quẻ “Sư”. Còn trong dân gian, ai bói Dịch mà chẳng thích gặp được chữ “cát” (cát tường, may mắn). Song trước chữ “cát”, thường có chữ “trinh”, nghĩa là phải giữ mình kiên trinh, ngay ngắn lắm thì mới mong gặp cát. Nếu không bói được chữ “cát” thì cũng cầu cho bằng được chữ “vô cựu” (vô sự, không gặp hiểm họa). Song trước chữ “vô cựu” thường có chữ “hối”, nghĩa là phải biết hối hận, ăn năn thì mới mong được vô sự. Té ra “may mắn” với “vô sự” đâu phải tự nhiên mà gặp được. Thế nghĩa là Dịch khuyên răn mọi người là chính đấy chứ? Nào có phải đạo điếc của riêng một vài hạng mà thôi đâu.
Nhân bàn đến “vô sự”. Than ôi, để mong đạt được điều này, con người ta thường không thích dùng chữ “hối”, mà ưa dùng chữ “hèn” hơn. Cái chữ bất hủ này nó không tha ai cả, từ dân ngu khu đen cho đến những quan cực phẩm, từ anh binh nhì cho đến ngài đại tướng,v.v... Đến như quan Đại Tư Đồ là Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán, ông ngoại Ức Trai tiên sinh Nguyễn Trãi kia. Tướng công là cháu 4 đời của Thái Sư Trần Quang Khải, con vua Trần Thái Tông. Một hôm bà vợ nằm mơ thấy một con quạ trắng khổng lồ nhảy lên bàn thờ đập cánh 7 cái. Rồi thì nước lạnh tràn vào nhà, trôi hết cả sách vở, đồ đạc, trôi luôn cả bàn thờ. Ngoài vườn đầy tiếng quạ kêu, lại thấy trong bụng có gì chuyển động, hình như có thai. Đến sáng kể chuyện cho tướng công nghe. Trần Nguyên Đán giật mình, biết vận nhà Trần sắp hết. Từ đó mỗi khi vào chầu vua không dám bày mưu kế gì, chỉ lo con cháu sau này khó còn chốn dung thân. Khi bà vợ sinh đứa con trai, tướng công bèn đặt tên là Mộng Dữ. Lại đem Mộng Dữ gửi gắm Hồ Quý Ly. Tận trước khi chết, vua thân hành đến nhà hỏi chuyện về sau, tướng công vẫn không dám nói đến cái nỗi nguy kề kề bên cạnh, chỉ tâu [lảng] rằng: “Xin bệ hạ kính nước Minh (nước Tàu) như cha, yêu Chiêm Thành như con, thì nước nhà vô sự, tôi dẫu chết cũng được bất hủ”. Té ra tướng công chỉ lo chuyện “bất hủ” của riêng mình, còn việc nước nhà có thật được “vô sự” hay không thì không cần quan tâm. Than ôi! chính cái "nước Minh" mà tướng công khuyên vua Trần "kính" như cha ấy sau đó không lâu đã xua quân dày xéo Tổ quốc, dày xéo mồ mả tổ tiên của tướng công suốt hai chục năm trời. Song câu nói đó của tướng công chỉ mới thấy “đen” mà chưa thấy "nhục". Câu thơ sau đây của tướng công thì hỡi ôi, mới nói lên cái nỗi nhục muôn đời của những kẻ thức giả, những kẻ (tuy) biết đấy mà không làm gì được:
“Đem con mà gửi cho loài quạ
Chẳng biết quạ già có xót thương?”
Băng Hồ tiên sinh sau đấy chắc cũng được yên lòng nơi chín suối, bởi con “quạ già” Hồ Quý Ly kia về sau đã đem con hờ của mình là công chúa Hoàng Trung mà gả cho Mộng Dữ. Sau khi cướp ngôi nhà Trần, Quý Ly còn phong Mộng Dữ làm Đông cung phán thủ. Hai em là Thúc Dao và Thúc Quỳnh cũng được làm tướng. Đại loại các con tiên sinh quả nhiên đều tránh được nạn (quả nhiên "vô sự") song chỉ được đời con thôi. Còn đời cháu chắt của tiên sinh bi thảm thế nào thì nhiều người đã biết. Những việc "hèn" như tiên sinh sử chép kĩ lắm. Không hiểu có hàm ý “răn đe” hay “giáo dục” gì đối với các đời sau hay không mà ngẫm ra đời nào cũng có khối người bắt chước?
Chuyện xưa ấy muốn quên mà không sao quên nổi. Còn chuyện nay thì sao? Sau một hồi dóng trống, dóng chiêng hô xóa bỏ những “tàn tích” của “phong kiến thối nát” để xây dựng lại từ đầu một nền “văn hiến” – “ngàn lần tươi đẹp hơn” theo những cái khuôn đúc sẵn, những ý tưởng định sẵn, v.v... người ta bỗng giật mình nhận thấy có gì không ổn trong những thứ “ngàn lần tươi đẹp” ấy, kể cả trong văn chương. Thế là các làng, xã đua nhau quyên góp tiền dựng lại đình chùa. Những ngôi đình, ngôi chùa giả cổ lởm khởm loè loẹt nom đến nhức mắt. Song dù sao thì tín ngưỡng sau một thời gian dài mất nơi nương tựa nay dần dần lại có nơi, có chốn. Thế còn văn chương? May quá, Văn Miếu vẫn còn đó. Văn Miếu là tầm cỡ quốc gia, còn Văn Chỉ với Văn Thánh chỉ là tầm cỡ làng xã với cả vùng, miền, nếu trót phá rồi thì từ từ sẽ tính. Văn Miếu cổ kính thuở nào nay như một xóm nhà quê nhỏ bé lọt thỏm giữa những tân kì, nguy nga, ngày càng nguy nga của đất kinh thành. Tưởng sẽ mãi mãi hoang phế hoặc mất tăm mất tích, ngờ đâu bỗng trở thành nơi nương tựa thiêng liêng của văn chương thời "Đổi Mới". Văn nhân tài tử bốn phương hàng năm lại hẹn nhau lũ lượt kéo về mở hội, cúng tế sì sụp, rồi bình thơ bình văn, khoe sách, khoe danh rầm rĩ… Những gương mặt phởn chí, hớn hở, cố làm ra vẻ ta đây rất trọng cái sự học muôn đời của ông cha. Đã thế phục trang, cờ quạt… lại cố làm sao cho… giống hệt với ngày xưa. Học sinh thì đến kì thi lại nô nức kéo đến sờ đầu, vỗ đít các “cụ” rùa đội bia để cầu thi đỗ… Đúng là đã đến lúc phải nói lời tri ân các cụ “phong kiến” ngày xưa nhiều, nhiều lắm.
Song không cần phải đợi đến tận bây giờ. Văn Miếu từ rất lâu vốn đã bị ô danh mất rồi.
Đại Việt sử kí toàn thư chép việc mùa đông, tháng 11 năm Canh Thân (1380) thuộc đời vua Trần Phế Đế (niên hiệu Xương Phù, năm thứ 4), có kẻ họ Đỗ tên Tử Bình được bổ làm Nhập nội hành khiển tả tham tri chính sự, lĩnh chức Kinh lược sứ tỉnh Lạng Giang, vài năm sau chết được cho tòng tự (thờ cúng) ở Văn Miếu. Sách có dẫn lời nói cay đắng của sử gia Phan Phu Tiên:
“Bậc danh nho các đời có bài trừ được dị đoan, truyền giữ được đạo thống thì mới được tòng tự ở Văn Miếu, thế là để tỏ rõ đạo học có ngọn nguồn. [Thượng hoàng] Nghệ Tông cho Chu [Văn] An, Trương Hán Siêu, Đỗ Tử Bình được dự vào đó, thì Hán Siêu là người cứng cỏi, bài xích đạo Phật. An sửa mình trong sạch, bền giữ khí tiết, không cầu hiển đạt, thì cũng tạm được. Đến như Tử Bình là hạng học nhảm chiều người, tham lam bòn vét, là kẻ gian thần hại nước, sao lại được len vào chỗ đó?”
Sử thần là Ngô Sĩ Liên còn quyết liệt và cụ thể hơn:
“Tử Bình lén đánh cắp vàng cống của [Chế] Bồng Nga, tâu bày lừa vua, để đến nỗi Duệ Tông đi tuần phương nam [chết trận] không trở về nữa, nước nhà từ đó liên tiếp có tai họa Chiêm Thành vào cướp, tội ấy giết cũng chưa đáng, còn học
nhảm chiều người thì chê trách làm gì”
Trước đó, cũng bộ sử ấy chép việc Chế Bồng Nga dâng lên vua Trần 10 mâm vàng. Gã họ Đỗ lúc ấy được sai làm tướng đánh Chế Bồng Nga thấy vàng đã tối mắt mà ỉm đi, cướp lấy làm của riêng, lại tâu lời xằng bậy khiến Trần Duệ Tông tức giận mang quân chinh phạt Chiêm Thành. Ông vua này hữu dũng vô mưu. Đánh đấm gì mà xua quân đi cứ như xâu cá, lại cố chấp, không biết nghe lời nói phải. Đúng là cái thời mạt nó thế. Đến khi nghe tin Trần Duệ Tông chết trận, Tử Bình bèn bỏ trốn về nước. Đỗ Tử Bình sau đó bị đóng cũi chở về kinh trị tội, dọc đường, dân chúng lấy gạch ngói (chắc phải có cả cứt trâu, cứt bò nữa) ném vào cũi mà thi nhau chửi rủa. Vậy mà về đến kinh sư, chẳng hiểu lo lót thế nào gã lại được tha, lại leo dần lên đến chức tể tướng?. Gã họ Đỗ ấy có tài gì? Có tài vơ vét của dân cho thật nhiều. Phép thu thuế thân, bất kể người có ruộng hay không có ruộng bắt đầu có từ thời này, do Tử Bình bắt chước thời nhà Đường bên Tàu mà lập ra.
Xét những việc ấy thì Đỗ Tử Bình đúng là loại quan tướng thuộc vào hàng chó lợn. Vậy mà gã nghiễm nhiên được ngự ở Văn Miếu thì có phải là chốn ấy đã bị ô uế quá rồi hay không? Giờ người ta nói đến Văn Miếu với lòng tự hào, thường chỉ nhắc đến Khổng Tử và cụ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An mà lờ tịt Đỗ Tử Bình đi. Khổng Tử thì ở tận bên Tàu. Văn Miếu lừng lẫy của Ngài còn có trước Văn Miếu này hàng nghìn năm. Đời nào Ngài chịu lặn lội sang tận cái chốn di, địch này mà ngự cho phí danh. Còn cụ Tiểu Ẩn Chu Văn An, người ta có biết đâu rằng ngay từ khi Đỗ Tử Bình được đưa vào tòng tự ở đó, thì chắc cụ Chu đã lại một lần nữa bỏ về quê ở Thanh Đàm rồi. Cụ đã từng rũ áo từ quan khi dâng “thất trảm sớ” mà không được vua Trần chấp thuận. Nghĩa là lúc sống, Cụ còn không chịu ngồi chung với những hạng tham quan ô lại để giữ khí tiết thì khi chết, đời nào Cụ lại chịu ngự chung một nơi thờ cúng với hạng người như gã họ Đỗ kia nữa?
Cụ đã không còn ở đó, vậy thì các văn nhân tài tử kia đang vái ai đấy nhỉ?
Tháng cô hồn năm Đinh Hợi (2007)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài phát biểu “Tự do là một trách nhiệm” gây sốt cộng đồng mạng tiếng Trung


baomai.blogspot.com
Ông Trương Duy Nghênh, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung cộng.

Ngày 1/7, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung cộng Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung cộng quan tâm đến vận mệnh của đất nước.

Bài phát biểu này được đăng trên Wechat của viện, tuy nhiên nó đã bị xóa trong chưa đầy 12 giờ sau khi đăng tải. Toàn văn bài phát biểu sau khi được đăng trên trang sohu. com, cũng đã bị gỡ xuống trong 24 giờ.

Những lời nói xúc động của ông Trương Duy Nghênh đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, bên cạnh đó cũng có nhiều tranh luận của cư dân mạng xoay quanh bài phát biểu này.

 Viện nghiên cứu phát triển Trung cộng thuộc Đại học Bắc Kinh là một một viện học thuật có tính chỉ định, ngoài cựu Phó tổng giám đốc Ngân hàng thế giới Lâm Nghị Phu được nhậm chức Viện trưởng danh dự ra, thành viên hội đồng của viện bao gồm Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Vương Kỳ Sơn, Giám đốc Ngân hàng Nhân dân Trung cộng Chu Tiểu Xuyên, và giáo sư, Nhà kinh tế học nổi tiếng Chu Kỳ Nhân, Trương Duy Nghênh, v.v…

Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh được lưu truyền trên internet:

Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!

“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung cộng thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung cộng không có gì nổi trội để khen. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. 

Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung cộng có 30 phát minh, chiếm 3%.

30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500,  chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung cộng.

baomai.blogspot.com

Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung cộng

baomai.blogspot.com

Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo AlbernathyClark and kantrow, 1984).

Trung cộng hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung cộng.

Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung cộng từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung cộng.

Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.

Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.

Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự  phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.

Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.

baomai.blogspot.com
  
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung cộng không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa !

Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung cộng không thế?

baomai.blogspot.com

Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.

Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung cộng không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung cộng. Dân số Trung cộng gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.

Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung cộng gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.

Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung cộng dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung cộng sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.

baomai.blogspot.com
  
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung cộng? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung cộng cổ đại.

Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung cộng đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung cộng có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung cộng tự do nhất.

Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500,  một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

Thể chế Trung cộng đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo

baomai.blogspot.com
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.

Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.

baomai.blogspot.com
  
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình. 

Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in.

baomai.blogspot.com
  
Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.

Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.

baomai.blogspot.com
  
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại  kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.

Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”

Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!

Chúng ta thường nói, Trung cộng dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung cộng liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung cộng sẽ chết đói.

baomai.blogspot.com
  
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Haber và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung cộng phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung cộng và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.

Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung cộng có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung cộng mới phát huy hết khả năng, biến Trung cộng trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.

Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung cộng quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!


Trí Đạt (biên dịch) 

baomai.blogspot.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang