Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Chuyến bay định mệnh từ Đà Nẵng của chính trị gia 'sống mãi'


Nhiều thập niên sau Thế Chiến 2, không ít người vẫn tin rằng nhà cách mạng Ấn Độ Subhas Chandra Bose không tử nạn trong chuyến bay khỏi Đông Dương sang Đài Loan năm 1945.
Image captionSubhash Chandra Bose (phải) với Mahatma Gandhi vào năm 1938. Cho đến gần đây nhiều người Ấn Độ vẫn tin rằng ông Bose không hề chết trong tai nạn máy bay năm 1945
Lãnh tụ phe kháng chiến chống thực dân Anh đã chết sau khi phi cơ của ông, do người Nhật cung cấp, gặp nạn ở Đài Loan sau khi bay đến từ Đà Nẵng.
Đây là thời điểm lịch sử quan trọng cho cả Đông Dương vẫn thuộc quyền kiểm soát của Nhật Bản, và Ấn Độ, nước thuộc địa Anh.
Các sử liệu 'chính thống' nói ông Chandra Bose, còn có tên là Netaji, đã được phe phát-xít giúp đỡ để lập quân đội chống Đồng minh Anh - Mỹ.
Tốt nghiệp đại học Cambridge và có vợ người Áo, nhưng ông hoàn toàn bác bỏ con đường thỏa hiệp với Anh của một số chính trị gia khác.
Bose phải đối Gandhi, và cổ vũ cho cách mạng bạo lực.
Bị người Anh giam tại gia ở Calcutta năm 1941, ông bỏ trốn thành công, đi sang Afghanistan rồi tìm đường tới châu Âu.
Dù không đồng ý với chủ nghĩa cộng sản và phát-xít, ông vẫn sang Liên Xô, và sau tìm đến Đức để được trợ giúp.
Tại Berlin, ông được Adolf Hitler đón tiếp và nhà độc tài Đức khuyên ông nên về châu Á để tìm sự giúp đỡ của quân Nhật.
Đức đã đưa ông về Ấn Độ bằng tàu ngầm U-boat của họ.
Chuyến đi trên biển đó đưa Bose quay trở lại Miến Điện, một phần của thuộc địa Anh ở Nam Á.
Tại đây, ông lập chính phủ kháng chiến chống quân Anh và có được 80 nghìn quân, chuẩn bị về nước lập căn cứ ở vùng Đông Bắc Ấn Độ.
Được quân đội Nhật Hoàng trợ giúp, vài chục nghìn lính thuộc Quân đội Quốc gia Ấn Độ (Indian National Army - INA) đã có mặt ở Malaya và Thái Lan để hành quân về Miến Điện.
Nhưng hoạt động của INA bị các đợt oanh kích của không quân Mỹ chặn lại và cuộc phản công của người Anh trong năm 1945 gây khó khăn.
Image captionMáy bay ném bom Mitsubishi KI 21 của Nhật trong hình chụp năm 1941. Một chiếc như thế đã gặp nạn ở Đài Bắc, giết chết một tướng Nhật và làm Chandra Bose bị bỏng nặng
Vào tháng 8/1945, xu thế của cuộc chiến đã biến đổi bất lợi cho Nhật Bản: Liên Xô đưa quân vào Mãn Châu, và Nhật hứng chịu hai trái bom nguyên tử của Mỹ.
Dự án dùng người Ấn Độ đánh lại quân Anh không thành, Chandra Bose được các tướng Nhật thuyết phục về trú ngụ tại Sài Gòn, tổng hành dinh của quân Nhật Hoàng ở toàn vùng Đông Nam Á sau khi Nhật thua ở Indonesia.
Từ đây, Chandra Bose lại muốn thử vận may một lần nữa là tìm đến Liên Xô.
Theo các sử liệu nêu ra sau này, ông đề nghị người Nhật cho ông sang vùng Mãn Châu để tìm đến quân Liên Xô để họ giúp người Ấn Độ giành độc lập.
Thống chế Hisaichi Terauchi, Tổng tư lệnh quân đội Nhật tại Đông Nam Á đánh điện về Tokyo xin chỉ thị tổ chức giúp ông Bose nhưng bị bác bỏ.
Nhật Bản không đời nào để cho một lãnh tụ châu Á khác sang Liên Xô, kẻ thù của Nhật khi đó.
Nhưng Terauchi lại có vẻ có cảm động trước tình yêu nước của Bose, và đã tổ chức một chuyến bay đưa ông khỏi Sài Gòn.
Đây chính là điểm mấu chốt cho các thuyết về số phận của nhà cách mạng Ấn Độ.
Ông bị tai nạn, hay bị người Nhật ở Đài Loan giết để ngăn cản ông sang Ngat?
Ông đã sống sót và sang được Liên Xô gặp Stalin?
Có tin nói người ta nhìn thấy ông ở Bắc Kinh, gặp Mao Trạch Đông.
Theo Randeep Ramesh viết trên trang The Guardian ở Anh hồi 2006, có người Ấn Độ còn tin rằng bằng cách nào đó, Bose đã "làm bạn với lãnh tụ đáng kính Hồ Chí Minh" sau Thế Chiến 2.
Image captionTượng Chandra Bose ngày nay
Văn bản chính thức tin rằng sau khi từ Bangkok tới Sài Gòn, ngày 17/08/1945, sau khi từ biệt Thống chế Terauchi, Chandra Bose lên chiếc máy bay ném bom Mitsubishi Ki-21 bay đi Đài Loan, thuộc địa còn lại của Nhật ở Đông Á.
Trên khoang, cùng Chandra Bose còn có tướng Tsunamasa Shidei, thuộc Đội quân Quan Đông khét tiếng của Nhật, lực lượng chiếm Đông Dương bay về nước.
Nhưng điều kiện thời tiết xấu khiến chiếc phi cơ phải tạm đáp xuống Đà Nẵng.
Sau khi phải ở lại đó một đêm, phái đoàn bay tiếp vào sáng hôm sau, sau khi phi công đã vứt bớt nhiều dụng cụ, phụ tùng cho máy bay bớt nặng.
Chiếc phi cơ đáp xuống Đài Bắc để tiếp dầu rồi bay tiếp về Nhật Bản nhưng chỉ chốc lát sau khi cất cánh đã đâm xuống đất, bùng cháy, giết chết tướng Shidei và hai phi công ngay lập tức.
Chandra Bose bị bỏng nặng và được đưa vào bệnh viện do người Nhật phụ trách.
Ông qua đời sau đó và được hỏa táng tại nghịa trang địa phương hôm 20/08/1945.

Vì sao có nhiều thuyết về Chandra Bose?

Kể từ khi báo Nhật đăng tin hôm 23/08/1945 về vụ tai nạn phi cơ làm chết tướng Tsunamasa Shidei và Chandra Bose, các thuyết về ông không dừng lại ở đó.
Cuộc đời đặc biệt của Chandra Bose không chỉ thành đối tượng cho sách vở, nghiên cứu lịch sử mà còn được giới tư pháp Ấn Độ điều tra.
Năm 2006, thẩm phán M.K. Mukherjee của Ấn Độ ra báo cáo bác bỏ chuyện Chandra Bose chết ở Đài Bắc.
Theo cuộc điều tra này, người Nhật đã hỏa thiêu thi hài Chandra Bose, đem tro về Tokyo, và chôn tại đền Renkoji.
Image captionQuân Nhật vào Nam Kỳ tháng 1/1941
Đây cũng là nơi nhiều chính khách Ấn Độ ngày nay đến "viếng Chandra Bose" dù một ngôi mộ chính thức của ông nằm gần Đài Bắc.
Bản phúc trình của Mukherjee cũng nói chính quyền tại Đài Bắc không hề có hồ sơ nào về vụ hỏa thiêu thi hài Bose cùng ba cộng sự của ông.
Ông Mukherjee nói toàn bộ cái chết và chuyến bay từ Đông Dương về Nhật Bản của Chandra Bose chỉ là "màn khói" do người Nhật dàn dựng vì mục tiêu riêng.
Điều lạ hơn, theo thẩm phán Ấn Độ, không ai thấy văn bản hồ sơ hỏa thiêu xác của tướng Nhật Tsunamasa Shidei.

Có thật là được Liên Xô chờ đón?

Vai trò của viên tướng Nhật này nếu đúng những gì Chandra Bose yêu cầu người Nhật giúp đỡ, là rất quan trọng.
Tsunamasa Shidei có nhiệm vụ đưa Bose đến Mãn Châu hoặc Đông Bắc Trung Quốc để tìm cách đưa ông "vượt tuyến" sang phía Liên Xô.
Nhưng các thuyết âm mưu cũng không đồng ý với nhau về phần kết của giả thuyết này.
Có thuyết tin rằng ông tới được Liên Xô sau khi một số tướng lĩnh Nhật Bản lúc thua trận muốn dùng lá bài Chandra Bose để mặc cả với người Nga.
Cháu của Chandra Bose ngày nay tin là Liên Xô muốn đón nhận ông.
Pradip Bose không chấp nhận giải thuyết bác mình đã chết trong vụ tai nạn máy bay ở Đài Bắc:
"Có tài liệu cho thấy Stalin đã nói về bác tôi và chờ để ông sang vào năm 1946. Kế hoạch của ông là sang Nga và tập kết quân đội bên đó. Vì thế, tôi vẫn không xác quyết về chuyện gì đã xảy ra."
Nhưng một thuyết khác lại cho rằng ông bị Liên Xô bắt làm tù binh và giam giữ nhiều năm ở vùng Siberia.
Cho đến năm 2013, theo Amitabha Bhattasali viết trên BBC News từ Calcutta, nhiều người Ấn vẫn nghĩ Bose không chết trong tai nạn máy bay năm 1945.
Chính phủ Ấn Độ, theo bài báo, vẫn còn giữ ít ra 20 hồ sơ liên quan đến ông.

Còn sống và thành nhà thông thái?

Thuyết phổ biến hơn nói ông Chandra Bose còn sống sau Thế Chiến 2 và trở về vùng rừng núi Ấn Độ, sống cuộc đời thánh thiện của một nhà thông thái (sadhu).
Nhưng lạ hơn, vẫn theo các báo Ấn Độ và Anh, là có người nói Việt Nam vẫn giữ các hồ sơ về tình bạn của ông với Hồ Chí Minh, sau khi ông Hồ đã làm chủ tịch VNDCCH.
Thuyết này có vẻ như được xây dựng trên suy tưởng rằng Chandra Bose không hề bay khỏi Sài Gòn mà đã ở lại Đông Dương.
Năm 2017 có nhà sử học ở Paris, J B P More nói ông tìm thấy hồ sơ của người Pháp tại Đông Dương năm 1947 ghi rằng ông Bose vẫn sống tới thời điểm đó.
Ông More nêu ra văn bản ông nói là của Cao ủy Pháp tại Đông Dương (Haut Commisariat de France for Indochina- SDECE -Indochine), có hẳn số BCRI - No. 4128/3 cs/ah - Ex No. 6/16 về chuyện này.
Nhưng cái gọi là "nguồn tài liệu" không nói gì rõ, giả sử Bose vẫn ở Đông Dương khi người Pháp trở lại thì sau này ra sao, đi đâu, làm gì?
Tại quê ông ở Tây Bengal, người dân ngày nay vẫn ngưỡng mộ Chandra Bose.
Image captionSubhas Chandra Bose trở thành biểu tượng của phong trào dân tộc Ấn Độ
Bức tượng ông, mặc quân phục, đứng trước tòa nghị viện tiểu bang bên cạnh hai lãnh đạo khác: Mohandas K. Gandhi và thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ độc lập Jawaharlal Nehru.
Có lời giải thích rằng các thuyết về Chandra Bose thực ra đến từ niềm tin vào con đường đấu tranh bạo động chống thực dân Anh của người Ấn Độ.
Con đường này bất thành nhưng đến nay phái dân tộc chủ nghĩa Ấn vẫn tin rằng một cuộc kháng chiến sẽ giúp tiểu lục địa tránh bị chia đôi thành hai phần Ấn Độ và Pakistan, như người Anh đã làm năm 1947.
Mặt khác, thuyết rằng Bose không chết mà vẫn sống nhưng trở thành nhà thông thái trong rừng núi cũng phù hợp với niềm tin sâu xa của người Ấn về sức mạnh tâm linh của các anh hùng thời cổ đại.
Xem thêm về Thế Chiến 2:
News

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lưng Rồng, “Tàu” & Chiến Tranh Biên Giới 17-2


FB Trương Huy San, 29-12-18 - Tôi không thích Lưng Rồng nhưng vô cùng thất vọng khi nghe nói cuốn sách này bị cấm. Không thích vì nhận thấy Đỗ Hoàng Diệu vẫn còn bị bóng đè, tuy Lưng Rồng không còn là sản phẩm của một cô gái mới về nhà chồng (như trong Bóng Đè) nữa. Ngòi bút điêu luyện của Diệu bóc tách không thương tiếc những khao khát thân xác của một phụ nữ có chồng "lên Biên giới" và cũng ngay lập tức hả hê trước những dằn vặt đoan chính của nàng.

Tấm lưng đĩ thoã của một "hậu duệ Thuý Kiều" bắt đầu được xăm Rồng vào lúc 4 giờ sáng, ngày 17-2. Sử dụng não trạng tuyên huấn mà đọc văn chương; lấy sự sợ hãi các ám chỉ mà soi xét tính ẩn dụ trong từng con chữ thì giật mình trước Lưng Rồng là không có gì bất ngờ. Nhất là thời điểm tưởng niệm 40 năm cuộc chiến tranh Biên giới.

Tôi không thích Bóng Đè cũng như Lưng Rồng vì chủ nghĩa dân tộc được Diệu nói ở đây vừa rất tự ti, vừa rất yếm thế. Nhưng tôi tôn trọng cái cách mà Diệu nhìn vấn đề "Tàu", không phủ nhận là điều đó tồn tại một phần trong tâm thức người Việt. Tâm thức của người Việt trước Tàu là những điều không chỉ các nhà sử học mà rất cần được cả các nhà văn mổ xẻ.

Điều tôi đang tự hỏi, là bây giờ Cục Xuất Bản cấm Lưng Rồng, liệu vài tuần nữa, Tuyên Giáo có cấm nói về cuộc chiến tranh Biên giới. Chỉ còn 8 tuần nữa là tới ngày 17-2, ngày quân Trung Quốc gây chiến tranh 1979. Cuộc chiến tranh chưa xa, hàng nghìn liệt sỹ ở Vị Xuyên vẫn chưa tìm thấy xác. Cuộc chiến tranh cũng không còn quá gần để ta phải sợ nó tấy lên, mưng mủ.

Hôm trước tôi có nói đến cuốn Phán Xét; cuốn sách này không mới về tư liệu mà mới ở chỗ, lần đầu tiên một thượng tướng An ninh sử dụng tư liệu lịch sử nhiều nguồn để khẳng định rằng, nguồn gốc Cộng sản của Việt Minh là cản trở quan trọng nhất để các phe phái công nhận độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh và ý thức hệ đóng vai trò quyết định khi đặt VN vào các cuộc chiến sau đó. Phán Xét cũng nói rất nhiều đến vai trò Trung Cộng trong việc chia cắt nước ta ở sông Bến Hải.

Phán Xét cũng nói đến súng đạn và cố vấn TQ, đặc biệt nói đến con số 320 nghìn binh sỹ Trung Quốc từng có mặt ở miền Bắc Việt Nam một thời gian trong thập niên 1960s.
Chúng ta biết rất nhiều về Lê Duẩn với vai trò như một người hùng chống Trung Quốc. Nhưng chúng ta rất ít nói đến vai trò TQ đứng rất lâu sau lưng Lê Duẩn.

Sau 1956, khi Trường Chinh mất chức TBT để cứu uy tín của Đảng trong CCRĐ, Bắc Kinh ngăn cản ứng cử viên Tướng Giáp. Sau đó, Bắc Kinh tìm cách đưa Lê Duẩn ra Bắc. Năm 1957, chiếc xe và lái xe đưa Lê Duẩn đào thoát từ Sài Gòn sang Phnom Pênh là của người Hoa. Một điệp viên người Hoa đón Lê Duẩn ở Phnom Pênh và sau đó một điệp viên người Hoa khác đưa Lê Duẩn về HK rồi Trung Hoa Lục Địa. Bắc Kinh rất quan tâm tới con cái Lê Duẩn và bà vợ thứ Hai của ông trong thời gian bà ở Bắc Kinh.

Trong cuộc chiến tranh của Lê Duẩn ở miền Nam, ngoài súng đạn, Bắc Kinh trang bị cho bộ đội miền Bắc đến từng cái kim sợi chỉ; cung ứng ngoại tệ cho Lê Duẩn nhiều tới mức, sau ngày 30-4 vẫn còn hơn một trăm triệu đô la tiền mặt chưa dùng đến.

Khúc ngoặt quan trọng nhất trong mối quan hệ Lê Duẩn - Bắc Kinh là từ phản ứng của Lê Duẩn sau sự kiện Nixon bắt tay với Mao. Nhưng, nếu không có cú bắt tay này, Mỹ có buông miền Nam như thế... Có lẽ Lê Duẩn chỉ nhìn thấy trong sự kiện đó sự "trở mặt" của Bắc Kinh mà không nhìn thấy nó khởi đầu cho một sự thay đổi hoàn toàn bàn cờ thế giới. Sau 1972, quân cờ VN không còn quá quan trọng trong tay hai phe nữa.

Sau Chiến tranh 1979 nổ ra, có "riu mơ", năm 1973 khi Kissinger sang Hà Nội, ông ta chỉ tay về phương Bắc và nói với Lê Đức Thọ rằng, "Từ nay kẻ thù của VN là đây chứ không phải là Mỹ nữa". Năm 2006, tôi mang câu chuyện này hỏi lại Kissinger (khi phỏng vấn ông ở Boston), Kissinger cười, "Tôi tới HN, Lê Đức Thọ dẫn tôi đi thăm bảo tàng lịch sử, khi đó ở đấy chưa có phần nào trưng bày về chiến tranh với Mỹ nhưng có rất nhiều phần trưng bày về chiến tranh với Trung Quốc. Anh nghĩ người VN còn cần tôi dạy họ ai mới là kẻ thù của họ sao".

Ông Trần Việt Phương, Trợ lý cố thủ tướng Phạm Văn Đồng và là một người rất gần gũi HCM, nói, "Trong lịch sử nghìn năm giữ nước, chưa có thời nào ngây thơ (quốc tế vô sản) và mất cảnh giác với Trung Quốc như thời đại HCM".

Thay vì cấm đoán những cuốn sách như Lưng Rồng, nên ủng hộ cái nhìn nhiều chiều về văn hoá và lịch sử. Tôi hy vọng Phán Xét là một tín hiệu - phát đi từ trong nội bộ Đảng - cho thấy, chính người Việt Cộng sản cũng đang có nhu cầu mổ xẻ các bài học của mình về cách ứng xử bên cạnh một láng giềng như Trung Quốc.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐÒ ĐÊM




 
Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh
 
Lời dẫn của tác giả: Đây là truyện ngắn viết về thân phận một nhà thơ "quốc doanh" thiếu máu kinh niên. Anh chàng thi nhân mắc chứng hoang tưởng này trong chuyến đò đêm tình cờ cứu được cô sư nữ vốn là một gái điếm "quý tộc" bị rơi xuống sông. Hành khách trên chuyến đò dọc này giống như một xã hội thu nhỏ với đủ thành phần phức tạp. Họ đi lễ đền Chúa Liễu bởi những tâm trạng hết sức khác nhau.. (Đ.V.S).

*
Bến đò càng về chiều càng đông khách. Những chiếc thuyền buồm đủ loại chen chúc nhau trên đoạn sông chưa đầy trăm thước. Tháng chín, không còn những trận mưa ngàn trắng trời. Heo may về. Sóng lấp loá nắng xiên khoai. Lần theo từng bậc đá, anh xuống mép nước.

Ở đâu đó bên kia bờ vọng tiếng sáo diều. Những âm thanh xa tít tắp lơ lửng trên cao ấy ngân mãi một giọng trầm đơn điệu khiến tâm trạng anh trở nên nặng nề. Bị tiếng sáo ám ảnh, chỉ chút xíu nữa anh không kịp xuống đò dù rằng đấy là chuyến cuối cùng chở khách trẩy hội đền Chúa Liễu bắt đầu vào sáng sớm ngày mai. Con thuyền cắt chéo dòng nước, lắc lư trườn ra giữa sông. Người lái đò kéo cánh buồm trắng, nó sẽ chao đi rồi hướng mũi về phía bắc. Khi hoàng hôn đổ xuống cũng là lúc thuyền qua khỏi bến Tuần lầm lũi gối sóng ngược về bến Tràng. Ngồi mũi thuyền, anh có cảm giác như đang đi về phia mặt trời lặn. Hoàng hôn gay gắt nhuộm đỏ cánh buồm. Mặt sông Hoàng Giang vốn đã rộng, dưới ánh chiều, bị ảo giác kéo giãn ra, tưởng như mênh mang vô tận. Anh thích thú ngắm nhìn vầng mặt trời đỏ quạch và quan sát những biến thái của nó cho đến khi nó nhợt nhạt, mất hết sinh khí và đột ngột chìm xuống sau triền đê sừng sững như bức trường thành. Trong đời, chưa bao giờ anh được thong thả ngắm hoàng hôn trên sông. Dòng nước thao thiết chảy. Tiếng sóng rào rào vỗ mạn thuyền. Mặt sông chấp chới những cánh chim nhạn nước. Những thứ vừa lạ vừa quen đó tạo thành một mảng không gian riêng biệt thật êm ả, thanh bình. Lần đầu đi đò trên sông lạ mà anh có cảm giác đã quen lắm, thân thuộc lắm, cứ như suốt cả tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn đã từng gắn bó với nó. Một ký ức tiền kiếp chăng ? Hay chỉ là sự liên tưởng thái quá trong tiềm thức đầy những ám ảnh ? Điều đó không quan trọng. Với anh, lúc này con sông đang là một dải mờ ảo, mênh mang, và chỉ chốc nữa thôi, khi màn đêm buông xuống sẽ trở thành một thực thể huyền bí. Biết đâu, trong cái chuỗi liên hệ ngược đầy mâu thuẫn ấy sẽ nảy sinh một ý tưởng.

Anh vốn là nhà thơ. Anh yêu thiên nhiên nhưng phải là thiên nhiên đầy khám phá của thi ca. Những mảng không gian tù túng, nhốn nháo quen thuộc với anh là vô cảm. Anh trẩy hội không phải vì mê những huyền thoại về Chúa Liễu. Anh đi săn đuổi cảm giác trong tình trạng gần như bế tắc sau những ngày sống ngột ngạt trong khu chung cư chật hẹp, đầy nhứng toan tính nhỏ nhen cho cuộc mưu sinh của một cộng đồng người đã mất hết niềm tin, ích kỷ, thậm chí vô đạo đức bởi không khí xã hội bị ô nhiễm đến mức báo động đỏ. Danh hiệu nhà thơ và cái thiên chức có vẻ như phù phiếm ấy luôn trĩu nặng trên đôi vai gầy vốn đã không ít mặc cảm. Anh lặng lẽ ngắm đám chúng sinh đủ loại trên thuyền và liên tưởng đến thân phận giang hồ của mình. Một nhà thơ lênh đênh trên sóng nước đi tìm thi hứng chỉ vì nỗi khát khao những bến bờ mới lạ. Trong khoảnh khắc, anh thấy mình hiện diện nhưng rồi lại như đang dần dần hoá thân vào cõi hư vô. Phải chăng cả con thuyền, cả dòng sông và đám lữ hành có vẻ như là rất mộ đạo kia cũng chỉ là ảo ảnh? 

Một cánh cò trắng lướt ngang trời rồi mất hút vào dãy núi Thằn Lằn có những chóp đá vôi lởm chởm như răng cưa. Biết đâu cánh cò cô lẻ kia cũng chỉ do anh tưởng tượng ra. Trong cõi nhân gian, những lớp thi sĩ "quốc doanh" thiếu máu như anh, tuy đã được ngành Tư tưởng của Đảng dạy bảo khá nhiều về quan điểm sáng tác cùng với những chức năng như cây cảnh, con cảnh, vậy mà vẫn không thiếu những kẻ hoang tưởng, định chơi trò phỉ báng tín điều, đánh tráo khái niệm, hy vọng được ghi danh vào hàng các vị thánh tử vì đạo.

Anh vừa ra được tập thơ. Tiền đi vay, lãi suất năm phần trăm. Trên đời này, hiện giờ không có gì rẻ hơn thơ và khốn khổ như nhà thơ phải ôm sách của mình đi bán lẻ. Khi đưa bản thảo cho nhà xuất bản, anh nghĩ, việc giải quyết "đầu ra" sẽ tính sau, trước mắt làm sao có được sách đã. Đến khi cầm tám trăm cuốn Đối thoại với dòng sông trong tay anh mới thật sự hiểu thế nào là kinh tế thị trường. Anh nhẫn nhục mang thơ đi phát hành. Bán khắp mọi nơi, bán cả ở những chỗ người ta nhiều tiền nhưng không hiểu thơ và chẳng cần thơ. Cái năm phần trăm của bảy triệu hàng tháng thúc bách anh. Tại một trường phổ thông trung học, khi anh nhờ mua giúp hai chục cuốn, ông hiệu trưởng lật xem qua rồi bảo :" Chúng tôi sẽ vận động các em mua". Ba tuần sau, anh trở lại, ông hiệu trưởng khả kính mang ra chồng sách phủ dầy bụi, nói như người có lỗi :" Ông thông cảm, học sinh bây giờ không thích thơ". Anh nhăn nhó hỏi :" Thế các em thích cái gì ?" Ông hiệu trưởng vốn là giáo viên văn, thở dài :" Chúng thích đủ thứ, trừ thơ". Anh ngao ngán bỏ tập sách vào túi đứng dậy. Mấy hôm trước, anh mang thơ đến một sư đoàn bộ binh vốn là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang mới được tuyên dương, đang thành lập thư viện. Nghe anh trình bày, vị chỉ huy phó chính trị, người còn sặc hơi men phán một câu xanh rờn :"Lính của chúng tôi chỉ ưa đọc truyện vụ án hoặc loại tươi mát thuê ở các quầy tư nhân. Hiện trong thư viện có hàng trăm tác phẩm của các nhà thơ trung ương, quân khu mới gửi xuống nhưng không ai đọc, sắp tới có khi phải bán cân cho mấy bà đồng nát". Anh nhìn viên đại tá có cái cằm chảy xệ xuống, nung núc những mỡ, cười nhạt :

- Ngoài sách vụ án và các khoản tươi mát ra, tôi chắc, lính của ông còn thích một thứ nữa mà có lẽ phải xếp lên hàng đầu...

- Anh...nói thứ gì ? - Vị chỉ huy ngẩn người ra hỏi.

Anh nheo mắt điềm tĩnh bảo :

- Cuốc lủi (*)

Bảy triệu. Mối tháng đẻ ra số lãi ba trăm năm mươi ngàn. Đúng là một thứ nợ văn chương. Có thể nói, chuyến đi này của anh là cuộc hành hương về một miền đất lạ. Anh mang trong mình tâm trạng u uất về món nợ không tiền khoáng hậu và nỗi mặc cảm đứa con tinh thần của mình bị người đời ghẻ lạnh. In xong tập thơ, anh tưởng mình là vĩ nhân. Mang tập thơ đi bán rao, anh thấy mình là kẻ khất thực. Thói thường thi nhân hay xót thương cho nỗi đau nhân thế, nhưng lại thường quên đi số phận bản thân mình. Số kiếp nhà thơ trên dải đất hình chữ s này thật đa đoan. Anh suy ngẫm, trăn trở trong niềm cay đắng. Có thật thiên chức của người nghệ sĩ là vinh danh cái đẹp, loại trừ cái xấu, cái ác và nuôi dưỡng khát vọng cao cả trong cùng một con người vốn đầy ắp mâu thuẫn ? Có lẽ anh chưa chạm được đến vùng nhạy cảm nhất trong tầng vô thức của con người. Cuộc đời vốn đã không hề đơn giản, và cái phần sâu thẳm tiềm ẩn trong vùng khuất ấy của mỗi con người còn phức tạp hơn nhiều. Đó là một thế giới đóng kín, đầy bí hiểm, ví dụ như trong khoang đò chật hẹp này...

Chủ thuyền, mới nhìn cũng biết là kẻ bần tiện. Từ lúc xuống đò đến giờ anh chưa thấy lão cười mà chỉ gườm gườm cặp mắt cá chày lặn dưới hàng mi màu thiếc bệch bạc như lông chó ghẻ trông rất gian giảo. Một tay lão giữ lái, một tay kéo dây lèo vô cùng thiện nghệ. Thỉnh thoảng lão cho thyền chạy vát, nghiêng buồm đón gió cứ tưởng như lão đang lao thẳng vào bờ. Nhìn lão, khó có thể đoán tuổi. Người lão đậm, lưng to bè như cánh phản. Lão mặc loại quần short "cải tiến", rộng thùng thình, chẳng biết may bằng thứ vải gì mà dày cộp tựa da trâu. Từ hai ống thò ra đôi cẳng chân vòng kiềng đen xỉn, bẩn thỉu, được gá trên cặp đầu gối củ lạc chẳng khác gì chú Lùn đi cà kheo trong rạp xiếc. Vào lúc nhập nhoạng, lão nhờ người đàn ông rậm râu cầm lái hộ để thắp đèn chai. Lão treo đèn lên mui thuyền rồi bảo mọi người bằng thứ giọng the thé của loại quan hoạn thiến sót thời phong kiến :

- Đoạn sông này có Hà bá, bà con chú ý. Năm ngoái, vào cữ trung thu, ngài đã nổi lên bắt một cô cắt cỏ xuống thủy cung làm vợ.

Người đàn ông rậm râu bật cười :

- Tưởng chỉ thời xưa Hà bá mới lấy vợ ?

Lão già lườm gã rậm râu, "hứ" một tiếng rồi lên giọng giảng giải :

- Thời nào cũng vậy, có âm mới có dương, âm thịnh thì dương suy. Đó là lẽ biến dịch của trời đất. Anh đừng tưởng hễ được phong thần là lập tức các vị trở thành đạo cao đức trọng và không phải ai cũng khuôn vàng thước ngọc như các loại sách giáo khoa luân lý viết đâu. Đại loại những chuyện vợ cả vợ lẽ, chuyện thất tình rồi cả tự tử nữa đều là do các bậc linh thiêng ấy đầu têu ra.

Cách nói năng của lão lái đò thật phóng túng chẳng theo một nguyên tắc nào. Nhìn bề ngoài thì có vẻ là vô học nhưng lão triết lý ra trò, mà toàn là thứ triết lý ngược đời, nằm ngoài thứ học thuyết chính thống anh đã được nhồi nhét vào đầu trong trường đại học như một thứ tôn giáo. Anh muốn men theo về phía lái để được nhìn lão thật rõ, nhưng ý định không thành, bởi đúng vào lúc ấy, anh bắt gặp đôi mắt của ngưòi thiếu phụ ngồi bên trái mạn thuyền. Đó là một ni cô. Ngay từ cái nhìn đầu tiên anh đã bàng hoàng trước dung nhan của nàng. Phải, thơ sẽ không là gì cả nếu trên đời này thiếu đi cặp mắt buồn đến nao lòng như thế. Nhà sư có vẻ chưa qua ba mươi nhưng trông già hơn tuổi bởi bộ y phục nâu sồng. Chiếc mũ màu cánh gián có dải trùm kín tai chứng tỏ nàng đã xuống tóc. Đây chính là Cái Đẹp, vì chỉ có Cái Đẹp mới làm ta rung động. Anh thầm nghĩ và xoay người đổi tư thế, lúc này gần như đối diện với nàng.

- Sư thầy cũng đi hội đền ?
- A di đà phật ! - Ni cô cúi đầu.

- Có phải sư thầy trụ trì ở Linh Quang Tự ?

- A di đà phật !

- Ngày xưa đức Thích Ca đã hơn một lần chèo thuyền trên sông Hằng và người dạy đệ tử : Nước làm cho phần hồn trong sạch. - Anh kiên nhẫn thử vận may bằng một Phật tích. - Có phải vì thế mà "nhà chùa" đi thuyền ?

- A di đà phật !

Anh thất vọng. Và đôi mắt đẹp mê hồn kia, sau ba lần "A di đà phật" trở thành nhạt nhẽo, trống rỗng. Đã thế, nhà sư lại ngồi dịch ra sát mạn thuyền làm ra vẻ đang chăm chú ngắm một ngôi sao xanh đang tắt dần ở đường chân trời. Phía đằng này, gã rậm râu đang tán cô gái nhà quê có chiếc làn mây đựng vàng hương. Lão lái đò thỉnh thoảng nhìn họ nhếch mép cười. Cô gái có vẻ xí xớn, mồm huyên thuyên toàn những chuyện đầu đường xó chợ. Hồi chiều anh đã nhìn rõ dung mạo cô ta. Mắt lá răm. Mày rậm, sống mũi thẳng, trông khá dễ coi nếu không nói là đẹp tuy cái miệng hơi rộng với cặp môi ướt át trề ra trông rất đĩ thõa. Loại gái như thế, những thằng bợm, chỉ dăm ba câu đưa đẩy là đã có thể kéo được lên giường. Người đàn ông không hề giấu giếm quá khứ của mình kể cả việc gã mới đi tù về và hiện đang làm nghề thiến lợn. Gã bảo, gần năm mươi năm, hội đền Chúa Liễu mới được mở lại, thử đi một chuyến xem bà ấy thiêng đến mức nào. Cô gái xí xớn nhìn gã nguýt dài. Hình như mới được nửa chặng đường cá đã cắn câu. Phải nói gã đẹp mã, đẹp theo kiểu những thằng đĩ đực xoè lông công, uốn éo vũ điệu rẻ tiền chinh phục lũ công cái ngu xuẩn thì ít mà nhẹ dạ cả tin thì nhiều. Dưới cằm trái gã có vết sẹo bằng hai đốt ngón tay, hằn khá sâu, phơn phớt đỏ trông như con đỉa đang co lại. Có điều, vết sẹo không làm gã xấu đi mà trái lại, nó càng tạo ra vẻ phong trần. Gã nói nửa nạc nửa mỡ :

- Nghề thiến lợn hái ra tiền, đủ tiêu sài nhưng tổn âm đức vì tiêu diệt nòi giống Trư Bát Giới.
Cô gái nhà quê nhắm tịt cặp mắt đa tình cười rung người. " Đời thường mà lại. - Anh tự nhủ - Và những thi nhân bất phùng thời như ta cần phải biết cái triết lý đơn giản ấy. Không nên tự huyễn hoặc mình bằng những thứ cao đàm khoát luận. Bởi vì, nếu anh lệ thuộc vào nó sẽ đến lúc đánh mất bản ngã, trở thành kẻ hoang tưởng, chân không đến đất, cật không đến giời...". Đằng kia, câu chuyện vẫn tiếp tục. Gã rậm râu bảo đã từng là viên chức nhà nước, mà là cán bộ có cỡ hẳn hoi. Gã khoe, gã tự nguyện khai báo để đưa bằng được tay phó chủ tịch tỉnh vốn là một tên ăn cắp và lừa đảo có hạng vào nhà đá. Nhưng ván bài bị lật ngược. Sếp của gã có lắm ô dù đã "bắn" đi một nửa cơ nghiệp nên chẳng những thoát khỏi vòng lao lý mà còn được chuyển lên cơ quan trung ương giữ chức phó trưởng ban. Dĩ nhiên, gã trở thành tội phạm, vào trại ngồi bóc lịch vài năm thay chỗ của sếp. Trước mắt cô gái, gã trở thành thần tượng. Thoáng thấy cặp mắt đắm đuối của "người đẹp", gã thở dài kể, khi gã vào trại được mấy tháng, cô vợ ở nhà lòng thòng với tay thư ký công đoàn có tài kéo đàn accordéon rồi hai người dắt nhau đi biệt xứ. Gã nâng cánh tay như tay vượn đeo cái đồng hồ Thuỷ quân lục chiến to bự, vuốt mái tóc bò liếm, rồi làm như vô tình quờ vào eo lưng cô gái xí xớn. Cô này chẳng những không phản ứng mà còn lim dim cặp mắt đa tình tận hưởng khoái lạc của sự đụng chạm khác giới.

Ngồi ở khoang giữa là một bà trạc ngoại tứ tuần đang độ hồi xuân. Bà này, ngay từ lúc xuống đò đã luôn tay lần chuỗi tràng hạt bằng nhựa đen bóng như mun, miệng lẩm bẩm: "Con nam mô A di đà phật". Bà ta bảo với gã thiến lợn là tiện chuyến đò, hai người đến xin khước Chúa bà để làm ăn cho " thông đồng bén giọt". Theo như cách xưng hô thì cô gái kia gọi bà ta bằng "dì". Chẳng rõ quan hệ họ hàng thế nào, chỉ biết mỗi khi gã rậm râu dò hỏi cô gái chuyện buôn bán thì mắt người đàn bà nạ dòng lại long lên sòng sọc.

Tạng người như bà ta không phải là dân buôn bán thông thường, - Anh nhận xét bằng trực giác, - mà có cái gì bí hiểm ẩn giấu trong đôi mắt nhỏ, sắc như dao cau kia. Bà ta cung cấp các thông tin thương mại vùng biên giới một cách hào phóng mà đáng lẽ ra, dân phe hàng lậu muốn có được phải tự nguyện mở hầu bao. Cách ứng xử của người đàn bà nửa quê nửa tỉnh này vừa khôn ngoan lọc lõi vừa ngu dốt kệch cỡm làm người ngoài cuộc vừa thích thú vừa khinh bỉ. Anh có cảm giác đó là môt mẹ mìn thứ thiệt chuyên dắt phụ nữ và trẻ em qua các cửa khẩu biên giới chứ không đơn giản chỉ là buôn hàng lậu trốn thuế. Chưa bao giờ anh gặp một người đàn bà có sức sống phồn thực đến thế. Cô gái nhà quê xem ra đã đến hồi say gã rậm râu. Mỗi khi gã "vô tình" đặt tay lên đùi, cô lại ý tứ liếc trộm "bà dì". Bà này xem ra kèm "cô cháu" còn chặt hơn cả các mệnh phụ cả ghen vốn là nòi giống Hoạn Thư, quản lý đức lang quân có máu phong tình.

Đêm đã khuya. Lão lái đò thắp thêm ngọn đèn chai nữa treo lên mui thuyền. Nước sông đang lên vỗ ràn rạt hai bên mạn. Những thuyền trước đã qua bến Đoan, không còn nghe tiếng rì rầm cầu kinh của các vãi già. Nước chảy mạnh mặc dù khúc sông này rộng và lặng gió. Anh không nhìn thấy nhưng anh cảm thấy điều đó qua những âm thanh chới với tựa như tiếng gọi mơ hồ của một lữ khách muốn sang ngang. Khúc sông vắng, âm thầm chảy trong đêm có cái gì như là sự bí hiểm. Chỉ những kẻ giang hồ, từng lên thác xuống ghềnh trên những con đò dọc cô đơn trong đêm thanh vắng mới hiểu được nỗi lo sợ, phấp phỏng trước cái bí hiểm không thể cắt nghĩa đó. Hai bờ sông, đom đóm lập loè thứ ánh sáng lạnh lẽo ma quái dường như đuối sức chỉ đủ rạch bóng đêm dày đặc những vệt mơ hồ. Lão lái đò ngáp dài, tay lái uể oải nhưng mắt đảo loang loáng khắp thuyền làm anh nghĩ đó là mắt của loài mèo hoang có thể xuyên thấu bóng đêm. Lão vấn điếu thuốc to bằng ngón tay cái rồi quẹt diêm châm lửa hút. Mùi thuốc khét lẹt phả ra làm "bà dì" váng đầu bảo lão là "đồ phun ống khói chết tiệt đầu độc khách". Lão già cười nhạt, hít vài hơi rồi ném "ống khói" xuống sông.

Gió bắt đầu đổi chiều. Đêm có phần lạnh hơn. "Bà dì" bị cảm, đầu nhức, nhìn thấy nước là rùng mình. Lão lái đò trao tay lái cho gã rậm râu, kéo bà ta vào khoang, lấy dầu gió "Phật linh" xoa khắp người. "Bà dì" lim dim mắt. Khi lão "vô tình" miết tay vào vồng ngực đồ sộ như hai trái núi nhỏ đang phập phồng thì bà ta oằn người thở phì phì như rắn hổ mang đến kỳ động cỡn. Đằng này, gã rậm râu cười tinh quái. Không bỏ lỡ thời cơ, tay trái cầm lái, tay phải gã rò rẫm trên đùi cô gái. Cô ta lấy khăn trùm lên tay bạn tình rồi ỡm ờ :" Liều vừa chứ, bà dì..." Gã thiến lợn giọng tỉnh bơ :" Sợ quái gì. Bà ấy đang được ông lái "đánh cảm". Nói rồi gã chuyển sang giữ tay lái bằng chân. Con đò từ từ xoay ngang nhưng không ai biết, vì trong đêm, giữa dòng sông rộng chẳng có gì định hướng. Gã rậm râu không cần biết điều đó. Lúc này gã đang bận với hai bàn tay tự do, dù thuyền có đến thăm vương quốc Thủy Tề cũng mặc. Cô gái thì thầm :" Bà ấy không phải là dì mà là người trung gian đưa em sang bên kia, Có một ông Tầu goá vợ nhờ mai mối...". Gã khẽ gắt :" Sao dại thế, phí cả một đời con gái. Chúng nó lừa lên biên giới rồi bắt đi làm điếm đấy". Cô gái cúi đầu thở dài:" Trên đời này còn khối thứ quý giá mà người ta còn đem bán rẻ để đổi lấy những thứ hão huyền huống hồ là cái vốn tự có của đàn bà chúng em". Gã rậm râu ướm hỏi :" Chắc cuộc đời gặp nhiều uẩn khúc lắm hả ? Thôi, sáng mai về với anh. Quên mụ ấy đi". Cùng lúc ấy, mọi người nghe thấy "sạt" một tiếng. Cần lái bật khỏi chân gã rậm râu. Cánh buồm đang nặng gió xoay ngang làm con thuyền giật nảy lên hất ni cô xuống sông. Anh phản ứng khá nhanh, đưa tay nắm được dải thắt lưng, nhưng thắt lưng sư nữ chỉ quấn quanh eo có tính tượng trưng nên bị tuột ra dễ dàng. Anh nhảy xuống sông. Lão lái đò trong khoang chui ra chửi gã rậm râu không tiếc lời. Một ngọn đèn chai rơi mất. Ngọn kia ám khói run rẩy sắp tắt. Vừa chửi lão lái đò vừa cởi áo. Cuối cùng lão cũng nhảy xuống nước. Hai người lặn ngụp chừng dăm bảy phút thì anh vớt được ni cô. "Bà dì" đã hết váng đầu cùng cô nhà quê làm các động tác hô hấp. Ni cô chỉ bị uống ít nước nên chóng hồi sinh. Hai người đàn bà thay quần áo cho nàng và xoa dầu vào thái dương.

Anh lại ra mũi thuyền ngồi vào chỗ cũ. Anh không buồn ngủ dù phải vật lộn dưới nước khá mệt. Anh xếp bằng trong tư thế nhập thiền. Những mặc cảm trần thế chợt tan biến. Từ trong mỗi đường gân thớ thịt dường như có sự siêu thoát...

Ni cô đã ra ngồi cạnh anh nhưng lần này ở phía trong. Nàng ngước mắt nhìn anh :" Cảm ơn, không có anh thì tôi chết đuối". Anh chắp tay :" A di đà phật ! Chết thế nào được, "nhà chùa" còn phải trụ thế để tụng kinh siêu thăng cho những chúng sinh lạc vào bến mê chứ". Ni cô im lặng khá lâu, có vẻ như đang cố hình dung xem cõi Cực Lạc ra sao nếu vừa rồi chẳng may nàng không qua khỏi kiếp nạn. Vào lúc anh vừa lờ mờ nhớ đến một đoạn sấm ngôn của Nhiên Đăng phật nói về sự hoà đồng giữa vạn vật trong tam giới thì sư nữ khẽ thì thầm:

- Phật dạy, cuộc trầm luân trăm năm của chúng sinh đã chuộc đủ lỗi lầm khắp ba ngàn thế giới. - Rồi nàng nói tiếp bằng thứ giọng thánh thót như hát - Một nghĩa cử vừa rồi đáng giá hơn ba vạn sáu ngàn lần đọc kinh Vô Thường. Nếu tôi không lầm thì có lẽ anh là nhà thơ?

- Sao ni cô biết ?

- Vì các nhà thơ thường không vụ lợi. Tôi đã thấy điều đó khi anh nhảy xuống sông mà không cần tính toán thiệt hơn...

Anh không dám chắc mình là kẻ không vụ lợi vì rất phiền lòng với mấy trăm cuốn thơ chưa bán hết, nhưng phải công nhận nhà sư có năng lực phán đoán và một linh cảm giống như giác quan thứ sáu.

- Tuy nhiên, hình như nhà thơ đang ở vào tình trạng khủng hoảng đức tin và bão hoà cảm xúc. - Ni cô thản nhiên nhận xét - Anh đang cần một chuyến xê dịch để giải toả những ám ảnh vốn chẳng mấy dễ chịu đối với một thi nhân.

- Ni cô thật thông tuệ. Lẽ ra nàng phải là nhà tiên tri...

- Không đâu. Tôi là một kẻ đã từng bị cuốn vào vòng nghiệp chướng, đã nếm đủ cay đắng ngọt bùi với những đam mê trần thế, chỉ còn nửa bước chân là sa xuống chín tâng địa ngục...

- Thì cũng coi như một kiếp nạn. - Anh lựa lời an ủi thiếu phụ - Xưa nay, những bậc tu hành, trước khi ngộ đạo thường lắm nỗi đoạn trường.

- Anh có nghe thấy tiếng "mèo chuột" trong khoang không? - Nhà sư đột ngột hỏi.

- Ý nhà chùa là...

- Và cả chuyện lão lái đò "bờm xơm" mụ "Tú Bà" ?

- Thì ra ni cô không chỉ là nhà tu hành...

- Bởi vì, anh có tin không ? - Nàng ngừng tay lần tràng hạt, giọng mỉa mai - Trước đây tôi cũng đã từng là một con điếm...có điều là...một con điếm quý tộc. Tuổi trẻ của tôi vô cùng bốc lửa. Tôi tốt nghiệp đại học nhưng không đi làm mà chỉ say mê đến các vũ trường và coi cuộc đời chỉ là chuỗi dài những cuộc dong chơi. Trong một chuyến đi công cán nước ngoài, bố mẹ tôi bị tai nạn máy bay. Tôi trở thành cô đơn trong ngôi biệt thự rộng thênh thang và luôn bị ám ảnh bởi cái chết của những người đã sinh ra mình. Trong hoàn cảnh ấy, có khá nhiều kẻ muốn làm "bóng tùng quân" che chở. Tôi bị bao vây bởi những lời phỉnh nịnh đường mật của đủ loại đàn ông. Trong số họ có một nhà thơ. Anh ấy nói hay nhưng ít nói. Cách biểu hiện tình yêu khác hẳn. Thực ra, những người đến với tôi không phải tất cả đều là đồ bần tiện, đểu cáng, ích kỷ. Có những đối tượng tốt, học vị cao lại giầu sang nhưng trái tim tôi không rung động. Lâu lâu anh không đến tôi lại phấp phỏng. Đêm nằm cứ tưởng tượng ra những điều bất hạnh rồi úp mặt vào gối khóc. Thỉnh thoảng anh tặng tôi một bài thơ. Có bài mới ở dạng bản thảo, có bài đã in báo. Thơ của anh lạ lắm, đọc vô cùng cuốn hút. Nó như một thứ ám ảnh bắt ta phải suy nghĩ, trăn trở chứ không trơn tuột, sáo rỗng như phần lớn những bài thơ in trên các tờ văn nghệ "quốc doanh" mà người ta thường gọi miệt thị là báo "lá cải". Phải thú thực, trước khi yêu anh, tôi đã yêu thơ anh. Theo đuổi tôi quyết liệt nhất là một người đàn ông luống tuổi. Ông ta đi Tây như đi chợ. Bà vợ không hiểu làm sao bị đột tử sau đợt nghỉ mát ở Đà Lạt về. Cái chết mờ ám ấy hình như được khoanh lại vì ông ta đang giữ một chức vụ khá cao trong bộ máy của Đảng. Một lần ông ấy tặng tôi chiếc nhẫn bạch kim và bảo :" Nếu cô đồng ý, tôi sẽ làm cho ngôi nhà này không phải trả lại sở nhà đất mà là thuộc sở hữu hợp pháp của cô. Hơn nữa, khi đã ở với tôi, không đứa nào dám quấy rầy". Tôi cười nhạt hỏi :" Còn tình yêu, liệu ông có cái đó không ?" Ông ta nhếch mép cười mũi bảo tôi là trẻ con, thiếu thực tế :" Tình yêu là khái niệm rỗng tuếch và là thứ xa xỉ nhất trên đời. Quyền lực và tiền bạc mới giúp người ta trở thành kẻ mạnh". Tôi giận dữ chỉ tay ra cửa :" Mời ông ra khỏi nhà tôi!".

Cuối tuần ấy, nhà thơ của tôi mất tích. Hai ngày sau, người ta tìm thấy thi thể anh ở một góc hồ Tây, ngực trái có những vết dao đâm... Nguyên nhân của cái chết bi thảm đến giờ đã rõ nhưng lúc ấy có vẻ như người ta không muốn tìm chính danh thủ phạm bởi những mối quan hệ nhạy cảm phụ thuộc và chi phối lẫn nhau trước kỳ Đại hội.... Tôi có linh cảm, lúc đó nếu mình yêu một người đàn ông nào nữa, chắc người ấy cũng sẽ kết thúc tương tự như thế. Tôi rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý, đã có lúc thoáng nghĩ đến những liều thuốc ngủ. Nhưng rồi, anh biết không? Chính giữa cơn vật vã tinh thần ấy, trong đầu tôi chợt nảy ra ý nghĩ kỳ quái, chấp nhận gá nghĩa với con người đã bị tôi tống ra khỏi cửa hôm nào. Thời gian rồi cũng làm dịu đi nỗi đau buồn. Sau một lần ân ái, tôi làm bộ sợ hãi bảo :" Đêm qua nhà thơ Việt Tuấn về báo mộng cho em...". Lão già giật mình :" Cái gì ? Cô chỉ nói lăng nhăng". Tôi nhoẻn miệng cười, áp vào má ông ta một nụ hôn :" Mà việc gì mình phải giết anh ấy. Làm như thế là thiếu khôn ngoan. Nếu không là vợ mình, em có thể ra quận công an tố cáo". Ông ta chạm nọc , vùng dậy, nhanh như con mèo đói vừa nhìn thấy chuột, giọng gầm gừ :" Không có bằng chứng, tôi thách cô đấy. Thằng nghệ sĩ vườn ấy là thứ gì mà dám qua mặt tôi".

Thế là rõ. Để trả thù ông ta, sau ngày cưới, tôi lần lượt bắt nhân tình với bất cứ ai tôi thích. Có những chuyến ông ta sang Đông Âu mấy tháng, tôi ở nhà tha hồ tự do mặc thiên hạ rỗi mồm đàm tiếu. Là nhà thơ chắc anh hiểu tính vụ lợi của những mối quan hệ xác thịt không xuất phát từ tình yêu. Ngay cả điều ấy đối với tôi cũng vô nghĩa. Từ hôm bước lên xe hoa đời tôi coi như đã bỏ đi. Được khoảng hai năm gì đó, tôi đã có trong tay bộ sưu tập đủ các kiểu bồ bịch, từ chàng sinh viên nghèo miệng còn hơi sữa đến các lão già đầu đã hai thứ tóc nhưng lắm tiền thích chơi trống bỏi. Dần dần ông ta cũng biết nhưng không dám làm to chuyện mà chỉ ngấm ngầm đánh tôi, vì sợ mất thể diện. Cho đến một lần ông ta đi công tác miềm Nam. Những ngày ấy, gã lái xe đêm nào cũng mò vào phòng tôi. Tôi chẳng ưa gì gã, nhưng như trên đã nói, để trả thù đời, cần gì phải lựa chọn lũ bồi tình. Ai ngờ đêm thứ ba ông ta đã bay ra, không gọi lái xe mà về bằng taxi, mở cửa bằng chìa khoá riêng. Chúng tôi ngủ mệt, bị bắt quả tang.

Phần tiếp theo anh không thể hình dung được đâu, dù là bằng trí tưởng tượng của một nhà thơ. Vị "công bộc" cấp cao của dân chửi rủa chúng tôi bằng thứ ngôn ngữ sặc mùi hàng tôm hàng cá rồi đặt tay lên điện thoại định gọi cho ai đó thì gã lái xe thản nhiên bảo:

- Ông nên ỉm chuyện này đi, nếu không, trước lúc vào tù, tôi sẽ đến cơ quan công an tố cáo ông sai tôi và thằng Phi sát hại nhà thơ Việt Tuấn. Băng ghi âm cuộc nói chuyện đã được cất giữ ở một nơi an toàn...

Nghe thấy thế, mặt ông ta bỗng nhiên xám ngoét, lảo đảo bước vào phòng riêng, ở lỳ trong đó cho đến trưa hôm sau. Buổi chiều, cơ quan có cuộc họp quan trọng. Ông ta đang phổ biến nửa chừng về một nghị quyết nào đó thì đột nhiên gục xuống. Người ta vội vàng đưa đến bệnh viên Hữu Nghị cấp cứu nhưng không kịp vì chứng nhồi máu cơ tim.

Tang lễ cử hành xong tôi cũng bỏ luôn cái biệt thự đầy những hồn ma ấy ra đi. Sau những ngày lang thang, tôi tìm đến một ngôi chùa ở miền sơn cước cách rất xa thành phố tự nguyện xuất gia đầu Phật. Từ đấy mới thấy lòng mình thanh thản. Cái quá khứ bi thảm dường như đã được chôn chặt. Tôi tưởng rằng, bằng vào sự thành tâm mình sẽ ngộ đạo, ai ngờ, trong đêm hành hương trên con đò dọc này lại gặp một nhà thơ...

- Hình như ngày xưa nhà thơ và kỹ nữ đã có duyên nợ với nhau... - Anh an ủi nàng.

Nàng im lặng, tay nhè nhẹ lần chuỗi tràng hạt. Anh lấy ra một tập thơ tặng ni cô. Nàng chắp tay, lắc đầu :

- Làm thơ cũng là một nghiệp chướng. Tôi đã lánh cõi trần nương bóng từ bi, trong trái tim không còn chỗ cho các nhà thơ ngoài một nhà thơ đã bị kẻ ác hãm hại. A di đà phật !

* * *

Sáng tinh mơ, Con đò qua một đêm ngược nước đã cập bến Tràng. Lão lái đò mặt hốc hác vì thiếu ngủ khật khưỡng nhảy lên bờ neo thuyền. Gã rậm râu và cô gái nhà quê dắt nhau biến vào dòng người đi hội rất nhanh. "Bà dì" ngủ quá giấc, khi thức dậy thấy "cô cháu" đã bỏ đi liền réo chửi " Thằng ngô con đĩ " bằng những lời thô tục nhất mà chỉ có những loại buôn phấn bán son như mụ mới có thể nghĩ ra được. Lão lái đò ngáp một cái đến sái quai hàm rồi ranh mãnh nhìn mụ nháy mắt :

- Thế là mất toi một "món hàng".

"Bà dì" mất vốn, xót ruột vặc lại lão lái đò :

- Chỉ tại cái đồ khỉ chết tiệt !

Lão cười hề hề :

- Thì làm chuyến khác. Cứ vào lễ đền thật hậu là thế nào Chúa Bà cũng phù hộ một vốn bốn lời...

Nhà sư khoác khăn gói đứng dậy. Anh cũng xách túi bước lên bến. Hai người men theo bờ sông. Cát mịn dưới chân lấp loá ánh bình minh còn nhoè nước. Anh nhìn ni cô giọng nhỏ nhẹ :

- Ta lên đền Bà chúa chứ ?

Nàng lắc đầu bảo :

- Mình anh lên thôi, tôi đi hành hương...

- Kìa, sao lại thế, tên em là gì ?

Ni cô cười buồn :

- Điều đó có nghĩa gì đâu anh. Vĩnh biệt nhà thơ.

Nàng bước nhè nhẹ trên cát. Anh đứng nhìn theo cho đến khi bóng nàng khuất vào hẻm núi trước mặt mới quay lại bến đò. Lão lái đò lấy làm lạ, nheo cặp mắt vẫn còn ngái ngủ hỏi:

- Anh đi lễ đền Chùa Liễu kia mà ?

- Không, tôi thay đổi ý định rồi. - Anh lắc đầu bảo - Chốc nữa đủ khách ông lại cho tôi xuôi đò...

Bến Tràng, năm Canh Thìn, tháng trọng thu
Đ.V.S
-----------------------

(*) Rượu nấu thủ công (rượu ngang)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

DẤU HIỆU RẠN NỨT TRONG BỘ CHÍNH TRỊ, ÔNG TẬP CẬN BÌNH LO LẮNG



Theo AFP từ Bắc Kinh, Bộ chính trị Trung quốc vừa tổ chức 2 ngày học tập với các Ủy viên BCT và tất cả đều phải nhanh chóng học tập các bài diễn văn của ông Tập, phải tự kiểm điểm, tự phê về bản thân mình dưới sự chỉ đạo của ông Tập.

Giáo sư Lâm Hoà Lập tại Đại học Hồng Kông đánh giá đây là một cuộc trắc nghiệm về lòng trung thành đối với ông Tập. Cũng có nghĩa rằng đã có sự rạn nứt trong Bộ chính trị Trung quốc đối với các quyết sách của ông Tập. 


Trong bài trước tôi có nói đến 2 vấn đề, một là việc ông Tập Cận Bình có khả năng thực hiện cải cách như ông Gorbachov và hai là việc ông Tập Cận Bình tập trung quyền lực tối thượng vào mình là một yếu tố thuận lợi cho cải cách, tránh trường hợp bị “phản cải cách" như ông Gorbachov. Điều đáng lo ngại giờ đây không phải ông Tập và nhóm thân cận sẽ không cải cách mà là các thế lực bảo thủ sẽ chống lại công cuộc cải cách của ông Tập.

Có một số người cho rằng ông Tập sẽ bảo thủ đến cùng, theo tôi đó là những nhận định sai, vì với Trung quốc lúc này, cải cách thể chế là con đường không thể khác.

Chúng ta còn nhớ vào tuần trước, Trung quốc kỷ niệm 40 năm cải cách kinh tế nhưng trong buổi lễ, tất cả các nguyên lão Trung quốc đều vắng mặt. Điều này là một dấu hiệu đáng lo ngại. Nguy cơ giờ đây với Trung quốc sẽ là việc nhân danh bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng cộng sản, những người bảo thủ sẽ lật đổ ông Tập và đưa đất nước Trung quốc vào tình trạng cố thủ, gây khó khăn cho cải cách theo tinh thần hòa ước Mỹ Trung. 


Tôi cũng nhắc lại rằng khi chấp nhận hòa ước Mỹ Trung là ông Tập và nhóm thân cận đã chấp nhận bước vào cải cách thể chế dưới sức ép của thời đại. Điều này một mặt là tín hiệu tốt cho nhân dân Trung quốc và thế giới nhưng một mặt là nỗi lo rất lớn. Vì không khéo sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn trong toàn bộ đất nước Trung quốc nếu có những thế lực bảo thủ chống lại. Điều này sẽ hết sức nguy hiểm cho thế giới, vì vậy mà tổng thống Trump và giới lãnh đạo nước Mỹ chọn phương án bảo mật tuyệt đối bản yêu sách 142 điều. 
Trong thời gian qua chúng ta thấy những bước đi thận trọng của ông Tập để tránh những xáo trộn quá lớn trong lòng Trung quốc. Với một cỗ máy khổng lồ vận hành cho 1/5 dân số thế giới, không phải muốn là tuyên bố rằng thì là từ hôm nay sẽ từ bỏ chủ nghĩa xã hội, sẽ dân chủ hóa, sẽ đa đảng… thì là xong. Đó là những suy nghĩ quá giản đơn. Phải có những lộ trình hợp lý. Chúng ta thấy chẳng hạn bên cạnh việc tuyên bố của Bộ chính trị Trung quốc về tình hình bi đát của kinh tế Trung quốc đến việc lùi thời hạn áp dụng “Made in China 2025”, rồi việc mời tổng thống Đức đến nói chuyện với giới trẻ về tác hại của Chủ nghĩa Marx… thì ông Tập còn phải trấn an dân chúng bằng những phát biểu cứng rắn là không ai có thể ép Trung quốc phải làm thế này thế kia, rằng sẽ tiếp tục xây dựng CNXH… đều là những bước đi đầy tính toán.

Hy vọng rằng với quyền lực tối cao của ông Tập, ông sẽ không mắc phải những trở ngại như ông Gorbachov trong tiến trình đưa Trung quốc thành một nước tư bản, đa đảng, dân chủ, văn minh và không còn bá quyền nước lớn như thời kỳ Trung quốc xây dựng CNXH.

Chú thích ảnh: Hai ông phía sau có thể lật đổ ông Tập để "bảo vệ XNCN".

Phần nhận xét hiển thị trên trang