Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018
TUYÊN NGÔN CON NGƯỜI TỰ DO
Simon Soloveychik (1930 - 1996)
Nhà giáo dục và nhà triết học xã hội Nga
Ngân Xuyên dich
Giá trị tối cao
Hệ tư tưởng trước đây đã lùi xa không phải theo ý chí của những người ác ý như đôi khi người ta nghĩ và nói, mà do cơ sở của nó là một ước mơ tốt đẹp nhưng không thể thực hiện được. Trên thực tế ít người tin vào nó nên công cuộc giáo dục luôn luôn là không hiệu quả.
Lối tuyên truyền chính thống mà nhà trường thực hiện hết sức không phù hợp với cuộc sống thực tế. Bây giờ chúng ta đang quay lại thế giới thực. Và đây là điều chủ yếu ở nó: nó không phải là thế giới xô viết, nó không phải là thế giới tư sản, nó là thế giới hiện thực, thực tế - thế giới mà mọi người đang sống. Sống tốt hay xấu nhưng là mọi người đang sống. Mỗi dân tộc có lịch sử của mình, tính cách dân tộc của mình, ngôn ngữ của mình và những mong ước của mình – mỗi dân tộc có cái riêng, cái đặc biệt. Nhưng nhìn chung thế giới là thống nhất, là hiện thực. Và thế giới hiện thực này có những giá trị của mình, những mục đích cao cả của mình cho mỗi con người. Và có một giá trị tối cao mà xoay quanh nó xây nên tất cả các mục đích và giá trị khác.
Đối với người thầy, đối với nhà giáo dục, đối với nền giáo dục điều hết sức quan trọng là phải hiểu được giá trị tối cao đó nằm ở đâu.
Theo ý chúng tôi, giá trị tối cao đó chính là cái mà mọi người đã mơ ước và tranh cãi suốt hàng nghìn năm, cái khó lĩnh hội nhất đối với tâm trí con người – tự do.
Người ta hỏi: bây giờ giáo dục ai?
Chúng tôi trả lời: giáo dục con người tự do.
*
Con người tự do là gì?
Để trả lời câu hỏi này hàng trăm cuốn sách đã được viết ra và điều đó là dễ hiểu: tự do là một khái niệm có tính vô tận. Nó thuộc về những khái niệm cao cả của con người và vì thế về nguyên tắc không thể có một định nghĩa chính xác. Cái vô tận không thể nói được bằng lời. Nó cao hơn lời.
Chừng nào con người còn sống thì họ sẽ vẫn luôn tìm cách hiểu tự do là gì và khát khao vươn tới nó.
Không đâu trên thế giới có sự tự do đầy đủ về mặt xã hội, sự tự do về mặt kinh tế đối với mỗi con người cũng không có và xét chung thì cũng không thể có; nhưng con người tự do thì lại có nhiều. Tại sao vậy?
Trong từ “tự do” có hai khái niệm rất khác biệt nhau. Thực chất đây là nói về những điều hoàn toàn khác nhau.
Các nhà triết học khi phân tích cái từ khó này đã rút ra kết luận là có “tự do thoát” – sự tự do thoát khỏi mọi sự áp bức và cưỡng ép từ bên ngoài – và có “tự do vì” – sự tự do bên trong của con người vì sự tự hiện thực hóa của hắn.
Tự do bên ngoài, như đã nói, không phải là tuyệt đối. Nhưng tự do bên trong thì có thể là vô hạn, ngay cả trong hoàn cảnh cuộc sống khó khăn nhất. Ngành sư phạm từ lâu đã thảo luận chuyện giáo dục tự do. Các giáo viên theo khuynh hướng này mong muốn đem lại cho đứa trẻ sự tự do bên ngoài ở trường học. Chúng tôi nói về một điều khác: về sự tự do bên trong mà con người có thể đạt được trong tất cả các hoàn cảnh, chứ không cần phải tạo ra những trường học đặc biệt.
Tự do bên trong không bị phụ thuộc khắt khe vào tự do bên ngoài. Trong một quốc gia tự do nhất vẫn có thể có những người lệ thuộc, không được tự do. Trong những quốc gia mất tự do nhất, nơi tất cả đều bị áp bức cách này hay cách khác, vẫn có thể có những người tự do. Như vậy giáo dục những con người tự do không bao giờ là sớm và không bao giờ là muộn. Chúng ta cần phải giáo dục những con người tự do không phải vì xã hội chúng ta đã có tự do – đó là vấn đề còn phải tranh luận, - mà vì sự tự do bên trong cần thiết cho chính nhà giáo dục của chúng ta, dù hắn sống trong xã hội nào đi nữa.
Con người tự do – đó là con người có tự do từ bên trong. Cũng như tất cả mọi người, về bên ngoài hắn phụ thuộc vào xã hội. Nhưng về bên trong hắn độc lập. Xã hội có thể được tự do về bên ngoài – thoát khỏi áp bức, nhưng nó có thể trở thành xã hội tự do chỉ khi số đông mọi người có được sự tự do bên trong.
Đây là điều theo ý chúng tôi cần phải là mục đích của giáo dục: sự tự do bên trong của con người. Khi giáo dục những con người có tự do bên trong chúng ta mang lại lợi ích to lớn nhất cho chính các nhà giáo dục, cho đất nước đang vươn tới tự do. Điều này không có gì mới cả: hãy nhớ tới những nhà giáo xuất sắc, những người thầy ưu tú của mình – tất cả họ đều cố gắng giáo dục con người tự do, chính vì thế họ mới được nhớ đến.
Thế giới được duy trì và phát triển là nhờ những con người tự do bên trong.
*
Tự do bên trong là gì?
Tự do bên trong cũng trái nghịch như tự do nói chung. Con người có tự do bên trong, cá nhân tự do, là tự do ở cái gì đó và không tự do ở cái gì đó.
Con người tự do bên trong được tự do thoát khỏi cái gì? Trước hết là thoát khỏi nỗi sợ trước con người và cuộc sống. Thoát khỏi dư luận chia rẽ chung. Hắn độc lập với đám đông. Được tự do thoát khỏi những khuôn mẫu tư duy – có khả năng đưa ra cái nhìn cá nhân của mình. Được tự do thoát khỏi những thiên kiến. Được tự do thoát khỏi sự ganh tị, vị lợi, thoát khỏi những ý muốn áp chế của bản thân.
Có thể nói thế này: trong hắn cái mang tính người được tự do. Con người tự do dễ nhận ra: hắn đơn giản là sống, suy nghĩ theo cách của mình, hắn không bao giờ tỏ ra quỵ lụy, xấc xược. Hắn quý trọng tự do của mỗi người. Hắn không phách lối bằng tự do của mình, không tìm cách đạt được tự do bằng mọi giá, không tranh đoạt tự do cá nhân của mình – hắn luôn có nó. Nó được đem cho hắn sở hữu vĩnh viễn. Hắn không sống vì tự do mà sống một cách tự do. Đó là con người dễ chịu, sống với hắn dễ chịu, hắn có hơi thở tràn đầy sự sống.
Mỗi chúng ta đều đã gặp những con người tự do. Luôn yêu mến họ. Nhưng có một cái mà con người tự do thực sự không tự do thoát khỏi được. Đây là điều rất cần phải hiểu. Con người tự do không được tự do thoát khỏi cái gì? Lương tâm.
*
Lương tâm là gì?
Nếu không hiểu lương tâm là gì thì cũng không hiểu con người tự do bên trong. Tự do không có lương tâm là thứ tự do giả dối, đó là một trong những sự lệ thuộc trầm trọng nhất. Dường như có tự do, nhưng không có lương tâm, thì sẽ là nô lệ cho những tham vọng xấu xa của mình, nô lệ của những hoàn cảnh sống, và hắn sẽ dùng sự tự do bên ngoài của mình vào cái ác. Có thể gọi con người như thế là gì cũng được, nhưng nhất quyết không phải là con người tự do. Tự do trong nhận thức chung được xem là điều thiện.
Hãy chú ý đến một sự khác biệt quan trọng: ở đây không nói – không được tự do thoát khỏi lương tâm mình, như người ta thường nói. Bởi vì lương tâm không phải chỉ của mình, mà còn của chung. Lương tâm là cái chung có ở mỗi người. Lương tâm là cái thống nhất mọi người.
Lương tâm – đó là sự thật sống giữa mọi người và trong mỗi người. Nó là một cho tất cả, chúng ta tiếp nhận nó với ngôn ngữ, với giáo dục, trong sự giao tiếp với nhau. Không cần phải hỏi sự thật là gì, nó cũng không thể nói được bằng lời như tự do vậy. Nhưng chúng ta nhận biết nó qua sự công tâm mà mỗi người đều trải nghiệm khi cuộc sống diễn ra theo sự thật. Và mỗi người sẽ đau khổ khi sự công tâm bị phá hủy, khi sự thật bị chà đạp. Lương tâm, cái cảm giác ở bên trong nhưng đồng thời lại có tính xã hội, nói cho ta biết đâu là sự thật và đâu là không phải sự thật. Lương tâm buộc con người phải nắm giữ sự thật, tức là sống với sự thật, theo sự công tâm. Con người tự do nghiêm chỉnh lắng nghe lương tâm – và chỉ lương tâm mà thôi. Người thầy theo đuổi mục đích giáo dục con người tự do thì phải ủng hộ sự công tâm. Đó là cái chính trong giáo dục. Không có chân không nào hết. Không cần đến mệnh lệnh giáo dục nào của nhà nước hết. Mục đích giáo dục ở mọi thời đều như nhau – đó là sự tự do bên trong của con người, tự do vì sự thật.
*
Đứa trẻ tự do
Việc giáo dục con người tự do bắt đầu từ nhỏ. Tự do bên trong là món quà tự nhiên ban tặng, đó là một thứ tài năng đặc biệt có thể bị dập vùi cũng như mọi tài năng khác, nhưng cũng có thể được phát triển. Tài năng này có ở mỗi người với mức độ khác nhau giống như mỗi người đều có lương tâm – nhưng con người hoặc là biết lắng nghe nó, gắng sống hòa điệu với lương tâm, hoặc là nó bị các hoàn cảnh cuộc sống và sự giáo dục làm tắt lặng.
Mục đích – giáo dục con người tự do – quy định tất cả các hình thức, phương pháp, cách thức giao tiếp với trẻ. Nếu đứa trẻ không biết đến sự áp bức và học được cách sống theo lương tâm thì tất cả các kỹ năng sống, kỹ năng xã hội từng được nói đến rất nhiều trong các lý thuyết giáo dục truyền thống sẽ tự đến với nó. Theo ý chúng tôi, giáo dục chỉ là ở chỗ phát triển sự tự do bên trong, cái mà không có chúng ta thì cũng đã có ở đứa trẻ, để duy trì và bảo vệ sự tự do đó. Nhưng bọn trẻ thường là nghịch ngợm, hiếu động, thất thường. Nhiều người lớn, các bậc cha mẹ và thầy cô cảm thấy để trẻ tự do là nguy hiểm. Đây là ranh giới của hai phương thức giáo dục khác nhau.
Người muốn phát triển đứa trẻ tự do sẽ chấp nhận nó như nó là – yêu nó bằng tình yêu giải phóng, đem lại tự do. Họ tin vào đứa trẻ, niềm tin này giúp họ nhẫn nại.
Người không nghĩ đến tự do thì sẽ sợ điều đó, không tin vào đứa trẻ, họ tất yếu sẽ áp chế tinh thần của nó và do đó giết chết và bóp nghẹt lương tâm nó. Tình yêu đối với đứa trẻ sẽ trở thành sự áp chế. Một nền giáo dục phi tự do như thế sẽ đưa lại cho xã hội những con người què quặt. Không có tự do thì tất cả các mục đích, ngay cả nếu chúng có vẻ như cao cả, đều trở thành giả dối và nguy hiểm đối với trẻ em.
*
Người thầy tự do
Để phát triển con người tự do, đứa trẻ ngay từ nhỏ đã phải được ở bên cạnh những người tự do, trước hết là bên cạnh người thầy tự do. Vì sự tự do bên trong không phụ thuộc thẳng vào xã hội, nên chỉ người thầy mới có thể tác động mạnh mẽ đến tài năng tự do ẩn trong mỗi đứa trẻ, như đã từng có với các tài năng thể thao, âm nhạc, nghệ thuật.
Việc giáo dục con người tự do vừa sức mỗi chúng ta, mỗi người thầy riêng lẻ. Đấy là trường chiến đấu, nơi một người là chiến binh, nơi một người có thể làm tất cả. Bởi vì trẻ em được hướng đến những con người tự do, tin tưởng họ, thán phục họ, biết ơn họ. Dù ở nhà trường có chuyện gì đi nữa, người thầy vẫn có thể là người chiến thắng. Người thầy tự do chấp nhận đứa trẻ ngang hàng mình. Và từ đó ông/bà ta tạo ra quanh mình một bầu khí quyển mà chỉ trong đó con người tự do mới có thể phát triển.
Có thể, ông/bà ta đưa cho đứa trẻ một ngụm tự do – và thế là cứu vớt nó, dạy cho nó biết quý tự do, chỉ ra rằng có thể sống làm người tự do được.
*
Trường học tự do
Người thầy đặt bước đi đầu tiên vào việc giáo dục con người tự do, bộc lộ tài năng tự do của mình sẽ được dễ dàng hơn rất nhiều nếu ông/bà ta làm việc trong một nhà trường tự do.
Nhà trường tự do là nơi có những đứa trẻ tự do và những người thầy tự do.
Không có nhiều những trường học như thế trên thế giới, nhưng dù sao vẫn có, thế nghĩa là lý tưởng này đã thành hiện thực. Cái quan trọng ở nhà trường tự do không phải là để cho trẻ muốn làm gì thì làm, thoát khỏi kỷ luật, mà là tinh thần tự do học tập, sự tự lập, sự kính trọng người thầy. Trên thế giới có nhiều những ngôi trường rất tinh tuyển với những nề nếp truyền thống đã đào tạo nên những con người giá trị nhất. Bởi vì ở đó những con người tự do, tài năng, những người thầy trung thực miệt mài với công việc của mình – và vì ở đó tinh thần công tâm được đề cao. Nhưng trong những ngôi trường uy tín đó không phải tất cả mọi đứa trẻ đều lớn lên thành người tự do. Ở những trẻ yếu đuối tài năng tự do bị bóp nghẹt, nhà trường đã bẻ gãy chúng.
Trường học tự do thực sự là nơi bọn trẻ đến trường với niềm vui. Chính ở ngôi trường như thế bọn trẻ mới tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Chúng học được cách suy nghĩ tự do, cư xử tự do, sống tự do và biết quý tự do – của mình và của mỗi người.
*
Con đường giáo dục những người tự do
Tự do vừa là mục đích vừa là con đường.
Đối với người thầy điều quan trọng là bước lên con đường này và đi theo nó, không nghiêng ngả. Con đường đến tự do rất khó nhọc, không tránh khỏi vấp ngã, nhưng ta hãy cứ bám theo mục đích.
Câu hỏi đầu tiên của người giáo dục con người tự do là: liệu ta có áp chế bọn trẻ không? Nếu ta áp chế chúng một việc gì đấy thì là vì cái gì? Ta nghĩ là vì lợi ích của chúng, nhưng thế liệu ta có giết chết tài năng tự do của chúng không? Trước mặt ta là lớp học, ta cần duy trì một trật tự nhất định để giảng dạy, nhưng thế liệu ta có bẻ gãy đứa trẻ không, khi cứ cố bắt nó phụ thuộc vào kỷ luật chung?
Có thể không phải người thầy nào cũng tìm được câu trả lời cho từng câu hỏi, nhưng quan trọng là tất cả các câu hỏi phải được đặt ra cho mình.
Tự do sẽ chết nơi nỗi sợ xuất hiện. Con đường giáo dục những con người tự do khởi đi khi tránh thoát được mọi nỗi sợ hãi. Thầy không sợ trò, trò không sợ thầy – khi đó tự do sẽ tự đến trong lớp học.
Tự do thoát khỏi nỗi sợ là bước đi đầu tiên trên con đường đến tự do trong nhà trường.
Chỉ cần nói thêm rằng con người tự do bao giờ cũng đẹp đẽ. Giáo dục những con người kiêu hãnh, đẹp đẽ về tinh thần – há đấy chẳng phải là mơ ước của người thầy sao?
(Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Phép thử
Tôi chưa đến cơ ngơi của họa sĩ Thành Chương ở Sóc Sơn bao giờ nhưng nghe nói về cái công trình tư nhân ấy từ lâu. Ngay cái tên "Việt phủ Thành Chương" tôi biết chính xác một đàn anh đồng nghiệp của tôi, nhà báo-nhà văn Nguyễn Viện là người đặt tên, gợi ý và được họa sĩ chấp nhận. Anh Viện nói cho tôi biết điều ấy trong một ca trực báo vào cuối năm 2001 (cách nay đã 17 năm), khi biệt phủ mới hình thành. Ai không tin cứ hỏi nhà văn Nguyễn Viện.
Chưa tới đó bao giờ nên tôi không dám nhận xét nó (biệt phủ) có đáng được bảo tồn hay không, chỉ lẩn thẩn nghĩ rằng, nếu không có gì vi phạm pháp luật thì cho tồn tại, nếu đã vi phạm thì không nên đặc cách, chiếu cố, ưu tiên. Pháp luật xưa nay chỉ được tôn trọng và có sức mạnh khi những gì làm tổn hại nó đều bị xử lý công bằng. Pháp luật mà không có công lý thì không hơn gì cái nồi lẩu, ai cũng khua đũa khoắng thìa vào được.
Phủ của họa sĩ Chương nếu sai mà vẫn cho tồn tại thì đương nhiên cô ca sĩ Mỹ Linh cũng sẽ không cho ai phá nhà mình, rồi cơ ngơi của những tướng tá, nhà văn, nhà báo, đại gia nhan nhản ở Sóc Sơn, Ba Vì đều đòi phải được giữ nguyên. Tất cả đều có thể tồn tại, chỉ có pháp luật là mất. Một nước đã không có pháp luật tử tế (chứ không phải những thứ luật nhăng nhố như luật an ninh mạng chẳng hạn) thì đừng trách con người làm loạn.
Chính quyền Hà Nội đang chứng tỏ họ có biết luật hay không chính là qua việc giải quyết những vụ kiểu Sóc Sơn này. Độ pH pháp luật là bao nhiêu còn tùy thuộc vào miếng giấy quỳ trong tay nhà cai trị. Có khi bằng 0.
Trong thâm tâm, tôi chỉ cầu mong việc xây biệt phủ của ông họa sĩ là đúng pháp luật, không vi phạm gì.
Chưa tới đó bao giờ nên tôi không dám nhận xét nó (biệt phủ) có đáng được bảo tồn hay không, chỉ lẩn thẩn nghĩ rằng, nếu không có gì vi phạm pháp luật thì cho tồn tại, nếu đã vi phạm thì không nên đặc cách, chiếu cố, ưu tiên. Pháp luật xưa nay chỉ được tôn trọng và có sức mạnh khi những gì làm tổn hại nó đều bị xử lý công bằng. Pháp luật mà không có công lý thì không hơn gì cái nồi lẩu, ai cũng khua đũa khoắng thìa vào được.
Phủ của họa sĩ Chương nếu sai mà vẫn cho tồn tại thì đương nhiên cô ca sĩ Mỹ Linh cũng sẽ không cho ai phá nhà mình, rồi cơ ngơi của những tướng tá, nhà văn, nhà báo, đại gia nhan nhản ở Sóc Sơn, Ba Vì đều đòi phải được giữ nguyên. Tất cả đều có thể tồn tại, chỉ có pháp luật là mất. Một nước đã không có pháp luật tử tế (chứ không phải những thứ luật nhăng nhố như luật an ninh mạng chẳng hạn) thì đừng trách con người làm loạn.
Chính quyền Hà Nội đang chứng tỏ họ có biết luật hay không chính là qua việc giải quyết những vụ kiểu Sóc Sơn này. Độ pH pháp luật là bao nhiêu còn tùy thuộc vào miếng giấy quỳ trong tay nhà cai trị. Có khi bằng 0.
Trong thâm tâm, tôi chỉ cầu mong việc xây biệt phủ của ông họa sĩ là đúng pháp luật, không vi phạm gì.
Nguyễn Thông
Phần nhận xét hiển thị trên trang
nồi nước luộc ếch sắp sôi rồi
Kinh tế Việt Nam : Liệu có vỡ trận?
Duy trì đà tăng trưởng cao là mục tiêu mà chính phủ của anh Phúc đang theo đuổi. Con số báo cáo trong nhiệm kỳ của anh Phúc thường là 6,6-6,8% và dự kiến là còn vượt 7%. Tuy nhiên bản chất tăng trưởng của Việt Nam lại khác nhiều so với đặc thù chung của đa số các nước trên thế giới. Thế giới thì tăng trưởng từ nội lực kinh tế trong nước, đầu tư ngoài nước và thiên về chất, công nghệ và tinh chế. Thì Việt Nam lại đi ngược lại. Việt Nam tăng trưởng dựa vào bán tài nguyên thô, bơm tín dụng, cung tiền nhiều và ăn nhờ vốn đầu tư nước ngoài. Ta thấy rõ ràng ràng tình trạng tăng trưởng ở đây là phụ thuộc, không bền vững. Nghĩa là nếu ông muốn duy trì đà tăng trưởng thì càng phải tăng cường bán tài nguyên thô, tăng cường bơm tiền, tăng cường thu hút đầu tư. Vậy thì: 1) Tăng trưởng nhờ vào khai thác tài nguyên thô, bán đi giá rẻ: Tiền tươi, không phải mất công tinh chế là điều mà nhà nước Việt Nam luôn thích. Thay vì tinh chế để xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị, giảm khối lượng xuất khẩu thì Việt Nam lại tăng khối lượng khai thác, bán giá rẻ để có được nhiều tiền. Tài nguyên là hữu hạn. Khai thác mãi làm sao được. Nếu không chú trọng phát triển công nghệ tinh chế, đa dạng sản phẩm có gốc thô thì chết Mà chính phủ của anh Phúc lại không quan tâm việc này. Cạn tài nguyên thì sao? Có tăng trưởng được nữa không? Còn cháu đời sau lấy gì mà sống?
2) Bơm tín dụng, tăng cung tiền.
Bơm tín dụng, tăng cung tiền là để kích thích nền kinh tế. Điều này rất nguy hiểm cho nền kinh tế vì nó gây ra bong bóng kinh tế và lạm phát cao nếu không có chính sách hút tiền về hợp lý. Nếu không bơm nữa thì nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng theo hướng trì trệ lại.
3) Phụ thuộc vốn nước ngoài:
3) Phụ thuộc vốn nước ngoài:
Gần 70% GDP là đóng góp của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI. Lợi ích và tác hại của dòng vốn này thì Nam đã phân tích rồi. Lợi về việc làm công nhân giá rẻ, công nghiệp phụ trợ (trên dưới 20% tổng giá trị sản phẩm), thuế ( khá ít vì ưu đãi mạnh) và kim ngạch xuất khẩu để báo cáo kinh tế (ảo, có tiếng mà không có miếng vì lợi nhuận chuyển hết về nước họ).
Nhưng hại thì rất nhiều: Vẫn là nước thu nhập thấp so với thế giới( 2500 USD trong khi đó trung bình thế giới là trên dưới 10.000 USD). Thất thoát, lãng phí, chảy máu tài nguyên vì tỉ lệ doanh nghiệp FDI có nhu cầu tiêu tốn tài nguyên ngày càng tăng. Mất thị trường trên chính sân nhà. Khối kinh tế nội địa bị ép nghẹt. Chiếm hết cơ hội phát triển của kinh tế nội vì FDI ngày càng mở rộng quy mô và lĩnh vực đầu tư. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tương lai sẽ là bãi rác công nghiệp của thế giới. Nền kinh tế bị méo mó nghiêm trọng. Và trong tương lai hội nhập thì dòng vốn này lại càng chảy mạnh vào nước ta và hê lụy tiêu cực cho nền kinh tế, xã hội ngày càng gia tăng.
Biện pháp sàng lọc vốn cũng chưa được chính phủ của anh Phúc cân nhắc triển khai vì sợ giảm con số tăng trưởng. Và cái quan trọng nhất là dư địa thu hút FDI. Nghĩa là nền kinh tế, điều kiện đất nước là giới hạn. Thu hút quá nhiều sẽ đến ngưỡng đầy, quá tải dẫn đến một thời điểm nào đó không thể nhét thêm được nữa vì cạn kiệt các điều kiện đáp ứng đầu tư. Vậy thì lấy gì mà tăng trưởng tiếp? Chưa nói đến việc có chiến sự, tác động của kinh tế thế giới, bất ổn chính trị...đều khiến dòng vốn ngừng chảy vào và dòng vốn hiện có tháo chạy khỏi nền kinh tế. Vậy thì GDP sẽ tăng hay tụt? Bền hay không?
Cái khổ vẫn là người dân. Thành tích báo cáo thì luôn đẹp, đẹp đến ảo lòi ra. Thu nhập của người dân không mấy được cải thiện. Giá cả leo thang, nhất là sang năm lại càng tăng mạnh do tăng giá các mặt hàng trọng yếu. Không chỉ hiện tại chúng ta khổ mà tương lai con cháu chúng ta cũng khổ. Gánh trên vai những khoản nợ khổng lồ gọi là nợ công và sống trong một bãi chiến trường đầy ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, chủ quyền bị đe dọa và tiêu cực xã hội ngày càng gia tăng.
Cái khổ vẫn là người dân. Thành tích báo cáo thì luôn đẹp, đẹp đến ảo lòi ra. Thu nhập của người dân không mấy được cải thiện. Giá cả leo thang, nhất là sang năm lại càng tăng mạnh do tăng giá các mặt hàng trọng yếu. Không chỉ hiện tại chúng ta khổ mà tương lai con cháu chúng ta cũng khổ. Gánh trên vai những khoản nợ khổng lồ gọi là nợ công và sống trong một bãi chiến trường đầy ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, chủ quyền bị đe dọa và tiêu cực xã hội ngày càng gia tăng.
Đó người ta gọi là nhờ có đảng, có chế độ nền mới được hưởng vậy. Haizzz. Nếu chỉ nhìn vài thứ vụn vặt xung quanh thì ta thấy rất bình thường. Nhưng nhìn bao trùm toàn cảnh thì đúng là nồi nước luộc ếch sắp sôi rồi .
Nguyễn Việt Nam
Nguyễn Việt Nam
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không biết hổ thẹn không phải là con người

Muốn xây dựng một quốc gia cường thịnh cần phải có những cán bộ, viên chức có kiến thức, có năng lực, có đạo đức. Theo quy định của ngành giáo dục là muốn học lớp 6 thì phải có bằng Tốt nghiệp Tiểu học, muốn vào Đại học phải có bằng Tốt nghiệp Trung học Phổ thông. Ấy vậy mà ở Việt Nam trong thời gian qua có nhiều cán bộ viên chức chưa học lớp 9, lớp 10… mà đã có hai, ba bằng cử nhân (Lãnh đạo cho phép “nợ bằng”, tức là sau đó phải học Bổ túc lớp 9, 10, 11, 12). Học hành kiểu “sinh con rồi mới sinh cha” thì làm sao mà nắm vững kiến thức!
Loại cán bộ viên chức mang học vị, học hàm “tiến sĩ giấy”, “giáo sư ma” là loại “chỉ biết chăm chăm xu thời hay nịnh đời” cho nên đất nước phải chịu thảm cảnh: “Đất nước mình thương quá phải không anh/ Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại/Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải” (3). Biết mình không có kiến thức, không có năng lực thì khi được giao nhiệm vụ quá năng lực thì lo mà thoái thác, đằng này vẫn “hiên ngang, dũng cảm” nhận chức vụ để rồi khi thất bại lại thốt lên: “…tôi không xin với đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm một chức vụ này hay một chức vụ khác. Mặt khác tôi cũng không từ chối, không thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà đảng và nhà nước giao phó cho tôi”
Con người ta (ngoại trừ những người bệnh tâm thần) khi bắt đầu có trí khôn thì cũng bắt đầu biết hổ thẹn. Tính hổ thẹn đã xuất hiện từ rất xa xưa trên mặt đất này. Theo Kinh thánh Cựu ước thì từ thuở hồng hoang, Thượng đế tạo dựng nên Adam và Eva, rồi để hai ông bà sống trong vườn Địa Đàng. Hai ông bà được hưởng mọi thứ hoa trái trong vườn, chỉ trừ cây “biết lành, biết dữ” ở giữa vườn. Hai ông bà sống trần truồng mà không hề hổ thẹn. Một hôm Satan dụ dỗ bà Eva hái trái cây giữa vườn mà ăn. Eva từ chối, nhưng Satan bảo: “Ngày nào các ngươi ăn vào, mắt các ngươi sẽ được mở ra, các ngươi cũng trở nên thần minh, biết điều thiện ác”. Nghe êm tai, bà Eva liền hái và trao cho Adam cùng ăn. Sau khi ăn, tức khắc hai ông bà nhận thấy mình trần truồng, liền lấy lá cây kết lại mà che thân.
Con người ta, nếu làm việc gì trái với lương tâm, trái với những tập tục, những quy định của xã hội, tôn giáo thì cảm thấy hổ thẹn.
Trong cách phát âm từ Hán Việt, hổ thẹn được phát âm là: Tu, Tàm, Sỉ, Ố, Quý, Tu Ố, Tu Sỉ, Tu Tàm, Tu Quý. Nhưng thông dụng thường dùng từ Tu Ố, Tu Sỉ(1). Ví dụ: Bất tri tu sỉ là không biết hổ thẹn. Tiếng Việt gọi là “Trơ tráo”(2) hoặc Tu Ố là một trong thuyết “Tứ đoan” (Trắc ẩn, Tu ố, Từ nhượng, Thị phi) của Mạnh tử.
Sách Quản tử ghi: “Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ thị vi tứ duy” (Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ là 4 giềng mối chính). Liêm- Sỉ là cặp phạm trù đạo đức. So sánh giữa Liêm và Sỉ thì sỉ cần hơn liêm. Người không liêm làm những việc bất nghĩa, căn nguyên cũng ở vô sỉ mà ra. Cán bộ viên chức trong bộ máy Nhà nước mà vô liêm sỉ thì đất nước suy bại. Cách mạng Tháng 10 Nga thành công, nghe tin một số đảng viên có chức có quyền tham nhũng, Lénine cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt Đảng Cộng sản Nga. Chỉ có những đảng viên của đảng mới có thể làm việc đó”.
Tử Cống hỏi Khổng tử: Phải làm thế nào mới đáng là kẻ sĩ? Khổng tử đáp: “Hành kỷ hữu sỉ” (Biết xấu hổ trong mọi cử chỉ và hành động- Luận ngữ: 13,20). Muốn xây dựng một quốc gia cường thịnh cần phải có những cán bộ, viên chức có kiến thức, có năng lực, có đạo đức. Theo quy định của ngành giáo dục là muốn học lớp 6 thì phải có bằng Tốt nghiệp Tiểu học, muốn vào Đại học phải có bằng Tốt nghiệp Trung học Phổ thông. Ấy vậy mà ở Việt Nam trong thời gian qua có nhiều cán bộ viên chức chưa học lớp 9, lớp 10… mà đã có hai, ba bằng cử nhân (Lãnh đạo cho phép “nợ bằng”, tức là sau đó phải học Bổ túc lớp 9, 10, 11, 12).
Học hành kiểu “sinh con rồi mới sinh cha” thì làm sao mà nắm vững kiến thức! Loại cán bộ viên chức mang học vị, học hàm “tiến sĩ giấy”, “giáo sư ma” là loại “chỉ biết chăm chăm xu thời hay nịnh đời” cho nên đất nước phải chịu thảm cảnh: “Đất nước mình thương quá phải không anh/ Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại/Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải” (3).
Biết mình không có kiến thức, không có năng lực thì khi được giao nhiệm vụ quá năng lực thì lo mà thoái thác, đằng này vẫn “hiên ngang, dũng cảm” nhận chức vụ để rồi khi thất bại lại thốt lên: “…tôi không xin với đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm một chức vụ này hay một chức vụ khác. Mặt khác tôi cũng không từ chối, không thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà đảng và nhà nước giao phó cho tôi”(4).
Trong các nước tự do và dân chủ, người lãnh đạo hết lòng với quốc gia luôn trăn trở: “Quân tử sỉ kỳ ngôn, nhi quá kỳ hạnh” (Hứa nhiều làm ít, người quân tử lấy làm hổ thẹn- Luận ngữ : 14,29). Do đó, khi thấy làm không được việc thì tự động xin từ chức chứ không có cái gọi là “văn hóa từ chức” mới xuất hiện ở Việt Nam cách nay vài ba năm. Tự nhận biết lỗi lầm và tự xin từ chức, đó là người biết liêm sỉ.
“Riêng liêm sỉ là đức tính rất hay. Vì người không có liêm đụng cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm. Hạng người như vậy là người bỏ đi không khác gì giống vật”. Bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã phơi bày bộ mặt vô liêm sỉ của cán bộ viên chức Nhà nước cho bàn dân thiên hạ thấy: “… Đến tiền của các cháu dân tộc thiểu số mà hiệu trưởng cùng với một số cán bộ còn biển thủ đến gần 3 tỷ đồng vừa rồi mới khởi tố. Cái liều vac xin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, “ăn” của dân không từ một thứ gì”(5).
Vào những ngày cuối năm Mậu Tý, chính phủ đã hỗ trợ cho người nghèo tiền ăn Tết Kỷ Sửu (2009), vậy mà có rất… rất nhiều tỉnh bị mấy ông cán bộ vô liêm sỉ “chấm mút”. Sự việc này được tác giả Đồ Bì viết trong bài “Kỹ thuật chấm mút” đăng trên báo Tuổi Trẻ Cười số 374 trang 3: “…Điển hình là các ông trưởng thôn, trưởng xóm, trưởng ấp hoặc cũng có thể là các ông trưởng của các trưởng này chấm mút tiền chính phủ hỗ trợ cho người nghèo ăn Tết. Tổng số tiền được Chính phủ chi ra giúp người nghèo ăn Tết Kỷ Sửu là 3800 tỷ đồng. Theo quy định mỗi hộ được 1 triệu đồng; mỗi nhân khẩu trong hộ được 200.000 đồng. Thế nhưng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Cà Mau… đã có hiện tượng trưởng thôn, trưởng xóm, trưởng ấp hoặc trưởng của các ông trưởng trên chấm mút tiền ăn Tết của người nghèo”.
Ai đã tham nhũng? Các thế lực thù địch của đảng chăng? Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó Giám đốc Công an TP. HCM đã giải đáp: “Hầu hết đối tượng gây ra hành vi tham nhũng từ đảng viên”(6). Ông Lê Minh Trí, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương cũng xác nhận: “Chỉ có cán bộ đảng viên tham nhũng chứ dân thường không tham nhũng”(7). Tham nhũng ở Việt Nam đã trở thành căn bệnh trầm kha khó có thuốc chữa. Ấy vậy mà ông Đinh Thế Huynh, Cựu Thường trực Ban Bí thư đã đề xuất ý kiến: “Phải xây dựng văn hóa khinh bỉ kẻ tham nhũng”(8). Tham nhũng thì có pháp luật trừng trị, đằng này đề xuất của ông Đinh Thế Huynh giống như chữa bệnh ngoại khoa: “Đau Nam chữa Bắc”. Người dân tộc thiểu số sống ở rừng sâu, núi thẳm nào có “xây dựng văn hóa khinh bỉ” mà vẫn sống công bằng với nhau. Đề xuất của ông Đinh Thế Huynh đã được Giáo sư Tương Lai phản bác: “Khi nó đã vô liêm sỉ rồi, dây thần kinh xấu hổ đã đứt rồi thì nó màng gì tới chuyện văn hóa khinh bỉ? Đây chẳng qua là một lời nói mị dân”(9).
Đề xuất “xây tượng đài nghìn tỷ” có đúng thật là nguyện vọng tha thiết của nhân dân không? Giáo sư Ngô Bảo Châu có ý kiến: “Số tiền này đủ để xây dựng toàn bộ trường, các ký túc xá cho Sơn La và các tỉnh miền núi. Trẻ con ăn không no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây dựng tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”(10).
“Than ôi! Người đời bây giờ có phải đa số là người “vô liêm sỉ” không? Nếu quả vậy thì người ta ngậm ngùi than thở rất là phải. Vì “liêm, sỉ” là nền tảng của đạo làm người. Ở đời còn có sỉ, thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm còn được, chớ liêm, sỉ đã mất, nhất là sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý và mong cậy vào đâu nữa. Con người mà đã đến vô sỉ thì tuy mặc áo, đội mũ mà như con chim, con muông, còn cái gì kiêng nể mà không dám làm”
Mạnh tử nói: “Vô tu ố chi tâm phi nhân dã” (Người không có lòng hổ thẹn không phải là con người vậy).
“Than ôi! Thế mà ngày nay, nhân tình phản trắc, phong tục suy đồi, người ta quên cả liêm, sỉ, không kể chi người thường, thậm chí đến bọn cán bộ cũng chan chan như thế cả. Ôi! Nếu cho là sự xấu hổ chung cho cả nước cũng không phải là nói ngoa”(11).
Diên Khánh- Khánh Hòa - 12/12/2018
Nguyễn Văn Nghệ
________________________________
Chú thích:
1- Tu đi với sỉ là một từ đồng nghĩa để tạo nên cấu trúc ghép đẳng lập “tu sỉ”. Trước ngày 30/4/1975 dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa có tội “Công xúc tu sỉ”, có nghĩa là tội công khai làm mất liêm sỉ, làm cho kẻ khác thẹn thùng, phạm thuần phong mỹ tục. Ví dụ: trần truồng đi ngoài đường là ghép vào tội “Công xúc tu sỉ”.
2- Ban Tu thư Khai Trí, Tự Điển Việt Nam, Nhà sách Khai Trí 62, Lê Lợi, Sài Gòn, tr.888
3 – Trích từ bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của tác giả Trần Thị Lam
4 - https://new.zing.vn/10-phat-ngon-an-tuong-cua-thu-tuong-nguyen-tan-dung-post639078.html
5 - baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chinh-tri-viet-nam/cai-nhin-thang-cua-pho-chu-tich-nuoc-nguyen-thi-doan-3290000/
6 - https://dantri.com.vn/blog/su-that-qua-phat-ngon-cua-mot-vi-tuong-cong-an-20160311051237514.htm
7 - https://thanhnien.vn/tri-viet/giai-ma-vi-sao-chong-tham-nhung-qua-kho-677232.html
8 – vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chong-tham-nhung/phai-xay-dung-van-hoa-khinh-bi-ke-tham-nhung-326239.html
9 - https://www.rfa.org/vietnamese/news/progams/LiteratureAndsArts/whats-scornful-culture-ml-09172016110211.html.
10- https://tintucvietnam.vn/giao-su-ngo-bao-chau-noi-gi-ve-chuyen-xay-tuong-dai-1400-ti-tai-son-la-4181
11- Trích từ bài “Liêm, Sỉ” trong tác phẩm “Cổ học tinh hoa”
Trong các nước tự do và dân chủ, người lãnh đạo hết lòng với quốc gia luôn trăn trở: “Quân tử sỉ kỳ ngôn, nhi quá kỳ hạnh” (Hứa nhiều làm ít, người quân tử lấy làm hổ thẹn- Luận ngữ : 14,29). Do đó, khi thấy làm không được việc thì tự động xin từ chức chứ không có cái gọi là “văn hóa từ chức” mới xuất hiện ở Việt Nam cách nay vài ba năm. Tự nhận biết lỗi lầm và tự xin từ chức, đó là người biết liêm sỉ.
“Riêng liêm sỉ là đức tính rất hay. Vì người không có liêm đụng cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm. Hạng người như vậy là người bỏ đi không khác gì giống vật”. Bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã phơi bày bộ mặt vô liêm sỉ của cán bộ viên chức Nhà nước cho bàn dân thiên hạ thấy: “… Đến tiền của các cháu dân tộc thiểu số mà hiệu trưởng cùng với một số cán bộ còn biển thủ đến gần 3 tỷ đồng vừa rồi mới khởi tố. Cái liều vac xin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, “ăn” của dân không từ một thứ gì”(5).
Vào những ngày cuối năm Mậu Tý, chính phủ đã hỗ trợ cho người nghèo tiền ăn Tết Kỷ Sửu (2009), vậy mà có rất… rất nhiều tỉnh bị mấy ông cán bộ vô liêm sỉ “chấm mút”. Sự việc này được tác giả Đồ Bì viết trong bài “Kỹ thuật chấm mút” đăng trên báo Tuổi Trẻ Cười số 374 trang 3: “…Điển hình là các ông trưởng thôn, trưởng xóm, trưởng ấp hoặc cũng có thể là các ông trưởng của các trưởng này chấm mút tiền chính phủ hỗ trợ cho người nghèo ăn Tết. Tổng số tiền được Chính phủ chi ra giúp người nghèo ăn Tết Kỷ Sửu là 3800 tỷ đồng. Theo quy định mỗi hộ được 1 triệu đồng; mỗi nhân khẩu trong hộ được 200.000 đồng. Thế nhưng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Cà Mau… đã có hiện tượng trưởng thôn, trưởng xóm, trưởng ấp hoặc trưởng của các ông trưởng trên chấm mút tiền ăn Tết của người nghèo”.
Ai đã tham nhũng? Các thế lực thù địch của đảng chăng? Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó Giám đốc Công an TP. HCM đã giải đáp: “Hầu hết đối tượng gây ra hành vi tham nhũng từ đảng viên”(6). Ông Lê Minh Trí, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương cũng xác nhận: “Chỉ có cán bộ đảng viên tham nhũng chứ dân thường không tham nhũng”(7). Tham nhũng ở Việt Nam đã trở thành căn bệnh trầm kha khó có thuốc chữa. Ấy vậy mà ông Đinh Thế Huynh, Cựu Thường trực Ban Bí thư đã đề xuất ý kiến: “Phải xây dựng văn hóa khinh bỉ kẻ tham nhũng”(8). Tham nhũng thì có pháp luật trừng trị, đằng này đề xuất của ông Đinh Thế Huynh giống như chữa bệnh ngoại khoa: “Đau Nam chữa Bắc”. Người dân tộc thiểu số sống ở rừng sâu, núi thẳm nào có “xây dựng văn hóa khinh bỉ” mà vẫn sống công bằng với nhau. Đề xuất của ông Đinh Thế Huynh đã được Giáo sư Tương Lai phản bác: “Khi nó đã vô liêm sỉ rồi, dây thần kinh xấu hổ đã đứt rồi thì nó màng gì tới chuyện văn hóa khinh bỉ? Đây chẳng qua là một lời nói mị dân”(9).
Đề xuất “xây tượng đài nghìn tỷ” có đúng thật là nguyện vọng tha thiết của nhân dân không? Giáo sư Ngô Bảo Châu có ý kiến: “Số tiền này đủ để xây dựng toàn bộ trường, các ký túc xá cho Sơn La và các tỉnh miền núi. Trẻ con ăn không no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây dựng tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”(10).
“Than ôi! Người đời bây giờ có phải đa số là người “vô liêm sỉ” không? Nếu quả vậy thì người ta ngậm ngùi than thở rất là phải. Vì “liêm, sỉ” là nền tảng của đạo làm người. Ở đời còn có sỉ, thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm còn được, chớ liêm, sỉ đã mất, nhất là sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý và mong cậy vào đâu nữa. Con người mà đã đến vô sỉ thì tuy mặc áo, đội mũ mà như con chim, con muông, còn cái gì kiêng nể mà không dám làm”
Mạnh tử nói: “Vô tu ố chi tâm phi nhân dã” (Người không có lòng hổ thẹn không phải là con người vậy).
“Than ôi! Thế mà ngày nay, nhân tình phản trắc, phong tục suy đồi, người ta quên cả liêm, sỉ, không kể chi người thường, thậm chí đến bọn cán bộ cũng chan chan như thế cả. Ôi! Nếu cho là sự xấu hổ chung cho cả nước cũng không phải là nói ngoa”(11).
Diên Khánh- Khánh Hòa - 12/12/2018
Nguyễn Văn Nghệ
________________________________
Chú thích:
1- Tu đi với sỉ là một từ đồng nghĩa để tạo nên cấu trúc ghép đẳng lập “tu sỉ”. Trước ngày 30/4/1975 dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa có tội “Công xúc tu sỉ”, có nghĩa là tội công khai làm mất liêm sỉ, làm cho kẻ khác thẹn thùng, phạm thuần phong mỹ tục. Ví dụ: trần truồng đi ngoài đường là ghép vào tội “Công xúc tu sỉ”.
2- Ban Tu thư Khai Trí, Tự Điển Việt Nam, Nhà sách Khai Trí 62, Lê Lợi, Sài Gòn, tr.888
3 – Trích từ bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của tác giả Trần Thị Lam
4 - https://new.zing.vn/10-phat-ngon-an-tuong-cua-thu-tuong-nguyen-tan-dung-post639078.html
5 - baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chinh-tri-viet-nam/cai-nhin-thang-cua-pho-chu-tich-nuoc-nguyen-thi-doan-3290000/
6 - https://dantri.com.vn/blog/su-that-qua-phat-ngon-cua-mot-vi-tuong-cong-an-20160311051237514.htm
7 - https://thanhnien.vn/tri-viet/giai-ma-vi-sao-chong-tham-nhung-qua-kho-677232.html
8 – vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chong-tham-nhung/phai-xay-dung-van-hoa-khinh-bi-ke-tham-nhung-326239.html
9 - https://www.rfa.org/vietnamese/news/progams/LiteratureAndsArts/whats-scornful-culture-ml-09172016110211.html.
10- https://tintucvietnam.vn/giao-su-ngo-bao-chau-noi-gi-ve-chuyen-xay-tuong-dai-1400-ti-tai-son-la-4181
11- Trích từ bài “Liêm, Sỉ” trong tác phẩm “Cổ học tinh hoa”
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chúng ta đang thực sự sở hữu ba sự giàu có mà nó đang hiện diện một cách phổ quát, đó là: sự giả dối, bạo lực và ngu dốt.
Luân Lê
CÁI NGHÈO VỀ TRI THỨC
Theo tôi được biết từ khi còn mặc quần thủng đít đi học ở trường làng là nước ta giàu có trù phú với đủ các tính từ mỹ miều khoáng đạt: rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu, sông hồ, kênh rạch chằng chịt, tài nguyên, khoáng sản bạt ngàn. Và đến giờ tôi vẫn nghe thấy người ta tuyên bố nước ta là nước hạnh phúc nhất nhì thế giới.
Vậy tại sao ông, một người lãnh đạo nằm trong số những người đứng đầu nội các (chính phủ), lại có thể đặt ra một câu hỏi kiểu tu từ: nước ta không thể nghèo mãi thế này được, trước những người trẻ?
Phải chăng ông đã biết nhìn vào thực tại và biết trung thực với chính mình, thôi ngợi ca và chấm dứt sự tự hào huyễn hoặc về đất nước và các kết quả điều hành của chính trị?
Chúng ta nghèo gì mới thực sự là nghèo?
Đó là nghèo tri thức. Mà tri thức có được hay không phụ thuộc ở yếu tố con người. Trong khi chúng ta lại không có giáo dục tự do, tự do ở đây với hai khía cạnh: tự do khỏi sự kiểm soát của chính trị; và tự do học thuật để kiến tạo và từ đó làm chủ cả về chính trị, tức được tiếp cận và truyền thụ mọi nền tảng tư tưởng, được tranh luận, đánh giá sòng phẳng các chủ thuyết trong mọi bài giảng.
Chúng ta có tự do chính trị chưa? Chưa có. Khi người dân chưa thể thực hiện quyền biểu tình hoặc tự do lập hội, hội họp, lập đảng chính trị, chưa được thành lập báo chí và truyền thông tư nhân, chưa được thực hành tự do ngôn luận với khía cạnh có quan điểm trái nghịch với nhà nước (chính quyền) - được gọi là tự do tư tưởng và tự do biểu đạt, bày tỏ chính kiến - vì sẽ bị cáo buộc trở thành tội phạm xâm phạm vào an ninh quốc gia.
Chúng ta chưa làm giàu cho tri thức của con người, thì lấy đâu ra thứ để làm giàu cho đất nước và xã hội? Chúng ta mãi nghèo đói vì đã đoạn tuyệt và tuyệt giao với các hệ thống tri thức tự do như là một di sản quý báu của thế giới chỉ vì nó bất dung hoặc bất đồng với quan điểm, tư tưởng của chính quyền (hoặc ít nhất là đảng cầm quyền).
Chúng ta nghèo đói và lạc hậu vì ngay cả việc nói lên tiếng nói chính trực và theo lẽ phải cũng đã là một sự lựa chọn dũng cảm. Đấu tranh để đòi hỏi luật pháp, sự thật và công lý lại là một cuộc chiến sinh tồn khốc liệt. Và hèn nhát trở thành đức tính phổ biến ở số đông. Khôn lỏi trở thành phương tiện mưu sinh hữu ích. Quyền lực trở thành mục tiêu của sự giàu có. Sự bảo thủ và độc tôn trở thành nền tảng của tư duy quản lý.
Có nhiều ví dụ điển hình về việc một khi dân tộc nào sở hữu sự giàu có về tri thức, đất nước đó sẽ trở nên hưng thịnh và phồn vinh. Singapore, Nhật Bản hay Israel là những quốc gia thành công chỉ bởi nhờ vào sự giàu có về mặt (trí tuệ) con người. Nhưng có thể khẳng định một tiên đề là, không một quốc gia thành công nào mà ở đó lại có một thể chế (chính trị) tồi.
Chúng ta đang thực sự sở hữu ba sự giàu có mà nó đang hiện diện một cách phổ quát, đó là: sự giả dối, bạo lực và ngu dốt.
http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/guong-mat-tre/dat-nuoc-khong-the-ngheo-mai-the-nay-duoc-494087.html
CÁI NGHÈO VỀ TRI THỨC
Theo tôi được biết từ khi còn mặc quần thủng đít đi học ở trường làng là nước ta giàu có trù phú với đủ các tính từ mỹ miều khoáng đạt: rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu, sông hồ, kênh rạch chằng chịt, tài nguyên, khoáng sản bạt ngàn. Và đến giờ tôi vẫn nghe thấy người ta tuyên bố nước ta là nước hạnh phúc nhất nhì thế giới.
Vậy tại sao ông, một người lãnh đạo nằm trong số những người đứng đầu nội các (chính phủ), lại có thể đặt ra một câu hỏi kiểu tu từ: nước ta không thể nghèo mãi thế này được, trước những người trẻ?
Phải chăng ông đã biết nhìn vào thực tại và biết trung thực với chính mình, thôi ngợi ca và chấm dứt sự tự hào huyễn hoặc về đất nước và các kết quả điều hành của chính trị?
Chúng ta nghèo gì mới thực sự là nghèo?
Đó là nghèo tri thức. Mà tri thức có được hay không phụ thuộc ở yếu tố con người. Trong khi chúng ta lại không có giáo dục tự do, tự do ở đây với hai khía cạnh: tự do khỏi sự kiểm soát của chính trị; và tự do học thuật để kiến tạo và từ đó làm chủ cả về chính trị, tức được tiếp cận và truyền thụ mọi nền tảng tư tưởng, được tranh luận, đánh giá sòng phẳng các chủ thuyết trong mọi bài giảng.
Chúng ta có tự do chính trị chưa? Chưa có. Khi người dân chưa thể thực hiện quyền biểu tình hoặc tự do lập hội, hội họp, lập đảng chính trị, chưa được thành lập báo chí và truyền thông tư nhân, chưa được thực hành tự do ngôn luận với khía cạnh có quan điểm trái nghịch với nhà nước (chính quyền) - được gọi là tự do tư tưởng và tự do biểu đạt, bày tỏ chính kiến - vì sẽ bị cáo buộc trở thành tội phạm xâm phạm vào an ninh quốc gia.
Chúng ta chưa làm giàu cho tri thức của con người, thì lấy đâu ra thứ để làm giàu cho đất nước và xã hội? Chúng ta mãi nghèo đói vì đã đoạn tuyệt và tuyệt giao với các hệ thống tri thức tự do như là một di sản quý báu của thế giới chỉ vì nó bất dung hoặc bất đồng với quan điểm, tư tưởng của chính quyền (hoặc ít nhất là đảng cầm quyền).
Chúng ta nghèo đói và lạc hậu vì ngay cả việc nói lên tiếng nói chính trực và theo lẽ phải cũng đã là một sự lựa chọn dũng cảm. Đấu tranh để đòi hỏi luật pháp, sự thật và công lý lại là một cuộc chiến sinh tồn khốc liệt. Và hèn nhát trở thành đức tính phổ biến ở số đông. Khôn lỏi trở thành phương tiện mưu sinh hữu ích. Quyền lực trở thành mục tiêu của sự giàu có. Sự bảo thủ và độc tôn trở thành nền tảng của tư duy quản lý.
Có nhiều ví dụ điển hình về việc một khi dân tộc nào sở hữu sự giàu có về tri thức, đất nước đó sẽ trở nên hưng thịnh và phồn vinh. Singapore, Nhật Bản hay Israel là những quốc gia thành công chỉ bởi nhờ vào sự giàu có về mặt (trí tuệ) con người. Nhưng có thể khẳng định một tiên đề là, không một quốc gia thành công nào mà ở đó lại có một thể chế (chính trị) tồi.
Chúng ta đang thực sự sở hữu ba sự giàu có mà nó đang hiện diện một cách phổ quát, đó là: sự giả dối, bạo lực và ngu dốt.
http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/guong-mat-tre/dat-nuoc-khong-the-ngheo-mai-the-nay-duoc-494087.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thảm cảnh của các cô dâu lấy chồng Trung Quốc
Bộ phim tài liệu: "Cô dâu có treo bảng giá"
được chiếu trên truyền hình Campuchia
Mọi người đều được lợi từ hôn nhân của Nary với một người đàn ông Trung Quốc ngoại trừ chính cô dâu Nary. Cô đã trốn về quê nhà ở Campuchia sau sáu năm bị đày ải, bị sỉ nhục và gần như không còn có cơ hội gặp lại con trai của mình. Anh trai cô đã bỏ trốn với 3.000 đô la Mỹ sau khi dụ dỗ Nary, lúc đó chỉ mới 17 tuổi, rời Campuchia để kết hôn. Những kẻ môi giới đã chia nhau số tiền còn lại là 7.000 đô la do người chồng Trung Quốc trả và ông chồng Trung Quốc có người nối dõi mà ông đã mong muốn từ lâu.Tuy nhiên, cuộc hôn nhân của cô với một người xa lạ cách đó hàng ngàn kilomet và nói một ngôn ngữ mà cô không hiểu ngay từ đầu đã chịu số phận hẩm hiu.
“Đó không phải là một ngày đặc biệt đối với tôi,” Nary được AFP dẫn lời nói.
Cô là một trong số hàng chục ngàn cô gái trẻ và cả những thiếu nữ từ Campuchia, Việt Nam, Lào và Myanmar kết hôn với đàn ông Trung Quốc mỗi năm để lấp đầy lỗ hổng của tình trạng mất cân bằng giới tính sau ba thập niên Bắc Kinh thực hiện chính sách một con.
Mặc dù chính sách dân số hà khắc này đã bị Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bãi bỏ, nước này vẫn có thiếu 33 triệu phụ nữ khiến cho con số tương đương đàn ông nước này có nguy cơ không kiếm được vợ.
Sự đói nghèo cùng với trình độ học vấn thấp và nghĩa vụ phải chăm lo cho cha mẹ già đã khiến cho nhiều phụ nữ ở lưu vực sông Mekong đánh cược vào việc lấy chồng Trung Quốc.
Nhiều người đi lao động ở nước ngoài nhưng lại rơi vào hoàn cảnh bị cưỡng ép kết hôn. Trong những trường hợp tồi tệ nhất, những cô gái bị bắt cóc và bị buôn qua đường biên giới nhiều khe hở.
Tuy nhiên, cũng có những cuộc hôn nhân hạnh phúc khi mà các cô dâu có thể có tiền giúp đỡ cho gia đình mình trong cảnh khốn quẫn.
Tuy nhiên với những hiện thực sau này thường được phơi bày thì những người phụ nữ lấy chồng Trung Quốc này có nguy cơ bị bạo hành, bị bắt giam theo luật di trú của Trung Quốc hay là bán lại vào nhà chứa.
Cô Nary, vốn yêu cầu được dùng tên giả trong cuộc phỏng vấn, cho biết cô đã nói chuyện với một kẻ môi giới hôn nhân theo lời khuyên của anh trai.
“Tôi đã tin anh trai,” cô thầm thì trong khi nước mưa chảy qua mái nhà tôn bị dột trong căn nhà tồi tàn của cô bên vệ đường ở Phnom Penh.
“Gia đình tôi nghèo lắm và mọi người mong tôi lấy chồng Trung Quốc để giúp đỡ họ, cho nên tôi nghe theo,” cô kể. Nhưng người anh trai của cô đã lấy mất số tiền hồi môn vốn để dành để giúp gia đình và trốn mất biệt.
Để kiếm một cô dâu, đàn ông Trung Quốc phải bỏ ra từ 10.000 cho đến 15.000 đô la Mỹ. Họ trả số tiền đó cho các tay môi giới và sau đó những tay môi giới này sẽ trích ra vài ngàn đô la cho các chân rết của họ ở nước ngoài để tuyển lựa cô dâu.
Một khoản tiền ‘hồi môn’ từ 1.000 cho đến 3.000 đô la treo lơ lửng trước các gia đình có con gái trong khi con gái của họ là người cuối cùng được chút gì trong số tiền đó nếu cô ấy có được chia phần.
“Các gia đình giờ đây đang trông chờ con gái của họ có đền đáp cho họ chút lợi lộc gì không,” Chou Bun Eng, phó chủ tịch Ủy ban Quốc gia chống Buôn người của Campuchia, nói về động cơ tiền bạc vốn rất thường gặp trong các gia đình nước này.
Môi giới hôn nhân giờ đây là một ngành nghề béo bở - các con số chính thức cho biết chỉ riêng phụ nữ Campuchia đã có đến 10.000 người đăng ký kết hôn ở các tỉnh miền NamTrung Quốc là Quảng Đông, Quý Châu và Vân Nam.
Khi đến Trung Quốc, các cô dâu thường được ‘cất vào kho’ và hình ảnh của họ được ca ngợi trên WeChat và các diễn đàn hẹn hò khác cho những đàn ông kiếm vợ xem.
Càng trẻ đẹp chừng nào thì giá của các cô cao chừng đấy.
Nary đến Trung Quốc hợp pháp bằng visa du lịch nhưng khi đến Thượng Hải, cô đã phát hiện rằng người đàn ông trả tiền cưới cô là chỉ là phụ hồ sống ở làng quê chứ không phải là ‘bác sỹ giàu có’ như người ta hứa hẹn với cô.
Bất cứ người phụ nữ nào bị mua bán hay được nhận tiền để kết hôn và được đưa sang nước khác – ngay cả khi có sự đồng thuận – đều được Liên Hiệp Quốc xem là nạn nhân buôn người.
Ở Campuchia, các kẻ môi giới và những kẻ trung gian khác có thể bị kết án đến 15 năm tù nếu bị phát hiện. Mức án này sẽ cao hơn nếu nạn nhân là thiếu nữ vị thành niên.
Tuy nhiên, hiếm có ai bị kết án. Các tay môi giới có thể trả đến 5.000 đô la để buộc các nạn nhân giữ im lặng.
“Các nạn nhân cần tiền,” một công tố viên về tội buôn người hàng đầu được AFP dẫn lời nói với điều kiện giấu tên vì lý do an toàn.
“Và họ sợ hãi những mạng lưới buôn người lớn và có hệ thống.”
Trung Quốc cũng có luật chống buôn người nhưng việc thực thi còn mang tính chắp vá ở một đất nước mà các vấn đề thuộc về chuyện gia đình ít được chính quyền ngó ngàng.
Để giải quyết vấn đề này, Campuchia đã kêu gọi những người đàn ông nước ngoài muốn tìm vợ ở nước họ kết hôn theo luật pháp của họ và cung cấp bằng chứng về sự đồng thuận, tuổi tác và các giấy tờ cần thiết khác.
“Về bản chất thì lấy chồng Trung Quốc không có gì sai cả,” Chou Bun Eng nói. “Nhưng vấn đề bắt đầu xuất hiện khi nó được thực hiện bất hợp pháp thông qua những kẻ trung gian.”
Cuộc hôn nhân của Nary đã tan vỡ chỉ một tháng sau khi cô sinh một bé trai khi mẹ chồng của cô đột nhiên không cho cô cho con bú nữa.
“Bà ấy không cho tôi thấy mặt con tôi và ôm nó,” cô cho biết.
Gia đình chồng cô yêu cầu ly dị, nhưng với visa đã hết hạn Nary biết rằng nếu ra khỏi nhà chồng thì cô sẽ không còn được ở lại hợp pháp ở Trung Quốc nữa.
Cuối cùng cô dọn ra và kiếm được một công việc lương thấp trong một vài năm ở một xưởng thủy tinh gần đó.
Nhưng tình trạng di trú của cô đã bị bại lộ và cô đã bị đưa vào trung tâm giam giữ trong một năm cùng với hàng chục phụ nữ Campuchia và Việt Nam khác – tất cả đều cùng chung cảnh ngộ.
Sau khi được thả ra, mẹ cô đã nhờ đến một tổ chức từ thiện Campuchia để dàn xếp đưa cô hồi hương vào tháng Tám năm nay.
Giờ đây cô làm việc với mức lương tối thiểu tại một xí nghiệp may và đã được tự do từ một cuộc hôn nhân tệ hại nhưng lại bị chia cắt khỏi con trai.
“Tôi biết rằng tôi sẽ không còn được thấy nó nữa,” cô nói.
(Theo AFP)
https://www.voatiengviet.com/a/th%E1%BA%A3m-c%E1%BA%A3nh-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-c%C3%B4-d%C3%A2u-l%E1%BA%A5y-ch%E1%BB%93ng-trung-qu%E1%BB%91c/4696978.html
nhận xét hiển thị trên trang
Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018
Toà nhà chữa bệnh hiện đại nhất VN dành cho quan
Bệnh viện TW Quân đội 108 là nơi khám chữa bệnh cho lãnh đạo cấp cao và lực lượng then chốt, trung thành bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ: Quân đội. Lãnh đạo trung ương chỉ dám vào đây khám chữa bệnh vì có quân đội bảo vệ nghiêm ngặt. Nhân dân cũng có thể được vào đây khám chữa bệnh, nhưng chỉ được ở những khu rách nát xuống cấp và công suất dư thừa của bệnh viện. Đọc bài này thấy càng thêm buồn vì khoảng cách lãnh đạo và quân đội với người dân ngày càng xa cách. Lại nhớ về cái thời "Tôn Đản là của vua quan. Nhà Thờ là của trung gian nịnh thần. Đồng Xuân là của thương nhân. Vỉa hè là của nhân dân anh hùng".

Trao đổi với phóng viên báo chí, PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- phó Giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 cho biết, sau hơn bảy năm xây dựng, cụm công trình tòa nhà trung tâm của Bệnh viện TW Quân đội 108 chính thức được đưa vào hoạt động. Theo đánh giá, đây là một công trình mang tầm cỡ quốc gia khi công năng của bệnh viện được bố trí khoa học, chặt chẽ, hệ thống kỹ thuật sử dụng các công nghệ tiên tiến để công trình có giá trị lâu dài, bền vững.
Cụm tòa nhà Trung tâm gồm ba tòa nhà (hai tòa cao 22 tầng, một tòa cao 10 tầng) với tổng diện tích sàn 150.000m2 quy mô 2.000 giường bệnh (trong tình huống khẩn cấp có thể tăng lên thành 4.000 giường). Các phòng bệnh được bố trí như khách sạn. Phòng nào cũng có cửa sổ hướng ra ngoài, tạo cảm giác thoải mái cho người bệnh.
“Đáng chú ý, với định hướng lấy người bệnh làm trung tâm, do đó bệnh viện đã trang bị nhiều thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm mang đến sự chính xác, nhanh chóng và sự hài lòng cho người bệnh khi đến khám, chữa bệnh”- Phó giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 cho biết.
Đến thời điểm này, đây cũng là bệnh viện duy nhất ở nước ta có đến 50 phòng mổ áp lực dương, trong có 45 phòng mổ tiêu chuẩn, năm phòng mổ ghép tạng và phòng mổ Hybrid. Ở phòng hybrid, bệnh viện trang bị robot chụp mạch can thiệp.
Hệ thống xét nghiệm tự động hiện đại với công suất 3.600 test/giờ
Theo PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- do đặc thù là bệnh viện tuyến cuối của quân đội và một trong 5 bệnh viện hạng đặc biệt quốc gia, trung bình hiện mỗi ngày Bệnh viện TW Quân đội 108 tiếp nhận khoảng 4.000-5.000 bệnh nhân đến khám. 9 tháng đầu năm nay, bệnh viện đã khám và điều trị cho gần một triệu lượt người.

Bên trong phòng xét nghiệm hiện đại của bệnh viện
Để giảm thời gian chờ đợi của người bệnh và tăng hiệu suất trong khám chữa bệnh, Bệnh viện TW Quân đội 108 đã là cơ sở y tế đầu tiên trong cả nước đưa vào vận hành hai hệ thống vận chuyển bằng khí và băng chuyền. Theo đó, hệ thống vận chuyển bằng khí được sử dụng vận chuyển các mẫu xét nghiệm, thuốc, dụng cụ y tế nặng từ 3 đến 5 kg. Các ống của hệ thống được điều khiển bởi hệ thống máy tính trung tâm dựa trên số liệu của các trạm và có hệ thống dỡ tải tự động.
“Thông thường nhân viên y tế phải đến các khoa phòng để lấy mẫu xét nghiệm thì nay với hệ thống vận chuyển bằng khí và băng chuyền, các mẫu xét nghiệm được chuyển về tận các khoa phòng, giúp giảm sức người, để điều dưỡng chuyên tâm chăm sóc người bệnh”- Phó giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 thông tin
Còn hệ thống vận chuyển băng chuyển được sử dụng cho vận chuyển đồ sạch và đồ bẩn (vận chuyển khối lượng lớn từ 25 đến 30 kg) được sử dụng cho khu vực trạm y tá của tất cả các khoa lâm sàng; phòng mổ; hồi sức tích cực (ICU); cấp cứu ban đầu; kiểm soát nhiễm khuẩn; kho dược; vật tư tiêu hao... Hệ thống vận chuyển băng chuyền cũng được điều khiển bởi máy tính dựa trên tín hiệu từ các trạm.

Hệ thống vận chuyển bằng khí nén tự động có nhiệm vụ vận chuyển các mẫu xét nghiệm, thuốc, dụng cụ y tế nặng từ 3 đến 5 kg với vận tốc trung bình 5 m/s
Ngoài ra, tại toà nhà mới phục vụ khám chữa bệnh này, Bệnh viện TW Quân đội 108 đã đưa vào sử dụng hệ thống xét nghiệm tự động. Hệ thống băng chuyền vận chuyển ống mẫu với công suất 3.600 mẫu một giờ. Máy xét nghiệm miễn dịch tự động có thể xử lý 600 mẫu xét nghiệm một giờ. Máy xét nghiệm sinh hóa tự động thực hiện 3.600 test một giờ.
“Hệ thống xét nghiệm hoàn toàn tự động từ băng chuyền chuyên vận chuyển ống mẫu xét nghiệm đến các máy xét nghiệm miễn dịch, sinh hóa, huyết học. Hệ thống xét nghiệm tự động này giúp nâng cao chất lượng xét nghiệm, đáp ứng yêu cầu về số lượng xét nghiệm ngày càng tăng, rút ngắn thời gian chờ đợi kết quả của người bệnh”- PGS.TS Phạm Nguyên Sơn nói.
Trang bị hệ thống xạ trị - xạ phẫu đa năng suất liều cao dưới hướng dẫn hình ảnh thời gian thực
Cùng với những trang thiết bị hiện đại đó, cụm tòa nhà trung tâm này cũng được trang bị hệ thống xạ trị - xạ phẫu đa năng suất liều cao dưới hướng dẫn hình ảnh thời gian thực. Đây là hệ thống xạ trị - xạ phẫu tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay có khả năng xạ trị, xạ phẫu với độ chính xác cao và điều trị hiệu quả cho các bệnh ung thư: U não, ung thư đầu- cổ, phổi, vú, gan, tụy, thực quản, trực tràng, tiền liệt tuyến…

Bệnh viện TW Quân đội 108 hiện có 2.000 giường bệnh, tuy nhiên trong điều kiện cần thiết có thể kê được thành 4.000 giường
Theo PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- hệ thống này có khả năng thực hiện tất cả các kỹ thuật xạ trị, xạ phẫu: xạ trị điều biến liều; xạ trị cung điều biến thể tích; xạ phẫu, xạ trị lập thể định vị thân; xạ trị, xạ phẫu đồng bộ nhịp thở thời gian thực điều trị các khối u di động (u phổi, u gan).
Ngoài ra, hệ thống Rô-bốt chụp mạch số hóa xóa nền chuyên dụng sẽ giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị trong lĩnh vực can thiệp tim mạch; tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật cho công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo huấn luyện, chuyển giao công nghệ cho đội ngũ bác sỹ trong toàn quân và toàn quốc chuyên ngành can thiệp mạch.
Ngày 17/12, Bệnh viện TW Quân đội 108 sẽ khánh thành tòa nhà trung tâm và đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp.
Cụm tòa nhà Trung tâm được đánh giá là công trình tiêu biểu cùng trang thiết bị y tế hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Công trình góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ của một bệnh viện hạng đặc biệt trong công tác khám, chữa bệnh cho các cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.
Thái Bình
https://suckhoedoisong.vn/co-gi-ben-trong-toa-nha-kham-chua-benh-hien-dai-nhat-viet-nam-n151674.html
Có gì bên trong toà nhà khám chữa bệnh hiện đại nhất Việt Nam?
Bệnh viện TW Quân đội 108 đã đưa vào sử dụng cụm công trình tòa nhà khám chữa bệnh trung tâm. Đến thời điểm này, đây là một tòa nhà bệnh viện thông minh và hiện đại nhất Việt NamNgày 17/12, Bệnh viện TW Quân đội 108 sẽ khánh thành tòa nhà trung tâm và đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp. Cụm tòa nhà Trung tâm được đánh giá là công trình tiêu biểu cùng trang thiết bị y tế hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Công trình góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ của một bệnh viện hạng đặc biệt trong công tác khám, chữa bệnh cho các cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.. 
Cụm công trình tòa nhà trung tâm của Bệnh viện TW Quân đội 108
Bệnh viện đầu tiên có 50 phòng mổ đạt tiêu chuẩnTrao đổi với phóng viên báo chí, PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- phó Giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 cho biết, sau hơn bảy năm xây dựng, cụm công trình tòa nhà trung tâm của Bệnh viện TW Quân đội 108 chính thức được đưa vào hoạt động. Theo đánh giá, đây là một công trình mang tầm cỡ quốc gia khi công năng của bệnh viện được bố trí khoa học, chặt chẽ, hệ thống kỹ thuật sử dụng các công nghệ tiên tiến để công trình có giá trị lâu dài, bền vững.
Cụm tòa nhà Trung tâm gồm ba tòa nhà (hai tòa cao 22 tầng, một tòa cao 10 tầng) với tổng diện tích sàn 150.000m2 quy mô 2.000 giường bệnh (trong tình huống khẩn cấp có thể tăng lên thành 4.000 giường). Các phòng bệnh được bố trí như khách sạn. Phòng nào cũng có cửa sổ hướng ra ngoài, tạo cảm giác thoải mái cho người bệnh.
“Đáng chú ý, với định hướng lấy người bệnh làm trung tâm, do đó bệnh viện đã trang bị nhiều thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm mang đến sự chính xác, nhanh chóng và sự hài lòng cho người bệnh khi đến khám, chữa bệnh”- Phó giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 cho biết.
Đến thời điểm này, đây cũng là bệnh viện duy nhất ở nước ta có đến 50 phòng mổ áp lực dương, trong có 45 phòng mổ tiêu chuẩn, năm phòng mổ ghép tạng và phòng mổ Hybrid. Ở phòng hybrid, bệnh viện trang bị robot chụp mạch can thiệp.
Hệ thống xét nghiệm tự động hiện đại với công suất 3.600 test/giờ
Theo PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- do đặc thù là bệnh viện tuyến cuối của quân đội và một trong 5 bệnh viện hạng đặc biệt quốc gia, trung bình hiện mỗi ngày Bệnh viện TW Quân đội 108 tiếp nhận khoảng 4.000-5.000 bệnh nhân đến khám. 9 tháng đầu năm nay, bệnh viện đã khám và điều trị cho gần một triệu lượt người.

Bên trong phòng xét nghiệm hiện đại của bệnh viện
Để giảm thời gian chờ đợi của người bệnh và tăng hiệu suất trong khám chữa bệnh, Bệnh viện TW Quân đội 108 đã là cơ sở y tế đầu tiên trong cả nước đưa vào vận hành hai hệ thống vận chuyển bằng khí và băng chuyền. Theo đó, hệ thống vận chuyển bằng khí được sử dụng vận chuyển các mẫu xét nghiệm, thuốc, dụng cụ y tế nặng từ 3 đến 5 kg. Các ống của hệ thống được điều khiển bởi hệ thống máy tính trung tâm dựa trên số liệu của các trạm và có hệ thống dỡ tải tự động.
“Thông thường nhân viên y tế phải đến các khoa phòng để lấy mẫu xét nghiệm thì nay với hệ thống vận chuyển bằng khí và băng chuyền, các mẫu xét nghiệm được chuyển về tận các khoa phòng, giúp giảm sức người, để điều dưỡng chuyên tâm chăm sóc người bệnh”- Phó giám đốc Bệnh viện TW Quân đội 108 thông tin
Còn hệ thống vận chuyển băng chuyển được sử dụng cho vận chuyển đồ sạch và đồ bẩn (vận chuyển khối lượng lớn từ 25 đến 30 kg) được sử dụng cho khu vực trạm y tá của tất cả các khoa lâm sàng; phòng mổ; hồi sức tích cực (ICU); cấp cứu ban đầu; kiểm soát nhiễm khuẩn; kho dược; vật tư tiêu hao... Hệ thống vận chuyển băng chuyền cũng được điều khiển bởi máy tính dựa trên tín hiệu từ các trạm.

Hệ thống vận chuyển bằng khí nén tự động có nhiệm vụ vận chuyển các mẫu xét nghiệm, thuốc, dụng cụ y tế nặng từ 3 đến 5 kg với vận tốc trung bình 5 m/s
Ngoài ra, tại toà nhà mới phục vụ khám chữa bệnh này, Bệnh viện TW Quân đội 108 đã đưa vào sử dụng hệ thống xét nghiệm tự động. Hệ thống băng chuyền vận chuyển ống mẫu với công suất 3.600 mẫu một giờ. Máy xét nghiệm miễn dịch tự động có thể xử lý 600 mẫu xét nghiệm một giờ. Máy xét nghiệm sinh hóa tự động thực hiện 3.600 test một giờ.
“Hệ thống xét nghiệm hoàn toàn tự động từ băng chuyền chuyên vận chuyển ống mẫu xét nghiệm đến các máy xét nghiệm miễn dịch, sinh hóa, huyết học. Hệ thống xét nghiệm tự động này giúp nâng cao chất lượng xét nghiệm, đáp ứng yêu cầu về số lượng xét nghiệm ngày càng tăng, rút ngắn thời gian chờ đợi kết quả của người bệnh”- PGS.TS Phạm Nguyên Sơn nói.
Trang bị hệ thống xạ trị - xạ phẫu đa năng suất liều cao dưới hướng dẫn hình ảnh thời gian thực
Cùng với những trang thiết bị hiện đại đó, cụm tòa nhà trung tâm này cũng được trang bị hệ thống xạ trị - xạ phẫu đa năng suất liều cao dưới hướng dẫn hình ảnh thời gian thực. Đây là hệ thống xạ trị - xạ phẫu tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay có khả năng xạ trị, xạ phẫu với độ chính xác cao và điều trị hiệu quả cho các bệnh ung thư: U não, ung thư đầu- cổ, phổi, vú, gan, tụy, thực quản, trực tràng, tiền liệt tuyến…

Bệnh viện TW Quân đội 108 hiện có 2.000 giường bệnh, tuy nhiên trong điều kiện cần thiết có thể kê được thành 4.000 giường
Theo PGS.TS Phạm Nguyên Sơn- hệ thống này có khả năng thực hiện tất cả các kỹ thuật xạ trị, xạ phẫu: xạ trị điều biến liều; xạ trị cung điều biến thể tích; xạ phẫu, xạ trị lập thể định vị thân; xạ trị, xạ phẫu đồng bộ nhịp thở thời gian thực điều trị các khối u di động (u phổi, u gan).
Ngoài ra, hệ thống Rô-bốt chụp mạch số hóa xóa nền chuyên dụng sẽ giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị trong lĩnh vực can thiệp tim mạch; tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật cho công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo huấn luyện, chuyển giao công nghệ cho đội ngũ bác sỹ trong toàn quân và toàn quốc chuyên ngành can thiệp mạch.
Ngày 17/12, Bệnh viện TW Quân đội 108 sẽ khánh thành tòa nhà trung tâm và đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp.
Cụm tòa nhà Trung tâm được đánh giá là công trình tiêu biểu cùng trang thiết bị y tế hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Công trình góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ của một bệnh viện hạng đặc biệt trong công tác khám, chữa bệnh cho các cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.
Thái Bình
https://suckhoedoisong.vn/co-gi-ben-trong-toa-nha-kham-chua-benh-hien-dai-nhat-viet-nam-n151674.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
