Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

VĂN CAO – MỘT THIÊN TÀI BỊ LƯU ĐẦY





Trần Mạnh Hảo
“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư….”
Trịnh Công Sơn


Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao – người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: Hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: Hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976. (Xin quý bạn đọc vào công cụ tìm kiếm: www.google.com , rồi đánh tên bản nhạc để có thể nghe rất nhiều ca sĩ hàng đầu hát bài: “Mùa xuân đầu tiên” này).

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: Vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều…

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: Ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm…nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ….

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “Có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01- 01 – 1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:

Sau khi bài TIẾN VỀ HÀ NỘI ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng…”

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.”

(trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180)


Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova :

Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.”


Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: Đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn – Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:

Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano – đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.

Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca(1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.

Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói VN, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói VN trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.

Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.”

Nhà thơ NGHIÊM BẰNG THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chính chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm”.

Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng.

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.
Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”…) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “Thề ăn gan uống máu quân thù” … “ đường ta đi xây xác quân thù”…đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: – Tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát…

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”… nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến – một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn – Giai phẩm”…
Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắn tôm, với bạn tâm giao: Nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng…) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con…”…

Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì …”…

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?

Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông…?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn – Giai Phẩm” của đại tá công an A25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào.

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội “Nhân Văn – Giai Phẩm” bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu “Nhân Văn – Giai Phẩm” của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975…

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này…

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy…

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

một mình trong rừng thu

Buồn Tàn Thu

Ai lướt đi ngoài sương gió, Không dừng chân đến em bẽ bàng, Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng, Từ từ xa đường vắng. Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng. Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng. Người ơi còn biết em nhớ mong, Tình xưa còn đó xa xôi lòng. Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề. Áo đan hết rồi, cố quên dáng người, Chàng ngày nào tìm đến? Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần. Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

“Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”…

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu…

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái – Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “ Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”…

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu ? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái – Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon – thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos – thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: Người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:
cảnh chùa lúc hoàng hôn

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền
Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên
Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn
Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác… do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu – Nguyễn – Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức…

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà: 
song_Bach_Yen

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.
Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,
Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
Đây đó từng song the hé đợi đàn.
Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
Hò khoan mơ bóng con đò trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời
Anh Trương Chi
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,
Anh thương nhớ.
Oán trách cuộc từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng.
Gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu.
Thuyền anh đã chìm đâu!
Từng khúc nhạc xa vời
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
Sương thu vừa buông xuống
Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông
Ai qua bến giang đầu tha thiết,
Nghe sông than mối tình Trương Chi
Dâng úa trăng khi về khuya,
Bao tiếng ca ru mùa thu.
Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
Còn nghe như ai nức nở và than,
Trầm vút tiếng gió mưa
Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn
Về phương xa ai nức nở và than,
Cùng với tiếng gió vương,
Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.
Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền,
Ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu
Trách ai khinh nghèo quên nhau,
Đôi lứa bên giang đầu.
Người ra đi với cuộc phân ly,
Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ…Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời .

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương – Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a ?)…

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi – Văn Cao:

Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ ( nhạc sĩ – chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi ...
Sài Gòn ngày 23-01-2013
TRẦN MẠNH HẢO

Nguồn: Kon Tum quê tôi



Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỀ NGHỊ TỔNG CỤC 2 ĐIỀU TRA VÀ LÀM RÕ



Khiêm Phan Nguyễn
16 -11 - 2108

CAO DÁN ... CỔ TỬ CUNG

Trên thị trường đang có bán loại cao này các bác ạ. Đó là miếng dán Quốc Kỳ Vạn Kim, với nền đỏ, chữ vàng, có hình ba người lính... Tóm lại từ màu sắc, hình ảnh, tên sản phẩm đều rất Trung Quốc. Chữ cũng có cả chữ Việt, lẫn chữ Trung Quốc.

Nhìn kỹ thấy hình cột cờ Hà Nội, nên tôi ngờ là sản phẩm của Trung Quốc sản xuất bán sang VN, do nghi ngờ nên đọc kỹ.

Phần giới thiệu "Đối tượng sử dụng" ghi: Thích hợp cho bệnh đau nhức... thoái hóa đốt sống cổ tử cung.

Mặt sau sản phẩm ghi kỹ hơn, cũng nêu rõ là "thoái hóa đốt sống cổ tử cung" kèm theo phần "Những điều cần chú ý" chi chít lỗi chính tả. Có lẽ do người Trung Quốc không thạo tiếng Việt làm ra chăng?

Bao bì lại ghi rõ "Sản phẩm quân sự Việt Nam". Không hiểu sao nữa. Tra kỹ hơn thì nơi sản xuất lại là một Công ty ở thôn An Cơ Bắc, xã Thanh Tân, Kiến Xương, Thái Bình, chuyên sản xuất mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh.

Miếng cao dán này là dược phẩm, đâu phải mỹ phẩm nhỉ? Lại liên quan đến quân đội nữa... Rất khó hiểu. Đề nghị anh em báo chí mảng sức khỏe, dược phẩm, thị trường quan tâm xem sao.
 




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chúng ta trong 1 thế giới đang thay đổi - Vũ Khoan

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2018

Sở – Tề diễn nghĩa


Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Nguyên tác Chu Mộng Long. Kết hợp chính sử và dã sử thời Chiến quốc.
Quản Trọng dụng kế phá núi rừng,
Sở Vương mắc mưu diệt nguyên khí.
Sau khi chinh phục các nước xung quanh, Tề Hoàn Công muốn đánh Sở. Nước Sở ở phía đông, địa thế hiểm trở, lại là nước mạnh trong các nước chư hầu. Sở Vương lâu nay tuy sợ Tề, nhưng cũng đã chính phục được hai nước Sái và Trịnh, lại liên quân với nước Giang, nước Hoàng, thế mạnh đang lên và muốn thoát Tề. Tề Hoàn Công nói:
– Ta muốn hội quân chư hầu đi đánh Sở, nhưng nếu Sở biết ắt phòng bị, khó mà đánh được.
Quản Di Ngô can:
– Đại chiến mười mấy năm trước tại biên giới với Sở, dù gọi là dạy cho Sở một bài học, nhưng ta lại tổn thất quá lớn. Lần này đánh cũng sẽ lưỡng bại câu thương, không chừng lại mang tiếng lấy thịt đè người, các nước cười chê.
Tề Hoàn Công nheo đôi mắt hí nhìn Quản Di Ngô:
– Ngươi có kế gì chăng?
Quản Di Ngô thưa:
– Diễn biến hòa bình. Chọc thủng vào dạ dày, xong gõ thẳng vào đầu nước Sở. Không cần dàn binh đánh trận vẫn lấy được nước Sở trong tay.
Lập tức Quản Di Ngô cho thương gia sang Sở rao giá mua hươu, từ trị giá 2 quan một con lên đến 5 quan một con. Vua quan nước Sở nổi máu tham lập Hội Hươu gồm vua và giới quý tộc đến cả triệu người chuyên đi săn hươu. Nước Sở lâu nay tự hào rừng vàng nhờ bầy hươu rất đông. Núi rừng mênh mông bị chặt phá để săn hươu. Thấy vậy, Quản Di Ngô cho tăng vọt giá từ 5 quan lên đến 10 quan một con. Đội quân săn hươu của Sở Vương càng hăng hái tàn phá rừng. Hàng vạn hecta rừng bị đốn và đốt sạch. Tiền vô như nước. Nhiều quan xây cả biệt phủ trong rừng để săn hươu và nhốt hươu.
Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn Công:
– Nước Sở sắp mất rồi!
Nói đoạn, Quản Di Ngô cho người sang Sở loan truyền mua gỗ quý với giá cao ngất ngưởng. Vậy là một công đôi việc, quan quân nước Sở càng thi nhau vừa chặt phá rừng khai thác gỗ vừa săn hươu. Đến lượt dân thấy vậy cũng bỏ cả ruộng vườn vào núi chặt cây và săn hươu. Mạnh quan quan phá, mạnh dân dân phá, không thể nào kiểm soát nổi.
Sở Vương ra lệnh đóng cửa rừng, nhưng hậu quả là chỉ cấm được dân. Cửa rừng đóng để các quan yên ổn xây biệt phủ ăn chơi hú hí vời đàn hươu ngay giữa rừng phòng hộ.
Mùa mưa năm ấy, lũ quét tràn xuống, bao nhiêu bản làng ngập trong bùn lũ.
Đại phu nước Sở là Tử Văn và Khuất Hoàn thấy tình thế nguy khốn, không chừng mắc mưu Tề. Tử Văn tâu:
– Tiền của ta bây giờ nhiều như nước. Nhưng tiền mà như nước thì nó cũng có thể cuốn trôi cả triều đình. Lòng tham có thể làm chìm đắm cả một cơ đồ.
Khuất Hoàn tiếp lời:
– Quản Di Ngô là người túc kế đa mưu. Không dưng mà ông ta hào phóng trong trò buôn bán đó. Mong chúa công đề phòng.
Sở Vương không tin vì cho rằng tình hình Tề – Sở không có gì mới. Quan hệ giữa hai nước vẫn đang hữu hảo, đôi bên cùng có lợi. Dẫu sao Sở cũng đề phòng. Bán gỗ thì vẫn bán gỗ, săn hươu thì vẫn săn hươu, nhưng vẫn mua vũ khí và dàn binh biên giới để phòng ngự. Tiền nhiều lo gì không đủ mạnh để chống Tề nếu Tề muốn khởi binh đánh Sở.
Quản Di Ngô biết Sở có không ít kẻ tài trí hơn người, bèn dùng tiếp kế gõ vào đầu nước Sở. Triệt tiêu hiền tài, nước Sở mất hết nguyên khí. Nhân lễ mừng thọ, Tề Hoàn Công viết thư mời Sở Vương sang dự yến. Sở Vương nhân cơ hội sang giao hảo để làm kế hoãn binh. Tề Hoàn Công tiếp đãi trọng thể bằng buổi tiệc trà. Sở Vương cầm ly trà tay run bắn nhưng vẫn phải khen:
– Trà nước Tề ngon hơn trà nước Sở.
Xong tiệc, Tề Hoàn Công gửi Sở Vương mang trà về cho Tử Văn và Khuất Hoàn để tỏ lòng mến mộ hiền tài.
Khuất Hoàn uống thứ trà được xem là hảo hạng ấy chưa đến vài hôm thì tự lăn ra mà chết. Tử Văn nghi ngờ không dám dùng trà, lại thấy cái chết của Khuất Hoàn mà kinh hoảng bèn lặng lẽ vứt đi.
Trong lúc thiên hạ dị nghị trà của Tề có độc, Quản Di Ngô cho người sang điều tra cái chết của Khuất Hoàn và kết luận: bệnh suy thoái, tự diễn biến. Sở Vương chỉ tin đó là bệnh lạ bèn ra lệnh chống. Quản Di Ngô cười thầm: Chống cái đầu mày!
Thấy vua Sở vẫn hả hê với tình hữu hảo Sở – Tề, mê tiền hơn cả cơ đồ tiên tổ, mặc dân chúng chết trong bão lũ, Tử Văn vội xin ra khỏi Hội Hươu. Một số đại phu thấy vậy cũng ào ạt tuyên bố ra khỏi Hội. Sở Vương nổi giận ra án lưu đày cả loạt rồi lu loa bọn này đang bị lây nhiễm bệnh tự diễn biến, suy thoái tư tưởng.
Quản Di Ngô nghe tin các đại phu trí tuệ nước Sở đồng loạt ra khỏi Hội Hươu và bị lưu đày, bèn mật kế với Tề Hoàn Công:
– Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Thập niên thọ mộc, bách niên thọ nhân. Mười năm mới trồng được cây lớn, trăm năm mới trồng được người tài. Nay vua Sở chặt cây phá rừng, lại đày đọa hiền tài, vậy là vận mạt đến rồi. Bây giờ Tề có thể xỏ mũi con bò Sở Vương dắt đi đâu cũng được.
Nói đoạn Quản Di Ngô ra lệnh đóng cửa khẩu, dừng nhập hươu và gỗ quý. Lại ra lệnh cấm vận, các nước chư hầu không được bán lương thực cho nước Sở.
Bấy giờ lúa gạo trong nước đắt hơn cả giá hươu và gỗ. Toàn bộ số tiền trong ngân khố phải chi ra để mua lương thực nuôi quân. Chỉ trong vòng một năm, ngân khố cạn kiệt. Triều đình lập các trạm thu giá, vơ vét đủ các loại thuế phí cũng không thể lấp nổi vào ngân khố. Dân tình điêu đứng và thây chết đầy đồng vì lũ lụt, đói khát.
Đúng lúc đó quân Tề ào ạt khởi binh áp sát biên giới. Tề Hoàn Công bắt loa kêu gọi Sở Vương đầu hàng. Sở Vương bủn rủn tay chân, bò đến trước doanh trại quân Tề dâng biểu đầu hàng và mang cả nước Sở dâng cho Tề để kiếm cái ăn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vạc dầu châu Á: Biển Đông và hồi kết của một Thái Bình Dương ổn định Chương I (2)



THẾ LƯỠNG NAN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN



Thế nhưng có thể kiểm soát một cách hữu hiệu xung đột ở biển Đông hay không? Nói cho cùng, đến lúc này luận cứ của tôi giả định rằng các cuộc chiến tranh lớn sẽ không xảy, thay vào đó, các quốc gia sẽ tranh giành nhau từng vị trí một trên biển cả, cùng với đó là những tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau về các nguồn tài nguyên trên biển, thậm chí các quốc gia cũng có thể đồng ý thông qua đàm phán để chia sẻ một cách công bằng các nguồn tài nguyên. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc, bất chấp xu hướng hiện tại, xâm lược Đài Loan? Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam và Trung Quốc – hai quốc gia từng đối đầu nhau từ rất lâu rồi - xảy ra chiến tranh như năm 1979, lần này là với những thứ vũ khí hiện đại hơn? Vì không chỉ có một mình Trung Quốc hiện đại hoá quân đội của mình, các nước ở Đông Nam Á nói chung cũng làm như vậy. Ngân sách quốc phòng của các nước này đã tăng thêm một phần ba trong vòng một thập kỷ, trong khi ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu lại giảm. Tính từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Indonesia, Singapore, và Malaysia gia tăng lần lượt là 84%, 146% và 722%. Chi tiêu này chủ yếu là cho các hệ thống vũ khí trên không và trên biển như tàu chiến, tàu ngầm hay các hệ thống tên lửa hiện đại. Việt Nam gần đây đã bỏ ra 2 tỷ USD để mua 6 tàu ngầm lớp Kilo tiên tiến của Nga và 1 tỷ USD để mua máy bay chiến đấu cũng của Nga. Malaysia xây dựng xong căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo, thậm chí Trung Quốc cũng đang phát triển một căn cứ ngầm có sức chứa lên tới 20 tàu ngầm hạt nhân trên đảo Hải Nam. Trong khi Hoa Kỳ đang bị phân tâm bởi các cuộc chiến trên bộ ở khu vực Đại Trung Đông (Great Middle East), sức mạnh quân sự đang dần dịch chuyển từ châu Âu sang châu Á, nơi mà các tổ hợp công nghiệp liên kết giữa dân sự-quốc phòng mang tính chất hậu công nghiệp đang được xây dựng, tập trung vào sức mạnh hải quân.
Địa chính trị ở biển Đông khá đơn giản, ít nhất là ở một khía cạnh. Thế giới hiện nay không phải là thế giới của các liên minh đế quốc phức tạp, đa cực và luôn dịch chuyển như châu Âu thời trước Thế chiến I. Chỉ có một cường quốc, gọi là bản địa, có khả năng đe doạ ở vùng biển này: Trung Quốc, với những tấm bản đồ của mình, thể hiện tham vọng kiểm soát toàn bộ biển Đông như Hoa Kỳ đã làm với biển Ca-ri-bê trước đây. [Nhưng, nỗi ám ảnh về lãnh thổ của Trung Quốc không phải là vô lý nếu xét tới vị trí địa lý và lịch sử của quốc gia này trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX – cắt].

Toàn bộ vùng biên giới phía bắc của biển Đông được hình thành bởi lục địa Trung Quốc. Thực sự thì vùng bờ biển phía đông của Trung Quốc, từ biên giới Việt Nam ở phía tây cho tới eo biển Đài Loan ở phía đông, là một trong những trung tâm kinh tế và dân cư quan trọng nhất của Trung Quốc, trong đó có tỉnh Quảng Đông và đại đô thị Quảng Châu, tiếp giáp với Hồng Kông. Tiếp đó là đảo Hải Nam, đặc khu kinh tế lớn nhất Trung Quốc, và cũng nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ giàu tài nguyên thiên nhiên, có khả năng ngăn chặn Việt Nam tiếp cận với khu vực biển Đông nằm ngoài Vịnh Bắc Bộ.

Một tấm bản đồ của Trung Quốc cho thấy toàn bộ một nửa vùng bờ biển của nước này là hướng về phía Biển Đông, ở phía nam và một nửa còn lại hướng về phía biển Bột Hải, Hoàng Hải và biển Hoa Đông ở phía đông. Vì vậy, Trung Quốc luôn nhìn về vùng biển ở phía nam, được hình thành theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo phân chia giữa Malaysia và Indonesia, bán đảo Malay phân chia giữa Malaysia và Thái Lan, và vùng bờ biển dài, trông giống như con rắn của Việt Nam – tất cả đều là những quốc gia yếu hơn Trung Quốc. Tương tự như ở Caribê, các quốc đảo nhỏ bị Hoa Kỳ bao quanh, biển Đông cũng sẽ trở thành một đấu trường cho quá trình triển khai sức mạnh của một quốc gia khổng lồ, bao bọc một phần rất lớn khu vực này. Biển Đông cung cấp không gian lý tưởng cho quá trình bành trướng của Trung Quốc, vì hầu hết lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc là từ Trung Đông, sẽ phải đi vào biển Đông, qua các eo biển của Indonesia. Là cầu nối giữa Ấn Độ Dương và vùng biển Tây Thái Bình Dương, biển Đông đóng vai trò là cửa ngõ giúp Trung Quốc tiếp cận với toàn bộ vành đai Hồi giáo, từ sa mạc Sahara cho tới quần đảo Indonesia; tương tự như Caribê trong việc giúp cho vùng bờ đông Hoa Kỳ tiếp cận với Thái Bình Dương, qua việc xây dựng kênh đào Panama, kênh đào này cũng chẳng khác gì eo biển Malacca. Cướp biển và khủng bố đang đe doạ cửa ngõ này, việc này có liên hệ tới những quốc gia yếu kém như Philippines hay Indonesia với một dân số khổng lồ theo đạo Hồi. Địa lý quyết định sự hiện diện mạnh mẽ của hải quân Trung Quốc ở biển Đông, và đó là điều dể hiểu. Kiểm soát hữu hiệu biển Đông sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng hơn trên con đường trở thành cường quốc hải quân trên hai đại dương: Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trung Quốc phải tập trung vào vấn đề Đài Loan và bán đảo Triều Tiên chỉ là do những đe doạ an ninh mang tính nhất thời, nhưng biển Đông lại có vai trò quan trọng, là chìa khoá cho tương lai địa chiến lược của Trung Quốc.

Tuy nhiên, có những lý do sâu xa hơn thúc đẩy Trung Quốc tiến ra biển Đông cũng như hướng ra chuỗi đảo thứ nhất ở Thái Bình Dương: sự “tan rã” từng phần của Trung Quốc bởi các nước phương tây trong lịch sử gần đây, sau hàng ngàn năm nước này được coi như là một cường quốc và một nền văn minh tầm cỡ thế giới. Không nên bỏ qua những sự kiện đã diễn ra Trung Quốc trong suốt 150 năm qua. Nếu bạn không có hiểu biết thật sự sâu sắc về kinh nghiệm lịch sử này của Trung Quốc, bạn sẽ không thể hiểu được một cách toàn diện những điều đang thúc đẩy Trung Quốc hành động ở biển Đông.

Trong thế kỷ XIX, khi triều đại nhà Thanh trở thành “con bệnh” của Đông Á, Trung Quốc đã để mất hầu hết các nước phên dậu ở phía nam bao gồm Nepal hay Miến Điện về tay Đế quốc Anh; Đông Dương vào tay Pháp; Đài Loan, Triều Tiên và quần đảo Sakhalin vào tay Nhật Bản; Mông Cổ, Amuria và Ussuria vào tay Nga. Đến thế kỷ XX thì Đế quốc Nhật xâm lược bán đảo Sơn Đông và vùng Mãn Châu, nằm ngay ở trung tâm của Trung Quốc. Điều này, cộng thêm với các hiệp ước ô nhục mà Trung Quốc ký với nước ngoài, cho phép các quốc gia phương Tây kiểm soát nhiều thành phố khác nhau ở Trung Quốc – hay còn được gọi là các Hiệp ước Cảng (Treaty Ports). Năm 1938, một nhà sử học ở đại học Yale, Jonathan D. Spence, đã viết trong tác phẩm Nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại (The Search for Modern China) rằng chính những biến cố như trên, cùng cuộc nội chiến xảy ra sau đó giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân đảng theo chủ nghĩa quốc gia, khiến cho “lãnh thổ Trung Quốc, vốn là một đế quốc thống nhất dưới triều đại nhà Thanh đã bị chia ra thành 10 mảnh khác nhau”. Có một nỗi sợ âm ỉ rằng “Trung Quốc sẽ bị phân liệt, và sẽ không còn tồn tại như một quốc gia, và lịch sử hơn 4.000 năm rốt cục cũng sẽ chấm dứt.” Một nỗi sợ hãi đi kèm là Trung Quốc sẽ quay trở lại với tình trạng của thời kỳ Chiến quốc, thế kỷ III TCN; hay là thời kỳ mà “chính quyền và các liên minh thay đổi liên tục, trở thành đặc điểm điển hình trong lịch sử Trung Quốc” từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, và lặp lại một lần nữa từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII. Trung Quốc, đã vượt qua những cơn ác mộng đó, đã đạt được đỉnh cao về sức mạnh trên bộ và ổn định lãnh thổ chưa từng có, kể từ triều đại nhà Minh thế kỷ XVI và triều đại nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII, hiện tại đang cố gắng vươn ra biển để bảo vệ các tuyến đường hàng hải của mình tới Trung Đông và đảm bảo quyền lợi kinh tế của một dân tộc đông người. Sự thôi thúc phải mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc là tuyên bố nói rằng nước này sẽ không bao giờ để cho nước ngoài chiếm thế thượng phong, như họ đã phải chịu đựng suốt hai thế kỷ trước.


Đề tìm cách đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc tại Đông Nam Á, chúng ta phải xem xét cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam đôi lúc vẫn được người ta so sánh với cuộc phiêu lưu thất bại tới Sicily của người Athens cuối thế kỷ V TCN, được mô tả trong cuốn sách thứ 7 của Thycidides Cuộc chiến tranh Peloponnesia (Peloponnesia War). Mười bốn năm là thời gian kể từ khi người Athens xâm nhập Silicy lần đầu tiên cho tới thảm hoạ cuối cùng của họ tại đó: tương tự như khoảng thời gian kể từ khi chính quyền John F. Kennedy đưa quân vào Việt Nam cho tới tuyên bố rút quân của Tổng thống Gerald Ford. Hoa Kỳ đã bị đồng minh ở Việt Nam của mình lôi kéo vào cuộc chiến nằm cách nửa vòng trái đất, [vì đồng minh bị lực lượng cộng sản tấn công – cắt], hệt như Athens bị lôi vào các cuộc chiến giữa đồng minh của mình và đối thủ của họ ở Sicily, vốn trung thành với Syracuse, kẻ thủ của Athens, mà Syracuse lại cũng là đồng minh của Sparta. Ban đầu chính quyền Kennedy đưa tới Việt Nam Lực lượng Đặc biệt có giới hạn, cam kết này sau đó đã gia tăng dưới thời Lyndon Johnson và lên đến nửa triệu quân chính quy. Điều này cũng tương tự như việc Athens bắt đầu can thiệp vào Sicily ban đầu với 20 chiến thuyền nhằm hỗ trợ cho liên minh chống Syracuse, nhưng sau đó đã nhanh chóng gia tăng tới 100 tàu chiến, rất nhiều tàu vận tải cũng như 5.000 lính hoplites (lính trang bị nặng với khiên và giáo dài – ND), vì thế có thể cho rằng toàn bộ danh tiếng của đế quốc hàng hải Athens sẽ phụ thuộc vào chiến thắng quân sự tại hòn đảo Sicily xa xôi. Athens tiếp tục đổ thêm quân. Cuộc phiêu lưu quân sự tại Sicily kết thúc với việc 40.000 lính Athens tử trận, 6.000 người sống sót bị bắt làm việc ở các mỏ đá của Syracuse hay bị bán làm nô lệ. Quá trình can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam kết thúc với việc quân đội miển Bắc Việt Nam chiếm được miền Nam, và người Mỹ cuối cùng tháo chạy bằng trực thăng từ mái nhà của Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

Toàn bộ quốc gia gần như bị tê liệt bởi sự bi quan và giới tinh hoa liên tục đỗ lỗi cho nhau về thất bại tại Sicily, và cũng cần phải mất một khoảng thời gian trước khi Athens có thể hồi phục và lại tích cực tham gia vào thế đối đầu lưỡng cực với Sparta. Sau cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ cũng trải qua hàng loạt khủng hoảng về niềm tin theo, đã lưỡng lự khi Liên Xô và đồng minh đe doạ các đồng minh của Hoa Kỳ cũng như lật đổ hàng loạt chế độ tại Nicaragua, Angola, Ethiopia, và Afghanistan. Hiện nay, số phận của Việt Nam lại một lần nữa giao nhau với số phận của Hoa Kỳ. Một lần nữa người Việt Nam lại yêu cầu người Mỹ giúp đỡ. Lần này cái cớ được đưa ra khá tế nhị và lặng lẽ, và cũng không yêu cầu các đơn vị bộ binh. Lần này họ không yêu cầu nước Mỹ tham gia đánh nhau: họ chỉ muốn Mỹ duy trì cân bằng quyền lực. Việt Nam muốn Hoa Kỳ hiện diện mạnh mẽ hơn về mặt hải quân và không quân ở biển Đông trong những thập kỷ tới. Việt Nam với số phận của mình, [dù là một quốc gia nửa phụ thuộc vào Trung Quốc hay một quốc gia cố gắng kháng cự mạnh mẽ bá quyền của Trung Quốc – cắt] cho chúng ta thấy ví dụ rõ ràng về một thế giới nhiều rủi ro một khi Hoa Kỳ yếu đi; hay nếu như Hoa Kỳ trở lại thời kỳ chủ nghĩa bán-biệt lập hoặc hướng sự chú ý của mình tới một nơi nào khác.

Kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, chúng ta biết như thế. Nhưng khả năng suy giảm của Hoa Kỳ, hay ít nhất là khả năng rút một phần các lực lượng quân sự ở các nơi khác trên thế giới về nước, cũng nên được xem xét. Nền kinh tế Hoa Kỳ đang trên đà hồi phục sau khủng hoảng kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ Đại Suy thoái. Trong khi đó, giá thành của các hệ thống vũ khí cho không quân và hải quân lại đang ngày càng trở nên đắt đỏ và khó tiếp cận hơn. Giá của một tàu sân bay lớp Gerald R. Ford là 12 tỷ USD, chưa kể máy bay hay các thiết bị khác. Giá của một khu trục hạm lớp Zumwalt mới nhất là gần 4 tỷ USD. Máy bay chiến đấu F-22 Raptor cũng có giá 200 triệu USD một chiếc, còn F-35 là 135 triệu USD. Bên cạnh yếu tố chi phí cho quá trình triển lực lượng trên toàn thế giới – đặc biệt là ở Đông Á – công chúng Hoa Kỳ cũng như một số giới tinh hoa chính trị và đối ngoại có ảnh hưởng ở Washington đã cảm thấy thực sự mệt mỏi về vai trò toàn cầu mang tính đế quốc chủ nghĩa, theo sau những chi phí quá lớn về mặt nhân lực, uy tín ngoại giao và tiền bạc cho các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Chiến tranh Iraq, một cuộc phiêu liêu quân sự xa xôi giống như ở Việt Nam, dù không kết thúc một cách ô nhục hay cái giá phải trả về nhân mạng như thế, nhưng vẫn có thể so sánh với cuộc chiến ở Sicily của Athens. Liệu Hoa Kỳ có đánh mất sự tự tin của mình ở châu Á, như đã từng xảy ra sau cuộc chiến Việt Nam, hay như Athens sau cuộc phiêu lưu thất bại ở Sicily hay không?

Theo sau chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Lạnh với Liên Xô, đối thủ chính, đã giữ cho Hoa Kỳ tiếp tục tham dự vào công việc của thế giới. Nhưng, hiện nay, các mối đe doạ mơ hồ hơn. Ví dụ, sức mạnh nguy hiểm nhất ở biển Đông, Trung Quốc. Trong khi thế kỷ ô nhục (century of humiliation) dưới bàn tay của phương Tây “là giai đoạn bị acid đục thủng trên những trang sách giáo khoa của học sinh hiện nay”, như nhà sử học Piers Brendon, thuộc Đại học Cambridge, viết, “người Trung Quốc không hẳn là tù nhân của lịch sử, họ có những lý do quan trọng về mặt kinh tế để tìm kiếm sự đồng hành cùng có lợi với Hoa Kỳ”. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Lập luận phản bác hay nhất chống lại Brendon được John Mearsheimer đưa ra trong tác phẩm Bi kịch của chính trị đại cường (The Tragedy of Great Power Politics). Ông giải thích rằng vì hệ thống quốc tế là vô chính phủ, không có người chịu trách nhiệm – không có người canh gác cho thế giới – để đảm bảo luật lệ được thực thi, thực sự không có nhiều cường quốc đúng nghĩa: mục đích của mỗi cường quốc – dù dân chủ hay không, thì các đặc trưng nội tại của chúng không có nhiều khác biệt – “là để tối đa hoá phần của mình trong hệ thống quyền lực quốc tế,” và vì thế “các quốc gia đặc biệt hùng mạnh sẽ theo đuổi bá quyền khu vực”. Hàm ý ở đây là Trung Quốc sẽ theo đuổi bá quyền khu vực như là một xu hướng tất yếu, bất chấp việc hệ thống chính trị của quốc gia này có trở nên cởi mở hơn hay không. Một nền kinh tế phát triển chậm lại của Trung Quốc sẽ chỉ làm cho quốc gia này trở nên dân tộc chủ nghĩa hơn mà thôi.

Trên thực tế, cả Brendon và Mearsheimer đều có thể đúng. Trung Quốc dường như vừa mong muốn “cùng chung sống” với Hoa Kỳ, lại vừa muốn làm bá chủ khu vực. Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng một lực lượng hải quân viễn dương, cùng với không quân và tên lửa đi kèm. Các vũ khí thiết bị này sẽ tập trung chủ yếu ở biển Đông, nếu kiểm soát được khu vực sẽ giúp Trung Quốc khẳng định được bá quyền. Đồng thời, Bắc Kinh sẽ làm việc không ngừng nghỉ nhằm theo đuổi các mối quan hệ kinh tế và chính trị tốt đẹp với Washington. Washington, đến lượt mình, sẽ chống lại các bước đi của Bắc Kinh nhằm thống trị khu vực, thậm chí ngay cả khi Hoa Kỳ hợp tác với Trung Quốc trong nhiều vấn đề khác nhau. Biển Đông, cũng như biển Hoa Đông hay bán đảo Triều Tiên, sẽ là vũ đài trung tâm cho mối quan hệ căng thẳng và mâu thuẫn này. Con đường trở thành bá chủ bán đảo Triều Tiên của Trung Quốc – vì sự bất định xung quanh tương lai của Triều Tiên – là khó khăn và hoàn toàn không rõ ràng nếu so sánh với biển Đông, nơi mà Trung Quốc chỉ phải đối mặt với một khối các quốc gia tương đối yếu và bị chia rẻ, trong đó mạnh nhất là Việt Nam. Vì thế biển Đông, hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, một lần nữa lại là ví dụ cho cái giá của sự suy giảm sức mạnh của Hoa Kỳ, hay thậm chí là việc rút một phần lực lượng của Mỹ khỏi các căn cứ quân sự. Biển Đông cho thấy rõ Hoa Kỳ có thể cung cấp cái gì cho thế giới khi nó đang gặp rủi ro, đồng thời cũng cho thấy điều tồi tệ nào có thể xảy ra với thế giới, xét về phương diện không quân và hải quân, khi thế giới trở nên thực sự đa cực.

Bời vì Hoa Kỳ đang thống trị Tây bán cầu, và cũng có dư sức mạnh để cân bằng quyền lực ở Đông bán cầu, cho nên Hoa Kỳ không chỉ gìn giữ hoà bình (mặc dù đâu đó vẫn xuất hiện các cuộc chiến tranh nhỏ) mà còn bảo vệ các tài sản chung mang tính toàn cầu, ở đây là các tuyền đường hàng hải tạo điều kiện cho thương mại quốc tế. Nếu không có các lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ, toàn cầu hoá như chúng ta biết hiện nay là bất khả thi. Sự kiện là Nga vẫn đang mắc kẹt trong những nỗ lực nhằm xâm phạm chủ quyền của các quốc gia ở Đông và Trung Âu; sự kiện là Trung Đông cho tới nay ít nhất là đã tránh được những cuộc thảm sát theo kiểu Holocaust; sự kiện là Ấn Độ và Pakistan đã không xảy ra chiến tranh tổng lực trong hàng thập kỷ, và cũng chưa bao giờ sử dụng kho vũ khí hạt nhân của mình; sự kiện là Bắc Triều Tiên gần như đe doạ tấn công tổng lực Hàn Quốc và Nhật Bản nhưng chưa bao giờ dám thực sự làm như vậy; tất cả phần lớn đều là do chiếc ô an ninh toàn cầu của Hoa Kỳ. Những quốc gia nhỏ và dễ bị tổn thương như Israel hay Grudia có thể tồn tại được là do các hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ. Chính nhờ các lực lượng không quân và hải quân được triển khai trên khắp thế giới mà nền ngoại giao Hoa Kỳ mới có sức mạnh như hiện nay và sử dụng sức mạnh này để ủng hộ dân chủ cũng như những xã hội tự do hơn trên toàn thế giới. Quá trình cắt giảm sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của Hoa Kỳ sẽ làm cho thế giới – đặc biệt là biển Đông – trở thành khác hẳn hiện nay.

Hoa Kỳ đang cố gắng buộc Trung Quốc phải trung thực: bằng việc hạn chế thái độ quá khích của Trung Quốc dựa vào những tấm bản đồ của họ, buộc giới ngoại giao và hải quân của Trung Quốc phải hành động một cách phù hợp về mặt pháp lý. Điều này không có nghĩa là các hành động của Hoa Kỳ là hoàn toàn trong sạch và Trung Quốc là côn đồ. Ví dụ, Hoa Kỳ thường xuyên tiến hành các hoạt động do thám Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương nhưng họ sẽ khó chấp nhận nếu bị một cường quốc đối thủ nào đó như thế gần vùng biển của mình. Không phải những giá trị dân chủ của Hoa Kỳ, mà sức mạnh nhằm đối đầu với Trung Quốc mới mang lại nhiều lợi ích hơn cho các quốc gia ở biển Đông. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã giữ cho Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore được tự do. Và bên trong môi trường tự do đó, chủ nghĩa khu vực, dưới vỏ bọc là ASEAN, có thể trỗi dậy như là một quyền lực riêng. Dù sao, quyền tự do đó không phải là do tạo hoá ban cho. Vì cuộc đối đầu có phần gay gắt vẫn đang tiếp diễn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc – mà thế bế tắc đã tạo ra một loạt các vấn đề phức tạp, từ chiến tranh mạng cho tới chiến tranh thương mại, từ cải cách tiền tệ cho tới theo dõi tiềm lực quân sự của nhau – có khả năng đang dần nghiêng về phía Bắc Kinh do sự phát triển kinh tế quá nhanh chóng của nước này (thậm chí ngay cả khi tăng trưởng đã suy giảm), cùng với là lợi là Trung Quốc nằm ở trung tâm của Đông Á và Tây Thái Bình Dương.

Andrew F. Krepinevich, giám đốc Trung tâm phân tích Chiến lược và Ngân sách (Center for Strategic and Budgetary Assessment - CSBA) ở Washington, tin rằng các quốc gia ở khu vực Tây Thái Bình Dương đang dần dần bị “Phần Lan hoá” bởi Trung Quốc, có nghĩa rằng các nước này sẽ duy trì được độc lập trên danh nghĩa, nhưng cuối cùng vẫn sẽ đi theo các quy tắc đối ngoại do Bắc Kinh thiết lập. Ông chỉ ra rằng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) coi mạng lưới chiến tranh của Hoa Kỳ - “dựa chủ yếu vào các vệ tinh và mạng Internet để định vị mục tiêu, phối hợp tấn công, dẫn hướng cho các loại bom thông minh và nhiều nhiệm vụ khác” – như là gót chân Achilles của Hoa Kỳ. Người Trung Quốc, cũng theo Andrew, năm 2007 đã thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh, và cũng được cho là đã sử dụng laser để làm mù tạm thời các vệ tinh của Hoa Kỳ, cũng như đã tiến hành tấn công trên không gian mạng vào các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trong suốt nhiều năm qua. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có nhiều loại tên lửa đối hạm, tên lửa đạn đạo và các vũ khí chống xâm nhập/chống tiếp cận khác, có khả năng được sử dụng nhằm kiềm chế các căn cứ quân sự tiền phương của Hoa Kỳ ở châu Á. Theo Mark Helprin, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Claremont ở California (Claremont Institute), “Trung Quốc đang sở hữu khả năng tốt nhất của mình” trong việc dùng các vệ tinh thông thường cũng như nhiều loại vệ tinh nhỏ hơn, hay mạng lưới các hệ thống định vị tín hiệu theo thời gian thực trên không, trên bộ cũng như dưới mặt biển để định hướng 1.500 tên lửa đạn đạo tầm ngắn” có thể tấn công các tàu sân bay của Hoa Kỳ. Mục tiêu không phải là gây chiến, mà là để sắp xếp lại lực lượng sao cho, Đài Loan và thậm chí là cả khu vực Tây Thái Bình Dương, ngày càng không còn tin rằng lực lượng quân sự Hoa Kỳ có đủ khả năng để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Mất tín nhiệm sẽ làm cho các liên minh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương suy yếu. Thực vậy, quá trình Phần Lan hoá Đông Nam Á có thể là mảng tối trong thế giới đa cực về mặt quân sự.

Đa cực về quân sự thực sự sẽ có lợi cho quốc gia có vị thế địa chính trị trung tâm ở khu vực mà ta đang nói tới: cụ thể là Trung Quốc ở khu vực Đông Á. Nếu vị thế quân sự là tương đương nhau, thì địa lý và dân số sẽ tạo ra lợi thế. Nói cách khác, một châu Á đa cực xét về mặt quân sự sẽ là một châu Á bị Trung Quốc thống trị. Và sự thống trị của Trung Quốc ở châu Á sẽ khác hoàn toàn với sự thống trị của Hoa Kỳ. Vì Trung Quốc không nằm cách khu vực này nửa vòng trái đất, mà trên thực tế là người tổ chức về kinh tế, dân số và địa lý của cả khu vực, sự thống trị của Trung Quốc đương nhiên là sẽ có tính áp đảo hơn hẳn. Đó là còn chưa nói tới chế độ [chuyên chế -cắt] của Trung Quốc, mặc dù không khắc nghiệt như nhiều chính thể độc tài khác – và có trình độ hơn hẳn đa số các chính thể độc tài - nhưng vẫn không thể mềm mỏng như mô hình cai trị của Hoa Kỳ, đến lượt nó mô hình này phần nào quyết định phong cách đế quốc của nước Mỹ.

Nhưng, không được nhầm lẫn giữa hệ thống đa cực quân sự với cân bằng quyền lực. Vì cân bằng quyền lực ở châu Á đòi hỏi sự vượt trội về quân sự của Hoa Kỳ nhằm bù đắp cho các ưu thế về mặt địa lý, dân số và kinh tế của Trung Quốc. Điều này cũng không nhất thiết có nghĩa là ưu thế quân sự của Hoa Kỳ đang suy giảm nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây. Trên thực tế, uy thế quân sự của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á có thể chống đỡ được quá trình suy giảm này, ngay cả khi có sự cắt giảm ngân sách trong tương lai, một khi các lợi thế rõ ràng của Hoa Kỳ so với quân đội Trung Quốc trong những lĩnh vực quan trọng vẫn được duy trì. Chính yếu tố này sẽ giúp duy trì cân bằng quyền lực.

Hệ thống đa cực hoạt động ổn thoả về mặt ngoại giao và kinh tế. Rõ ràng là vị thế của Hoa Kỳ ở châu Á cuối cùng sẽ dựa nhiều vào sự sẵn sàng tham gia vào các mối quan hệ thương mại tự do mới hay tham gia “hoàn toàn” vào các thể chế kinh tế đa phương ở khu vực, vì Đông Á là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế thế giới. Chỉ khi tự thâm nhập sâu hơn vào nền thương mại khu vực thì Hoa Kỳ mới có đủ lợi ích để tiếp tục bảo vệ các tuyến đường hàng hải quan trọng ở Tây Thái Bình Dương. Thế nhưng hệ thống đa cực hoàn toàn trong tất cả lĩnh vực sẽ biến Biển Đông thành Caribê của Trung Quốc và đến lượt nó đặt Trung Quốc vào vị thế kẻ thống trị ở cả Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trong hệ thống thương mại Á-Âu, chủ yếu là hàng hải, việc Trung Quốc là người dẫn đầu có thể được chấp nhận, với điều kiện là hải quân Hoa Kỳ vẫn hiện diện trong vai trò cân bằng cán cân quyền lực.


Kết luận toàn diện nhất về khung cảnh địa chính trị mới ở châu Á không phải đến từ Washington hay Bắc Kinh, mà là từ Canberra. Trong một bài viết dài 71 trang nhan đề Chuyển dịch quyền lực: Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh (Power Shift: Australia’s Future between Washington and Beijing), Giáo sư Hugh White, chuyên gia về chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia (Australian National University) và là một cựu nhân viên phân tích tình báo của chính phủ, đã mô tả đất nước ông như là một cường quốc muốn giữ “nguyên trạng”: một quốc gia đang hết sức muốn châu Á giữ nguyên hiện trạng, với việc Trung Quốc đang tiếp tục tăng trưởng, để Australia có thể buôn bán ngày càng nhiều hơn với nước này, và nước Mỹ vẫn tiếp tục là “siêu cường mạnh nhất ở châu Á,” trở thành “người bảo vệ cuối cùng” của Australia. Nhưng như White nói, vấn đề ở đây là hai việc trên không thể xảy ra cùng một lúc. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về mặt kinh tế mà không thay đổi về mặt chính trị và chiến lược. Cụ thể, nếu Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng kinh tế như dự báo (cho dù với một tốc độ thấp hơn nhiều), thì quốc gia này sẽ thay thế Hoa Kỳ để trở thành quốc gia thịnh vượng nhất (không phải theo thu nhập bình quân đầu người), và theo lẽ tự nhiên, sẽ không hài lòng với sự thống trị về mặt quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á.

Giáo sư White nhận xét rằng, cái được cho là đã tạo ra hàng thập kỷ tràn đầy hạnh phúc ở châu Á - những thứ mà chúng ta cho là hiển nhiên - thực chất là một “phần của chiến lược ngoại giao tuyệt vời” mà Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger là kiến trúc sư. Nixon và Kissinger tới Bắc Kinh vào năm 1972 để ký thoả thuận với lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, theo đó “Nước Mỹ sẽ thôi công nhận chính phủ dân quốc ở Đài Loan là chính phủ đại diện cho toàn Trung Quốc…Đổi lại, Trung Quốc chấm dứt cạnh tranh với Hoa Kỳ ở châu Á và ngừng ủng hộ những cuộc nổi dậy của cộng sản ở khu vực [ít nhất với một mức độ tương đương nhau]”. Trung Quốc cũng được Hoa Kỳ bảo vệ trong cuộc đấu tranh chống lại Liên Xô, cũng như bảo đảm chống lại nước Nhật đang trỗi dậy về kinh tế. Điều này đã giúp cho Trung Quốc trong một vài năm sau đó có đủ môi trường an ninh để tự do hoá nền kinh tế, tạo ra lợi ích to lớn cho toàn thể khu vực. Hoà bình đã nằm trong tầm tay, và hiện nay các quốc gia ở Đông Nam Á – những quốc gia “bị bỏ mặc” trước đây – sẽ bùng nổ về mặt kinh tế.

Việc Trung Quốc, dưới thời Đặng Tiểu Bình, từ bỏ mô hình kinh tế Marxist vào năm 1979 đã tạo điều kiện cho quốc gia này hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, tuy có trễ hơn phương Tây gần một thế kỷ. Một khi đã làm như thế, dân số khổng lồ của Trung Quốc đảm bảo cho đất nước trở thành một trong những nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, làm cho môi trường an ninh ở châu Á hiện nay hoàn toàn khác so với một môi trường có phần hoà bình mà Nixon và Kissinger đã tạo dựng.

Vậy, hiện nay Trung Quốc muốn gì? White thừa nhận rằng Trung Quốc có thể mong muốn một đế quốc kiểu mới tại châu Á, tương tự như những thứ mà Hoa Kỳ đã gây dựng ở Tây Bán Cầu, như Washington đã từng đảm bảo được sự thống trị của mình ở Caribê (Trung Quốc tin rằng họ phải thống trị ở biển Đông). Đế quốc kiểu mới này ở Tây Bán Cầu, theo lời White, có nghĩa là các lân bang của Hoa Kỳ sẽ “không ít thì nhiều có thể tự điều hành quốc gia của họ”, thậm chí Washington còn khẳng định rằng các quan điểm của mình đã “hoàn toàn được thừa nhận” và đã đi trước “tất cả các quốc gia khác ở bên ngoài Tây Bán Cầu”. Rắc rối của mô hình này là Nhật Bản, nước này sẽ không chấp nhận bá quyền của Trung Quốc, dù là bá quyền mềm mỏng đến đâu. Còn lại là mô hình “Cân bằng quyền lực ở châu Âu” (Concert of Europe) thế kỷ XIX, trong đó, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ hay có lẽ thêm một hoặc hai quốc gia khác sẽ là đóng vai trò cân bằng lẫn nhau tại châu Á. Nhưng, hiện nay, câu hỏi đặt ra là liệu Hoa Kỳ có chấp nhân mô hình này hay không vì Washington liên kết sự ổn định và thịnh vượng của châu Á với uy thế của chính mình. White cho rằng trước một Trung Quốc đang ngóc đầu dậy, từ đây trở đi sự thống trị của Hoa Kỳ có thể đồng nghĩa với một châu Á bất ổn. Sự thống trị của Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên khái niệm cho rằng vì Trung Quốc là nhà nước toàn trị, nên quốc gia này sẽ hành động một cách “không thể chấp nhận được ở bên ngoài.” Nhưng White cho rằng lập luận đó có thể không đúng.

Nói cách khác, trong tương lai, Hoa Kỳ chứ không phải Trung Quốc mới chính là vấn đề. Chúng ta, đặc biệt là giới trí thức và phóng viên, dường như đang quan tâm một cách thái quá về bản chất nội tại của chế độ ở Trung Quốc. Nhưng chế độ đó có thể dễ dàng hành động một cách cứng rắn ở trong nước, nhưng đồng thời vẫn rất có trách nhiệm ở nước ngoài – một lý do nữa giải thích vì sao sự trỗi dậy của châu Á có thể xa lạ với những người theo chủ nghĩa văn thuộc mọi thành phần. Như tôi đã nói, mục tiêu của Hoa Kỳ phải là cân bằng, chứ không phải thống trị. Trong mọi trường hợp, bởi vì trong vòng bốn thập kỷ tới, châu Á sẽ có thể trở nên kém an ninh hơn bốn thập kỷ trước đây, White cho rằng Australia có thể sẽ phải “chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng và xây dựng một lực lượng quân sự có năng lực hơn”. Điều tương tự cũng đúng đối với tất cả các quốc gia ở châu Á. Biển cả sẽ đầy các loại vũ khí.


Sức mạnh hải quân được sử dụng vào việc gì? Trong nửa đầu thế kỷ XXI, Biển Đông có thể trả lời cho công chúng Hoa Kỳ câu hỏi này. Trong một thời gian dài hải quân Hoa Kỳ đã tìm cách giải thích các nhiệm vụ của mình cho công chúng: tại sao hải quân lại chi hàng trăm tỷ USD để mua hàng trăm tàu chiến mà người dân bình thường chưa bao giờ thấy – trừ khi họ sống gần căn cứ quân sự - hay thậm chí chỉ được đọc trên các tờ báo. Trong thập kỷ trước, có rất nhiều bài báo viết về lục quân tham gia vào những cuộc chiến tranh như ở Afghanistan hay Iraq. Những thử thách hay khổ cực mà lục quân phải chịu đựng ám ảnh giới truyền thông: lực lượng thuỷ quân lục chiến cũng vậy, vốn được xây dựng để thực hiện các nhiệm vụ đổ bộ đường biển, nay đã trở thành một lực lượng tham gia vào các cuộc chiến tranh trên bộ tại Trung Đông. Nhưng mọi chuyện có thể thay đổi khi hai cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq kết thúc, và quá trình trỗi dậy liên tục của Trung Quốc làm cho môi trường an ninh Đông Á trở thành khác trước và ít ổn định hơn. Và bởi vì châu Á chủ yếu là không gian hàng hải, điều này sẽ giúp cho hải quân Hoa Kỳ tìm được các sứ mệnh hấp dẫn mà lực lượng này dường như còn thiếu. Nhưng câu hỏi là, liệu sứ mệnh ấy có xuất hiện đúng lúc nhằm giúp các quốc gia ở Biển Đông – trung tâm hàng hải của Đông Á – không bị Phần Lan hoá hay không? John Morgan, phó Đô đốc hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, lo ngại rằng nước Mỹ, với các khoản cắt giảm về mặt ngân sách quốc phòng sắp tới, sẽ vướng phải “sai lầm lớn về mặt hàng hải.” Đó chính là việc lực lượng hải quân Hoa Kỳ bị cắt giảm đúng vào thời điểm lịch sử, khi mà thế giới đang cần sức mạnh hải quân đó cân bằng quyền lực, giúp các quốc gia như Đài Loan hay Việt Nam được tự do. Việc giúp Việt Nam phòng thủ về mặt quân sự không được công chúng ưa thích, đặc biệt khi nhắc tới lịch sử của Hoa Kỳ với Việt Nam trong thế kỷ XX. Nhưng chính tự do sẽ là thứ mà một quốc gia như Việt Nam sẽ đưa lên thành biểu tượng, và điều này là quan trọng cho tương lai của chính nước Mỹ. Một lần nữa, không chỉ có các giá trị của chúng ta mới quan trọng, mà quan trọng là sức mạnh quân sự có khả năng hỗ trợ cho các giá trị ấy.

Đúng là, trong các vấn đề quốc tế, đằng sau mọi vấn đề về đạo đức chính là vấn đề quyền lực. Can thiệp nhân đạo ở Balkans vào những năm 1990 xảy ra là do chính quyền Serbia không phải là một cường quốc có vũ khí hạt nhân, khác với chính quyền Nga, trong cùng thời điểm đó đã vi phạm tội ác quy mô lớn như thế ở Chechnya và phương Tây đã không có bất kỳ phản ứng nào; cũng như phương Tây đã không làm gì để chống lại các vụ thanh trừng sắc tộc ở Caucasus do khu vực đó thuộc ảnh hưởng của Nga. Ở Tây Thái Bình dương trong những thập kỷ tới, đạo đức trong trường hợp này có nghĩa là từ bỏ một số giá trị tốt đẹp nhất của chúng ta để đổi lấy ổn định. Chúng ta sẽ phải làm như thế nào để chừa chỗ cho một nước Trung Quốc bán chuyên chế, trong khi năng lực quân sự của nó tăng lên? (nếu nước này không bị sụp đổ về xã hội và kinh tế ngay từ bên trong thì lực lượng quân sự của họ sẽ tiếp tục bành trướng). Vì tự thân cân bằng quyền lực còn là công cụ duy trì dự do tốt hơn cả các giá trị tự do của phương Tây. Đó cũng sẽ là một bài học của biển Đông trong thế kỷ XXI – điều mà những người theo chủ nghĩa nhân văn không bao giờ muốn chấp nhận.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ổ cờ bạc trên mạng tại Hà Nội là ‘cơ sở của Bộ Công An’


"Trong mấy phiên xử trước, người ta thấy các báo tại Việt Nam đưa tin không những hai ông tướng được hưởng những tình tiết “giảm nhẹ” và cả các ông trùm và những kẻ cầm đầu hệ thống cờ bạc trên mạng không bị truy tố tội danh hối lộ. Nhiều ưu đãi của tòa án dành cho vụ án đặc biệt nghiêm trọng dính tới tướng tá công an. Nguyễn Văn Dương đã khai là nộp cho hai ông tướng công an những số tiền rất lớn nhưng lại không bị truy tố tội danh hối lộ, như thế, sẽ không có tội danh nhận hối lộ đối với tướng Vĩnh, tướng Hóa. Phiên xử vẫn còn tiếp tục trong những ngày sắp tới nhưng nhiều người cho rằng các ông tướng công an và cả hai ông trùm sẽ có thể chỉ bị “giơ cao đánh khẽ”.

Hai ông trùm cờ bạc trên mạng nói nhờ làm công ty bình phong cho Công an nên yên ổn kinh doanh, lợi nhuận kiếm gần chục ngàn tỉ đồng trong khi gây đại họa cho xã hội. Trong phiên tòa tiếp diễn ở Phú Thọ với lời khai tiếp tục của các nghi can, lần đầu tiên, người ta được nghe lời khai của hai ông trùm cờ bạc trên mạng Phan Sào Nam và Nguyễn Văn Dương về mối quan hệ giữa họ với hai tướng công an Phan Văn Vĩnh (nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát) và Nguyễn Thanh Hóa (nguyên cục trưởng Cục phòng chống tội phạm công nghệ cao của bộ Công an CSVN), cũng như những số tiến nhờ đó mà kiếm được trong khoảng thời gian 28 tháng.

Nguyễn Văn Dương bị dẫn giải vào phòng xử án. (Hình: Tuổi Trẻ)
Theo tờ Tuổi Trẻ tường thuật, ông trùm Nguyễn Văn Dương (con rể của nguyên ủy viên bộ chính trị Phạm Quang Nghị) khai hôm Thứ Hai 19/11 là trụ sở chính của họ điều hành tổ chức cờ bạc trên mạng tại Hà Nội cũng là cơ sở của Bộ Công An. Nơi đây, Cục trưởng Cục C50 Nguyễn Thanh Hóa có phòng làm việc tại đây. Điều này chứng tỏ hoạt động điều hành hệ thống cờ bạc trên mạng, ông trùm “Cục C50” dính trực tiếp.

Buổi sáng ngày Thứ Hai, ông trùm Phan Sào Nam, nguyên giám đốc Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến, khai anh ta quen biết với Nguyễn Văn Dương từ năm 2015, được Dương cho biết đang ôm một công ty bình phong của Cục C50.

Nam có một số game cờ bạc “chất lượng cao” nhưng khó khăn xin cấp giấy phép và Dương nhận lời hợp tác để ăn chia, dựa vào cái bình phong là công ty CNC mà Dương cầm đầu. Dương khai vẫn báo cáo các hoạt động của CNC cho tướng Hóa nên người ta hiểu rằng, tướng Hóa đã “chỉ đường cho hươu chạy” nên đã kiếm ăn được một thời gian dài. Buổi chiều, tới lần Nguyễn Văn Dương khai thì xác nhận lại những điều Phan Sào Nam khai buổi sáng là đúng.

Theo tờ Tuổi Trẻ, khai về quá trình thành lập công ty CNC, Dương cho biết người giới thiệu mình với Bộ Công an là tướng Phạm Quý Ngọ, nguyên thứ trưởng bộ Công an nay đã chết vì ung thư.

Trong phiên xử, Phan Sào Nam nói đã vừa nộp lại tiền mặt 1,088 tỉ đồng, vừa bán nhà để “khắc phục hậu quả” gom chung lại lên tới 1,300 tỉ đồng, trong số tiền lời mà ông ta được chia 1,475 tỉ đồng. Ông Nam cũng xác nhận đang có số tiền 3.5 triệu đô la gửi tại ngân hàng Singapore.

Nguyễn Văn Dương bị cáo buộc “thu lợi bất chính 1,655 tỷ đồng. Một phần trong số tiền này, ông ta “mượn giấy tờ người thân thành lập 4 công ty “ma” để rửa tiền. Ông ta “chỉ đạo cấp dưới chuyển tiền góp vốn vào Công ty cổ phần đầu tư UDIC, …ký hợp đồng khống với các doanh nghiệp “ma” để rút tiền ra. Khi được ăn chia khoản tiền do phạm tội tổ chức đánh bạc, Dương tiếp tục chỉ đạo thuộc cấp đứng danh nghĩa công ty, cá nhân đối tác chuyển trả Công ty UDIC do hủy hợp đồng để hợp pháp hóa số tiền tổ chức đánh bạc thành tiền sạch.” Báo mạng Zing kể.

Khác với Phan Sào Nam, ông Dương mới chỉ nộp lại khoảng 15% số tiền bị cáo buộc “thu lợi bất chính”.

Trong phiên xử chiều ngày Thứ Hai 19/11, tướng Phan Văn Vĩnh nhìn nhận ông ta bị truy tố tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây hậu quả nghiêm trọng” là đúng. Theo bản cáo trạng được thuật lại tóm tắt trên tờ Lao Động, trong tư cách Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, ông tướng Vĩnh đã toa rập với thuộc cấp là tướng Nguyễn Thanh Hóa làm theo đề xuất của Nguyễn Văn Dương (công ty bình phong CNC) “cho phép triển khai kế hoạch xây dựng mô hình cổng trò chơi trực tuyến… và thí điểm cho phép người dùng chuyển đổi một phần tài khoản ảo sang thẻ ảo hoặc ví điện tử của CNC”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC VÀ TS. CHU HẢO VỪA XUẤT BẢN CUỐN SÁCH HAY


Phạm Khiêm Ích
Sách có tựa đề Tôn giáo học, từ nhiều cách tiếp cận do dịch giả Chu Tiến Ánh dich từ tiếng Anh Approaches to the Study of Religion, xuất bản tại London và New York năm 1999, nhà nghiên cứu Phạm Khiêm Ich viết lời giới thiệu. Cuốn sách được quyết định xuất bản ngày 09-10-2018, chính thức phát hành ngày 12-11-2018, hiện dang được bán rộng rải ở nhiều cửa hàng sách tại Hà Nội. Có lẽ đây là cuốn sách cuối cùng của NXB Tri Thức doTS. Chu Hảo làm Giám đốc, Tổng biên tập. Cách đây 13 năm, NXB Tri Thức được thành lập do TS. Chu Hảo làm Giám đốc,Tổng biên tập. 
          
Cuốn sách đầu tiên được xuất bản là cuốn Thế giới như tôi thấy của Albert Einstein, do các dịch giả Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hào, TrầnTiễn Cao Đăng dịch từ tiếng Đức và tiếng Anh, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Sách in xong và nộp lưu chiểu tháng 12-2005. 13 năm đã trôi qua. Hàng trăm cuốn sách, nhiều trăm cuốn sách đã ra đời ở NXB Tri Thức trong chương trình xuất bản 500 cuốn. Sách khá phong phú và đa dạng. nhưng hầu hết đều hướng vào mục tiêu:”Góp phần nâng cao dân trí và khai minh xã hội”- Tiêu chí của Sách Hay đương thời, được đông đảo công nhận. Sách Tôn giáo học, từ nhiều cách tiếp cận là cuốn Sách Hay như thế. Đây là sách giáo khoa tôn giáo học ở bậc đại học, được gọi là”sách giáo khoa đầu tiên” (the first textbook) của môn học ở thế giới Anh ngữ.

Như chúng ta đều biết, nghiên cứu tôn giáo đã có từ lâu ở phương Đông, cũng như phương Tây. Nhiều công trình nổi tiếng thế giới đã được công bố. Tiêu biểu là cuốn sách của nhà xã hội học lớn người Pháp Émile Durkheim “Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo”(Les formes élémentaires de la vie religieuse) xuất bản ở Paris năm 1912. Tuy nhiên, nghiên cứu tôn giáo (religious studies) không phải là tôn giáo học (study of religion, science of religion). Tôn giáo học với tính cách là môn học, được giảng dạy ở các trường đại học chỉ mới được hình thành vào những năm 1960 tại thế giới Anh ngữ. Thời gian này nhiều giáo trình tôn giáo học (courses on religion) ở các trường đại học đã được biên soạn. Nhưng phải đến năm cuối cùng của thế kỉ XX cuốn sách giáo khoa đầu tiên này mới ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của tôn giáo học:“Sách này là sách giáo khoa đầu tiên dành cho sinh viên, nhằm cung cấp những cơ sở chủ yếu về phương pháp của bộ môn khoa học chính liên quan tới tôn giáo học”.
Đặc điểm nổi bật của sách này là nó nghiên cứu tôn giáo học như một môn học liên ngành (liên bộ môn), đa phương pháp tiếp cận. Vì vậy, sinh viên và người nghiên cứu phải làm quen với những cách tiếp cận của các bộ môn khoa học chủ yếu quan tâm tới việc nhận biết bản chất của tôn giáo.
Trong 7 chương sách, các tác giả đã trình bày 7 bộ môn khoa học chủ yếu, cùng những cách tiếp cận của chúng: những cách tiếp cận nhân học, những cách tiếp cận nữ quyền, những cách tiếp cận hiện tượng luận, những cách tiếp cận triết học, những cách tiếp cận tâm lý học, những cách tiếp cận xã hội học, và những cách tiếp cận thần học. Cần nhấn mạnh rằng 7 bộ môn khoa học trên đây, cùng những cách tiếp cận của chúng không phải là 7 củ khoai riêng biệt được đặt cạnh nhau trong một rổ khoai, mà là một thể thống nhất hữu cơ – thống nhất trong đa dạng, đa dạng trong thống nhất.
Các tác giả sách này là các nhà nghiên cứu và giảng dạy tôn giáo học tại nhiều trường đại học Anh quốc, dưới sự chủ biên của Peter Connolly, giảng viên cao cấp về tôn giáo học tại Viện Cao học Chichester Anh quốc. Người chủ biên đã biết liên kết sự nỗ lực sáng tạo của các đồng nghiệp để xây dựng một quan niệm chung về tôn giáo làm cơ sở vững chắc cho sự thống nhất của công trình:
“Tôn giáo là bất cứ niềm tin nào thừa nhận một lĩnh vực thiêng liêng, siêu - thể nghiệm và bất cứ hành vi ứng xử nào nhằm thể hiện mối quan hệ giữa con người với lĩnh vực ấy. Thuật ngữ thích hợp nhất để quy dần vào những hành vi ứng xử ấy có lẽ là chữ “tính tâm linh” (spirituality)”. Cái cốt lõi của tôn giáo “đó là niềm tin vào cái thiêng liêng, vào cái siêu nghiệm, hay siêu- thể nghiệm (the belief in the sacred, the transcendent or trans- empirical realm). Nếu hiện hữu thành phần này thì đúng là tôn giáo; khi thiếu vắng, thì không phải là tôn giáo nữa.”(Xem tr. 32)
Sách cho ta thấy rõ quan niệm về tính chất nhiều chiều cạnh của tôn giáo. Điều đó làm nảy sinh nhu cầu tự nhiên là phải sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để làm rõ đầy đủ bản chất của tôn giáo.
Mỗi cách tiếp cận được trình bày thành cả một chương sách lớn, với 3 nội dung vừa rộng vừa sâu: 1/ Lịch sử phát triển của cách tiếp cận; 2/ Những đặc điểm của mỗi cách tiếp cận; 3/ Các giải pháp và tranh cãi.
Rõ ràng, cuốn sách thể hiện sự tìm tòi mới mẻ, độc đáo. Nó không khép lại, mà mở ra cho sự tranh luận, sự tiếp tục tìm tòi của sinh viên và người nghiên cứu. Nó không chỉ là sách giáo khoa theo nghĩa thông thường.
 Đánh giá chung về cuốn sách, giáo sư Ninian Smart (1927 – 2001), học giả nổi tiếng về tôn giáo học viết: “Một quyển sách như quyển này đưa chúng ta đến chân dung đích thực của tôn giáo học. Nó cho ta biết về những bộ môn khoa học, hay những truyền thống khảo sát hàn lâm mà tiêu điểm hội tụ là cung cấp cho ta một bức tranh toàn vẹn về tôn giáo.”(Xem tr.15)
Tôn giáo học có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt trong nền giáo dục đại học. Nó chú trọng nghiên cứu quan hệ sâu rộng giữa tôn giáo với các lĩnh vực xã hội. Việc hoạch định và thực hiện chính sách tôn giáo phải lấy tôn giáo học làm chỗ dựa vững chắc. Chăm lo phát triển tôn giáo học là công việc trọng yếu của giới đại học. Nó đóng vai trò hỗ trợ như bà đỡ cho các công trình nghiên cứu văn hóa. Ngày nay “tôn giáo học đã trở thành một bộ phận cấu thành thiết yếu của nền giáo dục đại học, mang lại cho việc nghiên cứu thế giới quan một vai trò ngang hàng với các môn học khác về xã hội và nhân văn.”(tr.22)
Ở nước ta hiện chưa có tôn giáo học, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tôn giáo và chính sách tôn giáo. Một quan niệm đúng đắn, mới mẻ về tôn giáo cũng đang cần được xây dựng. Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động, bao gồm đối tượng tôn giáo, giáo lý, giáo luật, lễ nghi va tổ chức”. Đây là sự giải thích miêu tả, liệt kê không đầy đủ về tôn giáo, đặc biệt không chỉ ra được đặc trưng của tôn giáo. Niềm tin không phải là đặc điểm riêng của tôn giáo. Niềm tin cần có ở mọi lĩnh vực, từ sản xuất, kinh doanh, đến hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị … Ngay cả mấy vị chuyên rao giảng “chủ nghĩa vô thần khoa học” cũng có niềm tin của họ. Khác với tất cả những niềm tin ấy, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào những cái thiêng liêng, vào đời sống tâm linh của con người. Không hiểu được tôn giáo, làm sao có thể “tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người” như Luật tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành quy định?
Chương trình Dịch thuật, Thông tin Khoa học xã hội và nhân văn (gọi tắt là Chương trình Tầm nhìn UNESCO) thuộc Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam phối hợp với NXB Tri Thức dịch và xuất bản sách này mong chia sẻ với bạn đọc, nhất là bạn đọc giới sinh viên, những nhận thức và suy nghĩ mới về tôn giáo. Chúng tôi cũng hi vọng là sách có thể góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển tôn giáo học ở Việt Nam, một công việc cần nhiều thời gian và hợp sức của nhiều người.
Trân trọng cảm ơn quý bạn đọc!
PHẠM KHIÊM ICH
Phó Chủ nhiệm Chương trình Tầm nhìnUNESCO

Phần nhận xét hiển thị trên trang