Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

BÙI GIÁNG, SƠ THẢO TIỂU TRUYỆN


Đinh Cường vẽ Bùi Giáng


Des lisières lointaines
les cerfs ont bramé
Từ ven rừng xa
tiếng nai gào gọi
Apollinaire
Sơ thảo, gọi như vậy vì tính cách sơ lược của bài viết.
Vì một số dữ kiện nêu lên, không chắc chắn, dù cho người viết hết lòng tìm căn cứ. Chung quanh Bùi Giáng có nhiều giai thoại, dần dần trở thành huyền thoại, đồng thời với những tư liệu có khi không hợp lý, hay mâu thuẫn, không dễ gì kiểm chứng.
Sơ thảo, vì lối biên tập còn rườm rà, khi chúng tôi cố tình muốn đưa ra nhiều tư liệu, có lúc ngoài lề, để người khác có thể men theo và truy cứu thêm, về chuyện này hay chuyện khác.
Sơ thảo, tóm lại, không phải là lời từ tốn vào đề chiếu lệ, mà là lời mời gọi giới văn học và độc giả cải chính, bổ sung đào sâu hay nâng cao.
Bùi Giáng đứng tên trên khoảng 60 đầu sách, chủ yếu là 14 tập thơ, xen kẽ 19 dịch phẩm, 6 sách giáo khoa đầu tay, phần còn lại là biên khảo về triết học và thơ. Hiện nay còn khoảng 10 tập thơ và nhiều văn bản dịch, chưa in.
Trên cơ bản, Bùi Giáng là nhà thơ.
*
Bùi Giáng là tên thật. Có khi sử dụng nhiều bút danh khác: Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Búi Bàng Giùi, Báng Giùi, Trung Niên Thi Sĩ, Ðười Ươi Thi Sĩ.
Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, Bính Dần, tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu vì thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam [1] .
Thân phụ là Bùi Thuyên, tục danh Cửu Tỳ, địa chủ giàu có; thân mẫu là Huỳnh Thị Kiền, còn tên là Hai. Cụ Bùi Thuyên có hai đời vợ, bà trước là con Phạm Tuấn, là một trong năm tiến sĩ đồng khoa 1898 cùng quê Quảng Nam, gọi là Ngũ Phụng Tề Phi [2] . Bà mất sớm khi hạ sinh người con thứ ba. Bà sau là cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng, em ruột Hoàng Diệu, phó bảng khoa 1853, Thượng thư Bộ Binh, Tổng Ðốc Hà Ninh, tuẩn tiết tại Hà Nội năm 1882. Bà sinh được hai gái và bảy trai. Bùi Giáng là con thứ năm, kể cả con bà mẹ trước, nên còn tên là Sáu Giáng.
Những chi tiết này chứng tỏ Bùi Giáng xuất thân tự một giòng họ gia thế. Họ này gốc Nghệ An, di dân vào đây từ đời Hồng Ðức [3] .
Nhiều người trong giòng họ này nổi tiếng như bác sĩ Bùi Kiến Tín, sản xuất dầu khuynh diệp, kỹ sư Bùi Thạnh, hay giáo sư Bùi Xuân Bào, gia đình ra lập nghiệp tại Huế.
"Dòng họ Bùi giàu có bậc nhất trong vùng với những sở ruộng "cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi". Bùi Giáng trong mắt người dân thuở đó là một trang công tử. Dòng họ Bùi gốc ở Vĩnh Trinh lên ngụ cư ở Trung Phước khoảng những năm đầu của thập kỷ 40. Hồi đó, dòng họ có những căn nhà lầu đầu tiên ở xứ này. Trong nhà của họ có rất nhiều nô bộc. Sau này, nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân nhận xét rằng những dòng họ giàu có nổi tiếng ở xứ Quảng đều sinh sống dọc hai bên triền sông, tận dụng lợi thế "nhất cận thị, nhị cận giang" [4] .
Sông Thu Bồn quanh năm có lưu lượng cao, nối liền miền Thượng Du với cửa Ðại (Hội An), cửa Hàn (Ðà Nẵng) và cửa Kỳ Hà (Tam Kỳ) qua nhiều sông lớn khác. Do đó, Vương Quốc Chăm đã đóng đô tại vùng Trà Kiệu, bên sông này, khoảng thế kỷ IV. Nhờ kinh tế phồn thịnh, dân địa phương nhiều người học hành và đỗ đạt.
Bùi Giáng sinh ra và lớn lên giữa "những dãy nhà rộng thênh thang tường xây bằng đá" [5] . Thời niên thiếu giữa một thiên nhiên phong phú, nhiều sắc thái: sông hồ, đồi núi, ruộng nương là một thiên đường mà Bùi Giáng suốt đời hoài vọng, và gọi là cố quận. Trong Ngày Tháng Ngao Du, ông kể: "Hồi nhỏ, tôi được sanh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh. Chung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt tuổi thơ. Làng tôi xưa kia có nhiều cỏ mọc, cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh. Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn khổng lồ".
Có lẽ vì vậy mà mãi đến tuổi 71 ông mới về quê sau non 50 năm xa cách, qua bài thơTâm Sự, 1996, trong Ðêm Ngắm Trăng.
Về học trình của Bùi Giáng, tư liệu chi tiết nhất là bài diễn văn năm 1995 của Bùi Văn Vịnh, em ruột: "Thuở nhỏ, anh học trường Bảo An, tại Ðiện Bàn, Quảng Nam. Sau đấy, anh theo Trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, đang lớp đệ tứ thì gặp đảo chính Nhật, song anh kịp đậu Thành Chung (Diplôme). Cùng năm, anh lập gia đình riêng - chị qua đời ba năm sau. Việt Minh lên, anh trôi nổi khắp các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú của Liên Khu V trong vùng kiểm soát này. Cho đến 1950, khi có kỳ thi Tú tài đặc biệt do Liên Khu V tổ chức ("đặc biệt" vì đề thi do Liên Khu IV gửi vào, thi xong bài thi gửi ra Liên Khu IV chấm), anh đậu Tú tài II Văn Chương, rồi lên đường ra Liên Khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học Ðại Học. Từ Liên Khu V ra Liên Khu IV phải đi bộ theo đường mòn trên núi, hơn một tháng rưỡi trời. Khi ra đến nơi, trong ngày khai giảng sau khi nghe ông Viện trưởng Ðại học đọc diễn văn, Bùi Giáng quay ngay về Quảng Nam - với một tháng rưỡi đi bộ nữa theo đường mòn trên dãy Trường Sơn. Và anh bắt đầu quãng đời "Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt". Xin mở một ngoặc đơn: con số "15" được hiểu với nghĩa tượng trưng của điển " mục dương", và anh chăn dê chứ không bò hay trâu! Tháng 5-1952, gửi đàn dê lại cho... chuồn chuồn, châu chấu, anh băng qua Huế lấy Tú tài tương đương, để vào Sài Gòn ghi danh theo học Ðại Học Văn khoa. Lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư sẽ giảng dạy, anh quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây" [6] .Nhiều bài biên khảo sử dụng tư liệu này, vì tư cách của tác giả và những dữ kiện cụ thể được đưa ra. Nhưng cũng có người tự hỏi: Hà Tĩnh thì làm gì có đại học? Năm 1952, thì Sài gòn làm gì có đại học văn khoa [7] ?
Chúng tôi dò hỏi và đề nghị một học trình khác của Bùi Giáng:
Tiểu học: Bùi Giáng có học trường Viên Minh, Hội An,
1940 ông bắt đầu vào Trung Học, trường Cẩm Bàng, Quy Nhơn. Trường tên như thế vì là tên làng của chủ trường, ông Lâm Tô Bông, người Quảng Ngãi.
1941-1945: Bùi Giáng ra Huế, học trường Tư thục Thuận Hóa. Thầy là các vị Hoài Thanh, Ðào Duy Anh, Trần Đình Ðàn, Lê Trí Viễn...Hai ông sau là cùng quê với Bùi Giáng. Nhà thơ khâm phục và về sau có viết bài ca ngợi các bậc thầy này.
1945: Nhật đảo chính.
Ông đỗ bằng Thành Chung, thường gọi là Diplôme, sau khi thi hỏng năm trước, và ở lại lớp Tứ Niên C.
1943: Bùi Giáng đọc trên báo Bạn Ðường, do Hướng Ðạo chủ trương, in tại Thanh Hóa, mấy câu thơ:
Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về Cố Quận, muôn trùng ta đi.Theo Bùi Giáng "đây là một niềm tương ngộ, cuộc trùng phùng, những tao ngộ tình cờ trong một cuộc Hội Thoại".
Có thể xem như là khởi điểm nguồn sáng tạo văn học của Bùi Giáng, như ông thổ lộ ở phần đầu Lời cố Quận (1972), mà không cho biết tên tác giả câu thơ.
Tuy nhiên trước đó, trong Ði vào Cõi Thơ (1969), Bùi Giáng có trích hai câu này trong một đoạn 4 câu trong bài Cảm Thông (12 câu, 1940) và nói rõ là của Huy Cận. Bài này chưa bao giờ được in ở các thi tập đã xuất bản của Huy Cận.
1945: ông về quê, cưới vợ, dọn lên Trung Phước, một làng Trung Du hẻo lánh.
Vợ ông tên Phạm Thị Ninh, trạc tuổi ông, sinh trưởng trong một gia đình công chức khá giả, ông bà Phán Trai, Hội An, ở gần Chùa Cầu, nay còn người em là Phạm Văn Hòa, 71 tuổi.
Bà Ninh qua đời năm 1948 vì bệnh dài hạn và đẻ non, đứa con cũng mất, tại làng Trung Phước. Người em, Bùi Công Luân, kể lại rằng khi mất, thì "chị không thấy mặt chồng. Anh Bùi Giáng bấy giờ đang ở Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên gì đó, nghe phong thanh anh đang đi học" [8] .
Chúng tôi lần theo, và được biết là giai đoạn này, Bùi Giáng tiếp tục học tại trường Nguyễn Huệ Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Trường này không dạy đủ lớp, chỉ dạy hai trên ba năm, bậc Tú Tài, và chỉ dạy chuyên khoa Toán Lý Hóa. Bùi Giáng có ra Hà Tĩnh - bài Kỷ Niệm, trong tập Mưa Nguồn, làm tại Hà Tĩnh, 1951- nhưng có thể để học tiếp ban Tú Tài văn chương, rồi bỏ dở.
Tháng 5-1952, Bùi Giáng về thành [9] . Rồi vào Sài Gòn dạy học.
Học trình Bùi Giáng, chúng tôi chỉ biết có vậy.
Trên cơ bản ông là người tự học và đã đạt tới một kiến thức uyên bác, làm nhiều người ngạc nhiên và kính phục.
Chúng tôi phụ chú thêm ba điểm :
1. Việc hôn nhân: khi trả lời một bài phỏng vấn của báo Thời Văn, 1997, Bùi Giáng có tiết lộ: "phải thuận theo ý cha mẹ lấy cô vợ người thành phố Hội An, suốt đời không biết cày sâu cuốc bẫm là gì" [10] . Người em trai Bùi Công Luân xác nhận điều này trên báo Khởi Hành số 25 đã dẫn, nói rằng hai bên không yêu nhau.
2. Việc chăn dê: khoảng 1948, tại Trung Phước, chúng tôi tin vào kỷ niệm của ông Phạm Văn Hòa: "Ông anh rể tôi kỳ lạ lắm. Hồi đó ổng mua một đàn dê khoảng 100 con và rủ tôi đi chăn cùng. Buổi sáng ông thường lùa dê vào Giáp Nam, Gò Om, sau đó hai anh em rủ nhau xuống khe (suối) Le ngồi dưới bóng của các lùm tre và...đọc thơ suốt buổi. Có những buổi ổng lang thang lên tận các quả đồi hái hoa, lá kết vòng thơ thẩn đeo vào cổ cho dê... " Ðặc biệt Bùi Giáng rất thương vợ. Sáng nào ông cũng vắt một bát sữa dê đem chưng lên cho vợ uống. Tôi chẳng hiểu hồi đó ông có tâm sự gì nhưng chỉ biết ông nuôi dê để chơi thôi, không thấy bán (vì nhà rất giàu, đâu cần tiền), cũng không thấy giết thịt vì ông rất yêu những con dê. Mỗi con ông đặt cho một cái tên, rất kỳ lạ. Chuyện Bùi Giáng chăn dê nhiều người còn nhớ. Ðấy là hình ảnh một thanh niên hàng ngày lặng lẽ lùa dê vào núi, trên tay ôm một cuốn sách tiếng Pháp dày cộp. Quãng đời du mục của Bùi Giáng kéo dài khoảng 3 năm thôi nhưng sau này khi viết Nỗi lòng Tô Vũ, thi sĩ đã đề từ "Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú". Mười lăm năm - nhiều người cho rằng có thể Bùi Giáng lấy thời gian lưu lạc của nàng Kiều để nói về đời mình" [11] .
3. Thời kháng chiến: ngày Toàn quốc Kháng Chiến chống Pháp, Bùi Giáng đúng 20 tuổi. Vậy ông làm gì? chẳng nhẽ chỉ chăn dê và làm thơ?
Bùi Giáng có đi bộ đội, thời đó là Giải Phóng Quân. Trong lúc "vui lòng cởi mở" ở dưỡng trí viện Biên Hòa tháng 5-1969, ông có kể với các Bác sĩ trong viện: "trong thời trai trẻ, đi kháng chiến, một chiều nọ, mệt, đói, anh đang lê từ bước một với chiếc ba lô khá nặng sau lưng, thì vừa quẹo một đường mòn, anh chợt thấy một thiếu nữ thiểu số đang giặt áo bên bờ suối, anh vừa ngừng chân thì "Bông hoa rừng" nọ cũng vừa ngừng tay giặt, mỉm cười với anh và niềm nở hỏi chào anh. Anh tưởng mình như đang lạc vào suối Ðào-nguyên, và hình ảnh này vẫn không phai trong tâm khảm anh. Ðó là phần Cô em Mọi nhỏ; còn Hoàng hậu Nam-Phương thì đến với anh trên một bao thư: người mẫu nghi thiên hạ này, sau anh có gặp lại ở Huế - lần này, người thiệt, chớ chẳng phải là một con tem thư - nhưng thực và mộng vẫn không sai biệt." [12]
Ðoạn văn được trích dài, để quy chiếu, về một chi tiết trong tiểu sử mà các tài liệu khác không đề cập, và trong chừng mực nào đó giúp ta hiểu thêm về hình ảnh người đàn bà - rất nhiều đàn bà - trong thơ Bùi Giáng.
*
1952 - 1960: về vùng "quốc gia", Bùi Giáng vào Sài Gòn lập nghiệp, dạy Pháp văn và Việt văn cho nhiều trường Tư Thục: Tân Thịnh, Vương Gia Cần...và gửi thơ đăng báo.
Ông cư ngụ tại đường Trương Tấn Bửu, nay là Trần Huy Liệu, gần chợ Trương Minh Giảng, cùng với các em, trong một ngôi nhà giữa vườn cây vú sữa [13] . Võ Phiến, ở gần đó, thường lui tới. Có lần Bùi Giáng chiêu đãi Ðinh Hùng tại nhà, mời ăn Mì Quảng, nhưng tại một căn nhà đường Dixmude, Ðề Thám, theo lời kể của Mặc Thu[14] .
Mì Quảng là món ăn quê hương mà ông tự hào và ưa thích. Có lần tuyên bố: "ta ăn hai ngàn tô mì Quảng nữa ta chết " [15] .
Thời gian dạy học, ông đã soạn 6 cuốn sách giáo khoa, do nhà Tân Việt ấn hành, về Bà Huyện Thanh Quan, Lục vân Tiên, Kiều (1957), Tản Ðà, Chu Mạnh Trinh, Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị (1959) chủ yếu cho học sinh cấp hai.
1960-1975 :
1960: xuất bản Tư Tưởng Hiện Ðại, biên khảo về tư tưởng phương Tây, chủ yếu là chủ nghĩa hiện sinh đang thời thượng. Có thể xem như là sáng tác đầu tay quan trọng.
Dường như từ thời gian này ông mới học tiếng Ðức, bắt đầu đọc Heidegger, do ảnh hưởng nhóm Phật giáo Vạn Hạnh với Thượng tọa Thích Minh Châu, Tuệ Sĩ, và Phạm Công Thiện. Hai cuốn về Heidegger, in 1963, trích nhiều tiếng Ðức.
1962: xuất bản tập thơ Mưa Nguồn, có bài làm từ 1950, thời chăn dê. Có lẽ Mưa Nguồn là tập thơ đều tay và giá trị nhất của Bùi Giáng. Liên tiếp, năm sau, là 4 thi phẩm: Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Màu Hoa Trên Ngàn và Sa Mạc Trường Ca.
Dường như sau đó có thời gian ông về ở chùa Phát Hội, một trung tâm nghiên cứu Phật Học, tiền thân của Ðại Học Vạn Hạnh, với Nhất Hạnh, Tuệ Sĩ, Phạm Công Thiện,...
1965: chiến tranh leo thang. Cùng với nhóm trí thức: Nhất Hạnh, Hồ Hữu Tường, Tam Ích,... Bùi Giáng tham gia kêu goị hòa bình. Dường như đây là hoạt động chính trị chính thức duy nhất trong đời Bùi Giáng. Nhưng lá thư gửi René Char của Bùi Giáng chỉ nói đến hòa bình chung chung.
Thời gian này ông chủ tâm dịch sách, xuất bản 13 dịch phẩm, nhiều nhất là Camus. Kịch bản Ngộ Nhận (le Malentendu) xuất bản 1967, đã đăng trên báo Bách Khoa từ 1963, và Bùi Giáng yêu thích Camus từ lâu. Dường như đôi bên có trao đổi thư từ.
1969: xuất bản 10 tác phẩm trong một năm, chủ yếu về thơ.
Ðồng thời xảy ra tai nạn lớn: một hỏa tai thiêu rụi căn gác ông ở và chứa sách, trong ngõ Phan Thanh Giản, bây giờ là Ðiện Biên Phủ. Căn gác này do tu sĩ Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm, thuê cho Bùi Giáng ở, chứa nhiều tư liệu và rất nhiều sách, Pháp, Anh, Ðức, Hán, có ghi chú. Hỏa hoạn xảy ra khoảng 3 giờ chiều, trước đôi mắt bất lực của Bùi Giáng và Thanh Tuệ, thiêu rụi tư liệu, bản thảo, và sách tặng của Camus, dường như có cả sách tặng của Heidegger.
Bùi Giáng, cuồng nhẹ từ trước, nổi cơn điên, được gia đình đưa vào dưỡng trí viện Biên Hòa đầu tháng 5-1969. Theo các bác sĩ của viện: "Người cầm bút cô độc này, bịnh đã chuyển từ cuồng nhẹ sang cuồng nặng" [16] . Không biết bệnh có di truyền hay không, vì thân sinh ông cũng bị cuồng nhẹ, theo lời người địa phương "thân sinh ông Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tỳ, Ông Cửu Tỳ cũng là một người ... điên, hàng ngày thường làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối và đặc biệt ông này rất thích chọc ghẹo...các cô gái có nhan sắc!" [17]
Ra khỏi dưỡng trí viện, Bùi Giáng sống lang thang nay đây mai đó. Từ đầu năm 1973, ông dọn về khu nội xá của Ðại Học Vạn Hạnh, đường Trương Minh Giảng, có phòng riêng ở lầu 3. Thời gian này Bùi Giáng thỉnh thoảng có dự những buổi đàm luận chính trị với nhóm trí thức chủ hòa thời đó: Nguyễn Đăng Thục, Tuệ Sĩ, Ngô Trọng Anh,...nhưng vẫn ăn ngủ đó đây và biểu diễn nhiều trò lạ mắt trong y phục thùng thình trên hè phố Sài Gòn. Thân hữu và gia đình vẫn ồ ạt xuất bản sách cho ông. Tạp chíVăn đã ra một số đặc biệt Bùi Giáng tháng 5-1973, và Mai Thảo, phụ trách tờ báo giải thích về sau: "Phải làm cái gì về ông. Ðể ghi nhận lại".
Mai Thảo còn kể tiếp: "chưa biết tìm Bùi Giáng ở đâu, thì thi sĩ bất ngờ ghé thăm tòa soạn. Ông chỉ còn là da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy (...) Mấy tháng trước biến cố 1975, chỉ thỉnh thoảng nghe thấy ông vẫn lang thang đây đó, một quán này, một bãi hoang kia, ngủ bất cứ ở đâu " [18]
1975-1998: Sau 1975 bệnh cuồng trầm trọng thêm, dù rằng vẫn có lúc ông sáng suốt. Sống nhờ bạn bè và trợ cấp của gia đình từ nước ngoài. Có lúc ở nhờ chùa Già Lam, xóm Gà, Gia Ðịnh.
Từ 1985, về ở với gia đình người cháu gái, đường Lê Quang Ðịnh, Tân Bình, Vợ chồng người cháu giúp Bùi Giáng định cư và định tâm, an dưỡng và sáng tác, đến ngày cuối đời. Hiện gia đình này còn giữ nhiều di cảo.
Từ 1992, tâm trí có phần ổn định, Bùi Giáng làm nhiều thơ trong năm 1993. Sau đó sáng tác cầm chừng, vẫn làm nhiều thơ.
1996 về thăm lại "Cố Quận" Quảng Nam khi đã 71 tuổi.
7-10-1998 (ngày 17 tháng Tám năm Mậu Dần): Bùi Giáng mất tại Sài Gòn vì bị tai biến mạch máu não.
Ðêm 23-9, ông có uống rượu, trượt té và vào hôn mê sâu. Giải phẩu tối 25-9, nhưng ông vẫn hôn mê, cho đến 14 giờ ngày 7-10 thì qua đời.
Tang lễ được tổ chức trọng thể tại chùa Vĩnh Nghiêm. Khoảng 600 người, phần đông là thanh niên, sinh viên đến canh thức, ngâm thơ. Một đám tang nhẹ nhàng, nhắc lời ông thường nói, để đời: "vui thôi mà".
11-10-1998: an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Ðức.
Hiện nay Bùi Giáng còn 10 tập thơ và dịch phẩm chưa in.
Đặng Tiến
Viết cho ngày tưởng niệm Bùi Giáng, 7-10-2003, Sơ Thu Quí Mùi
© 2003 talawas
[1]Du khách đi thăm di tích Chàm ở Mỹ Sơn, từ quốc lộ số 1, lấy tỉnh lộ 610 khoảng 15 km sẽ đi qua làng Duy Châu. Ði thêm 30 km sẽ đến làng Trung Phước, nơi Bùi Giáng chăn dê, nay đổi là Quế Phước vì thuộc huyện Quế Sơn, phía mỏ than Nông Sơn. Cả hai làng đều nằm bên sông Thu Bồn, bờ bên này và bên kia.[2]Năm người theo thứ tự là: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân và Dương Hiển Tiến. Ngoại trừ Phan Quang huyện Quế Sơn, bốn người kia đều thuộc huyện Diên Phước, nay là Ðiện Bàn.[3]Bùi Tấn, Chớp Biển, Sài Gòn, Anaheim 1996, tr. 35.[4]Nguyễn Minh Sơn, báo Người Lao Ðộng, số Xuân Quý Mùi 2003, TPHCM.[5]Bùi Công Luân (em ruột Bùi Giáng), báo Khởi Hành, số 25, tháng 11/1998, tr. 27, California.[6]Bùi Văn Vịnh, trong Chớp Biển, sdd, tr. 90.[7]Trường Ðại Học Văn Khoa, Sài Gòn, có từ 1958. Trước đó, có lớp Văn dạy tại Ðại Học Sư Phạm, 1956. Khoa trưởng cả hai trường thời đó là G.s Nguyễn Huy Bảo, mà Bùi Giáng tỏ lòng ngưỡng mộ, như đã tuyên bố ở trang 17, báo Thời Văn, 6-1997, Sài Gòn.
Tại Khu IV, khoảng 1948, chỉ có lớp dự bị Văn Khoa, 7 sinh viên học với g.s. Ðặng Thai Mai, Quần Tín, Thanh Hóa, và g.s. Cao Xuân Huy, Diễn Châu, Nghệ An. Cụ Huy là thầy Bùi Giáng môn Pháp văn, tại trường Thuận Hóa, Huế.[8]Bùi Công Luân, trong Chớp Biển, sđd, tr. 15, có đăng lại trên báo Khởi Hành, số 16 tháng 2-1998, tr. 20, California.[9]Cùng một thời điểm với nhà thơ Tạ Ký 1928-1979. Tạ Ký vào học trường Khải Ðịnh 1952, Huế, học đủ ba năm cấp ba, đậu Tú Tài năm 1955.
Tạ Ký cùng quê, và ở cùng xóm, trong làng Trung Phước với Bùi Giáng. Làng này đã trở thành một đề tài thi ca qua câu thơ Tạ Ký:
Trung Phước ơi, sông sâu dài uốn khúc,
Tình cheo leo cao vút một con đèo.
Trong chiến tranh, một chiều mưa bên bờ sông Vĩnh Ðiện, nhà thơ Tường Linh, quê ngoại ở Trung Phước, học trò Pháp văn của Bùi Giáng, nhìn về Trung Phước, có câu thơ cảm động :
Thấy gì đâu, chỉ thấy núi mây mờ
Lòng gọi mãi tên làng xưa Trung Phước!
Nhà văn Võ Phiến, 1986, có lời bình luận: "Làng Trung Phước, ngày còn ở trong nước tôi chưa đến bao giờ, chính dân làng còn khó về làng huống hồ người xa kẻ lạ. Từ khi xa nước, nghe nói tới Trung Phước càng thấy mơ hồ típ tắp. Tôi đinh ninh đó là một làng đáng tưởng nhớ, đáng mê say : dễ gì một ngôi làng nhỏ bé hẻo lánh, mà có được hai thi sĩ dễ thương ngoan lành như vậy ? Hơn nữa, ngoài Tạ Ký và Tường Linh, làng Trung Phước còn liên hệ dến một thi sĩ thứ ba rất quen thuộc là Bùi Giáng, người đã từng sống với đàn dê tại đây một thời gian thời kháng chiến chống Pháp "
(Võ Phiến, Văn Học Miền Nam - Thơ, nxb Văn Nghệ, tr. 3145, 1999, California.)
Khi mộ Tạ Ký được dời về Gò Dưa, Thủ Ðức, Tường Linh có đọc điếu văn.
Ngày nay cùng nghĩa trang với Bùi Giáng.[10]Bùi Giáng, tạp chí Thời Văn, số 19, tháng 6-1997, tr. 26, TPHCM.[11]Nguyễn minh Sơn, báo Người Lao Ðộng, sđd.
Chúng tôi chua thêm hai điều :
a. Mười lăm năm là cái "khớp" trong đời Bùi Giáng : mười lăm tuổi, rời thôn ấp về " thành phố " Huế, mười lăm năm sau, đất nước chia đôi, rồi 1969, vào dưỡng trí viện Biên Hòa, v..v...Ông có bài thơ Mười lăm năm:
Mười lăm năm ngọn tử phù
Mù sương cố quận chín tầng tầng rơi
Linh cảm, có thể quan hệ với thân phận Thúy Kiều.
b.Tâm sự u uất: Bùi công Luân xác nhận điều này, khi Bùi Giáng rời gia trang ở Thanh Châu miền trung du
Trung Phước chăn dê: "dường như anh muốn xa lánh trốn tránh, thậm chí đoạn tuyệt với một cái gì đó. Có thể
là một quá khứ với những kỷ niệm không phai. Có thể là một đoạn đời với nhiều bão giông còn âm "
Bùi Giáng có thơ:
Người điên mang một mối buồn
Chưa bao giờ biết cỗi nguồn từ đâu
(Một Lần Nàng Tiên) [12]Thơ Ðiên, nxb Ki-Gob-Jó-Cì, Thái Bình Ðiên Quấc, năm Chó 70, tr. 81, 1970, Sài Gòn.
Sách do các bác sĩ dưỡng trí viện Nguyễn văn Hoài, Biên Hòa, thực hiện, 140 trang khổ 16x24 cm.[13]Viên Linh, Khởi Hành số 25 bđd, tr. 23.[14]Mặc Thu, Khởi Hành, số 25, tr. 25.[15]Trần Hữu Cư, báo Thời Văn, bđd, tr. 71.[16]Thơ Ðiên, sđd, tr. 80.
Giám đốc dưỡng trí viện là Tô dương Hiệp, con trai nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ chuyên trị Bùi Giáng và thân thiết, là Nguyễn Tuấn Anh.[17]Nguyễn minh Sơn, báo Người Lao Ðộng, sđd.
[18]Mai Thảo, tạp chí Văn, số 26, tháng 8-1984, California, in lại trong Hợp Lưu, số 44, tháng 12-1998, tr. 15-16, California.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẬP TAM HIỆP - TỬ HUYỆT TRUNG QUỐC


Luu Quang Thu

Hôm truớc có viết sơ nói về "tử huyệt" của Trung Quốc, đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam). Vậy vì sao đập thủy điện lớn nhất thế giới này đang khiến các quốc gia thù ghét TQ nhắm đến nếu có xung đột?
Hiện tại, TQ bố trí có 4 tổ tên lửa phòng không, một đại đội máy bay trực thăng lục quân, 8 tàu ​​tuần tra, 24 trung đội phản ứng nhanh, toàn bộ binh lực gồm 4.600 biên chế. Nhưng nếu bị đối phương tấn công bằng tên lửa hành trình, tên lửa liên lục địa hoặc bom hạt nhân; thì gần như TQ không có cách nào ngăn chặn thảm họa Đại hồng thủy nhấn chìm 1 nửa lãnh thổ Trung Quốc
Đập Tam Hiệp được xây cất tại vùng Tam Đẩu Bình, của lưu vực Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc là một trong ba nhánh của sông Dương Tử (tức Trường Giang, sông dài thứ 3 trên thế giới). Đập cao đến 600 bộ, dài 1.4 dặm có 286 cổng thoát nước và lưu giữ một hồ nươc lớn và dài 400 dặm, có một hệ thống 25 turbines phát .
Lượng điện năng lớn hơn gấp 8 lần năng xuất của Đập Hoover của Hoa Kỳ, nhưng chỉ đáp ứng được 3% nhu cầu điện năng của TA. (Source: Scientific American)
Việc phá hủy chiếc đập này bằng tên lửa, hoặc bom hạt nhân, sẽ gây tai họa khủng khiếp cho TQ. Vì sao ? Dưới đây là những lý do:
– Trong khi tsunami (sóng thần) do thiên nhiên tạo ra, phát xuất từ đại dương tràn vào lục địa gây ra sự tàn phá và chết chóc kinh hoàng cho một vùng dân cư rộng lớn (như đã xảy ra ở Nam Duơng, Thái Lan, Nhật Bản trong quá khứ gần đây) .. thì ngược lại, ở Đập Tam Hiệp có thể tạo ra hiện tượng tsunami do con người gây nên khi phá hủy đập này.
Vì tham vọng mà mù quáng mà người Trung Quốc đã tạo thù oán với thế gìới và chỉ cần một hành động nhỏ của đối phương, là khối tsunami ở đập Tam Hiệp sẽ ào ra.
Hiện tượng nầy sẽ tàn phá và chết chóc cho TQ trong khoảnh khắc từ 5,10 giây cho đến 30 phút là xong tất cả !! Sẽ không có một sức lực nào trên thế gian có thể cưỡng lại hay ngăn chận được cơn sóng thần do đập vỡ tạo ra.
– Hằng trăm triệu dân Tàu sẽ bị cuốn ra biển Đông theo con sông Dương Tử rộng lớn.
– 1/2 nước Trung Quốc– vùng thịnh vượng nhất – mà dân cư sinh sống sẽ bị chôn vùi trong Đại hồng thủy…
– Các di tích lịch sử mà TQ thường hãnh diện với thế giới hằng ngàn năm qua, sẽ tan biến trong nước lũ.
– Hằng ngàn thành phố lớn nhõ sẽ bị nhấn chìm
– Hằng chục ngàn nhà máy kỹ nghệ, xưởng, hãng sản xuất hàng để xuất cảng sẽ bị tàn phá, ngập nước và sẽ bị trôi di mất tang mất tích.
– Hàng chục ngàn tàu bè thương mại, kỹ nghệ, du lịch sẽ bị tan tành vì hằng triệu tấn nước đỗ xuống hằng giây .. nhận chìm chúng truớc khi tống ra biển đông
- Nền kinh tế TQ khựng lại, nạn đói hoành hành.
Đó là 1 tử huyệt của TQ, sự tồn vong của nơi này sẽ quyết định vận mệnh của lãnh thổ TQ. Nếu họ cứ tiếp tục bành truớng, hành xử côn đồ thì sẽ trả giá. Gần họ nhất chính là Đài Loan, quốc gia đang chĩa tên lửa vào Đập Tam Hiệp, và sẵn sàng khai hỏa nếu TQ dám tấn công lãnh thổ Đài Loan.
Daniel Nguyen.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thượng Đỉnh APEC: Mỹ và Trung Quốc khẩu chiến kịch liệt


Tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Diễn Đàn Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC chính thức mở ra vào hôm nay, 17/11/2018 tại Port Moresby, thủ đô đảo quốc Papua New Guinea, Mỹ và Trung Quốc đã đấu khẩu kịch liệt, gần như trên mọi lãnh vực, từ thương mại, đầu tư cho đến an ninh khu vực. Bất đồng nghiêm trọng này dự báo nhiều khó khăn cho việc đạt được đồng thuận nhân Thượng Đỉnh APEC 2018 sẽ bế mạc vào ngày mai, 18/11.
Tại APEC CEO Summit ngày 17/11/2018, phó tổng thống Mỹ Mike Pence đả kích "vành đai bóp nghẹt, con đường một chiều".
Phát biểu tại thủ đô Papua New Guinea, phó tổng thống Mỹ Mike Pence cho biết Washington sẽ không chấm dứt việc áp thuế quan trên hàng nhập từ Trung Quốc ngày nào mà Bắc Kinh chưa thay đổi cung cách làm ăn. Ông Mike Pence đã đe dọa như trên, sau khi chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cảnh báo rằng bóng ma của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và chủ nghĩa đơn phương đang ám ảnh sự tăng trưởng toàn cầu.
Như để minh họa cho cuộc đối đầu chưa thấy giải pháp giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, một nhà ngoại giao đã tham gia đàm phán về bản tuyên bố của các nhà lãnh đạo APEC dự trù công bố khi hội nghị bế mạc, đã xác nhận với Reuters rằng thương mại là một điểm khúc mắc gây khó khăn cho việc tìm ra ngôn từ được mọi bên chấp nhận.
Tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Doanh Nghiệp APEC (CEO Summit), một sự kiện quan trọng được cho là trù bị cho hội nghị các lãnh đạo APEC, phó tổng thống Mỹ không ngần ngại đả kích trực diện sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường – còn được gọi là Nhất Đới, Nhất Lộ - tiêu biểu của ông Tập Cận Bình, mà Trung Quốc đang mời chào các nước Thái Bình Dương tại APEC.
Pence: Đừng chấp nhận “vành đai bóp nghẹt hay con đường chỉ một chiều”
Theo ông Mike Pence, các nước không nên chấp nhận những khoản vay có nguy cơ xâm phạm chủ quyền của họ, và khẳng định rằng Mỹ không bao giờ buộc các nước khác chấp nhận « vành đai để bóp nghẹt hay con đường chỉ một chiều - constricting belt or a one-way road ».
Nỗ lực của Trung Quốc nhằm chiêu dụ đồng minh ở vùng Thái Bình Dương giàu tài nguyên đã được Mỹ và Úc, hai cường quốc có ảnh hưởng truyền thống trong khu vực thận trọng theo dõi.
Vào hôm qua, ông Tập Cận Bình đã làm cho các lãnh đạo phương Tây lo ngại khi ông tổ chức một cuộc họp với các lãnh đạo đảo quốc vùng Thái Bình Dương để quảng bá sáng kiến ​​Một Vành Đai, Một Con Đường của ông.
Phát biểu hôm nay trước khi phó tổng thống Mỹ lên tiếng, chủ tịch Trung Quốc cho rằng dự án công bố vào năm 2013 hoàn toàn không mang một ý đồ địa lý chính trị nào, mà chỉ nhằm tăng cường mạng lưới đường bộ và đường biển nối liền Đông Nam Á, Trung Á, với Trung Đông, Châu Âu và Châu Phi. Đối với ông Tập Cận Bình, đó là một dự án mở rộng cho mọi nước tham gia và « không phải là một cái bẫy như đã bị một số người chụp mũ ».
Trên vấn đề đó, phó tổng thống Mỹ đã nêu bật nguy cơ các nước nhỏ tham gia các dự án cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc chủ trương sẽ phải gánh vác những món nợ to lớn mà họ không thể trả được.
Ông nói : « Đừng chấp nhận loại nợ nước ngoài có thể làm tổn hại đến chủ quyền của quý vị. Hãy bảo vệ quyền lợi của quý vị. Hãy giữ gìn sự độc lập của quý vị. Và cũng giống như Mỹ, hãy luôn luôn đặt đất nước của quý vị lên hàng đầu ».
Ngay sau phát biểu của ông Mike Pence, Úc cho biết đã cùng với Hoa Kỳ và Nhật Bản tham gia một kế hoạch hợp tác nhằm giúp các nước trong khu vực phát triển các ưu tiên về cơ sở hạ tầng, một giải pháp thay thế cho sáng kiến Nhất Đới, Nhất Lộ của Trung Quốc.
Trọng Nghĩa  / (RFI)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phía sau hình ảnh Trung Quốc huênh hoang tại APEC 2018



Ngày 15/11, lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình đến thăm Papua New Guinea, sẽ tham dự Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC 2018) tổ chức tại đây vào ngày 17. Thực tế, bức tranh “viện trợ Trung Quốc” (CHINA AID) tràn ngập vùng đất này đã gây nhiều lo ngại.
China's President Xi Jinping (C) is shown the way during a welcome ceremony for his state visit at Parliament House in Port Moresby on November 16, 2018, ahead of Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC) Summit. (Photo by DAVID GRAY / POOL / AFP)        (Photo credit should read DAVID GRAY/AFP/Getty Images)
Hình ảnh lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tại Papua New Guinea vào ngày 16/11
  (Ảnh: Getty Images) 
Những nguồn tin cho biết, vào ngày 17/11, hàng chục chính trị gia APEC sẽ tập trung tại thành phố cảng vô danh ở Thái Bình Dương: thủ phủ Port Moresby của Papua New Guinea.
Trước hội nghị, lãnh đạo ĐCSTQ Tập Cận Bình đã đến Papua New Guinea và gặp gỡ các nhà lãnh đạo của các quốc đảo Thái Bình Dương đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật báo Kinh tế Hồng Kông (Hong Kong Economic Times) cho rằng mục đích của ông Tập là “tạo thanh thế” trước  APEC: thứ nhất là để tạo hình ảnh quốc tế tích cực, thứ hai là để mở rộng ảnh hưởng ở Thái Bình Dương.
Bắc Kinh nỗ lực ủng hộ nước nghèo mở “hội nghị nhà giàu”
Papua New Guinea từng được coi là nơi ít có khả năng nhất để tổ chức các hội nghị quốc tế. Thủ đô Port Moresby của nước này bị  tờ The Economist của Anh đánh giá là “thành phố khó sống nhất trên thế giới”, vì nạn tội phạm tràn lan, khoảng 40% dân số có mức sống dưới 1 USD (đô la Mỹ) một ngày, gần một nửa dân số sống trong khu ổ chuột.
Tuy nhiên, để tổ chức hội nghị thượng đỉnh này, Papua New Guinea đã chi 330 triệu đô la Úc trong vòng ba năm (khoảng 234 triệu USD), tờ United Daily của Đài Loan trích dẫn ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng, để tổ chức hội nghị thượng đỉnh này, trong ba năm qua Papua New Guinea đã phải chi 1,5 tỷ đô la Úc (khoảng 1 tỷ đô la Mỹ).
Thâm hụt ngân sách nhà nước của Papua New Guinea năm 2019 ước tính là 800  triệu đô la Úc (khoảng 570 triệu USD), để tổ chức hội nghị thượng đỉnh này nhà cầm quyền Papua New Guinea phải mua 40 chiếc Maserati để chở các nhà lãnh đạo thế giới, giá mỗi chiếc khoảng 300.000 USD, chuyện này đã khiến người dân căm giận.
Vài ngày trước, tờ Người Úc (The Australian) đưa tin, trong dự toán ngân sách của Papua New Guinea năm 2019, chi phí cho y tế bị giảm 2%, còn chi phí cho nghĩa vụ trả nợ và chi phí hành chính tăng vọt. Trong khi đất nước này đang gặp khó khăn trong việc tái thiết sau khi mới trải qua một trận động đất tàn phá và một dịch bệnh bại liệt trẻ em
Là quốc gia nghèo nhất trong tổ chức APEC, nước này có khả năng tổ chức “hội nghị nhà giàu” lớn như vậy?
Phóng viên BBC gần đây đã đến Papua New Guinea tìm hiểu, được nghe hướng dẫn viên giới thiệu với cô rằng hội nghị thượng đỉnh này do Trung Quốc thực hiện: các con đường địa phương, địa điểm và thậm chí cả các trạm xe buýt đều được xây dựng bằng tiền của Trung Quốc.
Hầu hết các hoạt động APEC sẽ tiêu tốn khoảng 35 triệu đô la Úc (khoảng 26 triệu USD) được điều tiết bởi Trung tâm Hội nghị do Trung Quốc viện trợ xây dựng, ngoài ra Bắc Kinh đã tặng 9 xe cứu hỏa, 50 xe buýt lớn và 35 xe buýt mini cho sự kiện này.
Trong 10 năm qua, quy mô viện trợ và đầu tư của ĐCSTQ ở Thái Bình Dương đã tăng lên đáng kể. Theo Bản đồ Hỗ trợ Khu vực Thái Bình Dương của Viện Lowy, viện trợ của Trung Quốc cho Papua New Guinea vào năm 2016 là khoảng 20,83 triệu USD, nhưng con số đó tăng gấp ba lần sau một năm.
Cách làm của ĐCSTQ khiến phương Tây cảnh giác
Cách làm của ĐCSTQ đã làm cho nước Úc ở vùng bờ biển đối diện Papua New Guinea cảnh giác. Vào năm 1975 Papua New Guinea đã độc lập khỏi Úc trở thành thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh.
Trong một bài phát biểu vào ngày 1/11, Thủ tướng Úc Scott Morrison cho biết, ĐCSTQ đang thực hiện ảnh hưởng chưa từng thấy ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Khi mới nhậm chức vào đầu tháng Tám, ông cho biết Úc đang thúc đẩy ảnh hưởng của mình trong khu vực Thái Bình Dương, bao gồm cả việc xây dựng căn cứ Hải quân Lombrum Naval Base ở đảo Manus tại Papua New Guinea.
Để tăng cường mối quan hệ giữa các quốc gia phương Tây và quốc đảo Thái Bình Dương, vào tuần trước Úc đã công bố sẽ cung cấp 2,1 tỷ USD cho các khoản vay và phát triển cơ sở hạ tầng cho các quốc đảo Thái Bình Dương. Động thái được giới quan sát xem như nhắm vào ảnh hưởng ngày càng tăng của ĐCSTQ ở Thái Bình Dương.
Hãng tin AFP Pháp chỉ ra, một cuộc chiến căng thẳng gây ảnh hưởng ở khu vực Nam Thái Bình Dương đang ngày càng tăng lên. Khu vực đảo nhỏ này rất quan trọng đối với vận tải đường thủy quốc tế, đã trở thành vùng tranh chấp giữa Bắc Kinh và Washington để tăng cường sức mạnh quân sự và kinh tế trên khắp Thái Bình Dương.
Papua New Guinea cách quần đảo Mariana vài nghìn cây số, là nơi tọa lạc căn cứ quân sự chính của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương: căn cứ hải quân Guam.
Một báo cáo quân sự gần đây của Mỹ về sức mạnh quân sự của ĐCSTQ chỉ ra, hoàn toàn có khả năng quân đội Trung Quốc thực hiện các hoạt động quân sự  vượt qua chuỗi đảo đầu tiên. ĐCSTQ có thể sẽ “thể hiện khả năng chiến đấu chống lại Mỹ và các đồng minh của Mỹ và căn cứ quân sự Tây Thái Bình Dương, bao gồm cả đảo Guam”.
“Vành đai và Con đường” gây nghi ngờ
Trong thực tế, những tiếng nói đối lập trong nội bộ ở Papua New Guinea cũng rất lớn.
Tỉnh trưởng Gary Juffa của tỉnh Oro Province tại Papua New Guinea bày tỏ nghi ngờ về tăng đầu tư của Trung Quốc, ông ví dụ: Đại lộ Trung Quốc đầu tư xây dựng là “một con đường hoàn hảo”, nhưng “ai mà biết được lý do tại sao họ lại xây dựng nó?”
Allan Bird, nghị sĩ quốc hội nước này cho biết ông rất lo lắng về áp lực trả nợ Trung Quốc: “Dưới những hợp đồng chi phí cao ngất, nhà thầu Trung Quốc đang xây dựng đường giao thông, những người Trung Quốc đang làm việc trong các dự án này, còn chúng ta phải trả nợ”. Ông cũng chia sẻ rằng người Úc cũng hỗ trợ cho đất nước ông nhưng “chúng tôi không cần phải hoàn trả”, thực hiện đấu thầu công khai, công ty của Papua New Guinea có thể đấu thầu.
Thời báo Tự do Đài Loan (Liberty Times) chia sẻ nguồn tin tiết lộ, trong thời gian tổ chức APEC, các quan chức Trung Quốc cũng yêu cầu treo cờ 5 sao dọc theo các tuyến đường chính chào đón ông Tập Cận Bình, nhưng Papua New Guinea phải từ chối vì dựa trên sự tôn trọng đối với mỗi quốc gia tham dự, nhấn mạnh sẽ rút hết cờ 5 sao khỏi các đường phố trong ngày 16 để giữ hình ảnh công bằng của nước chủ nhà.
Đối với Mỹ và các nước phương Tây đang kiềm chế ảnh hưởng của ĐCSTQ, Đài BBC Anh đã cho biết, mặc dù các quan chức ở các nước Đông Nam Á không muốn công khai chỉ trích ĐCSTQ, nhưng có những chia sẻ kín với phóng viên BBC rằng các chính sách mới đối với Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Trump đã khích lệ họ nói dám thẳng thắn  hơn.
Nguồn tin cũng chỉ ra, do áp lực của Mỹ lên Bắc Kinh đã khiến các quốc gia khác mạnh dạn hơn để chỉ trích Bắc Kinh, trong khi vốn dĩ trước đây họ thường giữ im lặng. Sri Lanka, Malaysia và thậm chí Pakistan đã bày tỏ lo ngại về các dự án của Trung Quốc. Ví dụ như Panama, mặc dù nước này từng hoan nghênh đầu tư của Trung Quốc, nhưng giờ gây họ đang tìm kiếm các đối tác đầu tư mới ngoài Trung Quốc.
Trí Đạt / Trithucvn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giới thiệu tóm tắt sách Đường Về Nô Lệ (Đoạn 1)


Nguyễn Đình Cống

18- 11- 2018
GS Nguyễn Đình Cống

TS Chu Hảo cho xuất bản sách này năm 2009. Đó là một trong những chứng cứ để ĐCSVN kết tội ông. Đoán rằng nhiều người muốn đọc nhưng ngại sách dài, tôi xin tóm tắt thành vài trang để các vị dễ tham khảo. Nội dung sách nhằm trình bày luận đề sau: “Nền kinh tế kế hoạch hóa (KHH), tập trung quan liêu bao cấp, do nhà nước thống nhất quản lý sẽ tất yếu dẫn toàn xã hội đến tình trạng nô lệ”.


Tác giả là HAYEK, xuất bản lần đầu tại Anh năm 1944, nhiều lần tái bản. Tên sách: The Road to Serfdom. Phạm Nguyên Trường dịch ra tiếng Việt. Trong lời giới thiệu của bản tiếng Việt có viết: Việt Nam đã bắt đầu từ bỏ cơ chế KHH tập trung quan liêu bao cấp… Tuy thế, những di chứng mà cơ chế này gây ra cho xã hội vẫn còn đó và đang gây nhức nhối cho xã hội…

Khi cơ chế KHH tập trung ngăn cản các cá nhân quyền tự tìm kiếm thu nhập và sử dụng tài sản của mình cho những mục đích riêng tư tất dẫn đến những tác động tiêu cực về mặt đạo đức, thái độ, lối sống và cách ứng xử của con người,…khiến cho người ta chỉ biết phục tùng, mất khả năng tư duy độc lập, chỉ biết rập khuôn;… thay vào đó là các biện minh nhân danh cộng đồng hay sứ mệnh cao cả; kích thích người ta chạy theo lối sống xin xỏ, chạy chọt để hưởng đặc quyền đặc lợi, và quyền ban ơn huệ cho người khác, v.v… Những khó khăn mà người Việt Nam chúng ta đã trải nghiệm trong thời kỳ KHH đã được Hayek nhìn thấy trước từ cách đây hơn 60 năm khi ông cảnh báo những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra cho nước Anh.

Sách có các lời giới thiệu, dẫn nhập và 16 chương.

Dẫn nhập. Đã đến lúc phải nói rõ sự thật, dù nó có thể cay đắng đến đâu: chúng ta có nguy cơ lặp lại số phận của nước Đức (phát xít Hitle)… Đó là nền kinh tế KHH nằm trong tay nhà nước. Các xu hướng xã hội chủ nghĩa theo mô hình này. Sự tương đồng giữa những đặc điểm xấu xa nhất của các chế độ cộng sản Nga và chủ nghĩa xã hội quốc gia Đức đã trở nên rõ ràng… Chúng ta có thể rút ra được những bài học từ quá khứ nhằm ngăn chặn sự lặp lại của một số quá trình nào đó…

Chương1- CON ĐƯỜNG BỊ CHỐI BỎ

Đó là con đường phát triển tự do, phát triển cá nhân đang bị chối bỏ ở một số nước như Đức, Ý, Liên xô, để xây dựng chế độ toàn trị. Châu Âu đang bước vào khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng này chính là hậu quả của một sai lầm mang tính nguyên tắc, đấy là việc theo đuổi một vài lí tưởng đã đưa đến những kết quả khác xa những điều chúng ta kì vọng.

Trong quá trình phát triển, khi nền văn minh bỗng làm một cú rẽ ngoặt bất ngờ, khi đáng lẽ phải là tiến bộ thì ta lại phát hiện thấy những mối đe dọa từ tất cả các hướng, dường như đang đưa ta trở về thời kì mông muội, thế là chúng ta sẵn sàng kết án tất cả mọi thứ, trừ chính chúng ta….

Trong hai mươi lăm năm qua (1918- 1943), khi bóng ma của chủ nghĩa toàn trị còn chưa trở thành mối đe dọa thực tế, chúng ta đã càng ngày càng xa rời những lí tưởng nền tảng của nền văn minh phương Tây. Con đường phát triển mà chúng ta đã bước chân lên với những hi vọng trong sáng nhất lại dẫn chúng ta đến những nỗi kinh hoàng của chế độ toàn trị.

Chương 2- GIẤC MƠ ĐỊA ĐÀNG

Đó là giấc mơ về tự do, công bằng, hạnh phúc mà người ta đang ra sức kiến tạo ở nước Đức và Ý với chủ nghĩa phát xít và ở Liên xô với chủ nghĩa cộng sản. Cả hai bên đều chống lại con đường phát triển cá nhân, đều nêu cao con đường XHCN. Người ta cho rằng: “Chỉ có CNXH mới có khả năng đưa cuộc đấu tranh vì tự do diễn ra trong nhiều thế kỉ đến thắng lợi cuối cùng, trong đó tự do chính trị mới chỉ là bước đầu tiên mà thôi”.

Phát xít và cộng sản có lúc xung đột. Đấy là vì họ cạnh tranh với nhau trong việc thu phục những người có cùng não trạng và căm thù nhau vì đảng này coi đảng kia là những kẻ dị giáo, nhưng hành động của họ lại chứng tỏ rằng đấy là những kẻ đồng hội đồng thuyền. Kẻ thù thực sự của cả hai đảng, người chẳng có gì chung với họ, người mà họ chẳng thể nào thuyết phục được lại chính là người theo chủ nghĩa tự do kiểu cũ.

Lời hứa về một sự tự do rộng lớn hơn, không nghi ngờ gì nữa, đã trở thành một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất của bộ máy tuyên truyền XHCN và niềm tin rằng CNXH sẽ mang lại tự do là niềm tin chân thành và chân thật. Bi kich vì vậy sẽ trở thành nặng nề hơn khi người ta nhận ra rằng Đường đến Tự do mà người ta hứa hẹn, trên thực tế lại là Đại lộ dẫn về Nô lệ. Không nghi ngờ gì, rằng chính lời hứa có nhiều tự do hơn đã ngăn cản, không cho người ta nhận ra mâu thuẫn không khoan nhượng giữa các nguyên lí nền tảng của CNXH và chủ nghĩa tự do. Chính nó đã làm cho ngày càng có nhiều người theo trường phái tự do chạy sang phe XHCN và tạo điều kiện cho những người XHCN chiếm đoạt tên gọi của các đảng theo trường phái tự do trước đây. Kết quả là phần lớn giới trí thức đã chấp nhận CNXH vì họ coi nó là sự tiếp tục của truyền thống tự do: đối với họ, CNXH sẽ dẫn đến việc mất tự do là một ý tưởng không thể nào chấp nhận được.

Về phát xít và cộng sản, Max Eastman, một người bạn cũ của Lenin, rút ra kết luận đã làm cho ngay cả những người cộng sản cũng phải choáng váng. Ông viết: “Chủ nghĩa Stalin, không những không tốt hơn mà còn xấu hơn cả chủ nghĩa phát xít vì nó tàn nhẫn hơn, dã man hơn, bất công hơn, vô luân và thiếu dân chủ hơn, không thể biện hộ bằng hi vọng hay sám hối …Đúng hơn, phải gọi nó là siêu phát xít”

Chương 3- CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA TẬP THỂ

Trong phát triển kinh tế, chủ nghĩa cá nhân thể hiện bới sự cạnh tranh lành mạnh, còn chủ nghĩa tập thể đặc trưng bởi kế hoạch hóa. CNXH là một dạng chủ nghĩa tập thể. Về CNXH, cần phân biệt mục tiêu và biện pháp. Mục tiêu tự do, công bằng, hạnh phúc, là những điều tốt đẹp, hấp dẫn. Biện pháp là sự toàn trị, KHH v.v…Nhiều người ngộ nhận giữa mục tiêu và biện pháp. Có lẽ lầm lẫn là ở chỗ đáng lẽ phải sử dụng thuật ngữ CNXH để mô tả các biện pháp thì người ta lại dùng thuật ngữ mà đối với nhiều người lại có nghĩa là lí tưởng cao nhất.

Ý tưởng KHH được nhiều người ủng hộ trước hết là vì muốn giải quyết các vấn đề chung một cách hợp lí nhất, bằng năng lực viễn kiến có thể làm chủ được. Cái mà các đồ đệ của lí thuyết KHH yêu cầu là quản lí tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất, trong đó có ghi rất rõ các nguồn lực của xã hội được “chủ ý phân bổ” ra sao, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể nào.

Chủ nghĩa cá nhân ủng hộ việc sử dụng một cách tốt nhất các lực lượng cạnh tranh, coi đấy là biện pháp phối hợp hữu hiệu nhất các nỗ lực của con người. Nó xuất phát từ niềm tin rằng hệ thống cạnh tranh hiệu quả chính là kim chỉ nam tốt nhất cho các cố gắng của từng cá nhân. Nó không những không phủ nhận mà còn nhấn mạnh rằng để hệ thống cạnh tranh hoạt động hiệu quả thì phải có một khung pháp lí thật rõ ràng và các điều luật, cả trong quá khứ cũng như hiện tại, đều không tránh khỏi những khiếm khuyết nghiêm trọng. Nó cũng không phủ nhận thực tế rằng trong những lĩnh vực không thể tạo được điều kiện cho cạnh tranh hiệu quả thì phải dùng các biện pháp quản lí kinh tế khác.

Ý tưởng về việc quản lí tập trung toàn bộ nền kinh tế vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của nhiều người, không chỉ vì đấy là vấn đề cực kì phức tạp mà còn vì nỗi sợ hãi khi nghĩ đến việc quản lí tất cả mọi thứ từ một trung tâm duy nhất. Và nếu chúng ta, bất chấp tất cả, vẫn tiếp tục lao theo hướng đó thì chỉ là vì nhiều người vẫn nghĩ rằng có thể tìm được một con đường trung dung giữa cạnh tranh cá thể và KHH tập trung. Mới nhìn thì đấy là quan điểm hấp dẫn và thông minh. Đúng là có lẽ không nên đòi hỏi phi tập trung hóa và cạnh tranh tuyệt đối, cũng đừng nên tập trung hóa và KHH hết tất cả mọi thứ, mà là sự kết hợp một cách thông minh cả hai phương pháp. Nhưng hóa ra trong trường hợp này lương tri chỉ là một cố vấn tồi. Mặc dù cạnh tranh có thể chấp nhận một sự điều tiết nào đó, nhưng không thể kết hợp nó với KHH mà không làm giảm hiệu quả của nó trong việc dẫn dắt quá trình sản xuất. Đến lượt mình, KHH cũng không phải là một thứ thuốc có thể chữa được bệnh bằng liều lượng nhỏ. Sử dụng dưới dạng cắt xén thì cả cạnh tranh lẫn KHH đều sẽ mất hiệu lực vốn có của chúng. Đây là những phương án mà ta có thể lựa chọn để giải quyết cùng một vấn đề, áp dụng cả hai cùng một lúc sẽ dẫn đến thiệt hại, nghĩa là dẫn đến các kết quả đáng buồn hơn là chỉ áp dụng một cách nhất quán một trong hai nguyên tắc nói trên. Nói cách khác, có thể kết hợp giữa KHH và cạnh tranh để lập kế hoạch hỗ trợ cạnh tranh chứ không phải lập kế hoạch chống cạnh tranh.

(Chú thích của NĐC: Trong nhiều năm ở VN đã tuyên truyền rằng chủ nghĩa cá nhân là một thứ xấu xa, bỉ ổi, đê tiện v.v…, cần đấu tranh loại bỏ. Đó là một cách nhìn thiên lệch, chưa thấy được những mặt tích cực, tốt đẹp của nó, đã hình thành từ thời Phục Hưng)

Chương 4- KẾ HOẠCH HÓA LÀ TẤT YẾU

Đầu đề của chương không phải là một kết luận mà là một câu hỏi (nên thêm từ Phải chăng…?). Những người đề ra KHH viện dẫn nhiều lý do như sự tiến bộ của công nghệ, chống độc quyền của các tập đoàn, là khả năng đem lại công bằng và phát triển v.v… Họ cho rằng đó là con đường tất yếu, họ viện dẫn những thành tựu KHH của nước Đức để chứng minh. Tác giả đã lấy những nghiên cứu ở nhiều nước, đặc biệt ở Anh và Mỹ để cho rằng KHH nền kinh tế không phải là một nhu cầu tất yếu ngoại tại, mà là kết quả của một sự lựa chọn có ý thức của một số người nào đó, là rút ra từ học thuyết marxit.

Tuy vậy cần phải suy nghĩ xem vì sao lại có nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kĩ thuật luôn đi tiên phong trong việc ủng hộ KHH đến như thế. Việc giải thích hiện tượng này liên quan mật thiết đến một sự kiện quan trọng mà ta phải luôn ghi nhớ nếu muốn phê phánKHH: vấn đề là mọi ý tưởng kĩ thuật của các chuyên gia của chúng ta đều có thể được thực hiện trong một thời gian tương đối ngắn nếu có thể buộc cả loài người coi đấy là mục tiêu duy nhất.

Phong trào ủng hộ KHH lôi kéo được tất cả những người có lí tưởng, những người sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời vì một mục đích vinh quang nào đó. Niềm hi vọng mà họ đặt vào KHH chính là kết quả của một cách hiểu đời sống xã hội rất hạn hẹp của họ, và thường là kết quả của một sự khuyếch đại quá mức những mục tiêu mà họ cho là quan trọng nhất. Điều này thực ra không làm giảm giá trị thực dụng của họ trong xã hội tự do như xã hội của chúng ta, ở đây họ còn được mọi người thán phục nữa. Nhưng nếu như KHH được phép thực thi thì chính những người kêu gào KHH to mồm nhất sẽ trở thành những kẻ nguy hiểm nhất, và là những kẻ không khoan nhượng nhất đối với kế hoạch của những người khác. Vì từ người mộng mơ chân chính đến kẻ cuồng tín chỉ là một bước ngắn.

Và mặc dù hiện nay các chuyên gia bất mãn chính là những người kêu gọi KHH lớn tiếng nhất, thật khó tưởng tượng nổi sự khủng khiếp và phi lý của cái thế giới nơi mà giả dụ các chuyên gia lém nhất trong những lĩnh vực khác nhau được tự do thực hiện các lí tưởng của mình mà không có sự kiểm soát nào.

Và dù những người ủng hộ KHH có nói gì đi nữa thì “điều phối” cũng không thể trở thành một chuyên ngành mới được. Các nhà kinh tế học biết rõ hơn ai hết rằng họ không có kiến thức cần thiết để trở thành “nhà điều phối” vì phương pháp điều phối của họ là phương pháp không cần một nhà độc tài toàn trí toàn năng. Cách điều phối như thế chỉ có nghĩa là duy trì sự kiểm soát vô nhân tính, sự kiểm soát nhiều khi không thể hiểu nổi đối với những nỗ lực của các cá nhân, những sự kiểm soát mà các nhà chuyên môn kịch liệt phản đối.

Chương 5- KẾ HOẠCH HÓA VÀ DÂN CHỦ

Người ta cho rằng KHH nhằm phục vụ mục tiêu chung, nhằm đáp ứng nhu cầu tập thể, phù hợp với đạo đức ứng xử của xã hội. Đó là những suy luận mang tính ngụy biện. “Các mục tiêu xã hội”, “các mục đích chung” xác định xu hướng xây dựng xã hội được gọi một cách mù mờ là “lợi ích chung”, “phúc lợi chung”, “quyền lợi chung”. Dễ dàng nhận ra rằng tất cả các khái niệm đó không có một ý nghĩa rõ ràng để có thể thực hiện những hành động cụ thể nào. Mỗi người có mục tiêu và nhu cầu riêng, khác nhau. Điều quan trọng nhất là đạt được, thỏa mãn được cái riêng ấy. Có một số mục tiêu và nhu cầu của nhiều người giống nhau, nhưng lấy cái đó để làm cái chung, lấn át cái riêng là thiếu nhân văn.

Để làm kế hoạch của quốc gia người ta cũng thảo luận, biểu quyết, thông qua quốc hội, nhưng phần lớn chỉ là dân chủ hình thức. Quốc hội chỉ được xem là nơi tán dóc, vô tích sự, nó không thể hoạt động có hiệu quả khi trực tiếp quản lý nền kinh tế quốc gia.

Dân chủ thực chất là phương tiện, là một công cụ thiết thực để bảo vệ hòa bình trong xã hội và tự do cá nhân. Tự bản thân nó, dân chủ không phải là hoàn hảo, cũng chẳng phải là chắc chắn. Nhưng kế hoạch hóa nhất định sẽ dẫn đến chế độ độc tài vì độc tài là công cụ cưỡng bức và nhồi sọ tư tưởng hữu hiệu nhất, nhất là nếu KHH tập trung được thực hiện trên quy mô lớn. Xung đột giữa dân chủ và KHH xảy ra là vì dân chủ chống lại việc hạn chế tự do, nó là chướng ngại trên đường phát triển của nền kinh tế KHH.

Đã đăng trên Baotiengdan

(Còn tiếp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những trò chơi kích dục của Đoàn TNCS HCM


Những đoàn viên ưu tú là những hạt giống của Đảng CSVN với những trò chơi lố bịch, quái đản. Những trò chơi kích dục của các Đoàn, đội thanh niên cộng sản HCM nhằm vào mục đích gì? Không ít các em "phải" tham gia trò chơi tỏ ra ngượng ngùng. Chỉ có kẻ bày ra những trò chơi bẩn thỉu, hạ đẳng này mới phấn kích. Khi "lý tưởng", CNCS chỉ còn là con số không, phải bám víu vào những trò này để qui tụ thanh niên? Hay họ muốn "rường cột quốc gia" chỉ chúi đầu vào những trò chơi dâm dục này để không còn quan tâm đến xã hội và vận mệnh đất nước vốn đang bị đe dọa trầm trọng?




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thôi thì đủ mọi trò vè!

Văn bản “ma” mạo danh TTCP tuyên truyền phục vụ chính quyền Trung Quốc
Nguyễn Thiên Hà, ghi lại theo lời kể của bà Nguyễn Thị Ngọc Yến, Hà Nội
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ xuất hiện một văn bản của được cho là do Công đoàn Sở Y tế Phú Thọ ban hành có số 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018, nội dung của công văn này định hướng, chỉ đạo trực tiếp các công đoàn cơ sở trực thuộc phối hợp với các cấp, ngành, chính quyền địa phương nhằm ngăn cản một số hoạt động hợp pháp của người dân học Pháp Luân Công trên địa bàn tỉnh như: không được giới thiệu bộ môn này rộng rãi ngoài xã hội, không được tập luyện chung hay tổ chức các buổi gặp gỡ, giao lưu để chia sẻ thảo luận về Pháp Luân Công. 
Một phần của văn bản số 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018 
được cho là Công đoàn Sở Y tế Phú Thọ ban hành.
Điều đáng nói là Công văn số 144/CV-CĐYT cho biết rằng đã dựa vào hai văn bản khác để chỉ thị công đoàn cơ sở những hoạt động nói trên: một là văn bản mang số hiệu 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018 được cho là từ Văn phòng Chính phủ thông báo về kết luận của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề Pháp Luân Công, hai là văn bản số 333/CV-LĐLĐ ngày 20/9/2018 được cho là từ Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ về hướng dẫn thực hiện văn bản 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018.

LẦN THEO DẤU VẾT CỦA VĂN BẢN “MA”

Nhận thấy văn bản 144/CV-CĐYT ngày 21/9/201 có những nội dung tuyên truyền chia rẽ giữa những tầng lớp người dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau thông qua vu khống, bôi nhọ Pháp Luân Công giống với những luận điệu tuyên truyền giả dối của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công từ năm 1999, chúng tôi đã liên hệ đến Văn phòng Chính phủ và Liên đoàn lao động tỉnh Phú Thọ để tìm hiểu sự việc. 

Chúng tôi nhận được xác nhận từ Luật sư của Văn phòng Chính phủ cho biết công văn có số hiệu 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018 được nhắc đến trong văn bản 144/CV-CĐYT có nội dung thông báo về kết luận của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề Pháp Luân Công là không tồn tại trong hệ thống lưu trữ văn thư của văn phòng chính phủ Việt Nam. Luật sư cho biết, trong hệ thống văn bản của chính phủ, có 1 văn bản có cùng số hiệu 122/VB-VPCP được ban hành vào ngày 27 tháng 3 năm 2018 nói về một chủ đề khác ở Hải Phòng [1], hoàn toàn không có nội dung về Pháp Luân Công như những gì được nêu trong văn bản 144/CV-CĐYT

Như vậy, tuy chúng tôi chưa nhìn thấy công văn 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018 này nhưng thông qua những nội dung xác nhận bởi đại diện của Văn phòng Chính phủ cũng như những thông tin tra cứu công khai thì có thể khẳng định 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018 là một công văn giả mạo Thủ tướng Chính phủ và nhiều khả năng mục đích của văn bản “ma” này là để tuyên truyền những nội dung trái với luật pháp nhà nước Việt Nam về Pháp Luân Công, có chủ đích phục vụ cho những ý đồ của chính quyền Trung Quốc đối với Pháp Luân Công. 

Tiếp đến, chúng tôi đã đến Việt Trì để liên hệ Công đoàn sở Y tế và Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ để tìm hiểu và xác minh về công văn số 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018 và 333/CV-LĐLĐ ngày 20/9/2018 liên quan đến việc đề cập đến văn bản giả mạo nói trên. Chúng tôi không gặp được đại diện của Công đoàn sở Y tế để xác minh về công văn số 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018

Do vậy, chúng tôi chuyển sang liên hệ Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ để xác minh về cả hai công văn 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018 và công văn 333/CV-LĐLĐ ngày 20/9/2018. Các đại diện của Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ đã cho chúng tôi biết trong hệ thống văn thư của liên đoàn có ghi nhận văn bản số 333/CV-LĐLĐ, tuy nhiên, tại thời điểm đó họ không được phép cho biết cụ thể nội dung văn bản đó vì…chưa được lãnh đạo cho phép. Do vậy các cán bộ này đã hẹn sẽ trả lời sau khi kiểm tra lại chi tiết thông tin nội bộ.

Cho đến nay, đã nhiều tuần trôi qua, chúng tôi vẫn không nhận được phản hồi từ Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ dù đã cố gắng liên hệ, do vậy, chúng tôi vẫn chưa có câu trả lời chính xác về sự tồn tại của công văn số số 144/CV-CĐYT và 333/CV-LĐLĐ. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ngay cả khi tồn tại công văn 333/CV-LĐLĐ của Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ và 144/CV-CĐYT của Công đoàn sở Y tế tỉnh Phú Thọ với nội dung như trên thì nó cũng không có giá trị gì vì nó dựa trên một văn bản “ma” có số hiệu 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018 mạo danh Thủ tướng chính phủ với những thông tin đi ngược lại luật pháp, hiến pháp Nhà nước Việt Nam. 

Nói cách khác, cả 3 văn bản 122/TB-VPCP ngày 10/8/2018333/CV-LĐLĐ ngày 20/9/2018 và 144/CV-CĐYT ngày 21/9/2018 đều không có bất kỳ giá trị pháp lý hay căn cứ nào. Và, điều đáng lo ngại hiện nay là hành vi mạo danh chính phủ Việt Nam để lan truyền văn bản “ma” phục vụ cho chính quyền Trung Quốc phá hoại Pháp Luân Công ở Việt Nam gây chia rẽ, kích động thù hận và ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc nước ta.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến (Hà Nội) là một trong những người đã tiếp xúc với các đại diện của Văn phòng chính phủ và Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ. Bà bày tỏ sự lo ngại về “bàn tay của mật vụ Trung Cộng, Phòng 610” đứng đằng sau các văn bản “ma” mạo danh chính phủ Việt Nam khiến quyền lợi tối thiểu của người dân học Pháp Luân Công bị ảnh hưởng.

“Đây đúng là dấu hiệu rất bất thường vì suốt bao nhiêu năm qua chúng tôi những người học viên Pháp Luân Công đọc sách, luyện công không bị hỏi han hay cấm đoán gì từ các nhà chức trách vì đó là quyền tự do tối thiểu, ví như việc hít thở khí trời. Nếu có ai đó chưa rõ về môn này thì chúng tôi đều nói rõ sự thật và sau đó thì họ đều nhận thấy đây là môn tu luyện thật là tốt. Cho nên tôi nghi ngờ chỉ có bàn tay của phòng 610 là tổ chức duy nhất được lập ra từ thời Giang Trạch Dân làm Tổng bí thư ĐCSTQ. Do Giang Trạch Dân đố kỵ và lo sợ hoang tưởng về quyền lực của mình khi thấy số lượng người dân Trung Quốc theo học Pháp Luân Công cao hơn cả số đảng viên ĐCSTQ và nhiều người dành sự ngưỡng mộ cho ngài Lý Hồng Chí – tác giả sáng lập môn này, nên Giang Trạch Dân cho lực lượng chìm ‘Phòng 610’ đi phá hoại Pháp Luân Công khắp nơi.” Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến (Hà Nội)

CÁC LỰC LƯỢNG THEO VĂN BẢN “MA” THAM GIA GIẢI TÁN DÂN TẠI TƯ GIA

Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến kể rằng chính bà là nạn nhân của những hành vi xâm phạm nhắm vào nhóm người học Pháp Luân Công của những nhóm tổ chức xã hội ở Phú Thọ.

Theo bà Ngọc Yến, ở Phù Ninh (cách Việt Trì khoảng 30km), những người dân thiện lương nơi đây đã bị theo dõi, giám sát để bị bắt buộc “không được ra ngoài luyện công, không được tụ họp đọc sách và thảo luận về tu luyện Pháp Luân Công”… do chính quyền địa phương tin theo các văn bản “ma”. Bằng chứng là chiều ngày thứ Hai, ngày 08/10/2018 khi bà và các bạn đồng môn từ Hà Nội đến gặp gỡ, giao lưu cùng bạn bè tu tập Pháp Luân Công ở Phú Thọ thì xuất hiện một nhóm gần 30 người đến yêu cầu người dân giải tán, không được tụ tập trong nhà riêng.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến tường thuật lại diễn biến:

“Gặp gỡ đồng tu cùng chia sẻ tu luyện Pháp Luân Công là một sinh hoạt hết sức thiết thực và bổ ích mà chúng tôi luôn cố gắng thực hiện để cùng nhau đề cao tâm tính, đạo đức, sống tốt hơn theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn. Nhưng hôm đó, khi chúng tôi đang trao đổi thì xuất hiện một tốp gần 30 người gồm các thành phần chính quyền (mà sau này tôi biết họ đều là người cùng làng với các đồng tu), họ tham gia vào các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ,…và họ lấy danh nghĩa của các hội này đến ngăn cản chúng tôi, họ yêu cầu giải tán và bắt chúng tôi ký tên vào văn bản cam kết không tu luyện Pháp Luân Công và không tụ họp để thảo luận về Pháp Luân Công…Tất nhiên không ai trong chúng tôi ký cả, đơn giản bởi vì chúng tôi biết chúng tôi làm điều đúng đắn và không bao giờ chúng tôi coi mình là phe “đối kháng” với chính quyền.”

Bà Yến kể lại: “Để hóa giải những hiểu lầm khi đó, chúng tôi đã nói với những người xuất hiện ở nhà của bạn tôi những sự thật về Pháp Luân Công với mong muốn để họ hiểu rõ mà hành xử cho hợp lý. Đúng là còn nhiều người hoặc không để ý, hoặc bị đầu độc đã hiểu rất sai về Pháp Luân Đại Pháp nên họ làm theo một cách mù quáng các lệnh của kẻ giấu mặt mà tôi nghi ngờ chúng chỉ là tay chân của Phòng 610 hoạt động gián điệp trong một số bộ phận quản lý nhà nước muốn dùng người Việt trị người Việt, chia rẽ đoàn kết và hủy hoại niềm tin của chúng tôi.”

Những lo ngại của bà Ngọc Yến trên thực tế đã được minh chứng bằng chính tình huống bà và những người bạn đồng tu Pháp Luân Công của bà ở Phú Thọ gặp phải. Đó là các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương vì tin theo văn bản “ma” mà hành xử vi phạm pháp luật, xâm nhập gia cư bất hợp pháp và vô lối cấm đoán người dân trong khi không có quyền hành lẫn căn cứ pháp lý trong tay. Theo tôi, chính những hành động của các tổ chức này mới gọi là “cực đoan”, “gây mất an ninh trật tự”, “chống phá”,…khi phá vỡ hoạt động sinh hoạt yên ổn của người dân. Những hành động này “trùng hợp thay” rất phù hợp với ý đồ chia rẽ “dùng người Việt trị người Việt” của chế độ Trung Quốc và mục tiêu bành trướng cuộc đàn áp Pháp Luân Công ra ngoài đại lục của Giang Trạch Dân.

“Tôi tin rằng không có người Việt Nam nào lại muốn tham gia vào việc cản trở người dân nước mình thực hành tu theo chân thiện nhẫn để đề cao tâm tính và cải thiện sức khỏe” – Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến (Hà Nội)

Nguyễn Thiên Hà

Phần nhận xét hiển thị trên trang