Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

‘Phong kiến’ có đúng như những gì chúng ta vẫn nghĩ không?


“Phong kiến” là cụm từ có ấn tượng với những người trung tuổi trở lên, họ đã trải qua những năm tháng mà từ “phong kiến” có tính sát thương rất lớn, hễ cái gì bị quy là “phong kiến” thì liền bị bài xích. Vì vậy rất nhiều di tích lịch sử văn hóa cùng các văn vật văn hóa truyền thống đã bị tàn phá mà chẳng cần biết là tốt hay xấu.
Thời đó, tất cả các tín ngưỡng hàng ngàn năm của dân tộc đối với Phật, Đạo, Thần, tất cả các quan niệm, hiện tượng về luân hồi, nhân quả, báo ứng, và các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống đều bị chế giễu, phê phán và quy chụp là “phong kiến mê tín dị đoan”.
Sau đó thông qua các biện pháp “tuyên truyền”, “giáo dục” liên tiếp, đồng loạt, kéo dài trong nhiều năm, khiến cho mọi người khi nói đến “phong kiến mê tín dị đoan” liền nghĩ ngay đến ngu muội dốt nát, yêu ma quỷ quái.
Thế nào là “phong kiến”?
Từ “phong kiến” xuất hiện sớm nhất trong sử sách là trong “Tả truyện” rằng: “Xưa Chu Công đau buồn vì Nhị thúc không quy phục, nên đã phong kiến (phong đất, dựng lãnh địa) cho thân thích để làm phiên giậu che chắn cho nhà Chu”.
“Phong kiến” có nghĩa là “phong bang kiến quốc”, tức là phong đất đai và tước vị vương, đứng đầu một vùng lãnh thổ, một nước nhỏ. Thiên tử đem các vùng đất ngoài vùng thiên tử trực tiếp cai quản ra, phân chia phong cho các chư hầu. Chư hầu dưới ân trạch của vị “chủ thiên hạ” (thiên tử), kiến lập quốc gia và quân đội riêng. Đến lượt các chư hầu cũng vậy, trong quốc gia riêng của họ, họ lại đem các vùng đất ngoài sự cai quản trực tiếp của mình ra phân phong cho các khanh đại phu.
“Phong kiến” có nghĩa là “phong bang kiến quốc”, tức là phong đất đai và tước vị vương, đứng đầu một vùng lãnh thổ, một nước nhỏ. (Ảnh minh họa: comuseum.com)
Chế độ “phong kiến” này chỉ tồn tại ba đời nhà Hạ, Thương, Chu ở Trung Quốc. Từ thời Tần Thủy Hoàng là đã “phế bỏ phong kiến, đặt ra các quận huyện”. Đến đời sau, cũng ngẫu nhiên có phong bang kiến quốc cục bộ trong thời gian ngắn, nhưng đều không giống với ba đời triều đại cổ nói trên. Nói tóm lại, từ thời Tần Thủy Hoàng trở đi trong 2000 năm là không tồn tại chế độ phong kiến.
Các nước Á Đông khác như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… đều theo mô hình quân chủ thống nhất của Trung Quốc, nhất là Hán, Đường. Tuy trong lịch sử các nước này cũng có những giai đoạn ngắn cát cứ, nhưng đó là các thế lực cát cứ tranh hùng, chứ không phải phong kiến do hoàng đế, quân vương phong đất dựng nước, lãnh địa một cách hợp pháp.
Dùng sai từ “phong kiến”
Đến thời cận đại, người Nhật dùng từ Hán-Nhật “Phong kiến” để phiên dịch từ “Feudal”, thực ra cách dùng từ này không chính xác.
Theo từ điển Cambridge, từ “Feudal” được giải thích là liên quan đến hệ thống xã hội ở Tây Âu thời Trung Cổ, hoặc xã hội nào được tổ chức theo cấp bậc. Ở xã hội phong kiến, người ở một tầng thứ xã hội nhận đất, sống và làm việc trên đất đó từ người có cấp bậc cao hơn, và họ phải làm việc cho người kia, và phải chiến đấu cho người kia khi cần thiết, nhiều khi còn phải cung cấp lương thực cho người kia. Nhưng đó chỉ là định nghĩa về hình thức, mà chưa xét đến bản chất.
Về mặt thuật ngữ, chế độ phong kiến (phong tước, kiến địa) là một từ gốc Hán-Việt: 封建, xuất phát từ hệ tư tưởng chính trị thời Tây Chu, Trung Quốc. Vào thời này, vua Chu ra chế độ đem đất đai phong cho bà con để kiến lập các nước chư hầu gọi là “phong kiến thân thích”. Do chế độ này giống chế độ phong đất cho bồi thần ở Châu Âu nên người ta đã dùng chữ “phong kiến” để dịch chữ “Féodalité” từ tiếng Pháp. Tuy vậy cả hai chữ này chỉ mới phản ánh hình thức phân phong đất đai chứ chưa phản ánh bản chất của chế độ đó. Trong các ngôn ngữ châu Âu, “Féodalité” bắt nguồn từ chữ “Feod” trong tiếng Latinh nghĩa là “lãnh địa cha truyền con nối”.
Trong các ngôn ngữ châu Âu, “Féodalité” bắt nguồn từ chữ “Feod” trong tiếng Latinh nghĩa là “lãnh địa cha truyền con nối”. (Ảnh: infoescola.com)
Từ “Feudal” là chỉ chế độ lãnh chúa thời Trung Cổ ở châu Âu. Về bề ngoài mà nói, các lãnh chúa, phong thần và thái ấp châu Âu tương tự chế độ phong kiến Hạ, Thương, Chu phương Đông. Thực tế hai chế độ đó hoàn toàn khác nhau. Ba triều đại phong kiến phương Đông là từ trên xuống dưới, còn chế độ lãnh chúa châu Âu là từ dưới lên trên. Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, châu Âu không có chính quyền thống nhất, thế là các nhóm người liên kết lại với nhau, dựa vào những quý tộc nhỏ khác nhau, để xin được bảo vệ. Các quý tộc nhỏ lại hợp nhau lại dựa vào các đại quý tộc khác nhau, như thế hình thành lên cục diện xã hội Trung Cổ ở châu Âu.
Từ “phong kiến” mặc dù bị hiểu sai như thế này nhưng đã được người Nhật sử dụng, rồi đến thời kỳ đầu thời Dân Quốc ở Trung Quốc, một số trí thức chống truyền thống, du học ở Nhật đem về Trung Quốc sử dụng, rồi sau đó lan truyền qua nước ta.
“Phong kiến” bị lợi dụng ra sao?
Sau khi từ “phong kiến” được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc, từ những năm 20 thế kỷ 20 đến gần đây, trước khi đổi mới, mở cửa, thì suốt thời gian dài, tất cả các vấn đề truyền thống đều bị quy chụp là “phong kiến”, “tàn dư phong kiến”. Rồi sau đó các phong trào “chống phong kiến” thực sự đã phá hủy rất nhiều những tinh hoa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, phá hủy tín ngưỡng vào Thần, Phật, Trời, các Thần Đất, Núi, Sông, Biển, phá hủy tín ngưỡng thờ Tổ tiên. Mất đi tín ngưỡng Thần Phật, nhân quả khiến cho con người không còn e dè sợ sệt điều gì, cái gì cũng dám làm, vì tiền tài danh lợi, vì tranh đoạt địa vị, danh tiếng mà tìm đủ thủ đoạn tàn sát nhau.
Các phong trào “chống phong kiến” thực sự đã phá hủy rất nhiều những tinh hoa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc. (Ảnh: vietnam-guide.com)
Chính vì không hiểu rõ từ “phong kiến’ nên mấy chục năm qua đã nhiều người hiểu sai, hành động sai, dẫn đến cực đoan, phá hoại, tàn phá các di tích văn hóa lịch sử, bài xích những giá trị tinh hoa văn hóa truyền thống, vì quy hết thảy mọi thứ thuộc về quá khứ là “phong kiến” lạc hậu.
Từ ngữ cứ ngỡ đơn giản, dùng đúng sai cũng chẳng có ảnh hưởng gì, chẳng tác hại gì. Nhưng thực tế, từ ngữ là phản ánh nhận thức của xã hội, phản ánh sai sẽ dẫn đến một xã hội hiểu sai lệch lịch sử, văn hóa, nhân văn, có thể dẫn đến tai họa cho chính xã hội đó.
Nam Phương 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lương an ninh quốc phòng cao còn giáo viên và nông dân thấp


23 tháng 8 2018 - Một nhà khoa học Việt Nam đưa ra đánh giá nói công an và quân đội có thu nhập chính thức cao nhất, còn nghề giáo và làm nông là thấp nhất nước này. Tin này cũng phù hợp với xu hướng thi tuyển đại học gần đây cho thấy các trường an ninh đặt điểm chuẩn cao vì thu hút đông thí sinh, còn ngành sư phạm bị chê. Theo một công bố hồi tháng 7/2018, trong công an và quân đội ở Việt Nam, cấp hạ sỹ có lương 4,4 triệu đồng/tháng, hàm đại tướng được 14,4 triệu đồng/tháng. Ngành an ninh Việt Nam đang thu hút nhiều thanh niên nên điểm trúng tuyển vào các học viện, trường đại học ngành này có chuẩn rất cao, lên đến 30,5 điểm. Riêng ngành sư phạm "ế ẩm" tới mức điểm chuẩn cao hay thấp, vẫn không có người học, theo Zing.vn.
Nữ quân nhân Việt Nam tham dự
 International War Games ở Nga
Tiến sỹ Trần Quang Tuyến từ trường ĐH Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội nêu các đánh giá này hôm 20/08 tại hội thảo "Ước tính tỷ suất sinh lợi và chi phí đơn vị trong giáo dục đại học Việt Nam", theo trang VietnamNet. Nghiên cứu này không nói đến thu nhập làm thêm của đối tượng được đánh giá, chẳng hạn như giáo viên vì thu nhập thấp có làm nghề phụ.

Và người có bằng đại học thu nhập cao hơn người chưa tốt nghiệp đại học, nhưng khi đã cùng có bằng đại học thì có sự khác biệt về thu nhập giữa các ngành nghề.

"Việc học đại học ở Việt Nam mang lại mức thu nhập cao hơn không học đại học ở tất cả các ngành. Trong đó, ngành an ninh quốc phòng có mức thu nhập cao nhất, ngành nông nghiệp có mức thu nhập thấp nhất."

Vẫn theo báo Việt Nam, phân tích của nhóm nghiên cứu "dựa trên quy luật thống kê số lớn, với dữ liệu dựa trên khảo sát điều tra lao động việc làm trên cả nước quý 1/2018 do Tổng cục Thống kê cung cấp".

"Những ngành như Y, Sư phạm công việc vất vả mà lương không cao nên người lao động phải tính đến chuyện làm thêm bên ngoài."

Vì thế, "thu nhập thực của họ có thể cao hơn thống kê," báo Việt Nam trích lời TS Trần Quang Tuyến nói.

Nhà khoa học cũng băn khoăn về thu nhập của ngành nông nghiệp - thấp nhất thống kê ở Việt Nam, nước có dân số làm nông đông.


Cảnh sát và quân nhân VN trong công tác cứu trợ sau bão Doksuri ở Hà Tĩnh, tháng 9/2017- hình minh họa

Thu nhập từ lương

Với người làm việc tại khu vực công, thu nhập chính về lý thuyết, thường đến từ lương.

Theo các tài liệu công bố ở Việt Nam tháng 5/2018, với mức lương của Việt Nam hiện nay, thấp nhất là người lao động hưởng lương cơ sở.

Ngành an ninh quốc phòng có mức thu nhập cao nhất, ngành nông nghiệp có mức thu nhập thấp nhất. TS Trần Quang Tuyến

Cao dần lên đến cao nhất là lương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội...

Ở Việt Nam, lương cơ sở là hệ số 1, lương người tốt nghiệp đại học ra trường là 2,34 (hệ số nhân với mức lương cơ sở hiện nay là 1,3 triệu đồng, theo một bài trên Trí Thức Trẻ hồi tháng 5.

Theo trang Thư viện Pháp luật, từ ngày 1/7/2018, mức lương tháng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ sẽ là 13.483.000 đồng (hệ số lương bậc 1) và 14.317.000 đồng đối với Hệ số lương bậc 2.

Nông nghiệp ở Việt Nam có lực lượng lao động 
đông đảo nhất nhưng thu nhập thấp nhất

Cũng theo nguồn này, từ ngày 1/7/2018, mức lương của Chủ tịch nướclà 18.070.000 đồng/tháng.

Riêng các ngành an ninh, quốc học thường có hệ số tăng lương theo cách khác với những ngành dân sự.

Theo một công bố hồi tháng 7/2018, trong công an và quân đội ở Việt Nam, cấp hạ sỹ có lương 4,4 triệu đồng/tháng, hàm đại tướng được 14,4 triệu đồng/tháng.

Ngành an ninh Việt Nam đang thu hút nhiều thanh niên nên điểm trúng tuyển vào các học viện, trường đại học ngành này có chuẩn rất cao, lên đến 30,5 điểm.

Riêng ngành sư phạm "ế ẩm" tới mức điểm chuẩn cao hay thấp, vẫn không có người học, theo Zing.vn.

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-45287209

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Kỷ niệm" về ông John McCain


Ông John mất vào lúc chiều 25.8 theo giờ quê ông ấy, chứ nếu còn nằm ở Hỏa Lò thì tức là vào giờ mão Hà Nội sáng nay 26.8. Đi vào giờ mão, khi đã hết canh 5, đã qua đêm, bước sang ngày mới, cũng là điều tốt lành cho cả vong lẫn người thân còn sống. Nghe các cụ bảo vậy. Thôi thì tiễn ông đi về chốn cực lạc, nơi đó không có thứ chính trị phức tạp, không có cả ung thư.

Ngày xưa, ở miền Bắc, chúng tôi nghe đài nhà nước, đọc báo nhà nước, thấy gọi ông là Giôn Mắc Kên. Có đứa thắc mắc chắc "thằng" này cùng họ với thằng Giôn Xơn. Gọi là thằng bởi cụ Hồ từng điểm mặt chỉ tên "Giôn Xơn và bè lũ phải biết rằng...", thằng là đúng rồi. Có đứa trong lớp 5 tôi học, khi Mỹ bỏ bom xuống trận địa tên lửa Mả Đò, mảnh bom phạt cành tre gần chỗ lớp học sơ tán rào rào, ngồi trong hầm, nó còn buột mồm chửi "địt mẹ thằng Giôn Xơn".

Ông Giôn bị bắn rơi năm 1967, năm đó thật kinh khủng. Cứ nhìn lên giời là thấy máy bay Mỹ, bất kể ngày đêm. Hồi đó bắt sống được phi công John MacCain như bắt được vàng. Báo đài nhà nước gọi bọn phi công Mỹ là giặc lái. Nghe đài nhà nước nói "thằng này là con của một thủy sư đô đốc Mỹ, chỉ huy hạm đội 7", chức to như đại tướng Võ Nguyên Giáp nhà ta, chứ không phải chỉ đại tá như ông tư lệnh hải quân Nguyễn Bá Phát, nghe mà kinh. Người ta còn xì xào, nếu đổi tù binh, chỉ mình "thằng" Giôn cũng đủ đổi hàng mấy trăm Việt cộng cấp cao, còn nếu giữ nó đến ngày kết thúc chiến tranh, sẽ bắt Mỹ bồi thường được nhiều lắm, cả mấy nghìn lạng vàng chứ không ít (hồi đó vàng hiếm). Vì thế, nó được giam giữ riêng rất cẩn mật, có chế độ ăn uống riêng, thậm chí còn được uống cả nước thịt gà ép chứ không cần phải nhai (thức bổ dưỡng này chỉ phi công ta như anh Trần Hanh, anh Phạm Ngọc Lan, anh Nguyễn Văn Bảy… mới được dùng). Không ai được gặp nó, chỉ trừ… nhà văn Nguyễn Tuân. 

Đúng thế thật, nó vào Hỏa Lò ít hôm, nhà nước tổ chức cho cụ Tuân vào "phỏng vấn" nó, một cuộc phỏng vấn có một không hai, không tiền khoáng hậu, kinh thiên động địa. Tôi còn nhớ đài hồi ấy có đọc bài phỏng vấn của cụ Tuân, phải hai đêm mới hết, sau này nó được in trong tập “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” năm 1972, nhớ mãi chi tiết cụ nhà văn kể khi “thằng” Giôn Mích Kên (cụ Tuân phiên âm kiểu riêng như vậy) hỏi xin điếu thuốc, cụ bèn hãnh diện mà “tôi cắm điếu thuốc vào mặt thằng Mích Kên”, thứ thuốc Thăng Long nổi tiếng lúc bấy giờ, mà Mích Kên lại rơi trên hồ Trúc Bạch của “Thăng Long phi chiến địa”. Ai cũng lắc đều lè lưỡi, phục cụ nhà văn này làm kiểu gì cũng đắt, cách viết cũng khiếp. Thầy giáo dạy văn của tôi bảo viết “cắm thuốc vào mặt” chỉ có cụ Tuân mới nghĩ ra và viết được. Thầy nói, đó là tư thế của người chiến thắng với kẻ bại trận. Đám chúng tôi phục lăn, mặt cứ nghệt ra, phục cụ nhà văn, phục thầy giáo, ghét “thằng” Giôn Mắc Kên ra mặt.

Lại chút kỷ niệm nữa. Tháng 3.1973, thầy trò khoa Văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội lục tục khăn gói quả mướp kéo nhau từ nơi sơ tán huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc ven sông Cầu hồi cư về thủ đô. Thời ấy làm gì có xe ô tô vận chuyển, chỉ rặt đi bộ, mấy chục cây số. Mỗi đứa sinh viên, ngoài hành trang riêng (thường chỉ có cái ba lô lép xẹp) còn phải gùi một bó sách giúp cho thư viện khoa của bác Trinh. Hôm ấy, chả còn nhớ hôm nào tháng 3.1973, vừa ăn tết âm lịch xong được ít ngày, thầy trò về qua ngã tư Sở thì phải dừng lại cho đoàn xe ca Karosa chở phi công Mỹ ra sân bay Gia Lâm. Nhìn nhau rõ lắm. Bọn Mỹ đều thò đầu ra cửa xe, mặc áo đồng phục màu xanh nhạt mới tinh, nhiều đứa vẫy vẫy chào người hai bên đường. Anh Huy Cờ cùng lớp tôi, sau này là nhà văn, nhà viết chèo, người Hà Bắc, cười bảo không biết trong đám kia có thằng Giôn Mắc Kên không nhỉ. Rất nhiều phi công Mỹ bị bắn rơi, bị bắt sống, không nhớ ai, chỉ nhớ “thằng” Giôn Mắc Kên.

Lần cuối nhớ về John McCain là tháng 7.2014 báo chí đưa tin ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm Mỹ. Hồi ấy nghe thiên hạ xì xào đồn ông Nghị này sẽ lên Tổng bí thư, cơ cấu rồi, đi cho quen việc quốc gia, chứ cứ quanh quẩn mãi đất Thăng Long thì biết ngày nào khôn. Đi Mỹ thì nhớ ghé thăm Giôn Mắc Kên bởi ông Giôn này với một ông Giôn nữa, cựu binh tham chiến VN, là ông John Kerry, có công lớn lắm trong việc bắc cầu quan hệ Mỹ-Việt. Khổ nỗi, chả biết thằng bá vơ trợ lý nào tham mưu cho ông Nghị, thế là tới thăm Thượng nghị sĩ John McCain, bố Nghị nhà ta tặng ngay cho ông bạn quý của tình hữu nghị Việt-Mỹ một bức ảnh chụp cái đài kỷ niệm xây ven hồ Trúc Bạch tạc khắc chiếc máy bay của ông Giôn bị bắn rơi xuống hồ và ông Giôn đang bị bắt cầm tù. Không nghe báo chí nhà ta tường thuật thái độ của ông nghị sĩ Giôn thế nào, nhưng tôi nghĩ chắc ông ấy sầm mặt xuống. Lão hàng xóm Maddox nhà tôi bảo, tặng đéo gì lại không tặng, chùa Một Cột, tháp Rùa, lăng Bác… chẳng hạn, lại tặng ký ức bới nỗi đau nỗi nhục, ngu đéo gì ngu thế.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VĨNH BIỆT MỘT NGƯỜI BẠN LỚN CÙA NHÂN DÂN VIỆT NAM!




Một người bạn lớn đã ra đi 

Nguyễn Ngọc Chu
26-8-2018

1. Lúc đang bị giam cầm tại Hỏa Lò Hà Nội, vì ông nội và bố đều là Đô đốc Hải Quân 4 sao, John McCain được đề nghị phóng thích sớm nhưng ông đã từ chối. Ông nói rằng người nào bị bắt trước thì phải được thả trước. Đó là một nhân cách lớn của con người John McCain. 


2. Vứt nỗi nhục tù binh và nỗi thù hận hai chiến tuyến, John McCain khi trở thành Thượng nghị sĩ bang Arizona vào năm 1987 đã có bước ngoặt bản lề, khởi động một chiến dịch bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Cùng với John Kerry và sau này là Bob Kerrey, John McCain là đầu tàu cho chính sách bình thường hóa quan hệ Mỹ- Việt. Ông không chỉ thực hiện những nhiệm vụ đá tảng trong chính sách bình thường hóa quan hệ với Việt Nam của chính quyền tổng thống Bill Clinton, mà còn đối mặt gạt phăng những cản trở của phái diều hâu trong bộ quốc phòng, làm tan đi những mặc cảm và thù hận của các cựu binh chiến tranh Việt Nam, để cuối cùng năm 1995, Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ. Một chặng đường 30 năm gian khó sau chiến tranh của cả hai dân tộc. Đó là tầm nhìn sáng của một chính khách, và một nhân cách lớn nữa của John McCain. 
3. John McCain là người đối địch với chủ nghĩa cộng sản. Nhưng ông đã gạt bỏ rào cản thù hằn ý thức hệ, để ủng hộ Việt Nam ở mọi nơi mọi lúc trong mọi khả năng có thể. Ông luôn là một lá chắn trước mọi sự tấn công Việt Nam ở Đảng Cộng Hòa hay ở Đảng Dân Chủ, ở chính trường hay ở ngoài xã hội. Đó là tình yêu và thiện cảm của ông dành riêng cho nhân dân Việt Nam. Coi thường nỗi nhục tù binh, bỏ qua nỗi hận thua cuộc mà hành động. Không chỉ là tầm nhìn mà còn là sự cao thượng và nhân bản.

4. John McCain luôn cất tiếng nói đầu tiên và mạnh mẽ phản kháng sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông Nam Á. Ông là người chống đối kịch liệt mọi chính sách nước lớn ức hiếp nước bé. Ông là đập tràn ngăn cản sự bành trướng. Đó là một tính cách nổi trội rất John McCain.

5. Suốt 31 năm hoạt động chính trị trong tư cách thượng nghị sĩ, John McCain là chính khách phản biện xuất sắc trước các tình huống chính trị thế giới, trước mỗi biện pháp hành động của Chính phủ Mỹ. Ngay cả ở tháng cuối cùng của cuộc đời, sau một năm chống chọi với bệnh ung thư não, trong tình cảnh thật bi đát, nhưng John McCain không rời các phản ứng với tình hình quốc tế, với chính sách của Chính phủ Mỹ. Trí tuệ và sức làm việc của John Mccain thuộc lớp người siêu hạng.

Sự ra đi của Thượng nghị sĩ John McCain là một tổn thất không chỉ của nhân dân Mỹ. Nhân dân Việt Nam đã mất đi một người bạn chân tình, một đồng minh chống lưng mạnh mẽ, hiệu quả. Ngoài nước Mỹ, có lẽ không nước nào nhận được sự ủng hộ của ông như Việt Nam.

Thương tiếc, kính nể và cảm ơn Thượng nghị sĩ John McCain.

____________
.
Đạo diễn Trịnh Thanh Nhã: 

Chiều nay, hai người sống sót qua chiến tranh đến tưởng niệm cựu phi công, thượng nghị sĩ Mỹ Jon Mac Cain tại đài tưởng niệm phi công Mỹ bị bắn rơi tại Hồ Trúc Bạch.



 Nhà văn Lê Phương và Đạo diễn Long Vân bên tượng đài.


NGUYỄN HỮU ĐANG - MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT TẤN BI KỊCH LỚN

Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang (15-8-1913 - 15-8-2018)


Thưa chư vị, ngày 15.8.2018, 105 năm ngày sinh củaNhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang (1913-2007). Ông là một nhà báo, một trong những người sáng lập nên Hội truyền Bá Quốc ngữ, là thứ trưởng Bộ Thanh Niên và là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân. Ông cũng bị kết án 15 năm tù trong vụ án Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.
Nguyễn Hữu Đang là một người cương trực, thẳng thắn, một nhà hoạt động chính trị, văn hoá nổi tiếng và là một nhân cách lớn. Mặc dù bị oan khuất gần 30 năm, nhưng trong những tác phẩm của ông, người ta không thấy sự oán giận mà chỉ thấy sự khoan dung, nhân hậu, lòng tin vào tương lai của đất nước, dân tộc. (Theo Wikipedia)
Nguyễn Hữu Đang là một ông tiên bị đày xuống trần gian đầy cực nhọc trong khoảng gần 100 năm mà một số người trong chúng ta may mắn hạnh ngộ. Tưởng nhớ Ông, xin thắp nén tâm hương bái vọng và trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Lê Thọ Bình để chia sẻ cùng chư vị. - Lâm Khang chủ nhân.
____________________

Nguyễn Hữu Đang: một bi kịch lớn 


Lê Thọ Bình 

Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhảy tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn Giai phẩm”.

Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”. 

Hành trình bài bút ký 

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc tại Thái Bình, quê ông.

Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai, đầu đội chiếc mũ lá tuềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn Giai phẩm” đây sao!

Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang. Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.

Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM,tạp chíThế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.

Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được "phục hồi", năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.
Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy, cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.

6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thôn ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.

Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được. Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng. Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông. 

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô 

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa. Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc. Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa – kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?

Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.

Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.

Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đày, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc - nhái - chuột - rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.

Thấy mấy cuốn sách, vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường, tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chậm chạp, run rẩy đứng dậy khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa Petit Larousse in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hở bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe: “Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.

Câu cuối ông nói ra vừa có gì giễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác – kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ! 

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai? 

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản "Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang" do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học Trường Sư phạm Hà Nội.
Thủ bút Nguyễn Hữu Đang. Nguồn: Diễn Đàn.org

Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay(cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu).

Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên Ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, Trưởng ban Dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.

Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và Thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.

Năm 1943-46 ông tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá Cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 8-1945 ông tham dự Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng ban Tổ chức Ngày lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.

Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.

Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.

Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.

Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha Bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4-1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân văn, giúp đỡ tập san Giai phẩm

Phong trào “Nhân văn Giai phẩm” 

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân văn Giai phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).

Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận "nảy lửa" chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là "sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết". Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.

Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: "Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn nghệ – VN) rằng: "Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai phẩm Mùa xuân nó làm".

Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: "Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang". Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong Ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân văn, nhưng vô hiệu”.

Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, "đầu sỏ". Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo. Thông qua tờ báo Nhân văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị... ".

Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân văn Giai phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.

Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân vănlà hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu, v.v. Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.

Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1). Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2). Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (3). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi”.

Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.

Sau này có lần Nguyễn Hữu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!”. 

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam? 

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài – tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?” – “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… – phiên tòa bao gồm những người ủng hộ Chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn – họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.

Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”. 

Mối tình bi thương 

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.

Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.

Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngả màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị... không thích đua đòi”.

Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?... Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”... Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.

Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời... Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.

Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.

Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm Chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được một vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.

Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.

Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của mình như sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “Tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “Vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”...

Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”...

Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.

Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.

Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau. 

Trường Sa
Tháng 4 năm 2014 
L.T.B. 
Nguồn: ngominh.vnweblogs.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dân Venezuela bỏ nước ra đi đến mức ‘khủng hoảng’


25/08/2018 - Làn sóng người dân Venezuela ồ ạt bỏ nước ra đi đang tiến đến mức độ khủng hoảng tương đương với các cuộc khủng hoảng người tị nạn trên Địa Trung Hải, Reuters dẫn lời cơ quan di trú của Liên Hiệp Quốc hôm 24/8 cho biết. Hôm thứ Năm ngày 23/8, IOM và Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) đã kêu gọi các nước Mỹ Latin nới lỏng điều kiện nhập cảnh cho người dân Venezuela. Kể từ năm 2015, hơn 1,6 triệu người dân Venezuela đã bỏ nước ra đi.

Người dân Venezuela tại biên giới giữa Colombia và Ecuador
Trong lúc ngày càng có nhiều người Venezuela bỏ chạy khỏi tình trạng suy sụp kinh tế và hỗn loạn chính trị của đất nước và đe dọa tràn ngập các nước láng giềng, các quan chức từ Colombia, Ecuador và Peru sẽ gặp nhau ở thủ đô Bogota vào tuần tới để tìm cách giải quyết.

Trong tháng này, Ecuador và Peru đã thắt chặt quy định nhập cảnh đối với công dân Venezuela theo đó yêu cầu họ phải đem theo hộ chiếu thay vì thẻ căn cước. Ở Brazil, những người bạo loạn đã đẩy hàng trăm di dân Venezuela về lại bên kia biên giới.

Gọi những sự kiện này là những dấu hiệu cảnh báo sớm, phát ngôn nhân của Tổ chức Di trú Quốc tế (IOM), ông Joel Millman nói rằng cần phải huy động quỹ và phương tiện để quản lý dòng người di dân.

“Tình trạng này đang phát triển lên đến mức khủng hoảng mà chúng ta đã từng thấy ở những nơi khác trên thế giới, nhất là Địa Trung Hải,” ông phát biểu trong cuộc họp báo.

Hôm thứ Năm ngày 23/8, IOM và Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) đã kêu gọi các nước Mỹ Latin nới lỏng điều kiện nhập cảnh cho người dân Venezuela.

Kể từ năm 2015, hơn 1,6 triệu người dân Venezuela đã bỏ nước ra đi.

Quan chức di trú hàng đầu của Peru là Eduardo Sevilla đã nói rằng nước này sẽ miễn quy định về hộ chiếu cho một số người Venezuela, trong đó có những người cha mẹ muốn đoàn tụ với gia đình, phụ nữ có thai và những người bị bệnh nặng.

Bộ trưởng Thông tin Venezuela Jorge Rodriguez hôm thứ Sáu ngày 24/8 đã phát biểu rằng một gói các biện pháp kinh tế nhằm đẩy lùi tình trạng siêu lạm phát sẽ khiến cho những người dân đã ra đi sẽ quay trở lại.

Venezuela mới đây đã bỏ đi 5 số không trên đồng tiền mới và neo đồng nội tệ của họ vào đồng tiền ảo mơ hồ được nhà nước hậu thuẫn. Lạm phát ở nước này đã đạt 82.000% vào tháng 7 và dự kiến sẽ lên đến 1 triệu phần trăm trong năm nay.

“Kết luận là người dân Venezuela sẽ quay trở lại và chúng tôi mời gọi họ trở lại bởi vì chúng tôi cần họ cho kế hoạch phục hồi kinh tế này,” ông Rodriguez phát biểu trong một cuộc họp báo.


https://www.voatiengviet.com/a/d%C3%A2n-venezuela-b%E1%BB%8F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ra-%C4%91i-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%A9c-kh%E1%BB%A7ng-ho%E1%BA%A3ng-/4543477.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư bản thân hữu Trung Quốc hay là căn bệnh toàn cầu


03-8-2018 NGUYỄN QUỐC TRUNG 

Nguồn gốc của tư bản thân hữu ở Trung Quốc, theo tác giả là cách thức thay đổi thể chế làm tăng tham nhũng, khởi đầu là ở lĩnh vực đất đai và khoáng sản, sự chuyển nhượng và phát triển bất động sản. Sự nhập nhằng về quyền tài sản trên danh nghĩa quyền nhà nước thời kỳ hậu Thiên An Môn tạo cơ hội cho giới chóp bu chính trị và kinh tế chiếm đoạt sở hữu tài sản với giá thấp hay không mất đồng nào. Các đại gia ở Trung Quốc thời kỳ này thường là ở ngành bất động sản. Muốn chiếm đoạt đất đai số lượng lớn, có ưu thế để kinh doanh nhất thiết phải nắm được quy hoạch, và bằng cách này hay cách khác phải mua được chính quyền địa phương. Đây chính là dạng đầu tư trước tiên. 
Trên mỗi chương đoạn của Tư bản thân hữu Trung Quốc(*), tác giả Minxin Pei đều viện dẫn phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình. Điều đó thể hiện vấn đề cuốn sách đặt ra là hết sức nhạy cảm. Cho dù Minxin Pei là giáo sư khoa Chính trị học Đại học Claremont McKenna ở California (Mỹ) kiêm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược Keck, năm 2008 tạp chí Prospect (Anh) chọn ông vào bảng 100 nhà trí thức của công chúng. Nghĩa là ông ở vùng khá an toàn khi viết cuốn sách này. Có người cho rằng ông quá thận trọng, nhưng sự thận trọng cũng là cần thiết.

Tham nhũng không phải là căn bệnh nữa mà là đại dịch xảy ra trên bình diện toàn cầu, nhưng ở những nước từng có biến động lớn trong đời sống chính trị hay đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì tư bản thân hữu có nguy cơ phát triển nhanh hơn, tinh vi và cực kỳ nham hiểm vì nó câu kết, móc nối với quyền lực bòn rút đến cạn kiệt tài nguyên, khoáng sản, làm băng hoại đạo đức và gây rối loạn xã hội.

Nguồn tư liệu, qua các vụ đại án về các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu, phần lớn đã được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc, dồi dào tới độ nhiều khi người đọc cảm thấy tác giả hơi tham, không biết chọn lọc để lại những sự vụ điển hình, nhưng quả thực nếu lược bỏ sẽ rất tiếc. Điều đó chứng tỏ Minxin Pei đã công phu thu thập tư liệu mấy thập kỷ.

Mở đầu tác giả điểm những vụ trọng án, điển hình là vụ Chu Vĩnh Khang, cựu ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, có trách nhiệm giám sát các lực lượng an ninh và các cơ quan thực thi pháp luật của Trung Quốc. Chu từng là người đứng đầu tổng công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc. Chu Bân, con trai cả của ông ta, chuyên dàn xếp hợp đồng của tổng công ty dầu khí quốc gia và mua rẻ tài sản của tập đoàn dầu khí khổng lồ này. Chỉ một phi vụ, Chu Bân đã mua một mỏ dầu 10 triệu NDT rồi bán cho một nhà kinh doanh với giá 500 triệu NDT. Chu Bân còn hợp tác với Liu Han tác động với chính quyền Tứ Xuyên, nơi Chu Vĩnh Khang đang là bí thư tỉnh ủy, xây dựng ba trạm thủy điện, và được ngân hàng nhà nước cho vay 600 triệu NDT, sau đó chúng đã bán được 1,7 tỉ NDT.

Đây chính là tiêu biểu cho tham nhũng câu kết, nó tàn phá dữ dội hơn tham nhũng cá nhân vì hành vi đó hủy hoại cơ cấu tổ chức và chuẩn mực của nhà nước, khó bị phát hiện hơn vì được che chắn bởi chính quyền, mang lại cho chúng khối tài sản khổng lồ. Tham nhũng câu kết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế và sự sống còn của chế độ.

Chu Vĩnh Khang chính là con hổ lớn trong chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” của Tập Cận Bình. Nhưng đây không phải là vụ cá biệt, vụ án Lệnh Kế Hoạch, Chánh văn phòng đầy quyền lực trong Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, phụ tá lâu năm của Hồ Cẩm Đào - Tổng bí thư 2002-2012. Dựa vào quyền lực của Lệnh, gia đình ông ta có tài sản khổng lồ. Em trai út là Lệnh Hoàn Thành, chủ sở hữu công ty quản lý đầu tư, kiếm được 1,2 tỉ NDT. Chị dâu, cháu trai Lệnh sở hữu công ty quảng cáo và giành được hợp đồng quảng cáo Thế vận hội Bắc Kinh 2008 và World Expo Thượng Hải năm 2010, vợ Lệnh sở hữu hợp pháp nhiều công ty truyền thông và Internet.

Nguồn gốc của tư bản thân hữu ở Trung Quốc, theo tác giả là cách thức thay đổi thể chế làm tăng tham nhũng, khởi đầu là ở lĩnh vực đất đai và khoáng sản, sự chuyển nhượng và phát triển bất động sản. Sự nhập nhằng về quyền tài sản trên danh nghĩa quyền nhà nước thời kỳ hậu Thiên An Môn tạo cơ hội cho giới chóp bu chính trị và kinh tế chiếm đoạt sở hữu tài sản với giá thấp hay không mất đồng nào. Các đại gia ở Trung Quốc thời kỳ này thường là ở ngành bất động sản. Muốn chiếm đoạt đất đai số lượng lớn, có ưu thế để kinh doanh nhất thiết phải nắm được quy hoạch, và bằng cách này hay cách khác phải mua được chính quyền địa phương. Đây chính là dạng đầu tư trước tiên. 

Quan chức chính quyền và giới điều hành doanh nghiệp nắm thực sự tài sản nhà nước lại luôn có tư tưởng họ nắm quyền điều hành khối tài sản ấy sẽ được hưởng lợi. Doanh nghiệp tư nhân không có quyền lực chính trị sẽ dùng cách hối lộ để đạt bằng được sở hữu tài sản đó. Hối lộ bằng tiền, bằng kim loại quý, bằng đồ dùng có giá trị cao và cả bằng gái gú. Ngoài hối lộ, có lúc chúng còn dùng đến bạo lực và đe dọa để chiếm đoạt tài sản nhà nước.

Tác giả mổ xẻ tình trạng phổ biến ở Trung Quốc là hệ thống ngân sách địa phương dựa vào đất đai. Tầm quan trọng của việc bán đất với tài chính công ngày càng tăng khiến các chính quyền địa phương khát tiền dẫn đến tìm cách khai thác đất đai do họ kiểm soát. Chính quyền địa phương thu được khoản ngân sách lớn từ tiền bán đất. Nhưng số tiền này không được cho các khoản chi dịch vụ xã hội và tiền lương cho nhân viên chính quyền mà đầu tư cho tài sản cố định. Đây cũng là kẽ hở cho tham nhũng và tăng thêm bất công trong xã hội. 

Bên cạnh đó, sự phát triển của quyền khai thác mỏ, phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý, đã tạo nên kẽ hở để giới tư nhân móc ngoặc với chính quyền địa phương chiếm đoạt khối tài nguyên khổng lồ. Khi chính quyền địa phương được quyền loại bỏ doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ sẽ tạo ra nhiều cơ hội chiếm đoạt của nhóm lợi ích. Quá trình này cho phép giới doanh nhân địa phương có thế lực và quan chức chính quyền mua rẻ tài sản doanh nghiệp nhà nước. Tài sản này thường được định giá rất thấp và các khoản nợ thuế vay ngân hàng của doanh nghiệp nhà nước phá sản đều bị người mua lẫn địa phương khước từ trách nhiệm.

Cốt lõi của tham nhũng tài sản nhà nước chính là do quyền sở hữu không minh bạch. Các nhóm đã hưởng lợi từ việc phân cấp quyền kiểm soát tài sản không có quyền sở hữu thực sự. Các lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước là những kẻ hưởng lợi nhiều nhất vì họ nắm quyền kiểm soát trực tiếp và có nhiều cách bòn rút tài sản nhà nước. Giới chính trị chóp bu, địa phương và cả nước cùng kiếm lợi lộc bất chính cực lớn từ hệ thống thể chế này. Dù họ không trực tiếp kiểm soát tài sản doanh nghiệp nhà nước nhưng họ thực sự nắm quyền bổ nhiệm các lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước. 

Vì vậy, các lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước luôn phải làm vừa lòng cấp trên trong chính quyền bằng những món hối lộ để các tài sản nhà nước được định giá rẻ. Tác giả dẫn chứng, khi tư nhân hóa nhà máy dệt Kiến Vĩ ở tỉnh Tứ Xuyên vào năm 2002, tay trùm kinh doanh đã chi 40 triệu NDT mua nhà máy và 28 triệu NDT hối lộ. Thực tế, giá trị thị trường nhà máy này cao hơn nhiều vì nó là một trong 500 công ty lớn của Tứ Xuyên. Điều đáng nói là giá mua của hắn thấp hơn hai người mua khác, một người đặt mua 80 triệu NDT và một người nữa đặt 100 triệu NDT, lẽ ra người đặt mua giá cao sẽ thắng, nhưng ở đây ngược lại. Điều đó, cho thấy khoản hối lộ kinh khủng.

Một trong những chương trọng tâm có nhan đề “Mua quan bán chức: Chợ đen quyền lực chính trị”. Tác giả dẫn lời Chủ tịch Tập Cận Bình: “Tham nhũng trong công tác nhân sự là một vấn đề nghiêm trọng. Vi phạm nguyên tắc trong bổ nhiệm cán bộ rất phổ biến. Hệ thống quản lý cán bộ chỉ để phô trương. Trong một số lĩnh vực vấn đề hối lộ lấy phiếu bầu, chạy chức, chạy quyền và mua quan bán chức rất nghiêm trọng”. Từ đó, tác giả bàn tới vấn đề cốt lõi, đó là tổ chức nhân sự. Nhà nước Trung Quốc, về mặt nhân sự, là một thị trường lao động khép kín. Cửa thoát cho quan chức rất đắt, và một khi họ đã lên tới một cấp nào đó, cực kỳ hiếm hoi. Các nhân tố khác như tình bạn, riêng tư quan hệ và tin cậy có thể được thiết lập thông qua trường học và nơi làm việc. Các trường đảng hay các chương trình đào tạo bồi dưỡng cung cấp môi trường lý tưởng cho việc xây dựng các mối quan hệ cá nhân gần gũi giữa các quan chức địa phương và ban ngành khác nhau. 

Trong việc cơ cấu, bổ nhiệm chức quyền trở thành thị trường và định giá. Bí thư các cấp có quyền trong việc bổ nhiệm nhân sự, đặc biệt ở cấp huyện và thấp hơn. Một bí thư huyện thường tạo ra thị trường chức quyền bằng đề bạt chức quyền và giả tạo tăng luân chuyển như tăng khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán. Bí thư huyện thường tạo ra thì trường chức quyền như sắp xếp nhân sự trong nhiệm kỳ để tăng sự mua bán trên thị trường chức quyền. Tiêu biểu là Li Tiecheng đã bán hơn 100 vụ bổ nhiệm, đề bạt. Đúng như lời Chủ tịch Tập Cận Bình: “Trong một số vụ án lớn gần đây liên quan đến quan chức, tính nghiêm trọng của tội phạm và số tiền liên quan thực sự gây sốc. Họ đổi tiền lấy quyền và tình dục cực kỳ trơ tráo và liều lĩnh”.

Bọn tham nhũng thường câu kết với nhau chặt chẽ, tinh vi tới độ tác giả gọi là “kinh tế học câu kết”. Các ông trùm tạo ra mối quan hệ lâu dài với quan chức địa phương, với người thực thi pháp luật để bảo vệ chúng làm ăn. Từ hoạt động thông thường của chúng như cờ bạc, mại dâm, buôn bán ma túy. Dẫn chứng như ở huyện Đồng Quan, Thiểm Tây, do sự can thiệp của công an ăn bẩn, một tên đã làm giả bằng chứng tạo nên cái chết của một nông dân do tội phạm giết người đã không được xử trong tám năm. Ở Ôn Lĩnh, Chiết Giang, trưởng công an biến chất chỉ đạo thuộc cấp không bắt giam các thành viên băng nhóm đã tham gia ba vụ tấn công bạo lực. Có một số nơi, công an biến chất còn câu kết đến độ cảnh báo cho tội phạm khi chúng sắp bị bắt giữ.

Dẫn chứng quá nhiều tư liệu nên tác giả không còn đất để bình luận, nên Tư bản thân hữu Trung Quốc ít có ý kiến riêng, hay nói cách khác đây là tập hợp tội phạm kinh tế, xã hội Trung Quốc diễn ra trong mấy thập kỷ. Dấu ấn, phong cách tác giả bị chìm khuất vào khối tư liệu khổng lồ, miên man, từ đầu tới cuối.

Người đọc cao cấp có thể thấy rằng, tội phạm tham nhũng không phải do chế độ sản sinh mà là do kẽ hở của chính sách, luật pháp trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế. Hơn thế, văn hóa đạo đức xuống cấp cũng là nhân tố tha hóa của kẻ tham nhũng, tội phạm.

Dẫu thủ đoạn tham nhũng tinh vi, sự câu kết ngang dọc và được sự bảo trợ của quan chức cao đến đâu, đám tư bản thân hữu cũng không qua khỏi luật pháp. Kết cục của tham nhũng là những đại án và đòn trừng phạt đích đáng dành cho chúng. Phần này tác giả đề cập ít, khiến độc giả có phần hẫng hụt.

Người chuyển ngữ Tư bản thân hữu Trung Quốc là Nguyễn Đình Huỳnh, một doanh nhân ở Đà Nẵng, đã bỏ nhiều công sức để dịch cuốn sách khá dày và bề bộn tư liệu này. Chỉ hơi tiếc là tên nhân vật chưa thống nhất, một số đã chuyển sang âm Việt như Chu Vĩnh Khang, Chu Bân, Cao Ưng Chính..., một số còn lại vẫn giữ âm địa phương như Lui Han, Chen Shaoyong, Zhang Gaiping... khiến người đọc bị vấp. Thống nhất cách chuyển ngữ tên nhân vật là điều cần thiết của một văn bản dịch.
____

(*) Cuốn sách China’s Crony Capitalism của nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Trung Quốc Minxin Pei đã được tạp chí The Economist bình chọn là sách hay trong năm 2016. Bản tiếng Việt của Nguyễn Đình Huỳnh mang tên Tư bản thân hữu Trung Quốc do NXB Hội Nhà văn ấn hành giữa năm 2018.

http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/5808-hv128-t-bn-thn-hu-trung-quc-hay-l-cn-bnh-ton-cu.aspx

Phần nhận xét hiển thị trên trang