Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018
Còn chút lương tri..
Phần nhận xét hiển thị trên trang
kiện vào mắt à
Đỗ Trường
(12 tháng 7- nhớ đến mặt trận Vị Xuyên)
CHUYỆN NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN
(Truyện ngắn của Đỗ Trường)
CHUYỆN NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN
(Truyện ngắn của Đỗ Trường)
Tôi trở về quê vào một chiều chớm đông. Cái nắng hanh khô cuốn theo từng cơn gió, như rắc vàng lên đồng ải bên sông. Vẫn đàn chim sẻ đang cần mẫn tìm sâu, bắt bọ trên những luống đất xốp thẳng tắp, ngả màu. Nước đã mấp mé cửa sông. Có lẽ, cống ngoài đê sắp mở để nước tràn vào đồng ngậm ải, và báo hiệu mẻ rươi đầu mùa đã đến. Mùa của sự vần vũ, mà tạo hóa thiên nhiên đã ban tặng cho con người một sản vật, một món ăn dân dã, nhưng dường như gói trọn cả cái hương hoa tinh túy của đất trời…
Tiếng xe máy sau lưng chợt cắt ngang dòng suy nghĩ. Tôi quay người, xe chồm đến trước mặt, tiếng phanh khô dầu như xiết vào tai. Giật bắn cả người, tôi chưa kịp định thần, thấy Ân, ông bạn thời trẻ trâu ngồi trên xe, cười khùng khục:
-Bú sữa Tây nhiều, tưởng đã quên nhau rồi!
Vỗ vai hắn, tôi cười:
-Thế ai về thăm ông đây?
Hắn đế tiếp:
-Nói vui vậy thôi, nghe tin ông về, trưa đến giờ tôi cứ thấp thỏm. Lên xe đi. Hôm nay, giỗ mãn tang con gái đầu.
Mấy chục năm gặp lại, Ân vẫn vậy, vồn vã, ồn ào, và yêu quí bạn bè. Định bảo Ân xuống xe cùng đi bộ, nhưng bất chợt nhìn thấy chiếc chân gỗ của hắn, tôi đành phải lên xe.
Nhà Ân đã chuyển xuống cạnh nhà của vợ chồng chị Hậu. Ngôi nhà tềnh toàng, lộn xộn, dường như thiếu bàn tay của người phụ nữ. Mâm cơm cúng được đặt trên chiếc tủ chè mất cánh. Hương khói đã tàn, cho tôi cảm giác lạnh lẽo, rờn rợn. Nghe tiếng động sau nhà, ngỡ là vợ hắn, tôi quay lại. Ân bảo:
- Anh Cu Lớn chồng chị Hậu đấy, vợ tôi vào Sài Gòn làm Osin, nuôi thằng út học đại học đã mấy năm rồi.
Nhà chị Hậu trước ở trung tâm xã, ngày Mỹ ném bom miền Bắc, tôi có ở một thời gian. Hết chiến tranh, chị bị cán bộ, chính quyền lừa chiếm đất, buộc phải đổi nhà xuống cuối làng, cạnh khu nghĩa địa này. Chị kiện cáo khắp nơi, còn anh Cu Lớn chồng chị, cứ rượu vào, giắt dao vào bụng đi tìm cán bộ, nhưng cũng chỉ như đá tõm ao bèo. Sau đó, có lẽ quá uất ức, chị phát bệnh và qua đời.
Đứng ở cửa nhà, nhìn thấy tôi, anh Cu Lớn cầm chai rượu và mấy chiếc bánh đa nướng, ngật ngưỡng đi tắt vườn sang. Tôi chưa kịp chào, anh đã bảo:
-Chú nhắn hôm nay về, làm xong cơm cúng, anh bảo, thằng Ân lòng vòng mấy lần ra đầu làng đón từ trưa đến giờ.
Tôi xúc động, cúi xuống nắn nắn vào đôi chân thương tật của anh:
-Vậy là, chỉ còn hai ông, hai thế hệ múc nhau với Mỹ và Tàu, trở thành thương phế binh què cụt ở nhà.
Anh Cu Lớn và Ân mắt đỏ ngầu, quay mặt đi, rồi cùng cười:
-Không sao…không sao, quen rồi!
Thời chiến tranh, mảnh đất nơi đây, không có đàn ông, mà chỉ còn phụ nữ và trẻ con. Rồi sau hòa bình mấy chục năm, dường như đổi ngược lại, làng không còn đàn bà, thiếu tiếng trẻ thơ mà chỉ còn lại những người đàn ông tật nguyền, thương phế binh. Và nhìn anh Cu Lớn, nhìn Ân, chợt làm tôi nhớ đến câu thơ của Lưu Quang Vũ đã vẽ ra hình ảnh, thân phận của những người lính nông dân ấy, ngay từ ngày đầu của cuộc chiến tang thương nhất của dân tộc:
“Người mài mực cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô
Quang Trung trên bành voi, Người cầm giáo xông lên phía trước
Quang Trung lên làm vua, Người về nhà cày ruộng
Bị lão Trương tuần bắt nạt cũng run…”
Thấy tôi đứng ngẩn tò te, Ân vỗ vai:
-Thôi ngồi xuống làm chén rượu cho ấm cái bụng đã.
Tuy đói, nhưng quả thật, đồ cúng đã lạnh tanh, nhạt nhẽo, khó nhai, không thể nuốt, tôi bảo Ân:
-Có đề nghị với ông đây, nhưng không được giận nhé!
-Không giận, có gì nói đi.
-Đồ cúng lạnh quá, hơn nữa ông đếch biết nấu, nên không nuốt được. Bây giờ bê mâm xuống bếp, tôi sẽ nấu lại đồ ăn. Trải chiếu ở đó, chúng ta trò chuyện, và nhấc lên nhấc xuống cho ấm áp.
Ân nhìn xéo tôi cười diễu:
-Mấy ông “Vịt Cừu“ hay nói phét lắm đấy. “Trông ngon lành, cành đào“ thế này, bảo biết viết văn tôi tin, chứ vào bếp, và những công việc nặng nhọc, làm thế quái nào được?
-Ông cứ đùa. Những thằng ở Đức càng lâu, nấu ăn càng giỏi. Cái gì cũng phải học, phải biết. Và những thằng tự hành nghề lâu năm như tôi, ở Đức gọi là: Những kẻ không được quyền nghỉ ốm nhé!
-Vậy thì, tôi mang chậu thau với kiềng bếp lên giữa nhà ngồi cho sạch. Củi than còn một đống ở góc sân, vô tư đốt hết đêm nay.
Nhìn vẻ ngoài, và lần đầu tiếp xúc, có lẽ ai cũng nghĩ, Ân là người cứng rắn, ăn to nói lớn. Vậy mà, mới vài tuần rượu, con người hắn hoàn toàn đổi khác. Thấy hắn trầm ngâm, nhưng rượu cứ nhát một, tôi buột miệng hỏi, nguyên do về cái chết của con gái hắn. Hắn bảo:
-Chuyện đau đớn và rắc rối lắm, nếu muốn hiểu, thì phải bắt đầu từ mấy chục năm về trước.
-Vậy thì kể đi, và khóc được thì cứ khóc, tức thì chửi, tôi nghe. Đỡ ấm ức một chút cũng nhẹ người, có khi ông giảm được nỗi đau, tôi lại viết được một truyện ngắn chứ chẳng chơi…
---
Tháng mười 1976, tròn mười bảy tuổi, hắn đã trở thành người lính, và là một trong những người lính mới đầu tiên, kể từ sau 30-4- 1975 của Sư 31 Quân đoàn 3. Đang theo các đàn anh đánh đấm ở biên giới Tây Nam và Campuchia, được tin giặc Tàu bất ngờ tấn công và tàn sát nhân dân sáu tỉnh biên giới. Chiến tranh bùng nổ. Đơn vị hắn nhận lệnh hành quân gấp ra chi viện cho mặt trận phía Bắc. Sau một thời gian phòng thủ tuyến bắc Sông Cầu, hắn nhận lệnh chuyển đơn vị, và chiến đấu trên mặt trận Vị Xuyên. Và từ đó, hắn trở thành một trung đội trưởng dạn dày kinh nghiệm, với những trận đánh kinh hoàng trên các cao điểm 772, 685… được mệnh danh là đồi băm thịt, trong cuộc phản công tái chiếm đất vào những năm 1984, 1985. Có trận trung đội chỉ còn vài, ba người sống sót, trên mình găm đầy những vết thương. Và hắn đã phát điên, nhưng nhắc đến tên đồng đội hắn giật mình tỉnh lại. Trung đội bổ được sung quân, phần đông vẫn là lính mới. Những người lính này, bước vào trận, mà dường như vẫn còn ngơ ngác, vô tư như vừa xong một tiết học. Giữa năm 1985 Trung đoàn đã chiếm lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám chặt địch, giành giật với chúng từng tấc đất. Trung đội hắn cách bộ binh của địch gần nhất, có lẽ chỉ chừng mười mét…
Đến đây, giọng hắn dường như hơi bị méo. Với chai rượu, tôi chưa kịp mở nắp, hắn đã giằng lấy, tự rót, và ực liền tù tì mấy ly. Anh Cu Lớn gật gù bảo: Những trận đánh của chú ở Vị Xuyên kinh hoàng, tàn bạo không khác gì bọn anh ở Cổ Thành Quảng Trị 1972. Nhưng các chú hơn bọn anh là được nhằm thẳng vào kẻ thù, bọn xâm lược mà bắn. Còn bọn anh, dù họng súng nào, viên đạn nào cũng là của quân ta giết quân mình. Cái đau và day dứt là ở chỗ đó, tuy cùng là những thằng lính.
Ân ngồi thu người lại, lặng im, lim dim hai tròng mắt mọng như treo những bọng nước… Không gian chùng xuống. Về khuya, trời sẫm đặc. Ngoài kia không xa, bãi tha ma với những vệt lân tinh vẫn quẹt sáng lên, thập thò như ma trơi. Gió luồn vào ống luồng của kèo nhà rít lên. Những cành cây, lá chuối đập nơi đầu hồi cứ phành phạch.
Đột nhiên, hắn quay người, tháo chiếc chân gỗ đút xuống gầm giường, miệng lẩm bẩm: Vì mày mà tao phải mất cái chân này.
Nghĩa là sao? Tôi hỏi lại hắn.
Chụm thêm mấy nhánh củi vào bếp, không trả lời tôi, nhưng câu chuyện của hắn lại được tiếp nối… như vậy…
Tuy đã chiếm lại được chốt, nhưng màu xanh của cây lá đã bị đạn pháo phạt ngang, và thiêu rụi, chỉ còn lại núi đá thẳng đứng, bị vạt bay mất chỏm. Trung đội Ân dường như phải treo mình vào những hốc, vách đá để tránh pháo kích của địch. Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống, dưới chân trống trải như cánh đồng vừa gặt. Việc tiếp tế thức phẩm, vận chuyển tải đạn dược, thương bệnh binh vô cùng nguy hiểm dẫn đến bế tắc. Hỏa lực của địch mạnh, pháo kích dày như nan rá, không kể giờ giấc ngày đêm. Đạn pháo cày nóng ran cả sườn núi, đá vỡ vụn từng mảnh như sôi lên ùng ục, trắng xóa cả vùng đồi. Nhìn vào, Ân nghĩ, trận chiến này chẳng khác gì cái lò nung vôi nơi quê nhà.
Chưa tìm được con đường hậu cần, nên Ân nhận được lệnh, tạm thời rút quân bảo toàn lực lượng. Đánh lên đã gian nan, chết chóc khổ cực, rút xuống cũng hiểm nguy trùng trùng. Trung đội được chia ra từng nhóm nhỏ, để vượt qua tầm pháo địch, và Ân vẫn là người rút cuối cùng. Thật ra, vượt qua bãi trống, dưới tầm đạn pháo của địch, ngoài kinh nghiệm chiến trường, số phận, may rủi quan trọng không kém. Bởi, pháo kích của giặc Tàu hoàn toàn không theo giờ giấc cố định. Nhưng có lẽ, người rút cuối, thường khó khăn, nguy hiểm hơn chăng. Và đôi khi còn, mất chỉ bằng cảm tính của người lính lâu năm thực tế trên chiến trường, chứ thật khó diễn tả được bằng lời. Biết là vậy, nhưng bao giờ hắn cũng căn dặn anh em tính toán hết sức cẩn thận, nhất là lính mới.
Về đến nơi tập kết, rất may chỉ có mấy người bị thương, đã được đồng đội chuyển vào trạm phẫu thuật dọc đường. Và khi điểm lại, hắn thấy vẫn còn thiếu Ngọc Con. Nghe người cùng nhóm kể, khi nghe tiếng pháo nổ, mỗi thằng dạt ra một phía, nhưng không nghe thấy tiếng kêu, hay gọi của nó.
Có lẽ, nó đã dính… rồi. Một đồng hương của Ngọc Con, hai mắt đỏ ngầu, nói như vậy.
Ngọc người Nghệ Tĩnh trùng tên với Ngọc trung đội phó, và là lính mới, nên đồng đội ghép chữ Con vào tên cúng cơm cho dễ phân biệt. Ngọc Con được bổ sung vào đơn vị cùng với ba lính mới cùng quê. Trận đầu Ân cho Ngọc Con đi cạnh để kèm cặp. Nhưng thấy Ngọc Con run lên bần bật, lóng ngóng, đầu súng cứ chúi xuống, lại ngỏng lên, hắn văng tục, quát:
-Đ.m! Thằng C nào không sợ chết. Bom đạn có chừa thằng chó nào đâu. Tao cũng đang sợ ỉa ra quần đây. Nhưng không nhằm thẳng vào nó mà bắn, nó sẽ bắn chết tao và mày, vậy thôi.
Sau vài trận như vậy, tuy còn một chút học trò tính, nhưng Ngọc Con đã dạn, và khá bình tĩnh.
Bàn giao trung đội cho cấp phó, Ân và Hải Nghệ Tĩnh quay lại tìm Ngọc Con. Trời rạng sáng, pháo kích của địch cũng thưa dần, nhưng đạn còn vèo vèo trên đầu. Sương mù loãng hơn. Trăng hạ huyền sáng đục, treo lơ lửng trên mỏm núi cao 1059 mờ mờ trước mặt. Đến bãi trống, hắn và Hải căng mắt nhìn. Lúc sau có tiếng động, hắn khẽ gọi, và như có tiếng trả lời. Xác định đúng là Ngọc Con, hắn và Hải bò vào. Ngọc Con bị thương ở đùi khá nặng. Có lẽ, bò về đến đây nó bị đuối sức rồi. Cả hai khoác tay Ngọc Con lên vai, kéo bò nhích từng bước. Một tràng súng nổ, đạn xéo rát bên tai, và hắn thấy lạnh nơi ống chân. Lết được vào con đường nhỏ hắn mới biết đạn đã găm ở chân, máu ra nhiều. Băng bó xong, hắn và Hải dìu Ngọc Con. Lúc này mới thấy đau, nhưng hắn vẫn nghiến răng bước đi. Được một đoạn, mồ hôi vã ra, chân hắn như khựng lại. Rất may, đơn vị cho thêm người đi tìm, cũng vừa đến nơi. Họ đưa hắn và Ngọc Con vào trạm phẫu thuật.
Cứ nghĩ, chỉ điều trị vài ba tuần, Ân sẽ trở về đơn vị. Nhưng không ngờ, vết thương tưởng là xoàng này, đã chấm dứt gần mười năm lăn lộn trên chiến trường, và đưa hắn đến đường cùng, ngõ cụt. Bởi, nơi chiến trường khốc liệt, thuốc men, phương tiện kỹ thuật hoàn toàn thiếu thốn cùng với trạm phẫu thuật di động, dẫn đến chân hắn bị nhiễm khuẩn nặng. Khi hắn được chuyển về Quân khu, thì đã muộn. Bệnh viện không thể cứu được chân của hắn, nên buộc phải cắt bỏ. Điều trị, an dưỡng, tập luyện mấy năm ở trại thương binh, Ân về phục viên.
Tôi hỏi cắt ngang lời hắn:
-Sao ông không học tiếp, rồi học đại học, hoặc học cái nghề gì phù hợp với sức khỏe. Theo tôi biết Bộ, các Sở thương binh đều có trường văn hóa, và trường đào tạo nghề?
-Ông không thể hình dung được tâm trạng chán chường của những thằng thương phế binh lúc đó. Đang chạy nhảy, đánh đấm ầm ầm, tự nhiên cụt chân, cụt tay, tập đi, tập nói như một đứa trẻ. Đêm đêm giật mình nghe những tiếng hú, tiếng kêu la, chém giết… rùng rợn của những thằng nửa tỉnh nửa mê cùng phòng, hoặc đang cởi truồng chạy nhông nhông ngoài sân, và có khi cũng là của chính mình. Ban ngày, tôi cũng thấy đồng đội tôi, thằng mất đầu, thằng mất chân, thằng bị phạt mất nửa người gọi cứu. Chúng khóc, chúng gào chúng đòi về quê hương bản quán… nhưng tôi bất lực. Và dù lúc mê hay tỉnh, tôi luôn muốn thoát, muốn từ bỏ tất cả hiện tại và dĩ vãng, để trở về với lũy tre xanh, với những con rươi, con hến…
Tôi đờ đẫn ngồi nghe, bất chợt hắn chỉ tay vào anh Cu Lớn:
-Và quả thật, đến bây giờ tôi không hiểu và cũng không thể tin, cứ ngày 30-4 hàng năm, hoặc trận Cổ Thành Quảng Trị, hay những ngày tết lễ, họ rầm rộ tổ chức mời gọi, tuyên dương công trạng những thế hệ, người lính như anh Cu Lớn đây. Còn ngày 17-2- 1979, ngày 28-4- 1984 trên mặt trận Vị Xuyên họ quên, và quên hẳn những thằng lính còn sống què cụt như chúng tôi. Và cả những thằng lính bơ vơ, lạnh lẽo vĩnh viễn nằm lại nơi biên thùy. Không biết hồn cốt họ giờ này trú ngụ nơi đâu…Cùng là thằng lính mà cũng có thứ hạng sao?
Anh Cu Lớn đè sự xúc động của hắn xuống, an ủi:
-Chú nói thế chỉ đúng mặt nổi, mặt ngoài của những kẻ đánh trống, khua chiêng. Còn sự thật, không riêng anh, bạn bè anh, mà có lẽ cả một thế hệ muốn quên hẳn những ngày ấy. Nhớ lại càng cảm thấy buồn và đau thôi. Những người lính chống giặc Tàu xâm lược như chú, nhân dân và lịch sử chắc chắn không bao giờ quên.
Trời gần sáng. Tiếng đôi thạch sùng đuổi cắn nhau chí chóe trên mái nhà, dường như làm cho Ân bực mình. Cầm chiếc dép hắn ném thẳng lên đó. Rồi lắp chân gỗ, hắn đứng dậy, tập tễnh đi tìm ấm đun nước pha trà. Khi quay lại, hắn giật giọng hỏi:
-Này, Đỗ Trường, đi nhiều, đọc nhiều, ông có tin vào số phận cũng như luật nhân quả không?
-Thú thật với ông, trước đây tôi hoàn toàn không tin. Nhưng từ sau 1993, tôi đã tin, và viết ngay truyện ngắn Qủa Báo, về số phận, kết cục của những kẻ đã, đang cỡi lên đầu, lên cổ người dân lương thiện, không chỉ ở Đức, mà còn cả ở trong nước. Kẻ gây gió dứt khoát sẽ gặt bão, không trước thì sau thôi.
- Nói là vậy, nhưng cái ác ngày một sinh sôi nảy nở, và những kẻ làm ác vẫn nhởn nhơ, thách thức xã hội, con người. Đến nỗi người dân đếch phân biệt được ai là chính quyền, ai là xã hội đen. Nó cứ chập chờn như một thứ ma trơi vậy. Câu chuyện của tôi và gia đình là một ví dụ:
---
Tròn ba mươi, mẹ già thúc giục, mối lái, Ân mới lập gia đình với cô gái làng bên. Rồi con cái lần lượt ra đời. Cái thiếu cái đói quấn lấy vợ chồng hắn. Tiền trợ cấp thương tật không đủ cho hắn mua thuốc khi vết thương tái phát, hoặc trái gió trở giời. Con cái lớn, học hành cao, gánh nặng càng nặng thêm trên đôi vai lệch của hắn. Khi Trâm, con gái đầu thi đỗ đại học, Ân mừng lắm. Công việc gì hắn cũng làm, từ chạy xe chở hàng đến đan lát thủ công, miễn là có tiền gửi cho con. Cũng từ tình yêu thương chiều chuộng hết mực này, bước đầu hắn góp một phần đưa con gái mình đến chỗ đua đòi, hưởng lạc. Khi nhu cầu, sự đòi hỏi quá khả năng của vợ chồng hắn, thì cô con gái sinh viên từng bước trở thành gái bao, vợ hờ cho những kẻ rửng mỡ lắm của, nhiều tiền là lẽ đương nhiên. Và từ đó, Trâm đã vuột ra khỏi tầm tay của vợ chồng hắn.
Năm học cuối, Trâm có thai, nghe đâu với gã buôn đất, gốc gác người Nghệ Tĩnh. Dù đã xác định trước điều này, nhưng hắn vẫn sốc và đau. Cố nín nhịn, vợ chồng Ân về Hà Nội tìm con gái. Đứng trước căn biệt thự có hai con Becgie to vật vã gác cửa gầm gừ, như ăn tươi nuốt sống hắn. Tiếng cãi cọ, mạt sát nhau của con gái và gã tình nhân vọt ra cửa, hắn cảm thấy như bị xúc phạm. Mấy lần định bước đi, nghĩ đến con, vợ chồng hắn cố dằn lòng.
Trâm ngạc nhiên, và bối rối khi thấy bố mẹ đột ngột đến. Có lẽ, nghe thấy tiếng người lạ, từ trên lầu gã tình nhân huỳnh huỵch chạy xuống. Ân quay người, làm cho gã đứng khựng lại. Ngẩn người một lúc, Ân cũng nhận ra, và sửng sốt chưa kịp kêu tên Ngọc Con, thì gã đã đi như chạy ra cổng.
Vậy là, sau hơn hai chục năm, kể từ ngày cứu Ngọc Con, rồi bị thương cụt chân, và trở về với đời thường, hắn không hề gặp lại, hoặc có tin tức gì về nó. Để rồi, hôm nay gặp lại nó trong hoàn cảnh tréo ngoe, thật khó khăn và nhục nhã này. Mãi đến mấy tháng gần đây, gặp lại một số đồng đội cũ, hắn mới biết rõ hơn về Ngọc Con. Hết thời gian an dưỡng ở trại thương binh, Ngọc Con tiếp tục học đại học. Sau khi tốt nghiệp, gã về làm cho Chi cục Hải quan Nghệ Tĩnh một thời gian, rồi bỏ việc, nghe nói, sang Lào buôn bán, làm ăn. Không ai biết, Ngọc Con làm gì. Nhưng mấy năm sau, thấy gã xuất hiện toàn với những tai to mặt lớn trong giới sang giàu, ôm vai bá cổ tuốt tuồn tuột từ cấp trung ương đến các cấp lãnh đạo đầu tỉnh, thành địa phương. Thế là đất đai, dự án rót cả vào túi gã. Dọc đất nước này, trong giới bất động sản, có lẽ không ai, không biết Ngọc Con, và cái tính bệnh hoạn của gã. Bởi, gã chỉ mồi chài bồ bịch, bao nuôi nữ sinh viên đại học, và ở hầu hết các thành phố lớn.
Khuyên con gái trở về quê sinh nở, năm sau sẽ học tiếp, không được, vợ chồng Ân chán nản. Và dường như có linh cảm chẳng lành, hắn nhiều lần liên lạc, muốn nói chuyện với Ngọc Con, nhưng gã đều trốn tránh. Vài tháng sau, vợ chồng hắn đứng người, nhận tin con gái bị chết đuối nước dưới hồ. Vậy là, một người chết hai mạng đi. Hắn hoàn toàn không tin như vậy, bởi con gái hắn sinh ra lớn lên trên miền sông nước, nên bơi lội rất giỏi. Mẹ hắn biết chuyện trở nên lẩn thẩn, mấy tháng sau cũng qua đời…
Và đến đây, có lẽ quá xúc động hắn dừng lại, nhưng vẫn quay sang tôi bảo:
-Con gái hư hỏng, sa đọa dẫn đến cái chết là lỗi tại vợ chồng tôi thiếu quan tâm và quản giáo, có lẽ ân hận cho đến chết ông ạ.
Trời sáng hẳn, tôi nhìn rõ hơn nước mắt còn chưa kịp khô trên quầng mắt thâm nhăn của hắn, và chỉ biết an ủi:
-Ông không nên dằn vặt mình nữa. Cháu đã là sinh viên đại học, đủ nhận thức, và trách nhiệm những hành động, việc làm của bản thân. Mình làm sao theo nó mãi được.
Sao lúc đó ông không thuê luật sư làm rõ cái chết của cháu?
Hắn im lặng, rồi trả lời nhát gừng:
-Chính quyền là nó, xã hội đen cũng là nó, kiện vào mắt à…
Leipzig ngày 8-3- 2017
Đỗ Trường
Tiếng xe máy sau lưng chợt cắt ngang dòng suy nghĩ. Tôi quay người, xe chồm đến trước mặt, tiếng phanh khô dầu như xiết vào tai. Giật bắn cả người, tôi chưa kịp định thần, thấy Ân, ông bạn thời trẻ trâu ngồi trên xe, cười khùng khục:
-Bú sữa Tây nhiều, tưởng đã quên nhau rồi!
Vỗ vai hắn, tôi cười:
-Thế ai về thăm ông đây?
Hắn đế tiếp:
-Nói vui vậy thôi, nghe tin ông về, trưa đến giờ tôi cứ thấp thỏm. Lên xe đi. Hôm nay, giỗ mãn tang con gái đầu.
Mấy chục năm gặp lại, Ân vẫn vậy, vồn vã, ồn ào, và yêu quí bạn bè. Định bảo Ân xuống xe cùng đi bộ, nhưng bất chợt nhìn thấy chiếc chân gỗ của hắn, tôi đành phải lên xe.
Nhà Ân đã chuyển xuống cạnh nhà của vợ chồng chị Hậu. Ngôi nhà tềnh toàng, lộn xộn, dường như thiếu bàn tay của người phụ nữ. Mâm cơm cúng được đặt trên chiếc tủ chè mất cánh. Hương khói đã tàn, cho tôi cảm giác lạnh lẽo, rờn rợn. Nghe tiếng động sau nhà, ngỡ là vợ hắn, tôi quay lại. Ân bảo:
- Anh Cu Lớn chồng chị Hậu đấy, vợ tôi vào Sài Gòn làm Osin, nuôi thằng út học đại học đã mấy năm rồi.
Nhà chị Hậu trước ở trung tâm xã, ngày Mỹ ném bom miền Bắc, tôi có ở một thời gian. Hết chiến tranh, chị bị cán bộ, chính quyền lừa chiếm đất, buộc phải đổi nhà xuống cuối làng, cạnh khu nghĩa địa này. Chị kiện cáo khắp nơi, còn anh Cu Lớn chồng chị, cứ rượu vào, giắt dao vào bụng đi tìm cán bộ, nhưng cũng chỉ như đá tõm ao bèo. Sau đó, có lẽ quá uất ức, chị phát bệnh và qua đời.
Đứng ở cửa nhà, nhìn thấy tôi, anh Cu Lớn cầm chai rượu và mấy chiếc bánh đa nướng, ngật ngưỡng đi tắt vườn sang. Tôi chưa kịp chào, anh đã bảo:
-Chú nhắn hôm nay về, làm xong cơm cúng, anh bảo, thằng Ân lòng vòng mấy lần ra đầu làng đón từ trưa đến giờ.
Tôi xúc động, cúi xuống nắn nắn vào đôi chân thương tật của anh:
-Vậy là, chỉ còn hai ông, hai thế hệ múc nhau với Mỹ và Tàu, trở thành thương phế binh què cụt ở nhà.
Anh Cu Lớn và Ân mắt đỏ ngầu, quay mặt đi, rồi cùng cười:
-Không sao…không sao, quen rồi!
Thời chiến tranh, mảnh đất nơi đây, không có đàn ông, mà chỉ còn phụ nữ và trẻ con. Rồi sau hòa bình mấy chục năm, dường như đổi ngược lại, làng không còn đàn bà, thiếu tiếng trẻ thơ mà chỉ còn lại những người đàn ông tật nguyền, thương phế binh. Và nhìn anh Cu Lớn, nhìn Ân, chợt làm tôi nhớ đến câu thơ của Lưu Quang Vũ đã vẽ ra hình ảnh, thân phận của những người lính nông dân ấy, ngay từ ngày đầu của cuộc chiến tang thương nhất của dân tộc:
“Người mài mực cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô
Quang Trung trên bành voi, Người cầm giáo xông lên phía trước
Quang Trung lên làm vua, Người về nhà cày ruộng
Bị lão Trương tuần bắt nạt cũng run…”
Thấy tôi đứng ngẩn tò te, Ân vỗ vai:
-Thôi ngồi xuống làm chén rượu cho ấm cái bụng đã.
Tuy đói, nhưng quả thật, đồ cúng đã lạnh tanh, nhạt nhẽo, khó nhai, không thể nuốt, tôi bảo Ân:
-Có đề nghị với ông đây, nhưng không được giận nhé!
-Không giận, có gì nói đi.
-Đồ cúng lạnh quá, hơn nữa ông đếch biết nấu, nên không nuốt được. Bây giờ bê mâm xuống bếp, tôi sẽ nấu lại đồ ăn. Trải chiếu ở đó, chúng ta trò chuyện, và nhấc lên nhấc xuống cho ấm áp.
Ân nhìn xéo tôi cười diễu:
-Mấy ông “Vịt Cừu“ hay nói phét lắm đấy. “Trông ngon lành, cành đào“ thế này, bảo biết viết văn tôi tin, chứ vào bếp, và những công việc nặng nhọc, làm thế quái nào được?
-Ông cứ đùa. Những thằng ở Đức càng lâu, nấu ăn càng giỏi. Cái gì cũng phải học, phải biết. Và những thằng tự hành nghề lâu năm như tôi, ở Đức gọi là: Những kẻ không được quyền nghỉ ốm nhé!
-Vậy thì, tôi mang chậu thau với kiềng bếp lên giữa nhà ngồi cho sạch. Củi than còn một đống ở góc sân, vô tư đốt hết đêm nay.
Nhìn vẻ ngoài, và lần đầu tiếp xúc, có lẽ ai cũng nghĩ, Ân là người cứng rắn, ăn to nói lớn. Vậy mà, mới vài tuần rượu, con người hắn hoàn toàn đổi khác. Thấy hắn trầm ngâm, nhưng rượu cứ nhát một, tôi buột miệng hỏi, nguyên do về cái chết của con gái hắn. Hắn bảo:
-Chuyện đau đớn và rắc rối lắm, nếu muốn hiểu, thì phải bắt đầu từ mấy chục năm về trước.
-Vậy thì kể đi, và khóc được thì cứ khóc, tức thì chửi, tôi nghe. Đỡ ấm ức một chút cũng nhẹ người, có khi ông giảm được nỗi đau, tôi lại viết được một truyện ngắn chứ chẳng chơi…
---
Tháng mười 1976, tròn mười bảy tuổi, hắn đã trở thành người lính, và là một trong những người lính mới đầu tiên, kể từ sau 30-4- 1975 của Sư 31 Quân đoàn 3. Đang theo các đàn anh đánh đấm ở biên giới Tây Nam và Campuchia, được tin giặc Tàu bất ngờ tấn công và tàn sát nhân dân sáu tỉnh biên giới. Chiến tranh bùng nổ. Đơn vị hắn nhận lệnh hành quân gấp ra chi viện cho mặt trận phía Bắc. Sau một thời gian phòng thủ tuyến bắc Sông Cầu, hắn nhận lệnh chuyển đơn vị, và chiến đấu trên mặt trận Vị Xuyên. Và từ đó, hắn trở thành một trung đội trưởng dạn dày kinh nghiệm, với những trận đánh kinh hoàng trên các cao điểm 772, 685… được mệnh danh là đồi băm thịt, trong cuộc phản công tái chiếm đất vào những năm 1984, 1985. Có trận trung đội chỉ còn vài, ba người sống sót, trên mình găm đầy những vết thương. Và hắn đã phát điên, nhưng nhắc đến tên đồng đội hắn giật mình tỉnh lại. Trung đội bổ được sung quân, phần đông vẫn là lính mới. Những người lính này, bước vào trận, mà dường như vẫn còn ngơ ngác, vô tư như vừa xong một tiết học. Giữa năm 1985 Trung đoàn đã chiếm lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám chặt địch, giành giật với chúng từng tấc đất. Trung đội hắn cách bộ binh của địch gần nhất, có lẽ chỉ chừng mười mét…
Đến đây, giọng hắn dường như hơi bị méo. Với chai rượu, tôi chưa kịp mở nắp, hắn đã giằng lấy, tự rót, và ực liền tù tì mấy ly. Anh Cu Lớn gật gù bảo: Những trận đánh của chú ở Vị Xuyên kinh hoàng, tàn bạo không khác gì bọn anh ở Cổ Thành Quảng Trị 1972. Nhưng các chú hơn bọn anh là được nhằm thẳng vào kẻ thù, bọn xâm lược mà bắn. Còn bọn anh, dù họng súng nào, viên đạn nào cũng là của quân ta giết quân mình. Cái đau và day dứt là ở chỗ đó, tuy cùng là những thằng lính.
Ân ngồi thu người lại, lặng im, lim dim hai tròng mắt mọng như treo những bọng nước… Không gian chùng xuống. Về khuya, trời sẫm đặc. Ngoài kia không xa, bãi tha ma với những vệt lân tinh vẫn quẹt sáng lên, thập thò như ma trơi. Gió luồn vào ống luồng của kèo nhà rít lên. Những cành cây, lá chuối đập nơi đầu hồi cứ phành phạch.
Đột nhiên, hắn quay người, tháo chiếc chân gỗ đút xuống gầm giường, miệng lẩm bẩm: Vì mày mà tao phải mất cái chân này.
Nghĩa là sao? Tôi hỏi lại hắn.
Chụm thêm mấy nhánh củi vào bếp, không trả lời tôi, nhưng câu chuyện của hắn lại được tiếp nối… như vậy…
Tuy đã chiếm lại được chốt, nhưng màu xanh của cây lá đã bị đạn pháo phạt ngang, và thiêu rụi, chỉ còn lại núi đá thẳng đứng, bị vạt bay mất chỏm. Trung đội Ân dường như phải treo mình vào những hốc, vách đá để tránh pháo kích của địch. Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống, dưới chân trống trải như cánh đồng vừa gặt. Việc tiếp tế thức phẩm, vận chuyển tải đạn dược, thương bệnh binh vô cùng nguy hiểm dẫn đến bế tắc. Hỏa lực của địch mạnh, pháo kích dày như nan rá, không kể giờ giấc ngày đêm. Đạn pháo cày nóng ran cả sườn núi, đá vỡ vụn từng mảnh như sôi lên ùng ục, trắng xóa cả vùng đồi. Nhìn vào, Ân nghĩ, trận chiến này chẳng khác gì cái lò nung vôi nơi quê nhà.
Chưa tìm được con đường hậu cần, nên Ân nhận được lệnh, tạm thời rút quân bảo toàn lực lượng. Đánh lên đã gian nan, chết chóc khổ cực, rút xuống cũng hiểm nguy trùng trùng. Trung đội được chia ra từng nhóm nhỏ, để vượt qua tầm pháo địch, và Ân vẫn là người rút cuối cùng. Thật ra, vượt qua bãi trống, dưới tầm đạn pháo của địch, ngoài kinh nghiệm chiến trường, số phận, may rủi quan trọng không kém. Bởi, pháo kích của giặc Tàu hoàn toàn không theo giờ giấc cố định. Nhưng có lẽ, người rút cuối, thường khó khăn, nguy hiểm hơn chăng. Và đôi khi còn, mất chỉ bằng cảm tính của người lính lâu năm thực tế trên chiến trường, chứ thật khó diễn tả được bằng lời. Biết là vậy, nhưng bao giờ hắn cũng căn dặn anh em tính toán hết sức cẩn thận, nhất là lính mới.
Về đến nơi tập kết, rất may chỉ có mấy người bị thương, đã được đồng đội chuyển vào trạm phẫu thuật dọc đường. Và khi điểm lại, hắn thấy vẫn còn thiếu Ngọc Con. Nghe người cùng nhóm kể, khi nghe tiếng pháo nổ, mỗi thằng dạt ra một phía, nhưng không nghe thấy tiếng kêu, hay gọi của nó.
Có lẽ, nó đã dính… rồi. Một đồng hương của Ngọc Con, hai mắt đỏ ngầu, nói như vậy.
Ngọc người Nghệ Tĩnh trùng tên với Ngọc trung đội phó, và là lính mới, nên đồng đội ghép chữ Con vào tên cúng cơm cho dễ phân biệt. Ngọc Con được bổ sung vào đơn vị cùng với ba lính mới cùng quê. Trận đầu Ân cho Ngọc Con đi cạnh để kèm cặp. Nhưng thấy Ngọc Con run lên bần bật, lóng ngóng, đầu súng cứ chúi xuống, lại ngỏng lên, hắn văng tục, quát:
-Đ.m! Thằng C nào không sợ chết. Bom đạn có chừa thằng chó nào đâu. Tao cũng đang sợ ỉa ra quần đây. Nhưng không nhằm thẳng vào nó mà bắn, nó sẽ bắn chết tao và mày, vậy thôi.
Sau vài trận như vậy, tuy còn một chút học trò tính, nhưng Ngọc Con đã dạn, và khá bình tĩnh.
Bàn giao trung đội cho cấp phó, Ân và Hải Nghệ Tĩnh quay lại tìm Ngọc Con. Trời rạng sáng, pháo kích của địch cũng thưa dần, nhưng đạn còn vèo vèo trên đầu. Sương mù loãng hơn. Trăng hạ huyền sáng đục, treo lơ lửng trên mỏm núi cao 1059 mờ mờ trước mặt. Đến bãi trống, hắn và Hải căng mắt nhìn. Lúc sau có tiếng động, hắn khẽ gọi, và như có tiếng trả lời. Xác định đúng là Ngọc Con, hắn và Hải bò vào. Ngọc Con bị thương ở đùi khá nặng. Có lẽ, bò về đến đây nó bị đuối sức rồi. Cả hai khoác tay Ngọc Con lên vai, kéo bò nhích từng bước. Một tràng súng nổ, đạn xéo rát bên tai, và hắn thấy lạnh nơi ống chân. Lết được vào con đường nhỏ hắn mới biết đạn đã găm ở chân, máu ra nhiều. Băng bó xong, hắn và Hải dìu Ngọc Con. Lúc này mới thấy đau, nhưng hắn vẫn nghiến răng bước đi. Được một đoạn, mồ hôi vã ra, chân hắn như khựng lại. Rất may, đơn vị cho thêm người đi tìm, cũng vừa đến nơi. Họ đưa hắn và Ngọc Con vào trạm phẫu thuật.
Cứ nghĩ, chỉ điều trị vài ba tuần, Ân sẽ trở về đơn vị. Nhưng không ngờ, vết thương tưởng là xoàng này, đã chấm dứt gần mười năm lăn lộn trên chiến trường, và đưa hắn đến đường cùng, ngõ cụt. Bởi, nơi chiến trường khốc liệt, thuốc men, phương tiện kỹ thuật hoàn toàn thiếu thốn cùng với trạm phẫu thuật di động, dẫn đến chân hắn bị nhiễm khuẩn nặng. Khi hắn được chuyển về Quân khu, thì đã muộn. Bệnh viện không thể cứu được chân của hắn, nên buộc phải cắt bỏ. Điều trị, an dưỡng, tập luyện mấy năm ở trại thương binh, Ân về phục viên.
Tôi hỏi cắt ngang lời hắn:
-Sao ông không học tiếp, rồi học đại học, hoặc học cái nghề gì phù hợp với sức khỏe. Theo tôi biết Bộ, các Sở thương binh đều có trường văn hóa, và trường đào tạo nghề?
-Ông không thể hình dung được tâm trạng chán chường của những thằng thương phế binh lúc đó. Đang chạy nhảy, đánh đấm ầm ầm, tự nhiên cụt chân, cụt tay, tập đi, tập nói như một đứa trẻ. Đêm đêm giật mình nghe những tiếng hú, tiếng kêu la, chém giết… rùng rợn của những thằng nửa tỉnh nửa mê cùng phòng, hoặc đang cởi truồng chạy nhông nhông ngoài sân, và có khi cũng là của chính mình. Ban ngày, tôi cũng thấy đồng đội tôi, thằng mất đầu, thằng mất chân, thằng bị phạt mất nửa người gọi cứu. Chúng khóc, chúng gào chúng đòi về quê hương bản quán… nhưng tôi bất lực. Và dù lúc mê hay tỉnh, tôi luôn muốn thoát, muốn từ bỏ tất cả hiện tại và dĩ vãng, để trở về với lũy tre xanh, với những con rươi, con hến…
Tôi đờ đẫn ngồi nghe, bất chợt hắn chỉ tay vào anh Cu Lớn:
-Và quả thật, đến bây giờ tôi không hiểu và cũng không thể tin, cứ ngày 30-4 hàng năm, hoặc trận Cổ Thành Quảng Trị, hay những ngày tết lễ, họ rầm rộ tổ chức mời gọi, tuyên dương công trạng những thế hệ, người lính như anh Cu Lớn đây. Còn ngày 17-2- 1979, ngày 28-4- 1984 trên mặt trận Vị Xuyên họ quên, và quên hẳn những thằng lính còn sống què cụt như chúng tôi. Và cả những thằng lính bơ vơ, lạnh lẽo vĩnh viễn nằm lại nơi biên thùy. Không biết hồn cốt họ giờ này trú ngụ nơi đâu…Cùng là thằng lính mà cũng có thứ hạng sao?
Anh Cu Lớn đè sự xúc động của hắn xuống, an ủi:
-Chú nói thế chỉ đúng mặt nổi, mặt ngoài của những kẻ đánh trống, khua chiêng. Còn sự thật, không riêng anh, bạn bè anh, mà có lẽ cả một thế hệ muốn quên hẳn những ngày ấy. Nhớ lại càng cảm thấy buồn và đau thôi. Những người lính chống giặc Tàu xâm lược như chú, nhân dân và lịch sử chắc chắn không bao giờ quên.
Trời gần sáng. Tiếng đôi thạch sùng đuổi cắn nhau chí chóe trên mái nhà, dường như làm cho Ân bực mình. Cầm chiếc dép hắn ném thẳng lên đó. Rồi lắp chân gỗ, hắn đứng dậy, tập tễnh đi tìm ấm đun nước pha trà. Khi quay lại, hắn giật giọng hỏi:
-Này, Đỗ Trường, đi nhiều, đọc nhiều, ông có tin vào số phận cũng như luật nhân quả không?
-Thú thật với ông, trước đây tôi hoàn toàn không tin. Nhưng từ sau 1993, tôi đã tin, và viết ngay truyện ngắn Qủa Báo, về số phận, kết cục của những kẻ đã, đang cỡi lên đầu, lên cổ người dân lương thiện, không chỉ ở Đức, mà còn cả ở trong nước. Kẻ gây gió dứt khoát sẽ gặt bão, không trước thì sau thôi.
- Nói là vậy, nhưng cái ác ngày một sinh sôi nảy nở, và những kẻ làm ác vẫn nhởn nhơ, thách thức xã hội, con người. Đến nỗi người dân đếch phân biệt được ai là chính quyền, ai là xã hội đen. Nó cứ chập chờn như một thứ ma trơi vậy. Câu chuyện của tôi và gia đình là một ví dụ:
---
Tròn ba mươi, mẹ già thúc giục, mối lái, Ân mới lập gia đình với cô gái làng bên. Rồi con cái lần lượt ra đời. Cái thiếu cái đói quấn lấy vợ chồng hắn. Tiền trợ cấp thương tật không đủ cho hắn mua thuốc khi vết thương tái phát, hoặc trái gió trở giời. Con cái lớn, học hành cao, gánh nặng càng nặng thêm trên đôi vai lệch của hắn. Khi Trâm, con gái đầu thi đỗ đại học, Ân mừng lắm. Công việc gì hắn cũng làm, từ chạy xe chở hàng đến đan lát thủ công, miễn là có tiền gửi cho con. Cũng từ tình yêu thương chiều chuộng hết mực này, bước đầu hắn góp một phần đưa con gái mình đến chỗ đua đòi, hưởng lạc. Khi nhu cầu, sự đòi hỏi quá khả năng của vợ chồng hắn, thì cô con gái sinh viên từng bước trở thành gái bao, vợ hờ cho những kẻ rửng mỡ lắm của, nhiều tiền là lẽ đương nhiên. Và từ đó, Trâm đã vuột ra khỏi tầm tay của vợ chồng hắn.
Năm học cuối, Trâm có thai, nghe đâu với gã buôn đất, gốc gác người Nghệ Tĩnh. Dù đã xác định trước điều này, nhưng hắn vẫn sốc và đau. Cố nín nhịn, vợ chồng Ân về Hà Nội tìm con gái. Đứng trước căn biệt thự có hai con Becgie to vật vã gác cửa gầm gừ, như ăn tươi nuốt sống hắn. Tiếng cãi cọ, mạt sát nhau của con gái và gã tình nhân vọt ra cửa, hắn cảm thấy như bị xúc phạm. Mấy lần định bước đi, nghĩ đến con, vợ chồng hắn cố dằn lòng.
Trâm ngạc nhiên, và bối rối khi thấy bố mẹ đột ngột đến. Có lẽ, nghe thấy tiếng người lạ, từ trên lầu gã tình nhân huỳnh huỵch chạy xuống. Ân quay người, làm cho gã đứng khựng lại. Ngẩn người một lúc, Ân cũng nhận ra, và sửng sốt chưa kịp kêu tên Ngọc Con, thì gã đã đi như chạy ra cổng.
Vậy là, sau hơn hai chục năm, kể từ ngày cứu Ngọc Con, rồi bị thương cụt chân, và trở về với đời thường, hắn không hề gặp lại, hoặc có tin tức gì về nó. Để rồi, hôm nay gặp lại nó trong hoàn cảnh tréo ngoe, thật khó khăn và nhục nhã này. Mãi đến mấy tháng gần đây, gặp lại một số đồng đội cũ, hắn mới biết rõ hơn về Ngọc Con. Hết thời gian an dưỡng ở trại thương binh, Ngọc Con tiếp tục học đại học. Sau khi tốt nghiệp, gã về làm cho Chi cục Hải quan Nghệ Tĩnh một thời gian, rồi bỏ việc, nghe nói, sang Lào buôn bán, làm ăn. Không ai biết, Ngọc Con làm gì. Nhưng mấy năm sau, thấy gã xuất hiện toàn với những tai to mặt lớn trong giới sang giàu, ôm vai bá cổ tuốt tuồn tuột từ cấp trung ương đến các cấp lãnh đạo đầu tỉnh, thành địa phương. Thế là đất đai, dự án rót cả vào túi gã. Dọc đất nước này, trong giới bất động sản, có lẽ không ai, không biết Ngọc Con, và cái tính bệnh hoạn của gã. Bởi, gã chỉ mồi chài bồ bịch, bao nuôi nữ sinh viên đại học, và ở hầu hết các thành phố lớn.
Khuyên con gái trở về quê sinh nở, năm sau sẽ học tiếp, không được, vợ chồng Ân chán nản. Và dường như có linh cảm chẳng lành, hắn nhiều lần liên lạc, muốn nói chuyện với Ngọc Con, nhưng gã đều trốn tránh. Vài tháng sau, vợ chồng hắn đứng người, nhận tin con gái bị chết đuối nước dưới hồ. Vậy là, một người chết hai mạng đi. Hắn hoàn toàn không tin như vậy, bởi con gái hắn sinh ra lớn lên trên miền sông nước, nên bơi lội rất giỏi. Mẹ hắn biết chuyện trở nên lẩn thẩn, mấy tháng sau cũng qua đời…
Và đến đây, có lẽ quá xúc động hắn dừng lại, nhưng vẫn quay sang tôi bảo:
-Con gái hư hỏng, sa đọa dẫn đến cái chết là lỗi tại vợ chồng tôi thiếu quan tâm và quản giáo, có lẽ ân hận cho đến chết ông ạ.
Trời sáng hẳn, tôi nhìn rõ hơn nước mắt còn chưa kịp khô trên quầng mắt thâm nhăn của hắn, và chỉ biết an ủi:
-Ông không nên dằn vặt mình nữa. Cháu đã là sinh viên đại học, đủ nhận thức, và trách nhiệm những hành động, việc làm của bản thân. Mình làm sao theo nó mãi được.
Sao lúc đó ông không thuê luật sư làm rõ cái chết của cháu?
Hắn im lặng, rồi trả lời nhát gừng:
-Chính quyền là nó, xã hội đen cũng là nó, kiện vào mắt à…
Leipzig ngày 8-3- 2017
Đỗ Trường
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Sẽ khóc nếu còn là NGƯỜI!
Chùm thơ giỗ trận Vị Xuyên 12/7/1984
Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh anh dũng trong chiến tranh biên giới phía Bắc & áng thơ bi hùng viết tại chiến trường Vị Xuyên năm 1986 của cựu chiến binh Nam Thái Trần
Nhà báo nhà thơ Nguyễn Việt Chiến


Nguyễn Việt Chiến
VỊ XUYÊN NGÀY GIỖ TRẬN
Những cựu binh năm ấy
Ngược về chiến trường xưa
Trái tim như lửa cháy
Chưa nguôi quên bao giờ
Bao người con ngã xuống
Bên sông Lô những ngày
Như mộc miên hoa rụng
Đỏ một trời đạn bay
Trên Vị Xuyên, Thanh Thủy
Các anh quyết tử rồi
Sống bám trụ cùng đá
Chết hóa thành đá thôi
Ba mươi hai năm trước
Trời Vị Xuyên đạn bay
Đất Vị Xuyên máu đổ
Nhức nhối đau thương này
Bao lớp người giữ đất
Hồn thiêng trong cỏ cây
Vô danh không cần kể
Công lao với đất dày
Lên Hà Giang chợt thấy
Giời như gần đất hơn
Ông cao xanh trên ấy
Thương dân, có thấy buồn?
Ta buồn nỗi giặc giã
Trăm năm bạn lẫn thù
Tình người dễ hóa đá
Trong bạo tàn hoang vu
Ta đau nỗi chúng sinh
Oán thù mong hóa giải
Mà sao đến muôn đời
Hận biên cương còn mãi
Chúng đừng mong thôn tính
Một dải biên cương này
Máu thiêng bao người lính
Vẫn sục sôi đâu đây
Vị Xuyên ngày giỗ trận
Bao lớp người lên đây
Màu áo xanh lính trận
Điệp trùng dưới ngàn mây
Người chết đã hóa đá
Người sống hóa ngàn cây
Rưng rưng một màu lá
Phủ xanh non nước này.
12-7-2016
NĂM ẤY, VỊ XUYÊN
Năm ấy dọc sông Lô
Cả một rừng gỗ Mộc Miên được hạ xuống
Xẻ làm áo quan
Sau trận đánh cuối cùng, các anh nằm lại với Hà Giang
Mưa biên thùy đưa các anh từ Vị Xuyên xuống núi
Gió biên thùy tiễn các anh vào đất
Bên kia biên giới hoa Mộc Miên nở
Còn bên này biên giới gỗ Mộc Miên xẻ làm áo quan
Sông Lô bình thản trôi qua hai miền đất như không có chuyện gì…
12-7- 2016
HAI NGÀN TAY SÚNG CHỐT TRÊN ĐỒI NÀY
Các anh nằm lại Vị Xuyên
Hai ngàn liệt sĩ ở trên đồi này
Nén hương đầu gió khói lay
Khói hương chia khắp bia này mộ kia
Âm dương hai ngả cách chia
Hai ngàn tay súng đi về tận đâu
Mẹ ơi! Đất nước thương đau
Chúng con nằm lại núi sâu rừng già
Hai ngàn trái tim xót xa
Hai ngàn câu hát tình ca tắt rồi
Hai ngàn nỗi nhớ mồ côi
Hai ngàn ngọn lửa quên đời trong đêm
Các anh nằm lại Vị Xuyên
Hai ngàn tay súng chốt trên đồi này
Các anh vẫn mãi còn đây
Đội hình đánh giặc bao ngày không quên
Thưa mẹ, sớm nay bình yên
Hai ngàn gương mặt hồn nhiên hiện về.
14-7-2016

ÁNG THƠ BI HÙNG HIẾM THẤY TRONG THI CA VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Bài thơ của cựu chiến binh Nam Thái Trần viết tại chiến trường Vị Xuyên
NÀ CÁY, MÙA THU KHÔNG BÌNH YÊN!
Nam Thái Trần
Mấy hôm rồi không một chuyến xe lên
Nà Cáy buồn quay quắt
Xác tử sỹ chất đầy bãi đất
Qua một đêm thôi chuột móc hết mắt rồi
Trên thân xác đã trương lên nhung nhúc những đàn giòi
Và ngờm ngợp những đám mây ruồi nhặng
Gió từ dưới sông Lô và đường quốc lộ 2 thốc lên dè dặt
Gió từ đỉnh 812, dông 673 phía trên kia đổ xuống ào ào
Những cơn gió vô tâm, những cơn gió vô tình như cuộn vào nhau
Xộc vào toang hoác xác thân những người lính đã ngã xuống
Xộc vào hoang hoải bần thần tim óc những người lính đang còn sống
Ngách đá kho hậu cần trống rỗng
Gạo mắm đã chia đến từng căn hầm
Khe suối mùa khô chắt nước âm thầm
Quần áo lính giặt xong càng đỏ bầm màu đất
Mảnh đạn dọc ngang chém áo quần rách nát
Suối cũng oằn mình đội pháo giặc suốt ngày đêm
Mấy hôm rồi không thấy xe lên
Cả thung lũng sặc sụa mùi khói đạn
Vách đá trên cao đạn cào trắng toát
Mặt đất dưới sâu đá lật ngổn ngang
Những căn hầm trúng đạn vỡ tan hoang
Những mái nhà âm cháy thành than trơ trụi
Thấp thoáng bóng người lầm lụi
Vác đá, chặt cây, đào đất khoét hầm
Hang phẫu ngổn ngang lính nằm
Những vết thương đỏ máu
Những cuộn băng đỏ máu
Áo Blu quân y đỏ máu
Khắp lòng hang sực lên mùi máu, mùi cồn
Điện thoại đổ chuông từng nhịp dập dồn
Tin báo về chuẩn bị đón thương binh từ phía trước
Bác sỹ gầm lên hết băng, hết thuốc
Y tá ngẹn ngào hết sạch nước truyền
Lại phải cho người chạy bộ xuống Làng Pinh
Lấy tạm vài cơ số thuốc
Bên kia bờ khe nước
Lính vận tải nối nhau lục tục lên đường
Ba lô đạn nhọn đè nặng trên lưng
Đòn tre cáng thương, dài ngoằng chổng ngược
Manh võng cáng thương ướt đẫm từ chuyến trước
Phập phờ rỏ nước thối xuống khắp người
Đường xe lên đất đá tơi bời
Hố pháo mới chồng lên hố pháo cũ
Mảnh đạn ngổn ngang bên cây cỏ xới nhào
Có mảnh lẹm sắc như dao
Có mảnh nhọn hơn lá lúa
Chạm vào là máu ứa
Chạm vào là rách thịt da
Những bàn chân mang giày vải vẫn xầm xập chạy qua
Lưng còng xuống, mặt ngẩng về phía trước
Nơi ấy đang cần đạn
Nơi ấy thương binh chờ
Vượt ngã ba cửa tử
Vào Hang Dơi, Làng Lò
Những gương mặt lính sáng lên, rồi lại thẫn thờ
Chẳng có gì đâu trong ba lô toàn đạn nhọn
Bởi mấy hôm rồi chẳng có chuyến xe lên
Những dấu hỏi hằn gương mặt sạm đen
Nỗi buồn tủi ẩn trong lời cảm thán:
"Hay là đã quên ? Hay là đã bán ?
Hay là đã chán ? Hay là phủi tay ?..."
Gạt đi giọt nước mắt cay
Tay khẽ khàng đặt thương binh lên võng
Lại vượt qua suối sâu, đường lộ thiên, bãi trống
Mang tai bập bùng tiếng nổ, tiếng rên đau
Mặc kệ đạn trên cao
Mặc kệ đạn dưới thấp
Nghe tiếng đạn quen mới nằm xấp xuống mặt đường
Đá đập vào người, đá thúc vào xương đau nhức
Đợi đến khi đạn dứt
Lại tất tưởi chồm lên, vai nặng trĩu đòn khiêng
Những thân người chạy liêu siêu ngả nghiêng
Hướng về phía Nà Cáy
Đoạn đường dốc lên đạn pháo cày nát bấy
Đã có lính nào sửa sang
Mùi máu, mùi cồn vẫn nồng nực trong hang
Lính bị thương nằm ngổn ngang dồn đống
Thở phào vì thương binh vẫn sống
Tay lại khẽ khàng gỡ khỏi võng với đòn tre
Bãi tử sỹ nằm bên cạnh bờ khe
Hình như đã nhiều hơn lúc trước
Lại nghe đâu đây rúc rích tiếng chuột
Những con chuột đói khát, những con chuột vô tâm
Lần bước đến nơi tử sỹ đang nằm
Bê những mảng đá to đặt đè lên từng khuôn mặt
Che đi những quầng mắt đã lặng ngủ im
Che đi những con mắt không thể nào khép lại
Cơn gió mùa Thu như lồng lên quằn quại
Hình như gió cũng rưng rưng
Mấy hôm rồi mà chẳng thấy xe lên
Chẳng biết đêm nay có chuyến nào tới được
Để đón anh em về một chốn bình yên
Để đưa anh em về trước... (Nà Cáy -.Thanh Thủy - Mùa Thu 1986)

Phụ lục:
TRÍCH HỒI KÝ CỦA CỰU CHIẾN BINH NAM THÁI TRẦN - TÁC GIẢ BÀI THƠ VIẾT TẠI CHIẾN TRƯỜNG VỊ XUYÊN NĂM 1986 “NÀ CÁY MÙA THU KHÔNG BÌNH YÊN”

Nguồn:https://www.facebook.com/nhabaonguyenvietchien/posts/1103815839783537
Nhà báo nhà thơ Nguyễn Việt Chiến
Chùm thơ này tôi viết trong chuyến đi công tác cùng đoàn công tác Hội nhà văn Việt Nam tại Hà Giang tháng 7- 2016 vào dịp giỗ trận Vị Xuyên, nơi gần 600 chiến sĩ của chúng ta hy sinh trong ngày 12/7/1984 trong trận chiến chống quân xâm lược Trung Quốc.
Các bài thơ dưới đây đã được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Tạp chí Thơ - Hội Nhà văn VN. Điều đặc biệt, từ trang mạng của nhà văn Phạm Viết Đào, có một bài thơ vô cùng xúc động viết tại chiến trường Vị Xuyên năm 1986 của cựu binh Nam Thái Trần như được viết bằng máu những người đã ngã xuống để bảo vệ biên cương Tổ quốc. Theo tôi, đây là áng thơ bi hùng hiếm thấy trong chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược, xin giới thiệu với các bạn.
VỊ XUYÊN NGÀY GIỖ TRẬN
Những cựu binh năm ấy
Ngược về chiến trường xưa
Trái tim như lửa cháy
Chưa nguôi quên bao giờ
Bao người con ngã xuống
Bên sông Lô những ngày
Như mộc miên hoa rụng
Đỏ một trời đạn bay
Trên Vị Xuyên, Thanh Thủy
Các anh quyết tử rồi
Sống bám trụ cùng đá
Chết hóa thành đá thôi
Ba mươi hai năm trước
Trời Vị Xuyên đạn bay
Đất Vị Xuyên máu đổ
Nhức nhối đau thương này
Bao lớp người giữ đất
Hồn thiêng trong cỏ cây
Vô danh không cần kể
Công lao với đất dày
Lên Hà Giang chợt thấy
Giời như gần đất hơn
Ông cao xanh trên ấy
Thương dân, có thấy buồn?
Ta buồn nỗi giặc giã
Trăm năm bạn lẫn thù
Tình người dễ hóa đá
Trong bạo tàn hoang vu
Ta đau nỗi chúng sinh
Oán thù mong hóa giải
Mà sao đến muôn đời
Hận biên cương còn mãi
Chúng đừng mong thôn tính
Một dải biên cương này
Máu thiêng bao người lính
Vẫn sục sôi đâu đây
Vị Xuyên ngày giỗ trận
Bao lớp người lên đây
Màu áo xanh lính trận
Điệp trùng dưới ngàn mây
Người chết đã hóa đá
Người sống hóa ngàn cây
Rưng rưng một màu lá
Phủ xanh non nước này.
12-7-2016
NĂM ẤY, VỊ XUYÊN
Năm ấy dọc sông Lô
Cả một rừng gỗ Mộc Miên được hạ xuống
Xẻ làm áo quan
Sau trận đánh cuối cùng, các anh nằm lại với Hà Giang
Mưa biên thùy đưa các anh từ Vị Xuyên xuống núi
Gió biên thùy tiễn các anh vào đất
Bên kia biên giới hoa Mộc Miên nở
Còn bên này biên giới gỗ Mộc Miên xẻ làm áo quan
Sông Lô bình thản trôi qua hai miền đất như không có chuyện gì…
12-7- 2016
HAI NGÀN TAY SÚNG CHỐT TRÊN ĐỒI NÀY
Các anh nằm lại Vị Xuyên
Hai ngàn liệt sĩ ở trên đồi này
Nén hương đầu gió khói lay
Khói hương chia khắp bia này mộ kia
Âm dương hai ngả cách chia
Hai ngàn tay súng đi về tận đâu
Mẹ ơi! Đất nước thương đau
Chúng con nằm lại núi sâu rừng già
Hai ngàn trái tim xót xa
Hai ngàn câu hát tình ca tắt rồi
Hai ngàn nỗi nhớ mồ côi
Hai ngàn ngọn lửa quên đời trong đêm
Các anh nằm lại Vị Xuyên
Hai ngàn tay súng chốt trên đồi này
Các anh vẫn mãi còn đây
Đội hình đánh giặc bao ngày không quên
Thưa mẹ, sớm nay bình yên
Hai ngàn gương mặt hồn nhiên hiện về.
14-7-2016
ÁNG THƠ BI HÙNG HIẾM THẤY TRONG THI CA VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Bài thơ của cựu chiến binh Nam Thái Trần viết tại chiến trường Vị Xuyên
NÀ CÁY, MÙA THU KHÔNG BÌNH YÊN!
Nam Thái Trần
Mấy hôm rồi không một chuyến xe lên
Nà Cáy buồn quay quắt
Xác tử sỹ chất đầy bãi đất
Qua một đêm thôi chuột móc hết mắt rồi
Trên thân xác đã trương lên nhung nhúc những đàn giòi
Và ngờm ngợp những đám mây ruồi nhặng
Gió từ dưới sông Lô và đường quốc lộ 2 thốc lên dè dặt
Gió từ đỉnh 812, dông 673 phía trên kia đổ xuống ào ào
Những cơn gió vô tâm, những cơn gió vô tình như cuộn vào nhau
Xộc vào toang hoác xác thân những người lính đã ngã xuống
Xộc vào hoang hoải bần thần tim óc những người lính đang còn sống
Ngách đá kho hậu cần trống rỗng
Gạo mắm đã chia đến từng căn hầm
Khe suối mùa khô chắt nước âm thầm
Quần áo lính giặt xong càng đỏ bầm màu đất
Mảnh đạn dọc ngang chém áo quần rách nát
Suối cũng oằn mình đội pháo giặc suốt ngày đêm
Mấy hôm rồi không thấy xe lên
Cả thung lũng sặc sụa mùi khói đạn
Vách đá trên cao đạn cào trắng toát
Mặt đất dưới sâu đá lật ngổn ngang
Những căn hầm trúng đạn vỡ tan hoang
Những mái nhà âm cháy thành than trơ trụi
Thấp thoáng bóng người lầm lụi
Vác đá, chặt cây, đào đất khoét hầm
Hang phẫu ngổn ngang lính nằm
Những vết thương đỏ máu
Những cuộn băng đỏ máu
Áo Blu quân y đỏ máu
Khắp lòng hang sực lên mùi máu, mùi cồn
Điện thoại đổ chuông từng nhịp dập dồn
Tin báo về chuẩn bị đón thương binh từ phía trước
Bác sỹ gầm lên hết băng, hết thuốc
Y tá ngẹn ngào hết sạch nước truyền
Lại phải cho người chạy bộ xuống Làng Pinh
Lấy tạm vài cơ số thuốc
Bên kia bờ khe nước
Lính vận tải nối nhau lục tục lên đường
Ba lô đạn nhọn đè nặng trên lưng
Đòn tre cáng thương, dài ngoằng chổng ngược
Manh võng cáng thương ướt đẫm từ chuyến trước
Phập phờ rỏ nước thối xuống khắp người
Đường xe lên đất đá tơi bời
Hố pháo mới chồng lên hố pháo cũ
Mảnh đạn ngổn ngang bên cây cỏ xới nhào
Có mảnh lẹm sắc như dao
Có mảnh nhọn hơn lá lúa
Chạm vào là máu ứa
Chạm vào là rách thịt da
Những bàn chân mang giày vải vẫn xầm xập chạy qua
Lưng còng xuống, mặt ngẩng về phía trước
Nơi ấy đang cần đạn
Nơi ấy thương binh chờ
Vượt ngã ba cửa tử
Vào Hang Dơi, Làng Lò
Những gương mặt lính sáng lên, rồi lại thẫn thờ
Chẳng có gì đâu trong ba lô toàn đạn nhọn
Bởi mấy hôm rồi chẳng có chuyến xe lên
Những dấu hỏi hằn gương mặt sạm đen
Nỗi buồn tủi ẩn trong lời cảm thán:
"Hay là đã quên ? Hay là đã bán ?
Hay là đã chán ? Hay là phủi tay ?..."
Gạt đi giọt nước mắt cay
Tay khẽ khàng đặt thương binh lên võng
Lại vượt qua suối sâu, đường lộ thiên, bãi trống
Mang tai bập bùng tiếng nổ, tiếng rên đau
Mặc kệ đạn trên cao
Mặc kệ đạn dưới thấp
Nghe tiếng đạn quen mới nằm xấp xuống mặt đường
Đá đập vào người, đá thúc vào xương đau nhức
Đợi đến khi đạn dứt
Lại tất tưởi chồm lên, vai nặng trĩu đòn khiêng
Những thân người chạy liêu siêu ngả nghiêng
Hướng về phía Nà Cáy
Đoạn đường dốc lên đạn pháo cày nát bấy
Đã có lính nào sửa sang
Mùi máu, mùi cồn vẫn nồng nực trong hang
Lính bị thương nằm ngổn ngang dồn đống
Thở phào vì thương binh vẫn sống
Tay lại khẽ khàng gỡ khỏi võng với đòn tre
Bãi tử sỹ nằm bên cạnh bờ khe
Hình như đã nhiều hơn lúc trước
Lại nghe đâu đây rúc rích tiếng chuột
Những con chuột đói khát, những con chuột vô tâm
Lần bước đến nơi tử sỹ đang nằm
Bê những mảng đá to đặt đè lên từng khuôn mặt
Che đi những quầng mắt đã lặng ngủ im
Che đi những con mắt không thể nào khép lại
Cơn gió mùa Thu như lồng lên quằn quại
Hình như gió cũng rưng rưng
Mấy hôm rồi mà chẳng thấy xe lên
Chẳng biết đêm nay có chuyến nào tới được
Để đón anh em về một chốn bình yên
Để đưa anh em về trước... (Nà Cáy -.Thanh Thủy - Mùa Thu 1986)
Phụ lục:
TRÍCH HỒI KÝ CỦA CỰU CHIẾN BINH NAM THÁI TRẦN - TÁC GIẢ BÀI THƠ VIẾT TẠI CHIẾN TRƯỜNG VỊ XUYÊN NĂM 1986 “NÀ CÁY MÙA THU KHÔNG BÌNH YÊN”
Chào các bác và anh em,
Đối với những người lính đã từng trải qua cái gian khổ khốc liệt của chiến trường, hình như mỗi dòng ký ức, mỗi manh kỷ vật gợi nhớ tới chiến trường xưa luôn làm cho họ xốn xang khắc khoải.
Em còn nhớ, khoảng tháng 1/1987, đang ở Nà Cáy, em được phép ra TX Hà giang một hôm. Lúc ấy đã giữa buổi sáng, chẳng có xe cộ gì dám chạy giữa ban ngày ban mặt, vậy là em cuốc bộ.
Cứ dọc QL2, men theo những trận địa pháo của bên mình và những loạt pháo kích oanh tạc của địch, đến quá trưa thì em cũng mò được về đến km 6, về chỗ cứ cũ của đơn vị. Em định về đó lấy bộ quần áo dài đã cũ dành dụm mãi từ lâu để mặc, vì không thể diện cái quần đùi lính rộng thùng thình rách te tướp lại bẩn thỉu để ra phố. Và cũng mong kiếm xem có còn cái gì bán được như bánh xà phòng, tuýp thuốc đánh răng hay cái áo may ô thì lấy mang đi giải quyết.
Nhưng khi giở hòm ra thì quần áo đã bị mục hết, trong hòm cũng chẳng có cái gì, mấy ông ốm yếu trông cứ thì còn "yếu" hơn mình, đành phải chấp nhận đi tay không với bộ trang phuc "gợi cảm" như vậy ra TX.
Nhưng khi giở hòm ra thì quần áo đã bị mục hết, trong hòm cũng chẳng có cái gì, mấy ông ốm yếu trông cứ thì còn "yếu" hơn mình, đành phải chấp nhận đi tay không với bộ trang phuc "gợi cảm" như vậy ra TX.
Không dám đi nghênh ngang giữa ban ngày qua chỗ mấy ông vệ binh ở km 4 và dốc Mã Tim, em đành mò ra ven đường cái, chui vào bụi cây nằm chờ xem có cái xe nào đi qua thì nhảy lên bám càng. Nằm mãi, chả thấy xe cộ gì, không gian yên bình quá, em oánh luôn một giấc. Mãi gần tối nghe có tiếng xe ầm ì, em mới tỉnh giấc. Thấy một chiếc xe tải chạy từ trong ra, em vội vọt theo, bám vào đít, trèo lên thùng, nằm ẹp xuống. Hóa ra xe chở tử sỹ, trên xe có 5-6 cái xác tử sỹ đã trương phềnh đặt nằm trên mấy manh chiếu rách.
Lúc xe đi qua cổng sư bộ F313 ở km4, sợ bị lính vệ binh F phát hiện tóm lại rồi tống cổ quay trở ngược, em chọn chỗ chiếu khô khô rồi cũng nằm bừa xuống bên cạnh mấy cái xác anh em đó.
Khi xe xuống hết dốc Mã Tim, bắt đầu vào khúc cua gần chỗ Bưu điện, em lom khom ngồi dậy, đưa mắt tạm biệt đám anh em đã hy sinh, chuẩn bị vọt xuống. Thấy trên thùng xe có một đống bao cát nhỏ còn nguyên kiện, lại đang buồn thiu vì cái ba lô lộn lép kẹp của mình, chẳng nghĩ ngợi gì sâu xa, em chôm ngay một cuộn, chưa biết để làm gì nhưng cũng cứ lấy đại. Rồi em nhảy xuống đường, chui vào một lùm cây ven đường, hé mắt quan sát xem có tổ vệ binh nào đang ... đi dạo phố không để tránh. .
Khi trời đã tối hẳn, vài ngọn đèn đường vàng ệch soi nhập nhòe trên phố vắng, thấy đã an toàn, em mò vào Bưu điện TX, xin gọi điện nhờ về nhà. Ở bưu điện Hà Giang ngày ấy em có quen một chị tên là Mai làm tổng đài. Biết em đi lính từ Bưu điện Hà Sơn Bình nên các anh chị ấy cũng thông cảm cho gọi nhờ mấy phút, vì mình không có tiền để ra quầy giao dịch gọi cho đàng hoàng, hơn nữa cũng đã muộn rồi, quầy giao dịch đã đóng cửa.
Khi trời đã tối hẳn, vài ngọn đèn đường vàng ệch soi nhập nhòe trên phố vắng, thấy đã an toàn, em mò vào Bưu điện TX, xin gọi điện nhờ về nhà. Ở bưu điện Hà Giang ngày ấy em có quen một chị tên là Mai làm tổng đài. Biết em đi lính từ Bưu điện Hà Sơn Bình nên các anh chị ấy cũng thông cảm cho gọi nhờ mấy phút, vì mình không có tiền để ra quầy giao dịch gọi cho đàng hoàng, hơn nữa cũng đã muộn rồi, quầy giao dịch đã đóng cửa.
Tối hôm ấy, sau khi nói chuyện với bố mẹ ở nhà, thương các cụ nghèo quá, mình lại đã sắp 27 tuổi rồi mà chưa bao giờ có cái gì biếu bố mẹ và cho em gái còn bé tí cả... thế là em đã gửi luôn cái cuộn bao cát to bằng cái giò nạc kia về biếu bố mẹ nhân dịp Tết sắp đến, xuân sắp sang, để mọi người ở nhà cảm nhận được chút hơi hướng và tình cảm của thằng con đang ở nơi chiến trận dành cho quê nhà.
Chị nhân viên Bưu điện kia đã khóc nghẹn ngào khi thấy em lấy giấy báo cẩn thận, nâng niu bọc lại để không bị phát hiện, bị thu mất,... và cũng như để vun vén, gói ghém tất cả những gì mình có... để gửi về quê hương.
Em cũng thấy mặt mình cứ nhòe đi vì nước mắt cứ xộc xuống sống mũi cay xè...
Chị nhân viên Bưu điện kia đã khóc nghẹn ngào khi thấy em lấy giấy báo cẩn thận, nâng niu bọc lại để không bị phát hiện, bị thu mất,... và cũng như để vun vén, gói ghém tất cả những gì mình có... để gửi về quê hương.
Em cũng thấy mặt mình cứ nhòe đi vì nước mắt cứ xộc xuống sống mũi cay xè...
Cho đến nửa năm sau, khi em đã xuất ngũ về nhà, có một hôm em đã tìm thấy bó bao cát ấy trong một cái hòm mà bố mẹ em dành để những thứ giấy tờ quan trọng và một số kỷ vật của các cụ... Và em đã lặng người đi khi thấy những lá thư của em và của em trai em (cũng là lính nhưng thuộc f 355 ở Lào Cai) gửi về đều bị nhòe nhoẹt đi, hình như là do nước mắt của mẹ... (chắc là của mẹ thôi, vì bố cứng rắn lắm)...
...Hơn 10 năm sau, năm 1998, khi Thai60 em đã trở về nhà sau bấy nhiêu năm tha hương cầu thực nơi đất khách quê người, cuộn bao cát kia vẫn còn nằm lặng lẽ trong cái hòm kỷ vật của cha mẹ từ ngày ấy...
Cho đến tận một ngày hè của năm 2018, vừa mới chiều qua thôi, khi Thai60 em lục tủ tìm cái quần đùi mới để thay cho bố, cuộn bao cát nhỏ kia vẫn nằm gọn ghẽ an nhiên trong ngăn tủ đựng huân huy chương và tài liệu giấy tờ tùy thân của bố mẹ, dù cái hòm gỗ ngày xưa đã mục nát tự thuở nào, và bố thì đã bán thân bất toại nhớ nhớ quên quên suốt mấy năm nay vì tuổi đã già và căn bệnh teo não quái ác.
Thấy cuộn bao cát đã ải , lớp vỏ bọc ngoài của nó đã mủn ra, rơi lả tả theo kẽ ngón tay, Thai60 em đã chuyển nó sang một ngăn tủ khác đựng đồ linh tinh của bố.
Sáng nay, nghe mẹ bảo "Con đừng tự tiện dịch chuyển những gì bố mẹ đã xếp riêng ra", lại vào phòng bố, mở tủ, ngó vào... Cuộn bao cát đã trở về chỗ cũ lâu nay, lại nằm an nhiên tự tại ngay bên cạnh những dấu tích cả một đời nhọc nhằn hy sinh phấn đấu của bố mẹ...
Thấy cuộn bao cát đã ải , lớp vỏ bọc ngoài của nó đã mủn ra, rơi lả tả theo kẽ ngón tay, Thai60 em đã chuyển nó sang một ngăn tủ khác đựng đồ linh tinh của bố.
Sáng nay, nghe mẹ bảo "Con đừng tự tiện dịch chuyển những gì bố mẹ đã xếp riêng ra", lại vào phòng bố, mở tủ, ngó vào... Cuộn bao cát đã trở về chỗ cũ lâu nay, lại nằm an nhiên tự tại ngay bên cạnh những dấu tích cả một đời nhọc nhằn hy sinh phấn đấu của bố mẹ...
Chợt thấy đau nhói trong lòng khi nghĩ về những người mẹ, người cha trên đất nước này đã vĩnh viễn mất đi những đứa con yêu dấu nơi chiến trường xa...
Hình như, có nhiều lúc, do gánh nặng cơm áo mưu sinh, do dòng đời phù du phiêu dạt, dù đã sống qua quá nửa đời người, mình vẫn còn chưa kịp lớn khôn để thực sự biết trân trọng nâng niu những giá trị tinh thần lớn lao của kỷ vật và ký ức ngay cả của chính mình.
Chợt thấy mình còn mắc nợ nhiều lắm với mẹ, với cha, với đồng đội đã hy sinh, với cuộc đời này.
Lại đêm đêm trở trăn với những dòng ký ức, lại hỳ hục mổ cò gõ chữ, gom góp thành phong lương khô cũ mèm, mang đến với anh em...
*
Đêm cuối tuần, ngoài trời mưa rả rích. Trằn trọc mãi mà chả sao ngủ được, đành trở dậy mở máy thả mình lang thang trong thế giới thông tin, hình ảnh, âm thanh, kiến thức, tình cảm, tâm trạng, v.v. tả pí lù của trang mạng FB. Thấy chuyện vui thì ít mà chuyện buồn bực bức xúc thì nhiều, chán quá, lại mò vào góc riêng của mấy lão cựu lính cùng mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ngày xưa. Cũng khối ông mất ngủ đang ủ dột âu sầu với bạt ngàn ký ức của một thời quá vãng. Lại xin thồ lên chốt thùng lương khô cũ mốc để các lính cùng nhau nhấm nháp cho đêm hè bớt vị đìu hiu...
Chào các bác và anh em,
Hồi trước ngày 12/7/1984, ở Nà Cáy, thỉnh thoảng lính VT bọn em được ban chỉ huy C đưa cho những bó thư từ hậu phương chuyển tới. Không phải thư nhà đâu, toàn là của các cô gái ở những trường học nào đó từ rất nhiều tỉnh thành gửi đến, địa chỉ người nhận toàn thấy ghi chung chung là "Bộ đội biên giới Vị Xuyên".
Nhận được những cánh thư ấy, lính tráng vui lắm, chuyền tay nhau đọc, ngắm từng nét chữ, luận từng câu viết để suy tưởng ra dung nhan, tính tình người gửi. Đọc đi đọc lại mãi không chán, rất nhiều chú đâm ra phải lòng người viết, vậy là đua nhau tìm giấy viết thư về.
Nhận được những cánh thư ấy, lính tráng vui lắm, chuyền tay nhau đọc, ngắm từng nét chữ, luận từng câu viết để suy tưởng ra dung nhan, tính tình người gửi. Đọc đi đọc lại mãi không chán, rất nhiều chú đâm ra phải lòng người viết, vậy là đua nhau tìm giấy viết thư về.
Ngày ấy, Thai60 có một quyển sổ tay dùng để ghi nhật ký, mặc dù đã ghi suốt từ ngày nhập ngũ, nhưng cũng chưa được bao nhiêu, giấy trắng còn nhiều lắm. Vậy là các ông lính trẻ, lính già cứ xúm vào xin, không xin được thì vặt trộm, quyển sổ cứ mỏng dần, mỏng dần...
Thư lính viết để gửi về những người con gái chưa quen ấy tình cảm lắm, có nhiều khi ghé mắt đọc trộm hay được nhờ đọc lại để tư vấn, Thai60 đã phải chảy nước mắt. Năm ấy, Thai60 em đã 24 tuổi rồi, cũng đã từng được nếm trải hương vị của tình yêu đôi lứa. Nhưng những chú lính 18-20 kia, gần như họ chưa biết một tý gì cả. Vì thế, những dòng thư của họ vô tư hồn nhiên, ngây thơ trong sáng đến nao lòng. Thương lắm...
Nhiều lá thư đã được lính gửi đi, có những lá thư đã được phản hồi. Những lúc ấy, nhìn thằng cha nhận lá thư ấy sao mà phởn phơ hãnh diện thế, cứ như vừa được bố mẹ tậu cho một cô vợ xinh, một cô vợ yêu nõn nà ấy... Cả đơn vị vừa ghen, vừa mừng cho những ông lính trẻ tốt phúc ấy.
Cũng cần phải nói thêm để các bác và anh em hiểu và thông cảm, mỗi khi lên Thanh Thủy làm nhiệm vụ, lính E 14 (em không biết ở các đơn vị khác thì sao, nhưng có lẽ ở cả F313 đều thế) không bao giờ được nhận thư từ gì hết, mọi lá thư ấy đều bị quân bưu giữ lại ở dưới làng Pinh, chẳng biết khi nhiều quá thì họ sẽ làm gì với đống thư từ ấy.
Việc không cho lính nhận thư từ nói chung trong thời gian đi chiến đấu ấy được áp dụng cho tới tận tháng 2/1987 - khi Thai60 em được rút xuống cứ trước vì thương tật, sau đó hình như vẫn vậy. Vì thế, những cánh thư hiếm hoi của những cô gái chưa quen (hoặc mới quen qua thư từ đi lại) kia đã trở thành báu vật với lính tráng chúng em.
Nhưng rồi... sau ngày 12/7/1984 với chiến dịch MB84 đẫm máu, không còn cái cảnh cảm động ấy nữa, cho đến cuối cuộc chiến.
Nhưng rồi... sau ngày 12/7/1984 với chiến dịch MB84 đẫm máu, không còn cái cảnh cảm động ấy nữa, cho đến cuối cuộc chiến.
Nhớ hồi đó, và mãi cả đến những năm sau nữa, có những khi gói ghém tư trang cho những anh em bị hy sinh hoặc thương vong, có nhiều khi bọn em còn thấy những lá thư kia vẫn được cất cẩn thận trong ba lô của họ. Có mấy lần, khi thay áo quần cho tử sỹ, Thai60 đã tìm thấy những lá thư của những cô gái hậu phương ấy được bọc kỹ trong nilon, ghim trong túi áo ngực của Tử sỹ. Đôi khi có cả những lá thư do anh em viết, đựng trong những chiếc phong bì tự làm, đề địa chỉ cẩn thận rồi mà chưa kịp gửi. Thai60 em đã gom lại được một bọc, đựng trong balo của mình, cũng chưa biết sẽ xử lý thế nào, nhờ cánh lái xe mang ra TX gửi đi, hay cứ tạm giữ lại đã, thì có một hôm đã bị mấy anh sỹ quan Chính trị E thu mất.
Có một lần, khoảng giữa tháng 1/1987, sau hôm bị sức ép cối ở Ngã ba Thanh Thủy tới ộc cả máu mũi, máu mồm, Thai60 em được nghỉ ở nhà. Những ngày ấy, địch bắn pháo nhiều lắm do đang có giao tranh BB, lính tráng đơn vị phải lên đường hết, kể cả ban ngày.
Hôm ấy, buồn tình quá, Thai60 em lần mò xuống cái hầm gần chỗ bãi để tử sỹ, chui vào đó với mấy chú lính bị thương nhẹ đang "an dưỡng tại đơn vị". Trời mùa Đông rét mướt, ngoài trời mưa đổ dầm dề, nằm suông trong hầm, buồn chán quá, lại nổi cơn thèm thuốc lào, Thai60 hô mấy chú em lật mấy tấm phản lên, quét gom lại đám vụn bên dưới, hy vọng tóm được những vụn thuốc lào thuốc lá lọt qua khe ván xuống, từ cái thuở còn sung túc nào đó. May chăng...
May thật đấy. Không những chỉ có sợi thuốc lào, mà bọn em còn tóm được mấy điếu thuốc lá ở dạng... di chỉ di vật. Khoái quá, phát huy thành tích, khuếch trương chiến quả, các chú lính lật lên cho bằng hết ván, và lại mừng hú lên khi moi ra thêm được khối... của.
Thai60 em cũng sốt sắng tham gia vào trò soi đóm vạch khe ấy, cũng khoái tỉnh người lên khi kiếm được... hàng. Và khoái nhất, ấy là khi Thai60 em tìm thấy một món vô cùng quý giá nằm tít ở kẽ ván cuối cùng. Đó là một bức thư của một em gái nào đó, mở đầu thư ghi là: Thường Tín, ngày 15-6-1984... Dù lá thư đã được bọc trong một mảnh nilon, nhưng chắc do không được hàn kín chống ẩm, nên giấy đã bị mủn, chữ viết bằng mực xanh đã nhòe gần hết, chỉ còn đọc được loáng thoáng.
Mấy anh em xúm vào đọc lá thư cũ với những dòng chữ mờ nhòa còn sót lại ấy, hết vui sướng bàn tán nói cười ồn ĩ rồi lại lặng đi. Anh em thằng nào mắt cũng đỏ hoe, nhòe nước, nhất là khi nhìn vào mắt nhau...
Mấy anh em xúm vào đọc lá thư cũ với những dòng chữ mờ nhòa còn sót lại ấy, hết vui sướng bàn tán nói cười ồn ĩ rồi lại lặng đi. Anh em thằng nào mắt cũng đỏ hoe, nhòe nước, nhất là khi nhìn vào mắt nhau...
Thai60 cũng vui buồn như anh em, nhưng trong lòng còn buồn hơn nữa khi nhớ lại cội nguồn của bức thư cũ ấy. Ôi... mới thế mà đã gần 3 năm trời, từ những ngày đầu vào trận, với trận đánh ngày 12/7 năm ấy... Mới chỉ gần 3 năm thôi, mà những đồng đội ngày ấy, với những gương mặt ngây thơ hồn nhiên vô tư trong sáng, đã hao hụt đi đâu hết rồi. Đơn vị chỉ còn lại gần hai chục anh em ngày ấy nữa thôi, và mặt mũi anh nào cũng sắt đanh lại không còn phởn phơ như ngày xưa nữa.
Đến cái ngày hôm ấy, quyển nhật ký ngày nào của em không còn nữa, nó đã bị thui cháy trong một ngày đầu xuân năm 1986, khi căn hầm của A em bị pháo bắn trúng, may rằng đấy là một quả pháo khoan, hầm bị vỡ tung, nhưng mấy anh em trong hầm chỉ bị thương nặng (Thực ra chúng em cũng không biết sau này khi được đưa sang hang Phẫu, chuyển về tuyến sau, họ có bị sao không).
Vâng, quyển nhật ký đã cháy, những chú lính trẻ ngày xưa nay đã thành lính cũ, Thai60 em đã gần 27 tuổi, nhưng vẫn ôm mặt khóc nghẹn ngào, khi ngắm nhìn những dòng chữ mềm mại ít ỏi còn sót lại trong trang thư cũ của một người con gái hậu phương. Vâng, chúng em đã khóc vì cảm động, vì nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ đồng đội đã xa vắng đấy các bác ạ. Dạo ấy đã gần tới ngày Tết âm lịch, tiết trời đã cuối đông, sắp sang mùa xuân, trời Vị Xuyên vẫn mưa dầm dề và tiếng pháo, tiếng súng vẫn ầm ĩ rền vang trên những vách đá, sườn đồi khắp mảnh đất nơi đầu nguồn sông Lô tả tơi áo lính...
Đến cái ngày hôm ấy, quyển nhật ký ngày nào của em không còn nữa, nó đã bị thui cháy trong một ngày đầu xuân năm 1986, khi căn hầm của A em bị pháo bắn trúng, may rằng đấy là một quả pháo khoan, hầm bị vỡ tung, nhưng mấy anh em trong hầm chỉ bị thương nặng (Thực ra chúng em cũng không biết sau này khi được đưa sang hang Phẫu, chuyển về tuyến sau, họ có bị sao không).
Vâng, quyển nhật ký đã cháy, những chú lính trẻ ngày xưa nay đã thành lính cũ, Thai60 em đã gần 27 tuổi, nhưng vẫn ôm mặt khóc nghẹn ngào, khi ngắm nhìn những dòng chữ mềm mại ít ỏi còn sót lại trong trang thư cũ của một người con gái hậu phương. Vâng, chúng em đã khóc vì cảm động, vì nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ đồng đội đã xa vắng đấy các bác ạ. Dạo ấy đã gần tới ngày Tết âm lịch, tiết trời đã cuối đông, sắp sang mùa xuân, trời Vị Xuyên vẫn mưa dầm dề và tiếng pháo, tiếng súng vẫn ầm ĩ rền vang trên những vách đá, sườn đồi khắp mảnh đất nơi đầu nguồn sông Lô tả tơi áo lính...
Chiều nay, trời Hà Nội đổ mưa dầm dề, tiế́ng sấm vọng ì ầm trên bầu trời mây xám, đọc câu thơ viết giở của những anh lính ngày xưa, thấy lòng mình bâng khuâng trống trải, chợt nhớ quá, Vị Xuyên ơi...
*
Đã lại cuối tháng Bảy rồi... Đêm đã khuya, khí trời lành lạnh, hình như mùa Thu đã đến... Lại tải về đây phong lương khô cũ mốc thếch để anh em xơi tạm cho đỡ đói lòng:
"...Thai60 / DỰNG NƯỚC GIỮ NƯỚC / Máu và Hoa / Một thời máu và hoa / Re: Hà Giang Ký ức của chúng tôi và đồng đội. Phần 18. Vào lúc: 03 Tháng Tám, 2014, 01:09:10 AM
Chào các bác và anh em,
Những ngày đầu tháng 7/1984, ở Vị Xuyên thời tiết rất xấu. Gần như ngày nào những cơn mưa dầm dề cũng giăng lên một bức màn nước trên khắp núi đồi. Thỉnh thoảng, cũng có những lúc trời hửng lên, mặt trời ló ra khỏi những đám mây xám đen trĩu nặng, soi ánh vàng rạng rỡ hiếm hoi xuống mặt đất lầy lội ướt át. Những khi ấy, chiến trường lộ ra sự ngổn ngang tơi tả ở những chỗ bị pháo bắn. Thế nhưng, ngay bên cạnh đấy, cây cỏ vẫn lên xanh ngăn ngắt, mơn mởn. Có những cành cây bị mảnh pháo chém, ngã xệ xuống, nhưng vẫn bám vào thân. Ở những vết chém vỡ toác ấy, nhựa cây chảy đẫm đìa, có chỗ thì còn nhỏ giọt, có chỗ thì đã se lại. Thật cảm động khi trên những cành cây bị thương tích ấy, vẫn có những chồi búp non xanh e ấp mọc ra. Trên cái cành chúi xuống mặt đất, những mầm lá, nụ hoa vẫn vươn lên, hứng những giọt mưa và đón ánh mặt trời.
Trong những ngày mưa gió ấy, mỗi khi đi tải hàng hay cáng thương vào ban ngày, gặp lúc nắng hửng lên, dù rất lo những cơn gió bất ngờ nổi lên xua bạt đám sương mù lên cao, phơi đội hình ra trên sườn đồi trống trải, nhưng lính tráng bọn em vẫn cứ có cái cảm giác như mình được bung ra khỏi sự tù túng chết chóc. Nhìn những cành cây gãy gục vẫn đang kết hoa đâm nụ, cảm thấy cuộc đời này sao mà đẹp thế, đáng yêu, đáng sống vô ngần.
Những ngày ấy, nếu ai đã từng đi trên con đường nối từ đỉnh dốc 673 xuống ngã ba Thanh Thủy, lại vào lúc trời hửng nắng, hẳn sẽ nhìn thấy ở đoạn đường gần ngay chỗ bắt đầu đi xuống, có một cánh rừng nhỏ toàn loại cây lá to như chiếc mũ cối, chẳng biết tên là gì. Khu rừng ấy bị pháo bắn rất nhiều, thân cây gãy đổ ngổn ngang, từ những khúc cây gẫy gục tan nát ấy, vẫn có những cái chồi non, cành con xanh mướt mọc ra vươn thẳng lên ngạo nghễ. Đi tiếp xuống khoảng 2-300 m nữa, khi con đường bắt đầu có những đoạn dốc ngược trơn tuồn tuột, nếu nhìn lên vách núi trên cao, cách khoảng mấy chục mét thôi, sẽ thấy những thân cây dong dỏng, trên cây phủ đầy những chùm hoa cánh nhỏ, màu vàng rực rỡ. Có những cây bị pháo cháy xém, nhưng hoa vẫn rực lên từ những cành cây sứt sẹo. Rồi trên cao nữa, hay phía dưới sườn núi, có lác đác cô đơn những cây gạo thân sứt sẹo, vỡ toác vì những vết mảnh pháo, nhưng trên thân cây hay những cành bị thương ấy vẫn có những nụ hoa cháy đỏ lung linh dưới ánh mặt trời. Những khóm cành treo vất vưởng trên thân cây, có khi chỉ một cơn gió to hay một trận mưa lớn cũng có thể bắt chúng đứt lìa, rụng xuống, vậy mà vẫn vô tư đơm hoa thắp sáng cả một triền rừng...
Có rất nhiều lần, khi đang hỳ hục cáng thương trèo ngược dốc, lính VT gặp những đoàn quân đang lao từ trên cao xuống. Nếu là ban ngày, lại gặp lúc hửng nắng, dù mệt đến đứt hơi, bao giờ bọn em cũng cố nhắc anh em phải để ý đến sương mù và gió, vì ở những cao điểm phía bên kia thung lũng, bọn địch vẫn thường xuyên dõi sang, cần một thoáng quang quẻ, nhìn thấy lính mình nhấp nhô, chúng sẽ bắn sang hàng chục, hàng trăm quả pháo bắn thẳng. Nhìn những người lính trẻ đang vào trận, quần áo còn xanh lét, tóc cắt cao, mũ mão đầy đủ, trên vành mũ còn gắn những tờ giấy cắt đuôi nheo ghi những dòng khẩu hiệu khí thế, lòng bọn em lại thấy xốn xang vui lo lẫn lộn. Vui vì thấy mặt trận có thêm anh em chi viện, mừng vì thấy bên mình sắp mở chiến dịch lớn, sắp chấm dứt những ngày khốn khổ khốn nạn đau thương... Nhưng lo lắm. Lo vì thấy anh em mình còn non trẻ quá, hồn nhiên quá, mặt mũi còn sáng láng vô tư quá...
Dẫu thương và lo cho anh em lắm, nhưng mỗi khi được họ đưa tay kéo đỡ lên, khi nắm chặt bàn tay đồng đội, cảm nhận thấy hơi nóng hừng hực mạnh mẽ từ họ lan tỏa sang, lính VT chúng em như được tiếp thêm luồng sinh khí mới vô cùng ấm áp. Rồi thì quên cả mệt, râm ran chúc nhau: Các quê mạnh khỏe nhá, đánh giỏi vào nhá, cẩn thận nhá, lúc nào thắng trận quay ra nhớ ghé qua Nà Cáy nhá...
Gặp nhiều nhất là vào ban đêm, nhất là những hôm trời mưa tầm tã. Những đoàn quân trùm kín áo mưa lúp xúp chạy gằn xuống dốc và những người lính VT không mũ áo che mưa, mái tóc dài xõa xượi bết nước trên những bờ vai trần, cái quần đùi rách lướp tướp, đôi giầy cao cổ sũng nước ọp ẹp gặp nhau, nhường đường cho nhau đi trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Vẫn có những câu chào, câu chúc nhau hào hển: Đi nhé, khỏe nhé, chiến thắng nhé... Rồi những bàn tay nắm vội lấy nhau, những bàn tay vỗ vào vai nhau, những bàn tay dúi vội cho nhau gói thuốc lào, bao thuốc lá... Rồi những câu tìm hỏi đồng hương, hẹn ngày gặp lại ... râm ran, rạo rực suốt hàng quân.
Khi những đoàn quân ấy đã đi qua, khi người cuối cùng đã khuất dần ở phía dưới, cánh VT bọn em lại hỳ hục vật vã leo lên... leo lên. Lòng vẫn thấy cả vui buồn, lo lắng, tin tưởng, hy vọng lẫn lộn.
Có những đêm, khi nghe thấy tiếng pháo nổ ầm ầm, mảnh đạn réo eo éo, ánh chớp nhoáng nhoàng từ phía dưới vọng lên, lại thương và lo đến quắt ruột chẳng biết đoàn quân khi nãy có bị dính đạn không?
Có những đêm, khi đưa được thương binh về tới Nà Cáy, bọn em lại nhận lệnh ngược 673 để đón thương binh vừa bị thương trên đoạn đường dốc ấy, vừa mệt, vừa lo ngay ngáy cho cả chính mình khi thấy ánh chớp lửa nhằng nhịt hắt lên bầu trời.
Dạo ấy đang là mùa trăng, càng đến giữa tháng trăng càng sáng. Vào những đêm mưa, ánh trăng hình như khuếch tán vào những vầng mây trên bầu trời, dưới thung lũng, không gian cũng như hơi sá̀ng ra. Có những đêm hay khoảnh khắc trời tạnh, gió thổi bạt sương mù lên cao hay qua triền núi bên kia, ánh trăng rọi xuống xanh ngăn ngắt, cảnh vật như lại bừng lên. Núi đồi mướt mát lấp lánh dưới ánh trăng, những vách đá xác xơ vì đạn pháo ngời lên dưới ánh trăng, ở dưới xa xa kia, thấp thoáng những vầng sáng lấp lánh, lấp lánh...
Dạo ấy đang là mùa trăng, càng đến giữa tháng trăng càng sáng. Vào những đêm mưa, ánh trăng hình như khuếch tán vào những vầng mây trên bầu trời, dưới thung lũng, không gian cũng như hơi sá̀ng ra. Có những đêm hay khoảnh khắc trời tạnh, gió thổi bạt sương mù lên cao hay qua triền núi bên kia, ánh trăng rọi xuống xanh ngăn ngắt, cảnh vật như lại bừng lên. Núi đồi mướt mát lấp lánh dưới ánh trăng, những vách đá xác xơ vì đạn pháo ngời lên dưới ánh trăng, ở dưới xa xa kia, thấp thoáng những vầng sáng lấp lánh, lấp lánh...
Sông Lô đấy...
Dòng sông mùa mưa lũ đỏ ngầu màu đất đỏ, phù sa, nước trôi ào ạt về xuôi, sóng vỗ ì oạp bãi bờ, dưới ánh trăng xanh như lại trở nên huyền ảo, êm đềm. Từ mãi trên đỉnh núi, khi thì ở bên Cóc Nghè, khi thì ở trên đỉnh 673, 812, có đôi chỗ nhìn thấy một vùng lấp lánh như phủ bạc dưới ánh trăng khuya xanh ngăn ngắt...
Sông Lô đấy...
Sông đang chảy về phía quê mình, nơi đồng bãi, xóm làng, phố thị thân yêu phía hạ du...
Gác đòn cáng lên bờ hào, ngóng nhìn xuống phía dòng Lô, hướng mắt dõi về phương trời phía Nam, lũ lính chúng em thả hồn về phía quê nhà...
Nhưng cũng chả được lâu đâu, bọn em lại bị lôi trở về với thực tại. Ở phía bên kia cái vùng sáng lấp lánh ấy, phía trên cao, những vách đá của dãy núi đá răng cưa bên Phong Quang cũng phơi ra cái màu trắng phếch xác xơ vì đạn pháo quân thù, khi chúng bắn hủy diệt những trận địa pháo tầm xa của lữ 168 và những đơn vị gì gì nữa bên ấy.
Rồi đến ngày chiến dịch mở ra, kết thúc…
Rồi những đêm dài cùng lính trinh sát mò lên trận địa kiếm tìm khuân vác anh em...
Rồi những đêm dài vác gỗ, tải mìn cùng lính Công binh mò lên các chốt điểm để xây hầm hào, lập phòng tuyến...
Những đêm dài khốn khổ gian nan ấy, chỉ mong cho vầng trăng cuối tháng đừng sáng bừng lên, chỉ mong cho trời hãy mưa thật to, nổi bão giông sấm sét cho thật nhiều... để cho bao nhiêu máu me mồ hôi nước mắt theo những giọt nước mưa trời gom hết về suối Thanh Thủy, hòa xuống dòng Lô trôi xuôi về bến bãi quê nhà...
Những ngày cuối cùng của tháng Bảy, những ngày đầu tiên của Tháng Tám năm 1984, trên Vị Xuyên tiết trời đã sang thu với những ngày nắng chói chang và những đêm mưa dầm dề, day dứt. Những đồng đội ngày nào mới vào nay đã vắng bóng...
Người thì đã rút về phía sau để củng cố, chuẩn bị cho những trận đánh mới...
Người thì thân xác vẫn còn nằm đâu đó với gió sương mưa lạnh, dưới ánh sao trời xanh ngăn ngắt bên những triền đồi vách núi khe đá trên kia...
Những người còn ở lại thì trần lưng ra với những trận chiến đấu mới...
Lại có những ngày mưa gió xập xùi, những ngày nắng bừng lên rạng rỡ. Cảnh vật chiến trường đã xơ xác lại càng thêm xác xơ. Đi trên con đường từ đỉnh 673 xuống, nhìn sang bên đường, nhìn qua bên kia thung lũng, tất cả như đã bị quăng quật vò xé tơi bời, đốt cháy nham nhở...
Nhưng ở trên những sườn núi cao, những triền đồi thấp, dưới những khe sâu, vẫn ngời xanh những chồi non mới nhú, vẫn thấp thoáng rực vàng, chói đỏ muôn chùm hoa trên những thân cành thương tích xác xơ...
Không phải là mùa trăng, sông Lô ở mãi dưới xa kia không còn có ánh trăng ngắt xanh để ngời lên lấp lánh, nhưng hình như tiếng sóng gầm thét của nó vẫn ào ạt vọng lên những đỉnh núi trên cao...
Ở dưới cái vùng tối thẫm sâu thăm thẳm kia, vẫn là dòng Lô đấy...
Những con sóng trên sông vẫn đang ào ạt vỗ bờ, những con nước đỏ bầm trên sông vẫn ì ầm bươn bải chở nặng phú sa đất núi đẫm máu, mồ hôi và nước mắt về xuôi, đắp bồi cho bờ bãi quê nhà phía hạ du.
Dưới bầu trời vàng ệch ánh hỏa châu, chẳng quản gió mưa pháo đạn quăng quật dập vùi, những tấm lưng trần với đôi giầy rách ì ọp, chiếc quần đùi xơ tướp phất phơ, manh áo rách nát bung hết hai vai và mái tóc dài cợp bết xuống gáy vẫn lầm lũi lăn lộn trên những sườn đồi, vách đá ngổn ngang xơ xác.
Rồi lại có những mùa trăng mới ngắt xanh. Rồi lại có những ngày bừng sáng với những chùm hoa ngời sắc đỏ, vàng, những chồi cây mướt mát vươn thẳng lên cao dưới ánh mặt trời rạng rỡ...
Và vẫn như vang vọng mãi khắp nơi trên mọi góc chiến trường: Chiến thắng nhé... QUÊ ƠI..."
(Trích từ Facebook Nam Thái Trần)Nguồn:https://www.facebook.com/nhabaonguyenvietchien/posts/1103815839783537
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Buồn cười thành phố đáng sống
Xứ này rất nhiều chuyện mắc cười, kể ra có mà cả ngày chả hết. Nhưng tuần ni buồn cười nhất là chuyện bầu bán lãnh đạo ở Đà Nẵng.
Đã e hèm dặng hắng chuẩn bị suốt bao lâu rồi chứ có phải là làm đột ngột đâu mà bảo không kịp chuẩn bị. Sáng 9.7 đã lên kế hoạch, phiếu đã phát, hòm phiếu đã trưng ra, thậm chí kết quả bao nhiêu phần trăm cũng đã có sẵn như mọi cuộc bầu bán theo chỉ đạo ở xứ ta lâu nay, đánh đùng một cái ra tuyên bố trung ương chưa duyệt, chưa có ý kiến nhất trí về nhân sự nên tạm hoãn. Rồi lại đùng phát nữa, tới chiều thì công bố trung ương đã duyệt, bầu ngay trong ngày, tất nhiên là trúng, đúng người trung ương đã duyệt.
Lão Maddox cười, văng tục, đèo mẹ, cả nước đang bao nhiêu là việc cần làm, lại ngồi đó diễn trò, nghe và nhìn cứ tức anh ách. Trung ương thì ấm ớ, suốt bao lâu, hoặc là vô trách nhiệm không duyệt cho nó (Đà Nẵng), hoặc là cố tình ngâm tôm kiểu như ra thông điệp chúng mày muốn làm cũng phải chờ ý tao, đừng có lôi thôi. Còn địa phương, đã biết chẳng có tí chút quyền gì vẫn giở dói bầu bán, mất thời gian.
Cái thành phố một thời được coi là điểm sáng của cả nước, suốt cả năm nay chỉ loay hoay xếp đặt, tranh giành ghế, lún sâu vào những trò cười, thật đáng tiếc.
Nguyễn Thông
Đã e hèm dặng hắng chuẩn bị suốt bao lâu rồi chứ có phải là làm đột ngột đâu mà bảo không kịp chuẩn bị. Sáng 9.7 đã lên kế hoạch, phiếu đã phát, hòm phiếu đã trưng ra, thậm chí kết quả bao nhiêu phần trăm cũng đã có sẵn như mọi cuộc bầu bán theo chỉ đạo ở xứ ta lâu nay, đánh đùng một cái ra tuyên bố trung ương chưa duyệt, chưa có ý kiến nhất trí về nhân sự nên tạm hoãn. Rồi lại đùng phát nữa, tới chiều thì công bố trung ương đã duyệt, bầu ngay trong ngày, tất nhiên là trúng, đúng người trung ương đã duyệt.
Lão Maddox cười, văng tục, đèo mẹ, cả nước đang bao nhiêu là việc cần làm, lại ngồi đó diễn trò, nghe và nhìn cứ tức anh ách. Trung ương thì ấm ớ, suốt bao lâu, hoặc là vô trách nhiệm không duyệt cho nó (Đà Nẵng), hoặc là cố tình ngâm tôm kiểu như ra thông điệp chúng mày muốn làm cũng phải chờ ý tao, đừng có lôi thôi. Còn địa phương, đã biết chẳng có tí chút quyền gì vẫn giở dói bầu bán, mất thời gian.
Cái thành phố một thời được coi là điểm sáng của cả nước, suốt cả năm nay chỉ loay hoay xếp đặt, tranh giành ghế, lún sâu vào những trò cười, thật đáng tiếc.
Nguyễn Thông
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Oan cuốc
![]() |
| Các container hàng chồng chất ở cảng Thâm Quyến, Trung Quốc. Ảnh chụp ngày 12/07/2018. |
Người dân bị cường quyền cướp đất, cướp quyền lợi, bị o ép, bị vùi dập thì đi kiện. Kiện không được hoặc kiện thua thì thành dân oan, nói theo từ Hán Việt cho oai gọi là oan dân.
Quốc gia nầy bị quốc gia khác o ép, bị vùi dập, chống trả không lại thì đành đi kiện ra quốc tế, quốc tế không xử hoặc xử thua thì sẽ trở thành oan quốc.
Có một oan quốc vĩ đại sắp ra đời, đó là China Oan Quốc.
Từ mấy chục năm qua, làm ăn buôn bán với Mỹ ngon lành, mỗi năm suất siêu qua Mỹ trên 300 tỉ đô la, túi rủng rỉnh đầy tiền, tự thấy mình vĩ đại, vung tiền ra mua "đặc khu" khắp thế giới để mở ra "một vành đai một con đường" hòng tính chuyện bá quyền, ngạo mạn tuyên bố sẽ trở thành siêu cường số 1 vào năm 2050. Thì bỗng dưng bị Mỹ ra đòn tố cáo làm ăn gian lận và tuyên bố mở ra chiến tranh thương mại để trừng trị.
Ban đầu, Tập ta cũng hung hăng lắm, tuyên bố sẵn sàng thương chiến, Mỹ đánh thì đáp trả tới cùng.
Thế là trade war nổ ra. Mỹ bắn loạt đạn đầu 35 tỉ, Tập phản pháo ngay. Mỹ trúng đạn chưa thấy thương vong gì thì Tập đã thọ thương, 2.000 tỉ đô la trong số 3.000 tỉ gom gop được trong mấy chục năm qua cháy vèo thành tro khói. Không làm được gì hơn, Tập bèn giở món khẩu công, chửi Mỹ là côn đồ thương mại.
Mỹ tuyên bố sẽ bắn tiếp phát đại pháo 200 tỉ. Tập hốt hoảng, biết sẽ hết đạn để chống đỡ bằng tuyên bố sẽ kiện Mỹ ra tòa quốc tế.
Và từ đây, China sẽ bước vào con đường... quốc oan.
Cứ cho rằng, tòa WTO sẽ nghiêm túc thụ lý đơn thưa của Tàu thì vụ việc cũng phải qua ba năm mới hoàn tất hồ sơ, mới kết thúc vòng điều tra và mới đưa ra xét xử. Lúc đó liệu Tàu có còn khỏe mạnh để lết xác ra đến tòa sau những đòn tấn công càng lúc càng sấm sét của Trump.
Chưa nói là Trump đã đi trước quá nhiều nước cờ, đã hù dọa sẽ rút ra khỏi WTO và quan trọng là đã dùng dằng từ hai năm qua vẫn chưa bổ nhiệm thẩm phán cho tòa trọng tài WTO, mà tòa nầy chưa có thẩm phán của Mỹ thì chẳng xét xử được ai.
Rồi khi đưa ra xét xử, một quốc gia như Tàu với tiền sử quá nhiều vi phạm, chẳng bao giờ xem luật lệ quốc tế và các phán quyết quốc tế ra gì liệu có được xử thắng.
Sau khi nịnh nọt Mỹ và cam kết mọi điều với quốc để vào được WTO từ năm 2001 đến bây giờ, Tàu cộng gian manh chưa bao giờ thực hiện những gì đã cam kết.
Không nhân quyền, không công đoàn độc lập, không bảo vệ người lao động. Vẫn tiếp tục quốc doanh là chủ đạo, vẫn định hướng XHCN, vẫn đàn áp khốc liệt nhân dân Tây Tạng, Tân Cương, vẫn đàn áp biểu tình ở Hồng Kông. Sau 17 năm vào WTO vẫn chưa được công nhận kinh tế thị trường.
Tàu cộng cũng chưa bao giờ xem phán quyết của tòa quốc tế ra kí lô gì. Khi bị Philippin kiện ra tòa vì cưỡng chiếm biển Đông, không thèm dự. Khi tòa phán thua kiện không thèm chấp hành.
Bỏ qua mọi luật lệ quốc tế, tuyên bố cưỡng đoạt toàn bộ Biển Đông, cơi nới và xây dựng sai trái các đảo chiếm trái phép của Việt Nam ở Trường Sa, ngang nhiên quân sự hóa các đảo nầy.
Một quốc gia như vậy mà bây giờ phải đành muối mặt lên tiếng kêu gọi công lý bảo vệ mình. Lên tiếng kêu gọi các quốc gia trên thế giới ủng hộ mình, đòi hỏi tổ chức quốc tế WTO bảo vệ mình.
Quốc gia nào ủng hộ Tàu? Đồng chí bốn tốt Việt Nam ư?
Cùng đường rồi nên trở thành China Oan Quốc là cái chắc.
Nói cho vui thôi, cũng chẳng oan gì, xứng đáng bị như vậy.
Đây là bài học mà những quốc gia gian manh khác cần rút ra để sống đàng hoàng với thế giới, trước mắt là phải thành thật thực hiện những gì đã cam kết.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông : Nước thứ ba có thể can thiệp ?
| Tàu sân bay USS Carl Vinson trong cuộc tuần tra tại Biển Đông, ngày 03/03/2017. Trong ảnh, chiến đấu cơ F-18 đang chuẩn bị cất cánh. |
Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng chế ở Biển Đông hay không ? Đối với người Việt nhất là ngư dân mưu sinh trên biển, thì đây là một câu khẳng định chứ không phải ở thể nghi vấn. Tuy nhiên theo phân tích của tiến sĩ Constantinos Yiallourides (*) trên The Diplomat, sức nặng của từ ngữ là rất đáng kể.
Căng thẳng thường xuyên tăng lên tại Biển Đông trong những năm gần đây do các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc, ngày nay đã trở thành một chuỗi các căn cứ quân sự hoàn chỉnh, được trang bị các phi đạo, thiết bị chiến tranh điện tử, hỏa tiễn chống hạm tầm xa và hỏa tiến địa-không.
Bộ trưởng Quốc phòng Úc, Nhật Bản và Hoa Kỳ hôm 03/06/2018 đã ra một thông cáo chung, truyền đạt « sự phản đối mạnh mẽ » của chính phủ các nước này « về việc sử dụng vũ lực và cưỡng bức cũng như các hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng, và lợi dụng tính chất tranh chấp cho mục đích quân sự tại Biển Đông ».
Gần đây nhất, bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis tố cáo Trung Quốc dùng quân đội« cho mục đích đe dọa và cưỡng bức », cảnh báo nếu tiếp tục sẽ nhận lãnh « những hậu quả ».
Sự chọn lựa từ ngữ đặc biệt này, nhất là dùng từ « cưỡng bức » để mô tả các hành động của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Yiallourides, không phải là vô tình. Ngược lại, « mục đích cưỡng bức » là một trong những tiêu chí mà theo đó hành động của một Nhà nước có thể bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế về việc cấm sử dụng vũ lực, như đã quy định ở Điều 2 Khoản 4 Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Theo chuyên gia về việc sử dụng vũ lực, giáo sư Olivier Corten, « mục đích cưỡng bức »phản ánh mục tiêu rõ ràng hoặc tác động của việc « áp đặt lên ý chí của một Nhà nước khác », buộc phải chấp nhận một hiện trạng mới.
« Mục đích cưỡng bức » đặc biệt liên quan đến các tình huống như triển khai quân đội và chiếm đóng một lãnh thổ tranh chấp mà không lâm chiến. Chẳng hạn như việc Ấn Độ sáp nhập vùng Goa một cách chớp nhoáng năm 1961, hay Nga chiếm Crimée năm 2014, và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đưa quân sang chiếm đóng quần đảo Socotra của Yemen năm 2018.
Trong vụ Israel dựng lên một bức tường tại lãnh thổ Palestine chiếm đóng năm 2004, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) nhận định đây là sự chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Dù phía Israel bảo đảm rằng bức tường này chỉ là tạm thời, ICJ vẫn cho rằng « việc xây dựng bức tường tạo ra ‘việc đã rồi’ trên mảnh đất này, và rất có thể trở thành vĩnh viễn » - như đã được chứng minh – « tương đương với việc sáp nhập trên thực tế ».
Cho dù vào năm 2015, ICJ vẫn chưa phân xử việc Nicaragua khi gởi quân sang vùng biển tranh chấp với Costa Rica là sử dụng vũ lực hay không, thẩm phán Patrick Robinson vẫn đưa ra ý kiến riêng về vấn đề này.
Ông Robinson nhận định « không có phát súng nào được bắn ra, không có loại vũ khí hạng nặng nào được sử dụng và chắc chắn là chẳng cần phải giết ai cả, trước khi một Nhà nước được cho là đã vi phạm điều khoản cấm ». Tuy vậy ông lý luận « ý định và mục đích » cũng như« động cơ » của Nhà nước xâm chiếm nằm trong các yếu tố liên quan để phán xét xem đây có phải là một sự xâm phạm bất hợp pháp khu vực tranh chấp hay không, cho dù không đi kèm với xung đột vũ trang, vẫn vi phạm Điều 2 (4).
Trong trường hợp đặc biệt này, « sự hiện diện kéo dài » của các nhân viên và doanh trại quân đội Nicaragua, cùng với việc từ chối rút quân khỏi lãnh thổ tranh chấp, việc « chĩa vũ khí » vào các máy bay của Costa Rica rõ ràng cho thấy Nicaragua có « mục đích cưỡng bức », cụ thể là« sẵn sàng sử dụng vũ lực mỗi khi Nicaragua cảm thấy cần thiết », như là phương tiện « để thách thức các quyền chủ quyền của Costa Rica ». Theo thẩm phán Robinson, cách xử sự của Nicaragua dẫn đến kết luận là nước này đã sử dụng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Vì vậy, dù Trung Quốc bảo đảm « sẽ không sử dụng vũ lực » để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, các hoạt động đào đắp và tiếp tục quân sự hóa các lãnh thổ tranh chấp, rõ ràng đã tạo ra việc đã rồi trên thực địa, cưỡng bức các bên yêu sách chủ quyền khác phải chấp nhận hiện trạng mới. Điều này cấu thành việc bành trướng lãnh thổ bất hợp pháp thông qua vũ lực, vi phạm luật pháp quốc tế. Chắc chắn là với việc quân sự hóa các đảo tranh chấp, Trung Quốc đã buộc các đối thủ không có chọn lựa nào khác : hoặc ngậm ngùi chấp nhận hiện trạng mới, hoặc phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nhiều tổn thất trước một Nhà nước hùng mạnh, có vai trò chiến lược trong khu vực.
Ngay cả sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016 đã phán quyết yêu sách hầu như toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh là vô căn cứ, Trung Quốc vẫn đều đặn tiếp tục các hành động bành trướng trong khu vực. Theo nhà chính trị học hàng đầu, giáo sư Taylor Fravel, Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ nhằm « tỏ ra cứng rắn về mặt chủ quyền và răn đe các đối thủ khác trong mọi xung đột ».
Vì sao việc phân loại này là quan trọng trong luật pháp quốc tế ? Có gì khác biệt về phương diện luật pháp, khi đánh giá các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông là sử dụng vũ lực, theo ý nghĩa của Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc ?
Trước hết, việc đánh giá các hành động của Trung Quốc ở Trường Sa như là sử dụng vũ lực, theo luật pháp quốc tế sẽ mở ra khả năng đáp ứng bằng hành động tự vệ. Tuy nhiên, tự vệ chỉ có thể coi là chính đáng nếu đối mặt với một cuộc tấn công vũ trang (Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc), như ICJ đã nêu trong phán quyết giữa Nicaragua và Hoa Kỳ, một trong « những dạng thức sử dụng vũ lực trầm trọng nhất », khác với những dạng khác ít nặng nề hơn.
Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là tương đối nhỏ để có thể coi là tấn công vũ trang theo nghĩa pháp luật, nhưng là một phần của các hành động vũ trang tiệm tiến, mà khi cộng dồn lại sẽ trở thành một sự chuyển đổi mang tính chiến lược trên lãnh thổ, có lợi cho Trung Quốc. Như vậy, theo tác giả, cho dù mỗi lần triển khai lực lượng đơn lẻ không đủ nghiêm trọng để coi là tấn công vũ trang, nhưng nhìn một cách tổng thể, các hành động này có thể nằm trong phạm vi của Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc (được gọi là lý thuyết « tích lũy các sự kiện »).
Thứ hai, điều này có thể mở ra cánh cửa cho các biện pháp đối phó của bên thứ ba. Có một sự đồng thuận rộng rãi là việc cấm sử dụng vũ lực là một nghĩa vụ « erga omnes »(theo công pháp quốc tế, có nghĩa là nghĩa vụ mà một Nhà nước phải thuận theo « cộng đồng quốc tế nói chung »). Chẳng hạn một nước có quyền xử lý các hành động hải tặc, diệt chủng, nô lệ…xảy ra trên lãnh thổ mình, bởi công dân một nước không trừng trị những hành động trên. Trong trường hợp xảy ra vi phạm nghĩa vụ « erga omnes », có nghĩa là tất cả các Nhà nước khác đều có quyền dùng biện pháp đối phó không mang tính cưỡng bức để chấm dứt vi phạm, như là họ trực tiếp bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng vũ lực này.
Có nhiều ví dụ khác nhau trên thực tiễn cho thấy các Nhà nước có thể đáp trả những vi phạm nghĩa vụ « erga omnes » bằng cách sử dụng những biện pháp đối phó hợp pháp. Có thể kể : những trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Liên Xô cũ vì đóng quân dọc theo biên giới Ba Lan, được coi là đe dọa hòa bình thế giới ; Cộng đồng châu Âu trừng phạt Achentina vì đã xâm lược vũ trang quần đảo Falkland và bị Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án là « vi phạm hòa bình ».Hoặc các biện pháp trừng phạt của Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ đối với Nga vì đã sáp nhập Crimée và can thiệp vào miền đông Ukraina.
Theo đó, nếu việc Trung Quốc chiếm đóng và đơn phương triển khai lực lượng vũ trang trên quần đảo Trường Sa được coi là sử dụng vũ lực chống lại các nước đòi hỏi chủ quyền, cấu thành vi phạm tiêu chí « erga omnes », thì các nước thứ ba dù không bị ảnh hưởng trực tiếp vẫn có thể viện đển trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc. Với vi phạm này, có nghĩa là các quốc gia khác ngoài các bên đòi hỏi chủ quyền Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan) cũng có thể áp đặt một loạt các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc.
Tuy vậy, nước nào có thể sẵn sàng sử dụng các biện pháp đối phó như trên thì còn phải chờ xem. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, liệu có quốc gia nào quyết tâm đưa Trung Quốc ra trước Tòa án Công lý Quốc tế ?
(*) Tiến sĩ Constantinos Yiallourides chuyên nghiên cứu Luật quốc tế về tranh chấp lãnh thổ tại Viện Luật quốc tế và so sánh của Anh quốc (BIICL) và là tác giả chính của công trình nghiên cứu, được công bố vào tháng Bảy năm 2018 « Sử dụng vũ lực liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ».
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



