Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

Khoảng 50 tỷ USD từ VN chảy sang TQ mỗi năm qua các cửa khẩu biên giới


22/06/2018 TheLEADER - Những con số rất đáng chú ý trong một công văn của Bộ Tài chính gửi Bộ Công thương về tình hình hoạt động các cửa khẩu biên giới đất liền giữa Việt Nam và các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia. Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc qua các cửa khẩu/lối mở biên giới giai đoạn 2013 - 2018 đã lên tới hơn 250 tỷ USD.

Cửa khẩu quốc tế Móng Cái, một trong những điểm giao
 thương quan trọng bậc nhất giữa Việt Nam - Trung Quốc
Tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi qua các cửa khẩu/lối mở biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn 2013 - 2018 (số liệu tính đến quý I/2018) tăng đều qua các năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 100 tỷ USD, chiếm tỷ lệ trung bình 29,06% trong kim ngạch thương mại song phương giữa 2 nước Việt Nam - Trung Quốc.

Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc qua các cửa khẩu/lối mở biên giới giai đoạn 2013 - 2018 đã lên tới hơn 250 tỷ USD, gấp hơn 200% kim ngạch xuất khẩu.

Như vậy chỉ trong vòng 5 năm qua, chỉ tính riêng qua các cửa khẩu biên giới đất liền, Việt Nam đã nhập siêu lên tới 150 tỷ USD từ Trung Quốc. Đó là còn chưa tính đến hàng tỷ USD từ xuất nhập khẩu tiểu ngạch/lối mở biên giới, buôn lậu hàng hóa qua biên giới...

Cơ cấu xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn là cao su và các sản phẩm từ cao su, nông sản, gỗ ván bóc và một số mặt hàng khác.

Trong khi đó, mặt hàng Việt Nam nhập từ Trung Quốc chủ yếu gồm máy móc thiết bị, điện năng, phân bón các loại, than cốc, nguyên liệu lá thuốc lá, trái cây tươi và một số mặt hàng khác.

Số liệu của Tổng cục Hải quan cho biết, năm 2017, thương mại Việt Nam – Trung Quốc đạt 93,69 tỷ USD, dự kiến năm 2018 con số này sẽ chạm mốc 100 tỷ USD. 

Với kim ngạch thương mại song phương 100 tỷ USD, Trung Quốc sẽ là đối tác thương mại đầu tiên lập được kỷ lục này.

http://theleader.vn/khoang-50-ty-usd-tu-viet-nam-chay-sang-trung-quoc-moi-nam-qua-cac-cua-khau-bien-gioi-1529638854983.htm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đến khi nào Việt Nam thôi “bắt tay” với doanh nghiệp Trung Quốc?


RFA 2018-06-25 Có thể lúc đầu thì chưa thân lắm, nhưng rồi qua công việc, qua những cái “hoa hồng” đấy rồi dẫn cái thân rồi dần dần thành nếp. Đấy là một cái mà tôi cho rằng nhược điểm rất lớn trong hệ thông quản lý ở Việt Nam mà cần phải khắc phục bắt đầu từ việc bài trừ chủ nghĩa thân hữu - GS Đặng Hùng Võ

Dự án nhà máy thép 6000 tỷ liên danh với 
Trung Quốc đang nằm đắp chiếu CafeF
Bộ Công Thương mới đây có văn bản gửi Thủ tướng, báo cáo phương án hợp tác đầu tư một số dự án nhà máy nhiệt điện. Theo đó, Bộ này kiến nghị Thủ tướng giao liên danh thực hiện dự án Nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập 1 (Nghệ An) thay cho Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV). Lý do là vì TKV không đáp ứng được nhu cầu vốn triển khai dự án đúng tiến độ và gặp khó khăn trong huy động vốn từ 2 nhà đầu tư là Kospo và Samtan (Hàn Quốc).

Tuy nhiên, đánh giá năng lực của liên danh Tập đoàn Geleximco – Công ty TNHH Hong Kong United (HUI) cho thấy, phương án tài chính mà Geleximco và liên danh đưa ra lại phần lớn dựa vào vốn vay từ Trung Quốc, với tỷ lệ vốn đối ứng 20% vốn chủ sở hữu và 80% vốn vay. Dự kiến lãi suất vay từ nguồn tín dụng thương mại là 10,86% một năm và quốc tế là 11,77% một năm. 


Do đó, dự án này một lần nữa đặt ra nhiều nghi vấn đối với các nhà chuyên môn xung quanh tính khả thi và hiệu quả, sau hàng loạt những tồn tại đã và đang diễn ra tại các dự án do nhà thầu Trung Quốc triển khai. Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Tài nguyên và Môi trường nói về điều này:

“Sự thực mà nói thì tôi cũng thường xuyên đặt câu hỏi để rồi tự trả lời xem là tại sao? Tất nhiên nó có một cái lý mà nhiều người cho rằng nó mang tính hình thức, đó là các doanh nghiệp Trung Quốc thường chào với cái giá rất rẻ, thế nhưng mà còn có lý do mà tôi vẫn cho rằng logic thực tế hay nằm ở chỗ đó chính là câu chuyện tham nhũng trong quá trình đấu giá đấu thầu."
Trước ý kiến cho rằng, việc doanh nghiệp Trung Quốc có chính sách “lại quả” từ 30% đến thậm chí 50% giá trị dự án chính là nguyên nhân khiến doanh nghiệp Trung Quốc thường trúng thầu tại các siêu dự án tại Việt Nam, GS Võ bày tỏ quan điểm:
Đồng quan điểm với GS Đặng Hùng Võ, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá (Bộ Tài chính) giải thích thêm: Ở Việt Nam hiện nay có một cái tôi cho là điều dở đó là mối quan hệ thân hữu , quen thân rồi thì cứ như thế nó giải quyết công việc nó nhanh, nó tiện thì đó gọi là chủ nghĩa thân hữu trong quản lý ở Việt Nam hiện nay còn chiếm xu thế khá mạnh. Tất nhiên là cái đó nó lại gắn với tham nhũng, có thể lúc đầu thì chưa thân lắm, nhưng rồi qua công việc, qua những cái “hoa hồng” đấy rồi dẫn cái thân rồi dần dần thành nếp. Đấy là một cái mà tôi cho rằng nhược điểm rất lớn trong hệ thông quản lý ở Việt Nam mà cần phải khắc phục bắt đầu từ việc bài trừ chủ nghĩa thân hữu”
Mình quá coi trọng chỉ tiêu về giá. Nó bỏ với giá thấp xong cuối cùng nó lại dùng chiêu trò để nâng giá lên thì cuối cùng cũng lại bằng vô nghĩa. Bên cạnh đó thì nó lại có điều kiện là cấp cho mình vốn vay tín dụng thì đó là ưu điểm. Một cái nữa cũng phải hết sức thông cảm là cách làm ăn của Việt Nam với anh Trung Quốc là quan hệ lâu rồi thì cái đó nó cũng tác động. Tuy nhiên, phải nói thẳng ra là những dự án mà nhà thầu Trung Quốc thi công triển khai thì đều kém hiệu quả và gây lãng phí thất thoát” 
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cũng cho rằng rất nhiều các dự án mà Trung Quốc đã trúng thầu và đang thi công đều gây lãng phí bởi trên thực tế công nghệ của Trung Quốc yêu cầu chi phí đầu tư và duy tu bảo hành cao tuy nhiên lại không mang lại hiệu quả kinh tế như mong đợi. Trong khi đó, GS Đặng Hùng Võ lại lên án những hậu quả đối với môi trường từ các công nghệ của nhà thầu Trung Quốc. Ông nói: 
Tất cả những cái mà Việt Nam đã nhìn thấy rồi như công nghệ xi măng lò đứng, mía đường hay như nhiều thứ công nghệ khác, Việt Nam cũng đã nhập của Trung Quốc, thậm chí là biết rồi nhưng mà vẫn có một loạt các nhà máy xi măng lò đứng vẫn đang làm việc và vẫn đang gây ô nhiễm môi trường, trong khi ở Trung Quốc người ta đã bỏ xi măng lò đứng từ lâu rồi”
Gần đây phải nói rằng bệnh chậm tiến độ, đội vốn kéo dài hay là thất thoát lãng phí trong đầu tư công nó là một bệnh trầm kha, một bệnh cố hữu của Việt Nam. Nói chung là các dự án đầu tư công ở Việt Nam hiện nay có đến 40-50% các dự án phải điều chỉnh do chậm tiến độ, do chi phí đội lên…chi phí rất là lớn - TS. Ngô Trí Long
Thực tế này được minh chứng bằng các dự án như Dự án Tổ hợp Bô xít Tây Nguyên đội vốn hơn 30 nghìn tỷ và chậm tiến độ hơn 6 năm, Dự án nhà máy gang thép Lào Cai và dự án mỏ sắt Quý Xa trị giá 6.000 tỷ nằm đắp chiếu, Dự án nhà máy đạm Ninh Bình – 1 trong 12 dự án đội vốn thua lỗ nghìn tỷ của Bộ Công thương hay gần đây nhất là dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đội vốn hơn 7000 tỷ đồng và chậm tiến độ 3 năm tính đến thời điểm hiện tại. 
Bên cạnh đó là hàng trăm dự án xây dựng và giao thông lớn nhỏ trải dài từ Bắc vào Nam cũng đang gặp phải những vấn đề về chi phí đầu tư và tiến độ gây thất thoát lãng phí, làm tăng thêm gánh nặng về lãi suất và gây nên những hiệu quả tiêu cực đối đời sống kinh tế, xã hội của người dân. 
Theo TS Ngô Trí Long, mối quan hệ thân hữu giữa các vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam và Trung Quốc trong suốt nhiều thập kỷ qua cùng những khoản “lại quả” giá trị cao, thậm chí bằng tiềng mặt của nhà thầu Trung Quốc là nguyên nhân dẫn tới những bài học đầy “đau thương” hiện nay:
“ Gần đây phải nói rằng bệnh chậm tiến độ, đội vốn kéo dài hay là thất thoát lãng phí trong đầu tư công nó là một bệnh trầm kha, một bệnh cố hữu của Việt Nam. Nói chung là các dự án đầu tư công ở Việt Nam hiện nay có đến 40-50% các dự án phải điều chỉnh do chậm tiến độ, do chi phí đội lên… chi phí rất là lớn”
TS Ngô Trí Long cũng cho rằng mặc dù đã có Luật đầu tư công ban hành từ năm 2014 nhưng do năng lực hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý nên tình trạng trên vẫn không hề được cải thiện. Trong khi đó, GS Đặng Hùng Võ đưa ra khuyến cáo trong việc lựa chọn nhà thầu có thể đảm bảo những yêu cầu kỹ thuật trước hết rồi mới tính đến các phương án giá bỏ thầu khả thi để tránh tình trạng nhà thầu không vượt qua được rào cản kỹ thuật, đình trệ thi công và liên tục đề xuất tăng vốn gây thất thoát ngân sách nghiêm trọng như hiện nay
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/den-khi-nao-viet-nam-thoi-bat-tay-voi-doanh-nghiep-trung-quoc-06252018143455.html

nhận xét hiển thị trên trang

Quốc hội Việt Nam thanh minh tình trạng song tịch của đại biểu


RFA 2018-06-27 - Tổng Thư ký Quốc hội Việt Nam, ông Nguyễn Hạnh Phúc, vào ngày 27 tháng 6, được truyền thông trong nước dẫn phát biểu thanh minh về việc Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Văn Thân, đoàn tỉnh Thái Bình, có hai quốc tịch: Việt Nam và Ba Lan.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Thân.
Theo lời ông Nguyễn Hạnh Phúc nói với báo chí trong nước thì Ba Lan có quyết định cho ông Nguyễn Văn Thân thôi quốc tịch nước này theo đơn xin thôi quốc tịch của ông từ tháng 1/2016, trước thời điểm ông Nguyễn Văn Thân ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14.

Thông tin ông Nguyễn Văn Thân, ĐBQH đoàn Thái Bình có hai quốc tịch được tờ báo tiếng Việt ở Ba Lan, Đàn Chim Việt, đưa ra vào ngày 17/6/2018. Ông được cho là có quốc tịch Ba Lan cũng như làm ăn sinh sống tại quốc gia Đông Âu này.

Đây không phải là trường hợp duy nhất liên quan chuyện ĐBQH có hai quốc tịch. Trong đợt bầu cử ĐBQH khóa 14, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường là ĐBQH khóa 13 trúng cử khóa 14 đã không được xác nhận tư cách ĐBQH và xin thôi làm ĐBQH sau khi bị phát hiện mang 2 quốc tịch Việt Nam và Malta, một đảo quốc nhỏ ở châu Âu.


https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/vn-clarifies-dual-citizenship-of-congress-members-06272018104731.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lũ cuốn và tình người trong thiên tai


Một căn nhà của người dân Quản Bạ, Hà Giang bị hư hại vì nước lụt và đất lở. Ảnh của Đỗ Nam Trung chụp ngày 26/06/2018.


Số lượng nạn nhân bị thiệt mạng vì lũ cuốn tại Việt Nam cho đến hôm nay 27/06/2018 đã lên đến 21 người. Chính quyền cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét, đất lở còn rất cao tại sáu tỉnh miền núi Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, với dự báo những trận mưa lớn sắp tới. Lai Châu là nơi bị thiệt hại nặng nhất với ít nhất 16 người chết và 9 người bị lũ cuốn mất tích; Hà Giang có 5 người thiệt mạng.
Trả lời RFI Việt ngữ, anh Đỗ Nam Trung thuộc nhóm No U thiện nguyện cho biết nhóm anh đã lên đến nơi bị nạn thuộc tỉnh Hà Giang rất sớm, sau đó một số đoàn từ thiện cũng đã đến giúp đỡ đồng bào địa phương trong cơn hoạn nạn.

" Nhóm No U thiện nguyện lên đây chỉ có ba anh em thôi. Chiều tối nghe thông tin thì ba anh em lên kế hoạch đi. Tiền bạc không có gì vì tụi em là hội nhóm tự phát, toàn anh em tự ngồi lại với nhau chứ chẳng có nguồn vốn gì cả. Định đi ngay trong đêm nhưng tiền chưa có, đồ cũng không mua được. Đợi đến sáng mới đánh xe đi mua đồ đạc, đến gần trưa thì xuất phát từ Hà Nội đi. Vừa đi vừa kêu gọi, thì bà con mới gởi tiền nong.

Phải mua lương khô, muối i-ốt, bột canh, mì tôm…từ dưới Hà Nội mang lên. Ở trên này đâu có gì để mua. Lúc đó loạn cả lên, cả thành phố Hà Giang đang chìm ngập trong biển nước. Nước hôm đó lên cao, xả lũ, nhiều người không ra được khỏi nhà. Bởi vậy phải mua từ Hà Nội, chứ mang tiền lên trên này đâu mua được gì. Điện mất, internet mất, mình có muốn rút tiền cũng không rút được.

Chiều tối hôm qua em lên đến Hà Giang. Rất may là khi lên đến thành phố Hà Giang thì nước rút nhiều không còn ngập, không bị cô lập nữa, chỉ ngập trên Quản Bạ thôi. 

Ban đầu em vào thì bị tắc đường, những tảng đá lớn trên núi và đất lở trùm kín đường không vào được. Đi vòng hai, ba lần vẫn không vào được, phải chờ máy xúc, máy ủi dẹp bớt đất bùn mới vô được. Đoàn em là đoàn đầu tiên vào trong đó, hai xã Cán Tỷ và xã Lùng Tám. Tất nhiên sẽ có sạt lở tiếp nhưng mình tranh thủ đi thật nhanh thôi. Tụi em đi núi nhiều rồi, đi làm thiện nguyện nhiều, biết địa lý, tình hình khu vực nên không sợ lắm.

Lên đến huyện Quản Bạ, có mấy khu vực sạt lở. Hôm qua vẫn bị cách ly, sáng nay cũng không tiếp cận được, ngồi đợi đến trưa, máy xúc, máy ủi gạt đất bùn đi thì anh em mới vào được đúng nơi bà con bị thiệt hại nặng nề nhất.

Nơi đó thuộc xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, thôn bị nặng nhất là thôn Tùng Nùn. Chính quyền địa phương cũng nghèo, mình lên trên đó thì họ hỗ trợ về nhân lực cho mình. Thí dụ mình mang đồ đạc, quà cáp lên thì có đội thanh niên tự vệ khoảng mấy chục người ra khuân vác đồ giúp, mở đường cho mình vào. Chính quyền không có tiền, chỉ có thể chỉ đạo về việc đó, rồi hỗ trợ người dân sơ tán ra khỏi nơi nguy hiểm. 

Trên này lũ ống quét đột ngột, sau đó rút dần, để lại thiệt hại về người và của. Người thì có mấy trường hợp thiệt mạng, còn nhà thì khá nhiều nhà bị mất trắng. Cả cái nhà bị đất đá trên núi sụt xuống đổ ụp vào nhà. Có hai mẹ con một chị không kịp chạy, nhà sập đè cả hai. 

Ở chỗ em đang làm có danh sách số hộ bị mất nhà và số người bị thiệt mạng. Hôm nay em có vào thăm những gia đình đó. Có trường hợp vợ mất, con mất rồi, còn lại mỗi người chồng, em có vào ủng hộ tiền bạc, vật dụng cho anh ấy để sinh hoạt. Mất nhà mất cửa, mất cả vợ lẫn con, còn có mỗi mình. 

Qua những hình ảnh em đưa lên và livestream, em có nói rõ là ở địa bàn nào, bị thiệt hại như thế nào…thì cũng có những hội nhóm từ thiện lên và vào trong đó được. Hôm nay thì thông đường rồi, ô tô đã vào được tận nơi, quà cáp các thứ đã mang đến được. 

Cái mà người dân cần bây giờ là một nếp nhà mới để ở, chứ đâu ở tạm bợ mãi được. Có người phải đi ở nhờ nhà anh chị em, bà con, có người ở tạm tại các trường tiểu học, trung học. Tại vì có còn chỗ nào về đâu ? 

Nền nhà bây giờ đất núi sạt xuống, vùi lấp kín cả cái nhà. Bình thường thì nền nhà phẳng, giờ bị phủ lấp nên có độ dốc, bùn đất lấp hết cả lên, nên phải dựng nhà chỗ khác. Trong đống đổ nát đó họ lục tìm những gì còn tận dụng được, nhưng đa phần là mất hết. Ở trên này đa số bà con là người Mông, họ trồng ngô làm mèn mén để ăn, hoặc chăn nuôi gia súc. Bây giờ ngô bị hư hại hết rồi. "


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giảm diện tích Hà Nội và lập tỉnh Thăng Long.


Hà Nội mở rộng - mười năm nhìn lại
22/06/2018 - Đưa diện tích Hà Nội về mức trước 2008 và lập tỉnh Thăng Long. Diện tích Hà Nội trở về mức trước khi mở rộng vào năm 2008, phần diện tích còn lại hình thành địa giới một tỉnh gọi tên là Thăng Long. Có thể cân nhắc việc mở rộng tỉnh này ra một số diện tích lân cận thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hưng Yên. Theo kinh nghiệm quốc tế trong trường hợp tương tự, chủ tịch UBND thành phố (thị trưởng) nên đồng thời là chủ tịch UBND tỉnh (tỉnh trưởng) để tiện phối hợp các hoạt động phát triển của hai địa phương.
Hình ảnh thường thấy: ùn tắc kéo dài từ sáng sớm trên trục đường Trần Phú - Nguyễn Trãi về phía trung tâm thành phố Hà Nội. Ảnh: TL. 
Tính từ cuối tháng 5.2008 Quốc hội thông qua Nghị quyết mở rộng Hà Nội đến tháng 5.2018 là tròn 10 năm. Thời gian đó đủ để đánh giá những thành tựu cùng các hậu quả và triển vọng của việc mở rộng Hà Nội. Ngoài đánh giá từ góc nhìn chính trị - hành chính, còn có đánh giá của một số chuyên gia từ các góc nhìn khác, như phát triển bền vững, hiệu quả đầu tư, địa chất thủy văn, thậm chí từ quan điểm phong thủy... Riêng người viết bài này muốn xem xét vấn đề theo quan điểm đô thị học.

Đô thị hóa hay “phản đô thị hóa”?

Mật độ dân số Hà Nội trước sáp nhập gần 3.600 người/km2, sau mở rộng giảm xuống chỉ còn khoảng 1.800 người/km2, đến 2016 tăng lên gần 2.200 người/km2, kém xa mức khi chưa sát nhập. Tỷ lệ đô thị hóa hiện vẫn rất thấp, chỉ là 51%. Thành phố Sơn Tây bị giáng cấp thành thị xã. Vậy mở rộng địa giới Hà Nội là đô thị hóa hay “phản đô thị hóa”? Thực ra đây là mô hình đô thị hóa đặc thù tại những nước mà toàn bộ đất đai thuộc sở hữu công như Việt Nam và Trung Quốc, gọi là “đô thị hóa đất đai đi trước đô thị hóa dân số”. Nguyên nhân được cho là do chính quyền đô thị các nước này luôn cần bán quyền sử dụng đất để tạo nguồn thu ngân sách, nên khi nguồn đất đã cạn thì phải mở rộng địa giới, ngược với xu hướng thế giới là phát triển đô thị theo “hình thái nén” với mật độ cao, cho phép tiết kiệm vốn đầu tư hạ tầng và dễ ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu.

Thủ đô và thành phố Hà Nội tuy một mà hai

Trên thế giới, nếu đô thị chỉ thuần túy là thủ đô thì thường không rộng, chẳng hạn thủ đô Hoa Kỳ Washington D.C. chỉ có diện tích 177km2 với dân số gần 70 vạn; thủ đô Ấn Độ New Delhi còn bé hơn, chỉ rộng 43km2 với dân số 25 vạn, trong khi hai nước này rộng hơn nước ta nhiều! Vì vậy tôi nghĩ điều quan trọng đối với một thủ đô chưa phải là quy mô địa lý của nó, mà là khả năng tiếp cận dễ dàng, trật tự và an ninh được đảm bảo, môi trường sống trong lành và người dân thân thiện. Còn thành phố Hà Nội với vai trò đầu tàu kinh tế và văn hóa - xã hội thì hiển nhiên trong quá trình phát triển có lúc cần được mở rộng địa giới, không chỉ nội thành mà cả ngoại thành mới đủ “năng lực chuyên chở” các nội dung tăng trưởng kinh tế, đáp ứng các nhu cầu dịch vụ hạ tầng như cung ứng năng lượng, cấp thoát nước, nghỉ ngơi giải trí...


Như vậy có thể thấy thủ đô và thành phố Hà Nội tuy một mà hai, nghìn năm qua thủ đô nước Việt đã từng nhiều lần chuyển đến đây rồi dời đi, trong khi Hà Nội thì vẫn đấy, bên bờ sông Hồng!

Mấy hoài nghi

Theo Ngân hàng Thế giới, một thành phố bền vững phải là thành phố ECO2-thành phố sinh thái kiêm kinh tế. Thị trường tạo động lực phát triển kinh tế, đến lúc nào đó làm nẩy sinh nhu cầu mở rộng phạm vi nội thành và đôi khi cả địa giới hành chính của đô thị. Chính quyền đô thị lập quy hoạch không gian nhằm tạo điều kiện đất đai và hạ tầng cho thị trường hoạt động, lại vừa tạo ra nơi chốn “đáng sống”. Rất tiếc là nhiều đồ án quy hoạch đô thị hiện nay còn mắc phải cái tật duy ý chí cố hữu của kinh tế kế hoạch hóa, ít quan tâm đến các nhân tố thị trường. Hậu quả là xuất hiện nhiều khu đô thị mới bỏ không trong khi các hoạt động thị trường lại dồn vào những khu vực chật chội, hạ tầng yếu kém, giao thông tắc nghẽn, môi trường ô nhiễm...

Vậy nhìn lại mười năm mở rộng Hà Nội từ góc độ thị trường, chúng ta thấy gì? Các số liệu chứng tỏ kinh tế Hà Nội tăng trưởng nhanh và ổn định, cả hai vùng nội và ngoại thành đều thay đổi bộ mặt. Thế nhưng đó có phải là kết quả trực tiếp của mở rộng Hà Nội? Tôi hoài nghi điều này.

Thị trường vận hành theo cơ chế của nó, ít quan tâm đến địa giới hành chính. Theo xu thế chung cả nước, Hà Nội và Hà Tây dù không sáp nhập vẫn có thể phát triển đạt trình độ hiện tại, giống như Quảng Nam và Đà Nẵng đều phát triển mạnh mẽ sau khi tách đôi vào năm 1996. Sau mười năm, các đô thị được gọi là “vệ tinh” trong địa giới Hà Nội vẫn chưa phát triển mấy, thậm chí “đô thị Hòa Lạc” vẫn chưa là đô thị! Hiển nhiên, một thành phố lớn như Hà Nội có tác động lan tỏa ra nhiều tỉnh chung quanh trong “vùng đô thị lớn” (metropolis), các đô thị trong vùng này đều là đô thị vệ tinh của thành phố trung tâm, chứ không riêng các đô thị được phong là “vệ tinh” trong địa giới thành phố. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quan hệ thị trường thường mạnh lên về hướng biển, thế nhưng Xuân Mai, Hòa Lạc và Sơn Tây lại ở xa về phía Tây, Phú Xuyên lùi quá về phía Nam, nên quan hệ thị trường của chúng với nội thành Hà Nội không nhiều như Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên ở về phía Đông.

Đưa diện tích Hà Nội về mức trước 2008 và lập tỉnh Thăng Long

Mở rộng địa giới là giải pháp nhằm đặt toàn bộ hoạt động kinh tế trong không gian lan tỏa dưới sự “điều hành” của một chính quyền duy nhất. Như thế là tốt, thế nhưng kinh tế lại không ngừng lan tỏa, vậy chẳng lẽ thành phố cứ tiếp tục mở rộng mãi?

“Điều hành” chỉ là một phương thức quản lý nhà nước, ngoài ra còn các phương thức “phối hợp” và “cộng tác”. Hiển nhiên mỗi phương thức quản lý cần có thể chế quản lý phù hợp, vậy nên xây dựng thể chế quản lý nào cho sự phát triển của thành phố Hà Nội?


Những dãy biệt thự, nhà liền kề bỏ hoang nhiều năm nay tại khu đô thị huyện Hoài Đức (phía tây, thuộc Hà Nội). Ảnh: TL

Không gian phát triển Hà Nội gồm ba lớp: nhân lõi là nội thành và khu vực ngoại thành cận kề trong bán kính dễ dàng sáng đi tối về; lớp giữa gồm khu vực xung quanh có quan hệ kinh tế hàng ngày với thành phố; và lớp ngoài gồm các tỉnh thuộc vùng đô thị lớn Hà Nội.

Đô thị hạt nhân do chính quyền thành phố quản lý, lớp giữa nên hình thành tỉnh do chính quyền cấp tỉnh quản lý, còn vùng đô thị được quản lý theo phương thức phối hợp và hợp tác thông qua một hội đồng phát triển vùng gồm đại diện các tỉnh, thành trong vùng. Đây cũng là mô hình quản lý “cộng đồng đô thị” của nước Pháp, bao gồm thành phố lõi và một loạt thị trấn vệ tinh dính liền chung quanh, kết quả của sự lan tỏa nhưng không mở rộng địa giới của thành phố lõi.

Từ 1954 đến nay, địa giới thành phố Hà Nội đã trải qua bốn lần điều chỉnh vào các năm 1961 (586,13km2), 1978 (2.123km2), 1991 (921,8km2) và 2008 (3.344,5km2). Đáng chú ý là các luận cứ về thu hẹp địa giới Hà Nội năm 1991 nêu trong Thông báo của Bộ Chính trị số 170/TB-TƯ ngày 24.11.1989, như phạm vi ngoại thành quá rộng, dân số ngoại thành gấp đôi nội thành khiến Hà Nội nặng tính chất thành phố nông nghiệp, sự chỉ đạo của Đảng và chính quyền bị phân tán vào cả công nghiệp và nông nghiệp, cả đô thị và nông thôn.

Tôi nghĩ các luận cứ đó vẫn giữ nguyên giá trị để làm cơ sở đưa diện tích Hà Nội trở về mức trước khi mở rộng vào năm 2008, phần diện tích còn lại hình thành địa giới một tỉnh gọi tên là Thăng Long. Có thể cân nhắc việc mở rộng tỉnh này ra một số diện tích lân cận thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hưng Yên. Theo kinh nghiệm quốc tế trong trường hợp tương tự, chủ tịch UBND thành phố (thị trưởng) nên đồng thời là chủ tịch UBND tỉnh (tỉnh trưởng) để tiện phối hợp các hoạt động phát triển của hai địa phương.

Ý tưởng lập tỉnh Thăng Long không phủ nhận sự đúng đắn của chủ trương mở rộng thành phố Hà Nội, mà chỉ là đề xuất khung thể chế thích hợp về mặt đô thị học để thực hiện chủ trương này.

TS. Phạm Sỹ Liêm

VÀI SỐ LIỆU CẦN BIẾT

Cuối tháng 5.2008, Quốc hội thông qua Nghị quyết mở rộng địa giới hành chính Hà Nội kể từ ngày 1.8.2008, cơ bản là sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội, khiến diện tích Hà Nội từ 921,8km2 tăng lên đến 3.344,5km2, dân số từ gần 3,3 triệu người lên hơn 6,1 triệu người, bao gồm thành phố trung tâm và 5 đô thị vệ tinh.

Hà Nội được mở rộng theo hai hướng “đô” (trung tâm hành chính) và “thị” (trung tâm kinh tế), ngoài ra còn một hướng nữa ít được đề cập công khai là “thành” (căn cứ quân sự), tuy đây mới là mục tiêu quyết định việc mở rộng Hà Nội xa về phía Tây để ôm gọn khu vực núi Ba Vì làm chỗ tựa phòng vệ thủ đô.

Sau 10 năm mở rộng, Hà Nội vẫn giữ vững vị trí đầu tàu phát triển kinh tế với mức tăng trưởng luôn bằng 1,5 lần trở lên so với mức bình quân cả nước. Khi sáp nhập, thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội là 2.000 USD, Hà Tây là 250 USD, đến năm 2015 cả Hà Nội mở rộng đạt 3.700 USD và dự kiến sẽ đạt 6.600-6.700 USD vào năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố chỉ còn 1,7%.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nảy sinh từ mở rộng địa giới, hệ thống hạ tầng giao thông được bổ sung với các tuyến đường vành đai, các trục hướng tâm, các tuyến cao tốc và những cây cầu... Vận tải công cộng như xe buýt nhanh BRT và tàu điện trên cao cũng được phát triển. Bộ mặt đô thị được hiện đại hóa với hàng loạt công trình lớn, công viên xanh và khu đô thị cao tầng...

Bàn tròn: Hà Nội được và mất gì sau ngày mở rộng?

Từ bài viết của TS. Phạm Sỹ Liêm (nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng), để tiệm cận gần nhất mọi khía cạnh của quyết định mở rộng Hà Nội, rút ra những bài học kinh nghiệm cho chủ trương mở rộng địa giới đô thị ở các địa phương khác, Người Đô Thị sẽ tiếp tục đăng tải ý kiến, bài viết của các chuyên gia phát triển đô thị, nhà quy hoạch, người dân… tại: http://nguoidothi.net.vn.

Mời bạn đọc theo dõi và đóng góp ý kiến.

Người Đô Thị
http://nguoidothi.net.vn/ha-noi-mo-rong-muoi-nam-nhin-lai-13956.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Dao tìm vợ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những Nơi Vô Cùng Khó Khăn Của Tây Bắc

Phần nhận xét hiển thị trên trang