Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

Người Hàn tán thưởng VN biểu tình chống luật đặc khu

https://baomai.blogspot.com/

https://baomai.blogspot.com/ 
Cuộc biểu tình chống dự luật đặc khu ở Hà Nội được hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc tường thuật lại

Tin tức về các cuộc biểu tình tại Việt Nam vài ngày qua đã thu hút được sự quan tâm của nhiều dân mạng Hàn Quốc.

Daum là cổng thổng tin lớn thứ hai Hàn Quốc, đăng lại nội dung của hãng thông tấn Yonhap hôm 10/6, cho biết dự luật đặc khu không đề cập đến Trung cộng, nhưng mạng xã hội Việt Nam chỉ trích "[luật] sẽ cho Trung cộng nhiều lợi thế, có thể đe dọa an ninh quốc gia".

Bài viết tường thuật lại các cuộc biểu tình hôm 9/6 ở hồ Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội, và khu công nghiệp ở TP HCM.

Bài viết có 752 lượt yêu thích và có hơn 400 lời bình luận - "một con số đáng kể cho một bài báo về nước ngoài, nhất là khi nó không trực tiếp liên quan đến Hàn Quốc," phóng viên Kim Subin cho biết.

https://baomai.blogspot.com/ 
Bài viết được đăng trên Daum, cổng thông tin lớn thứ hai của Hàn Quốc

Bình luận được yêu thích nhất, có 1698 lượt ủng hộ, của tài khoản RiverPhoenix viết:

"Việt Nam có khác. Niềm tự hào dân tộc của họ vẫn hơn Hàn Quốc."

Người dùng Kim Yong-sam thì bình luận về thái độ chống Trung cộng, và so sánh với Nam-Bắc Triều Tiên:

"Trung cộng, vốn chống lại sự thống nhất của Triều Tiên và lợi dụng Bắc Hàn, là kẻ thù của chúng ta. Họ phản đối sự thống nhất vì một nhóm nhỏ ở miền Bắc muốn được độc lập. Họ là kẻ ăn cắp tài sản trí tuệ của người khác. Chúng ta không bao giờ nên tin tưởng họ," - bình luận có 361 lượt ủng hộ, 13 lượt không ủng hộ.

https://baomai.blogspot.com/

"Nếu họ [Việt Nam] đưa đất cho người Trung cộng, thì người Trung cộng sau đó sẽ nói rằng mảnh đất đó thuộc về họ. Họ sẽ đem quân sang theo danh nghĩa bảo vệ đất đai và doanh nghiệp của họ. Các nước láng giềng nên nghĩ lại về việc thiết lập các đặc khu kinh tế," bình luận của tài khoản khác viết.

https://baomai.blogspot.com/ 

Phóng viên Kim Subin nói "chắc chắn là có tư tưởng bài Trung cộng" ở Nam Hàn nhưng quan điểm thù ghét này phổ biến đến đâu thì anh không chắc. Tuy nhiên, điều này là điều dễ hiểu giữa các nước láng giềng với nhau.

Có một số bình luận khác thì so sánh với đảo Jeju của Hàn Quốc.

https://baomai.blogspot.com/

"Đất nước chúng ta bán đảo Jeju [cho người Trung cộng], chúng ta còn tệ hơn Việt Nam.... Chúng ta chỉ phát điên vì tiền," một tài khoản tên Aslan viết.

"Việt Nam giỏi hơn Nam Hàn rất nhiều. Hàn Quốc bán đảo Jeju cho Trung cộng... Người Hàn cũng nên biểu tình yêu cầu đuổi người Trung cộng đi," tài khoản tên Top Gun viết.

https://baomai.blogspot.com/

Anh Subin giải thích vào 2010, chính phủ Nam Hàn bắt đầu một chương trình đầu tư nhập cư, chủ yếu là thông qua bất động sản và đảo Jeju là nơi thú hút nhiều nhà đầu tư nhất.

Nhiều nhà đầu tư Trung cộng sau đó đã mua một số lượng lớn đất đai và được cấp thị thực đầu tư và sau 5 năm đầu tư, có thể được cấp thường trú nhân.

https://baomai.blogspot.com/

Kèm theo đó là truyền thông địa phương đưa tin ngày càng có nhiều tình trạng tệ nạn phạm pháp do công dân Trung cộng gây ra trên đảo, nhất là sau một vụ tấn công bằng dao giết chết một người dân địa phương vào 2016.

https://baomai.blogspot.com/

Vì chương trình miễn thị thực du lịch 30 ngày, cho nên có một lượng lớn người Trung cộng, gồm cả khách du lịch lẫn nhà đầu tư. Thậm chí còn có một phong trào trên mạng kêu gọi hủy miễn thị thực du lịch vào 2016, anh Subin nói thêm.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Liên Hiệp Quốc bày tỏ quan ngại về Luật an ninh mạng của Việt Nam





BBC
15-6-2018

Hôm 14/6 văn phòng nhân quyền của Liên hiệp quốc tại Đông Nam Á gửi thông cáo bày tỏ quan ngại về việc Quốc hội Việt Nam thông qua bộ Luật an ninh mạng.

Nhận định rằng bộ luật này "chứa đựng những điều khoản đi ngược lại với những cam kết của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) mà Việt Nam đã ký", thông cáo của Liên hiệp quốc giải thích những điều khiến họ quan ngại, gồm:

"Luật an ninh mạng cho phép Chính quyền yêu cầu các công ty công nghệ và các nhà cung cấp dịch vụ phải chia sẻ dữ liệu về thông tin cá nhân của người dùng, từ chối cung cấp dịch vụ và kiểm duyệt bài đăng của người dùng mà không cần đến quyết định của tòa án."

"Luật an ninh mạng có thể được Chính quyền sử dụng để đàn áp những tiếng nói bất đồng." 
Liên Hiệp Quốc kêu gọi chính quyền Hà Nội:

"Cung cấp môi trường thuận lợi cho tự do ngôn luận cả trên mạng và ngoài đời ở Việt Nam."

Và lập luận:

"Trong khi khi tự do tư tưởng là quyền tuyệt đối thì tự do biểu đạt có thể bị giới hạn trong một số phạm vi, nhưng chỉ khi những giới hạn này được quy định bởi luật và cần thiết trong việc bảo vệ: quyền lợi hoặc danh tiếng của người khác; an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức xã hội."

"Hơn nữa, bất kỳ sự can thiệp nào cũng cần phải được đánh giá một cách cẩn thận và khách quan về tính cần thiết, tính hợp pháp và tính cân xứng."


Vạch ra rằng quốc hội Việt Nam "thiếu các hoạt động tham vấn minh bạch với công chúng, cũng như các doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi Luật an ninh mạng trước khi luật được thông qua," Văn phòng nhân quyền của Liên hiệp quốc tại Đông Nam Á kêu gọi Chính phủ Việt Nam "tạo điều kiện để người dân và xã hội dân sự tham gia vào quy trình làm luật và chính sách."

Ngoài những quan ngại về Luật an ninh mạng, văn phòng nhân quyền của Liên hiệp quốc còn cho biết:

"Rất quan tâm tới các báo cáo đụng độ giữa những người biểu tình và công an trên khắp Việt Nam trong các cuộc biểu tình trên toàn quốc phản đối Dự luật về các đặc khu kinh tế và Luật an ninh mạng," và "đặc biệt lo ngại với cáo buộc- một số người biểu tình đã bị các cơ quan thực thi pháp luật đánh đập."

Kết thúc thông cáo, văn phòng nhân quyền của Liên hiệp quốc tại Đông Nam Á cảnh báo:

"Các vấn đề liên quan đến quyền tự do ngôn luận, biểu đạt và lập hội dự kiến sẽ được thảo luận chi tiết vào đầu năm 2019, trong các phiên kiểm điểm đối với Việt Nam, trong khuôn khổ của kỳ Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Quát (UPR). Đồng thời, Uỷ ban Nhân quyền LHQ cũng sẽ đánh giá mức độ thực hiện của Việt Nam đối với những cam kết của nước này theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR).


Chết vì đã chấp thuận cho TQ thuê đất 99 năm !


https://baomai.blogspot.com/ 
Chủ tịch QH SIRILANKA bị bắn chết vì đã chấp thuận cho TQ thuê đất 99 năm !

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HIỂU VỀ MẠNG XÃ HỘI TỪ GÓC NHÌN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN


"Công nhân Nguyễn Thị Liên, đọc báo Nhân dân cho các đồng nghiệp khác đang trong ca làm việc tại Nhà máy Dệt kim Hà Nội, vào ngày 13/2/1968". Ảnh: Tư liệu.
.


Lê Thị Thanh Vy 


Theo quan điểm của các nhà folklore học Hoa Kỳ thế kỷ XX, chủ thể của văn hóa dân gian không còn được hiểu theo nghĩa chung chung hoặc những nông dân không biết chữ nữa, mà là các “nhóm dân gian” (folk group) gồm từ hai người trở lên và chia sẻ với nhau một “văn hóa phi chính thống” (folk culture) nào đó. Một trong những “folk group” sôi nổi nhất của xã hội đương đại là các “folk group” trên mạng Internet/ “folk group” trong môi trường kỹ thuật số (Internet/ Digital folk group). Bài viết này khảo sát một bộ phận của “Internet folk group” đó tại Việt Nam là “folk group” trên mạng xã hội. Dựa vào các cách hiểu đương đại của Folklore học Hoa Kỳ về “văn hóa dân gian” (folklore), “truyền thống”(tradition), “nhóm dân gian” (folk group), chúng tôi vạch ra những “luật chơi” của môi trường dân gian trên mạng xã hội, từ đó lý giải cho sự say mê (và kèm theo cả sự e dè) đối với mạng xã hội tại Việt Nam. 

"Truyền thống” bao hàm cả cái đang diễn ra, và “dân gian” có thể là tất cả mọi người, mọi thành phần xã hội 

Folklore học (tạm dịch là ngành nghiên cứu văn hóa dân gian) là một ngành học phát triển mạnh ở Hoa Kỳ ngày nay. Lynne S. McNeill trong một giáo trình ngành Folklore học đã định nghĩa folklore như sau: “Folklore là văn hóa truyền thống và phi chính thống. Đó là tất cả những gì thuộc về văn hóa - như phong tục, truyện kể, trò đùa, nghệ thuật - mà chúng ta học lẫn nhau; bằng đường truyền miệng hay bằng cách quan sát, hơn là từ những tổ chức chính thống như trường học hay phương tiện truyền thông” (1).

Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ngộ nhận về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian thường được gắn với những gì xưa cũ, thuộc thế hệ ông bà cha mẹ của chúng ta, hay gắn với tầng lớp nông dân ít học. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu văn hóa dân gian trên thế giới thế kỷ XX đã chỉ ra rằng: đặc tính của văn hóa dân gian là truyền thống chứ không phải cổ truyền, và dân gian cũng không đồng nghĩa với bình dân(2).

Khái niệm “truyền thống” tại Việt Nam thường được hiểu theo chiều kích lịch đại và theo thời gian; nhưng thật ra truyền thống còn có cả chiều kích đồng đại và trong không gian nữa. Từ năm 1893, nhà folklore học người Anh là Joseph Jacobs trong công trình The Folk(Dân gian) đã chỉ ra rằng [1] folklore liên tục được cập nhật (update) và sáng tạo ra (invent), và vì vậy mà folklore bao hàm sự đổi mới (innovation), và hệ quả là nó bao hàm cả sự chủ động và mang tính cá nhân; [2] “folk” không phải là một cấp bậc (level) của xã hội, mà là một nhóm người chia sẻ với nhau một truyền thống, và họ có thể thuộc về bất kỳ tầng lớp nào; và [3] truyền thống không phải là tri thức thuộc về những người không biết chữ/ thất học (illiterate), mà là một quá trình mà các thành viên trong đó hiểu các quy tắc ứng xử bằng cách làm theo những khuôn mẫu có tính không gian và tâm lý (3).

Như vậy, truyền thống là cái chúng ta đang tạo ra mỗi ngày, đang thích nghi những di sản của cha ông vào trong những điều kiện hiện đại và đương đại của chính chúng ta. Truyền thống không phải là cái cố định, tĩnh tại, đã qua; mà là cái đang vận động, đang biến đổi. Đồng thời, những biến đổi đó không phải ngẫu nghiên, rời rạc, cá thể mà là sự biến đổi được dân gian (folk) đồng thuận ở cấp độ xã hội.

“Dân gian” ngày nay không chỉ có nghĩa là những nông dân không biết chữ, ít học; dân gian (folk) ngày nay được hiểu là tất cả mọi người, họ tạo thành các folk group (nhóm dân gian) theo nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau (folk group nghề nghiệp, folk group tôn giáo, folk group công sở, folk group trường đại học, folk group trẻ em, folk group kỹ thuật số - các “cư dân mạng” theo cách gọi hiện nay). Các thành viên trong folk group này chia sẻ với nhau một folk culture bên cạnh một văn hóa chính thống (institutional culture). Và bất cứ khi nào có con người, có sự giao tiếp thì có folklore hay văn hóa dân gian! (4) 

“Cư dân mạng” là một nhóm dân gian và chia sẻ với nhau một văn hóa dân gian 

Như đã trình bày ở trên, văn hóa xã hội bao hàm văn hóa chính thống và văn hóa phi chính thống (tức văn hóa dân gian). Chúng ta không thể hiểu thời đại của mình nếu bỏ qua phần văn hóa dân gian đó. Và mạng xã hội cũng là một môi trường dân gian như thế. Ở đó, chúng ta có một “cộng đồng” đang giao tiếp và tương tác mạnh mẽ với nhau mỗi ngày, đang sản sinh ra những “luật chơi” (rules) riêng cho họ, sản sinh ra một nền văn hóa phi chính thống, tươi trẻ và đầy tính phản biện.

Ở phương diện nội dung và hình thức biểu đạt của nền văn hóa dân gian đó, chúng ta thấy một bức tranh phong phú bề bộn: các câu chuyện cười chính trị-xã hội-văn hóa, truyền thuyết đô thị, chuyện kể kinh nghiệm cá nhân, truyện ma…; các thông tin và kiến thức được chia sẻ hàng loạt: kĩ năng sống, nuôi dạy con, làm đẹp, sơ cấp cứu…. Cộng đồng mạng sử dụng những cách diễn đạt rất “dân gian”:vừa rập khuôn theo công thức (hay còn gọi là mô-típ), vừa sáng tạo trong việc tạo ra các dị bản đa dạng(“Chỉ có đàn ông mới mang lại hạnh phúc cho nhau”“Chỉ có phụ nữ mới mang lại hạnh phúc cho nhau”“Người yêu không có nhưng chó phải có một con”“Người yêu không có nhưng bạn thân phải có một đứa”…); và một “kho” những biểu tượng cảm xúc (emoticons), những hình động, những từ viết tắt (lol, kaka, hehe, ahihi, ahuhu) để tăng tính biểu cảm chính xác hơn khi không thể giao tiếp mặt đối mặt. Văn hóa mạng xã hội có sự kết hợp của ngôn ngữ, hình ảnh và âm thanh. Rất phổ biến trên mạng xã hội là các Internet meme (thường gọi là “ảnh dìm”, “hình troll”) - một hiện tượng sống động của văn hóa dân gian thời đại kỹ thuật số. Các meme này sử dụng những hình ảnh có tính phổ biến (các nhân vật quen thuộc như Doraemon, Bạch Tuyết, Tổng thống Trump, Obama, “Cô giáo bọ cạp…”) và lắp ghép vào đó các câu châm ngôn hài hước theo một công thức nào nó được biến tấu lại (5).

“Cộng đồng mạng” chính là nhóm dân gian (folk group) và đây là môi trường dân gian đúng nghĩa. Không có một văn bản chính quy nào dạy chúng ta phải ứng xử ra sao trên facebook, chúng ta chỉ việc quan sát người ta làm và làm theo thôi. Quan sát và làm theo là một đặc thù của văn hóa dân gian. Trong đời sống dân gian, nếu chúng ta ngoáy mũi khi đứng trước mặt sếp, hay chạy đến ôm hôn thắm thiết cha mẹ của bạn mình, hay vào tiệm thức ăn nhanh và ngồi lên bàn, đưa tay vẫy người phục vụ đến ghi món… thì chẳng ai phạt tiền hay tống giam chúng ta cả, nhưng chúng ta sẽ bị nhìn như người ngoài hành tinh. Các khu vực dân gian đều có những quy định bất thành văn của nó. Trong nghệ thuật dân gian thì quy định này còn rõ ràng và chặt chẽ hơn. Chẳng hạn như, ca hát Quan họ - đỉnh cao của nghệ thuật ca hát dân gian - có những quy định rất nghiêm túc và đôi khi ngặt nghèo.Việc các liền anh, liền chị chỉ có thể giãi bày tình yêu dành cho nhau trong nghệ thuật nhưng trong cuộc đời thực thì không được tiến đến hôn nhân là một quy định rất “trái ngang” như thế, nhưng những người tham dự đều tự nguyện chấp nhận và làm theo. Tuy có những luật lệ nghiêm khắc và chặt chẽnhưng ca hát quan họ vẫn không trở thành biến thành văn hóa chính thống mà vẫn trong địa hạt văn hóa dân gian; vì những quy định đó được xây dựng trên hạt nhân cốt lõi là sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi muốn gia nhập vào cộng đồng đó (khác với thể chế chính thức - không có vấn đề tự nguyện hay ý muốn cá nhân).

Tuy nhiên, do thiết chế mạng xã hội quá mới mẻ (so với các thiết chế cổ truyền) nên những “rules” này cũng gây tranh luận gay gắt ngay trong chính những thành viên của mạng xã hội: người thì bảo chỉ nên chia sẻ những nội dung vui vẻ tích cực, người thì bảo facebook là trang cá nhân nên tôi toàn quyền sử dụng; người thì bảo đừng tranh luận trên facebook vì vô bổ, đầy rẫy ngụy biện, tốn thời gian, người lại bảo không góp tiếng nói gì hết thì sử dụng facebook làm gì, v.v.. 

Những “luật chơi” của mạng xã hội 

Là một cộng đồng, không gian văn hóa đặc thù, mạng xã hội cũng có những “rules” (luật chơi) của riêng nó. Để hiểu về mạng xã hội không thể không vạch ra được các “rules” này; đồng thời để đánh giá khách quan về nó, không thể lấy “luật chơi” của những khu vực văn hóa khác để áp đặt và phê bình nó.

"Luật chơi” đó phải được thiết lập dựa trên những đặc thù của môi trường mạng xã hội và phải do các thành viên đồng thuận (một cách phi chính thức) chứ không thể do một cá nhân riêng lẻ nào thiết lập. Chẳng hạn như, nếu một người nào đó tham gia mạng xã hội rồi hùng hồn đưa ra quan điểm từ nay sẽ không tranh luận trên mạng xã hội vì cho rằng nó vô bổ, đầy rẫy ngụy biện và tốn thời gian. Lúc đầu, có thể anh/chị ấy sẽ được mọi người khen ngợi, đồng tình (vì mạng xã hội rất thích các tiếng nói trái chiều). Nhưng nếu về lâu dài, anh/chị ấy cứ tiếp tục “không bình luận” trên mạng xã hội thì các quan hệ mạng xã hội của anh/chị ấy sẽ dần dần biến mất; và tự bản thân anh/chị ấy cũng sẽ chán nản và cảm thấy bị đẩy ra rìa của mạng xã hội. Đặc trưng này là điều làm nên tính dân chủ và tươi trẻ của mạng xã hội.

Dù chưa định hình một cách cụ thể như đã nói ở trên, nhưng bước đầu chúng ta có thể nêu ra một số “rules” phi chính thức trên mạng xã hội, nhưng hầu hết mọi người sử dụng mạng xã hội đều ít nhiều thừa nhận, như sau: 

Tính chất chính của mạng xã hội là giải trí, và nhiều ứng xử trên mạng sẽ tuân thủ nguyên tắc này. “Vui là chính” nên nhiều người sẽ không ngại ngần đăng rất nhiều ảnh (có thể đăng liên tục, ảnh tự chụp hoặc người khác chụp, “nghệ thuật” hoặc “báo chí” hoặc “bình dân/ đời thường”). Giải trí là quan trọng nên một bài viết cũng không quá dài (nhiều khi vài dòng là đã có một trạng thái), ngắn gọn, rõ ràng, kèm theo ảnh minh họa. Đó là nguyên tắc dựa trên tính chất của mạng xã hội, nên hoặc là bạn chấp nhận (có thể lặng lẽ bỏ theo dõi tin về người đó như một giải pháp không còn thấy về người đó trên “tường” của mình), còn nếu bạn phê bình trực tiếp thì bạn sẽ trở nên lạc lõng hoặc mất lòng bạn bè. 

Tính chất quan trọng thứ hai của mạng xã hội là tương tác. Tương tác gồm nhiều hình thức: bày tỏ sự yêu thích, tiếc nuối, phẫn nỗ; hoặc bình luận đơn giản xã giao, hoặc bình luận thân mật…; và khi người khác bình luận về bạn thì bạn không thể không trả lời. Bởi vì là tương tác nên nó cũng tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp thông thường: hô - ứng và hồi đáp, hài hước đúng chỗ, tùy vào quan hệ thân sơ mà có thái độ phù hợp,v.v..

Một đặc tính quan trọng nữa làm nên sức thu hút của mạng xã hội là tính chất dấn thân và ý muốn cải tạo xã hội. Đây chính là khía cạnh thực tế, cụ thể nhưng được xây đắp trên nền móng đượm màu sắc bay bổng, lãng mạn không thể thiếu của bất kỳ một nền văn hóa dân gian nào. Mạng xã hội là nơi tập hợp những con người có một lý tưởng hành động trên rất nhiều lĩnh vực đa dạng, tụ hội họ vào những nhóm lớn nhỏ khác nhau chia sẻ cùng một vấn đề nào đó: chính trị, làm đẹp, sức khỏe, nuôi dạy con cái, du lịch, tiêu dùng thông minh, bảo vệ môi trường… Đặc tính này được thể hiện qua hai hình thức: cá nhân (facebook cá nhân) và tập thể (fanpage). Đây là một môi trường mà sức cạnh tranh của facebook cá nhân nhiều khi còn mạnh mẽ hơn fanpage của một tổ chức. Các cá nhân có thế mạnh về một số lĩnh vực nào đó (lịch sử, nuôi dạy con, làm đẹp…) tập hợp xung quanh họ một lượng tương tác rất đáng kể. Do bị chi phối bởi đặc tính tương tác nói trên nên mọi người nhiều khi thích tương tác với một nhân vật mạng xã hội cụ thể, sống động hơn là một tổ chức chung, phi cá nhân nào đó được quản lý bởi một hoặc một đội admin (người quản lý) giấu tên.

Theo chúng tôi, ba thuộc tính nổi trội trên hình thành các “luật chơingầm” trên mạng xã hội mà các thành viên trong cộng đồng muốn tham dự phải tuân thủ nếu muốn có một đời sống trên mạng xã hội lành mạnh, tích cực: tôn trọng sở thích, khuynh hướng, lý tưởng của các thành viên khác của cộng đồng mạng; không thể từ chối tranh luận và khi giao tiếp phải tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp như một giao tiếp ngoài đời thực,v.v..

Dù ngày nay đã có sự tham dự mạnh mẽ của tổ chức, tập đoàn, thậm chí phòng ban, chính phủ; nhưng chúng tôi nghĩ đặc điểm căn cốt, làm nên bản sắc và sự sống còn của mạng xã hội vẫn là tính cá nhân, trong đó tính giao tiếp, sự tương tác cá nhân trực tiếp là tối quan trọng để duy trì sự tồn tại của môi trường này (Đó là lý do chính mà chúng tôi tự tin gọi mạng xã hội là một hình thức của môi trường văn hóa dân gian đương đại). Các tổ chức văn hóa xã hội, các hình thức kinh doanh online, các fanpage chính phủ, fanpage các thương hiệu hàng hóa… nếu muốn gia nhập môi trường này thì họ phải tuân theo những “luận chơi” đó: phải giao tiếp và tương tác, phải có tính giải trí, phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. 

Niềm yêu thích mạng xã hội tại Việt Nam và những “lấn cấn” của người Việt về ích lợi và tác hại của mạng xã hội 

Tại sao mạng xã hội phát triển mạnh ở Việt Nam?Theo thống kê của Hootsute và We Are Social vào tháng 4/2018, mạng xã hội có đông người dùng nhất là Facebook với 2,23 tỉ người dùng; trong đó Việt Nam là nước có số lượng người dùng Facebook lớn thứ 7 thế giới với 58 triệu tài khoản (6). Dĩ nhiên có nhiều lý do để lý giải cho hiện tượng này. Trong bài viết này, chúng tôi thử lý giải dựa trên văn hóa và nếp sống “cổ truyền” của người Việt đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và các hành vi, quan hệ văn hóa ngày nay.

Người Việt Nam là dân tộc yêu thích đời sống làng xã, những quan hệ thân tình. Vì thế mà phải chăng khi xã hội đô thị hóa và không gian sống bị thu vào những căn hộ chung cư, những ngôi nhà phố, cảm thức tiếc nuối về không gian “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, hay gần đây hơn là những khu “ngõ nhỏ, phố nhỏ/ nhà tôi ở đó” - những tổ dân phố - đã phần nào dần dần chuyển dịch lên mạng xã hội. Nơi đó có một đời sống sôi nổi những mối quan hệ từ họ hàng đến thân thiết, hơi thân thiết, và thậm chí không quen biết ngoài đời nhưng ít nhiều cảm mến nhau qua mạng. 

Tại sao mạng xã hội bị phê phán tại Việt Nam (song song với sự say mê mạng xã hội tại Việt Nam)?Theo chúng tôi, đó là khi người sử dụng chưa ý thức được sự rạch ròi giữa các môi trường tương tác, dẫn đến sự chồng lấn giữa các môi trường. Có nhiều loại biểu hiện của sự chồng lấn này, xin đơn cử hai trường hợp:

1) Chồng lấn giữa không gian của quan hệ cá nhân và không gian của quan hệ mạng xã hội. Có những hình ảnh mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: gia đình đi ăn tối, bạn bè đi chơi, tình nhân hẹn hò nhưng mỗi thành viên trong nhóm đó lại mỗi người sử dụng một chiếc điện thoại thông minh để lên mạng xã hội;

2) Chồng lấn giữa không gian công việc và không gian mạng xã hội. Chúng ta có thể bắt gặp cảnh vào những giờ làm việc ở văn phòng, khu dịch vụ… nhưng máy tính của nhân viên luôn mở Facebook hoặc đang trò chuyện trên Messenger. Đó là sự lấn sân của không gian mạng xã hội sang không gian làm việc. Ở một hướng ngược lại là sự lấn sân của không gian làm việc sang không gian mạng xã hội: Với một chiếc điện thoại bật 3G 24/24, nhân viên có thể nhận chỉ đạo của sếp 24/24, học trò có thể hỏi han thầy cô 24/24, và một số thầy cô nhiều khi cũng chọn hình thức mạng xã hội để làm mới các hoạt động giảng dạy của mình.

Những sự lấn sân này hình thành một sự ác cảm về mạng xã hội (song song với sự tôn vinh mạng xã hội): mạng xã hội là nơi làm đứt gãy các quan hệ gia đình, cá nhân; mạng xã hội khiến chúng ta mệt mỏi vì đến thời điểm nghỉ ngơi vẫn phải trả lời các tin nhắn về công việc, khi việc học hành và làm việc lấn sang cả những giây phút thư giãn, giải trí. Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng: những phân tích trên cho thấy tự thân mạng xã hội không tiêu cực. Nếu chúng ta biết cách khu biệt các không gian này và tránh sự chồng lấn kể trên thì mạng xã hội nhiều khi lại là phương tiện làm đầy thêm và sâu sắc hơn các quan hệ xã hội và cá nhân của chúng ta, trong điều kiện không gian sinh sống và tương tác thực tế đang thu hẹp như hiện nay. 

Lời kết 

Một trong những vấn đề của nghiên cứu văn hóa là ranh giới giữa văn hóa trung tâm và văn hóa ngoại vi, hay sự chuyển dịch từ văn hóa từ trung tâm sang ngoại vi. Hiện tại, mạng xã hội là khu vực văn hóa ngoại vi, nhưng dần dần, nó đang chuyển vào trung tâm: ngày nay, nhiều người không đọc báo giấy mà đọc báo mạng (vì có nhiều comment tương tác thú vị hơn dưới các bài báo mạng), thậm chí không vào website của báo để đọc mà chỉ xem cư dân mạng chia sẻ những vấn đề thời sự gì vì thường cư dân mạng rất nhanh chóng và rất “thực” (theo quan điểm của người đọc những thông tin loại này); ngày nay, nhiều người không xem ti vi nữa vì mạng đã trở thành một kênh giải trí chính; mạng xã hội là công cụ giám sát của người dân, và nhiều quyết định của chính quyền hay tổ chức ngày nay đang bắt đầu dựa trên những phản hồi và những tiếng nói rất mạnh mẽ từ cư dân mạng.

Sâu xa hơn nữa, với điều kiện làm việc, học tập, ăn ở và giao thông đi lại ngày nay, tương tác mạng đang tăng dần lên; các mối quan hệ trên mạng đang dần trở thành một phần trong các quan hệ của con người: mạng không còn “ảo” nữa, mạng có những quan hệ bạn bè đích thực giúp đỡ nhau khi hoạn nạn ốm đau, chia sẻ với nhau những thời điểm đặc biệt (và cả không đặc biệt) của mỗi thành viên, trên mạng có những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc (lẫn thiếu nghiêm túc) mà những người tham gia không có quan hệ ngoài đời thực. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về môi trường “dân gian” này.

Lê Thị Thanh Vy
--------------------------------
Chú thích
(1) Lynne S. McNeill (2013), Folklore Rules, Utah State University Press, tr.16.
(2) Xem thêm:
- Mamie Harmon (1949), “Folklore”, Funk and Wagnalls Standard Dictionary of Folklore, Mythology, and Legend, 2 vols., ed. Maria Leach,New York: Funk & Wagnalls, tr.399-400.
- Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19. 
(3) Joseph Jacobs (1893), “The Folk”, Folk-Lore 4, tr. 233-238, dẫn theo Simon J. Bronner,Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group, tr.18.
(4) Xem thêm Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19 và Lynne S. McNeill (2013), “Types of Folk Groups”, Folklore Rules, Utah State University Press, tr.65-88.
(5) Có thể tra cứu trên Google với các từ khóa như “Internet meme”, “Viet Nam” để tìm hiểu thêm.

Tài liệu tham khảo
1. Bronner, Simon J. (2017), Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group.
2. McNeill, Lynne S. (2013), Folklore Rules, Utah State University Press.
3. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số thuật ngữ đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nguồn: Khoa Văn học


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

tin Thế giới:


Phản ứng khác nhau của 4 đời Tổng thống Mỹ trước Triều Tiên
Phản ứng khác nhau của 4 đời Tổng thống Mỹ trước Triều Tiên
Kể từ năm 1990, đã có 4 Tổng thống Mỹ khác nhau nắm quyền và tất cả đều có cách tiếp cận khác nhau trong việc giữ cho Triều Tiên không phát triển vũ khí hạt nhân.
Do là một quốc gia nhỏ bé và yếu kinh tế, Triều Tiên nhận thấy rằng chương trình hạt nhân sẽ là cách duy nhất để đảm bảo nền độc lập lâu dài. Họ cho rằng nước Mỹ đã tấn công Iraq bởi vì Iraq không có vũ khí hạt nhân; tấn công Afghanistan vì Afghanistan không có vũ khí hạt nhân. Nước Mỹ sẽ không bao giờ tấn công Iran và sẽ không bao giờ tấn công Triều Tiên.
Bill Clinton: Thương lượng bằng… dầu
Để giữ cho Triều Tiên không rời bỏ hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, Tổng thống Bill Clinton thực hiện biện pháp thương lượng, đã tạm dừng một số cuộc tập trận quân sự định kỳ giữa quân đội Mỹ và Hàn Quốc.
Thời kỳ này, Triều Tiên chấp nhận ngồi đàm phán, và cả hai đã thông qua một Khuôn khổ thoả thuận. Nội dung chính của thỏa thuận này là để Triều Tiên đóng cửa lò phản ứng Yongbyon - chính thức được sử dụng như một lò phản ứng năng lượng, nhưng không được kết nối với lưới điện và bị nghi ngờ được sử dụng để tạo ra Plutonium.
Theo Khuôn khổ, lò phản ứng nên được thay thế bởi hai lò phản ứng nước nhẹ và như một khoản bồi thường cho sự mất mát trên lý thuyết trong việc dừng hoạt động lò phản ứng Yongbyon, người Triều Tiên được hứa hẹn 500.000 tấn dầu nhiên liệu nặng mỗi năm.
Chính quyền tổng thống Clinton cởi mở trong việc chấp nhận và công nhận Triều Tiên trong trường hợp triển khai đầy đủ khuôn khổ. Nhưng việc thực thi khuôn khổ chậm. Những phát hiện tình báo cho thấy Triều Tiên đã vi phạm thỏa thuận và bắt đầu thực hiện phương pháp khác nhằm phát triển nguyên liệu hạt nhân bằng việc làm giàu uranium.
George Bush: Mạnh tay
Tổng thống kế nhiệm George Bush đã phản đối thoả thuận của người tiền nhiệm. Trong bài phát biểu đầu tiên vào tháng 1-2000 trước toàn thể người dân Mỹ, tổng thống Bush đã đưa Triều Tiên vào trục ma quỷ, là kẻ thù của nước Mỹ, đe dọa hòa bình của thế giới.
Chính quyền Bush đã chấm dứt việc cung cấp dầu nhiên liệu và Triều Tiên đáp trả bằng cách đuổi các quan sát viên quốc tế ra khỏi đất nước và tiếp tục các chương trình vũ khí của họ, đồng thời rời bỏ hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân vào năm 2003.
Chính quyền Bush chịu áp lực giải quyết và bắt đầu quay lại đàm phán sáu bên. Nhiều nội dung cốt lõi cần thiết trong Khuôn khổ 1994 của chính quyền Bill Clinton đã phải thương lượng lại. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã không mang lại kết quả.
Barack Obama: Kiên nhẫn chiến lược
Vì vậy, khi Barack Obama lên làm tổng thống, ông đã thực thi chính sách kiên nhẫn chiến lược. Với hy vọng giảm căng thẳng, chính quyền Obama đã kiên nhẫn chờ đợi Triều Tiên đến cùng. Không đe dọa mạnh mẽ như chính quyền Bush đã làm, cũng không tham gia vào các cuộc đàm phán và thương lượng. Cách tiếp cận của Obama là không cố ngăn cản Triều Tiên tiếp tục cải thiện tốt hơn tên lửa của họ.
Donald Trump: Đối đầu, sau đó là chuyển xoay lịch sử
Và khi ông Donald Trump lên nắm quyền, cách tiếp cận ngoại giao của Mỹ nhằm đối phó với Triều Tiên một lần nữa quay ngược hoàn toàn. Tổng thống Trump cho rằng sẽ không lặp lại những sai lầm của chính quyền trước đây vì đã “đặt nước Mỹ vào thế rất nguy hiểm”. Tổng thống Trump muốn đối đầu, hoàn toàn cô lập Triều Tiên.
Những chính sách cứng rắn đã được đưa ra, song những gì mà Triều Tiên có vượt ra ngoài sự hiểu biết của bên ngoài, khiến Mỹ không thể tiếp tục đối đầu. Và cuối cùng cuộc gặp gỡ chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra. Thế giới đang chờ xem liệu những cam kết có được thực thi và tôn trọng, hay sẽ chỉ giống như những nỗ lực không thành công trước đó.
=======================
Sau Triều Tiên, Tổng thống Trump muốn có thỏa thuận với Iran
Sau Triều Tiên, Tổng thống Trump muốn có thỏa thuận với Iran
Từ trái sang nhà lãnh đạo Iran, Mỹ và Triều Tiên. Ảnh: Getty Images
Sau thành công vang dội của Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều, Tổng thống Trump tiếp tục mong muốn có một “thỏa thuận thực sự” với Iran.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tự tin đưa ra tuyên bố này trước báo chí quốc tế sau khi ông có được cam kết phi hạt nhân hóa từ Nhà lãnh đạo Triều Tiên tại Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều lịch sử.
Thực tế, mối quan hệ Mỹ-Iran bắt đầu tuột dốc ngay khi ông Trump đắc cử Tổng thống Mỹ năm 2016. Từ chiến dịch tranh cử, ông Trump đã gọi thỏa thuận hạt nhân giữa Iran và P5+1 năm 2015 là một văn kiện “tồi tệ nhất” trong lịch sử. Theo đó, ông Trump đã quyết định rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran 2015, đặt dấu chấm hết cho một di sản của người tiền nhiệm Obama.
Cam kết phi hạt nhân hóa hoàn toàn
Bất chấp một số ý kiến chuyên gia chỉ trích thỏa thuận đạt được tại Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều là thiếu những cam kết cụ thể liên quan đến phi hạt nhân hóa, Tổng thống Mỹ Donlad Trump từ trước khi ngồi vào bàn đàm phán Thượng đỉnh và kể cả tại cuộc họp báo quốc tế ngay sau đó đã nhấn mạnh rằng, vấn đề này không thể giải quyết chỉ trong “một cuộc gặp”. Sau khi đồng ý nối lại Thượng đỉnh Mỹ-Triều, ông chủ Nhà Trắng cũng đã khẳng định đây mới chỉ là bước khởi đầu cho tiến trình phi hạt nhân hóa. Theo đó, 2 bên cam kết sẽ tiếp tục thảo luận để thúc đẩy mục tiêu này.
Tổng thống Trump mô tả cuộc gặp Thượng đỉnh của mình với Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un “mang tính xây dựng”. Theo đó, 2 nhà lãnh đạo Mỹ-Triều đã ký một thỏa thuận cam kết “phi hạt nhân hóa toàn diện trên Bán đảo Triều Tiên”, kết thúc thành công Thượng đỉnh Mỹ-Triều tại Singapore ngày 12/6.
Với “ánh hào quang” sau thành công rực rỡ này, Tổng thống Trump tuyên bố ông cũng muốn sớm có một thỏa thuận với một “đối thủ lâu đời” Iran. Nhà lãnh đạo Mỹ hy vọng có thể cùng lúc cải thiện quan hệ với Iran.
“Tôi hy vọng, vào một thời điểm thích hợp- sau khi các lệnh trừng phạt được áp đặt, sau khi Mỹ trừng phạt mạnh mẽ Iran, họ sẽ trở lại bàn đàm phán cho một thỏa thuận thực sự. Tôi rất mong muốn có thể thực hiện điều này. Tuy nhiên, thời điểm hiện nay vẫn còn quá sớm”, Tổng thống Trump phát biểu trước báo giới quốc tế sau Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều.
Sáng 9/5/2018 (giờ Việt Nam), Tổng thống Trump đã tuyên bố rút khỏi thỏa thuận hạt Iran 2015, đồng thời ký sắc lệnh áp đặt lại các lệnh trừng phạt kinh tế mạnh mẽ nhằm vào nước Cộng hòa Hồi giáo. Quyết định này của ông Trump đưa ra trước thềm Thượng đỉnh Mỹ-Triều, làm dấy lên không ít hồ nghi về nỗ lực phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên của Mỹ.
Tuy nhiên, chặng đường từ căng thẳng đỉnh điểm ở bờ vực cảnh báo “chiến tranh hủy diệt” đến bàn đàm phán Thượng đỉnh Mỹ-Triều thành công là minh chứng thực tế để Tổng thống Trump có thể tin vào “tài đàm phán của mình” trong giải quyết mối quan hệ sóng gió với những “đối thủ truyền thống”.
Thời khắc lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ bắt tay một Nhà lãnh đạo Triều Tiên đã đi vào lịch sử và được cả thế giới trực tiếp chứng kiến. Những nhà quan sát tích cực cho rằng, dù điều gì xảy ra tiếp theo, Thượng đỉnh Mỹ-Triều vẫn là một chiến thắng. Hơn tất cả, việc Tổng thống Trump thuyết phục được Nhà lãnh đạo Kim Jong-un tin tưởng mình đã là điều phi thường.
Thành công này sẽ tiếp tục là tiền đề để Tổng thống Trump tự tin giải quyết tiếp vấn đề Iran.
Trừng phạt trước khi đàm phán
Theo kế hoạch, Mỹ sẽ áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt kinh tế mạnh mẽ nhằm vào Iran từ ngày 6/8 tới, theo đó, phong tỏa Iran thu mua đồng USD và vàng, cũng như hoạt động kinh doanh các kim loại quý hiếm khác của nước này. Mỹ cũng áp đặt lệnh cấm bán hay cung cấp aluminum và thép cho Iran. Lĩnh vực ô tô của nước Cộng hòa Hồi giáo cũng không nằm ngoài vòng trừng phạt này. Đến cuối năm nay, Mỹ sẽ có thêm các trừng phạt nhằm vào lĩnh vực vận tải biển, tài chính và dầu mỏ của Iran.
Không có gì phải bàn cãi khi nhắc tới những tổn thất nặng nề mà nền kinh tế Iran sẽ phải hứng chịu. Chính Tổng thống Trump cũng gọi những trừng phạt này là “khủng khiếp” dành cho Iran. Nhà lãnh đạo Mỹ nói thêm rằng, “sức ép và trừng phạt” có thể khiến giới chức Iran suy nghĩ về việc đàm phán một thỏa thuận với Mỹ.
Chiêu bài trừng phạt để đàm phán này của Mỹ là không hề mới. Đây chính xác là những gì mà Mỹ đã áp dụng với Triều Tiên. Đến trước thềm Thượng đỉnh Mỹ-Triều, Tổng thống Trump và đội ngũ cố vấn cứng rắn của mình vẫn luôn nhắc đến cụm từ “sức ép tối đa” với Triều Tiên.
Tại cuộc họp báo quốc tế sau Thượng đỉnh Mỹ-Triều thành công, Tổng thống Trump khẳng định lại rằng: “Các trừng phạt sẽ được dỡ bỏ khi vũ khí hạt nhân không còn là vấn đề phải lo ngại”.
“Với thỏa thuận Iran, tôi cho rằng đất nước Iran hiện đã khác so với thời điểm 3 hay 4 tháng trước đây. Tôi không cho rằng, Iran sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng lớn ở Địa Trung Hải hay ở Syria như họ đã từng làm. Tôi cho rằng, Iran hiện không còn giữ được sự tự tin của mình”, Tổng thống Trump gửi lời tới các phóng viên quốc tế.
Trong khi đó, phản ứng của Iran lại rất “tiêu cực” với kết quả Thượng đỉnh Mỹ-Triều. Gần như ngay sau khi có thông tin Tổng thống Mỹ và Nhà lãnh đạo Triều Tiên ký Tuyên bố chung và đạt được thỏa thuận về phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều Tiên, Tehran đã cảnh báo Bình Nhưỡng không nên tin tưởng Tổng thống Mỹ-người có thể hủy bỏ thỏa thuận trong “chớp mắt”.
Hãng Thông tấn nhà nước Iran IRNA và hãng tin Reuters của Anh đã dẫn lời phát biểu nặng nề của người phát ngôn chính phủ Iran Mohammad Bagher Nobakht rằng: “Chúng tôi không hiểu hết về người mà Nhà lãnh đạo Triều Tiên vừa đàm phán cùng. Không rõ liệu ông ta có hủy thỏa thuận vừa đạt được trước khi trở về nước hay không?”
Thực tế, Iran không phải là Triều Tiên và đàm phán với Iran cũng sẽ khác. Song Mỹ vẫn đang theo đuổi chính sách “sức ép tối đa” với Iran như từng làm với Triều Tiên. Nhiều chuyên gia từng nói rằng, việc Triều Tiên chủ động để xuất đàm phán Thượng đỉnh khiến Tổng thống Trump tin là chính sách trừng phạt và gây sức ép của mình đã phát huy tác dụng. Dù có những tuyên bố nhượng bộ, song giới chức Mỹ vẫn ngấm ngầm tin rằng “sức ép tối đa” đã đưa Triều Tiên ngồi vào bàn đàm phán và dẫn tới thành công của bàn đàm phán Thượng đỉnh tại Singapore.
Đến nay, Mỹ đã hé lộ chiến lược gọng kìm siết chặt với Iran. Trong đó, trừng phạt kinh tế chỉ là một phần trong chiến lược toàn diện của Mỹ nhằm gia tăng sức ép mọi mặt lên Tehran. Trong bản chiến lược do Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo công bố, “đụng binh” sẽ là yếu tố thứ 2. Việc Mỹ cảnh báo lựa chọn giải pháp quân sự cho vấn đề hạt nhân Iran đã gửi đi tín hiệu mạnh mẽ tới nước Cộng hòa Hồi giáo. Với tuyên bố sẽ hạ bất cứ tên lửa đạn đạo nào của Iran và cử các tàu chiến tới Trung Đông, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cho thấy họ sẵn sàng đối đầu quân sự nếu cần thiết./.
theo VOV
===================

Việt Nam tham gia tập trận hải quân lớn nhất thế giới tại Hoa Kỳ



Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc tập trận RIMPAC 2016.
Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc tập trận RIMPAC 2016.
Hôm 14/6, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Dan Kritenbrink ra thông báo trên Facebook: “Tôi rất vui khi Việt Nam lần đầu tiên sẽ tham gia cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới trong năm nay - một chỉ dấu quan trọng khác nữa về vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và quốc tế.”
Hải quân Mỹ hôm 30/5 công bố danh sách 26 quốc gia tham dự cuộc tập trận hải quân RIMPAC, diễn ra từ ngày 27/6 đến 2/8. Việt Nam, Sri Lanka, Brazil và Israel là 4 nước lần đầu tiên tham dự cuộc tập trận RIMPAC, theo trang mạng Stars & Strips dẫn thông báo của Hải quân Mỹ cho biết.
Từ thành phố Hồ Chí Minh, tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu Biển Đông, nói với VOA rằng ông rất vui mừng trước tin này:
“Đó là một tin vui cho Việt Nam. Một cuộc tận trận với hai mươi mấy quốc gia thì mang tính đa phương rất lớn. Điều này rất thuận lợi cho Việt Nam. Như tôi đã từng nói: Việt Nam không cô đơn và không dễ gì bị bắt nạt.”
VOA

Phần nhận xét hiển thị trên trang

DANH SÁCH CÁC ĐBQH KHÔNG TÁN THÀNH LUẬT AN NINH MẠNG




Cập nhật kết quả công khai biểu quyết
Luật an ninh mạng 

Đinh Thảo
14-6-2018

Với nỗ lực của các cử tri và báo chí, đến nay chúng ta tạm thời có thể xác nhận được 8 trên 15 ĐBQH không tán thành, 1 trên 28 ĐBQH không biểu quyết luật An ninh mạng, bao gồm:

KHÔNG TÁN THÀNH:

1. Ông Dương Trung Quốc (Đoàn đại biểu Đồng Nai)

Trả lời báo chí, ông nhận là một trong 15 ĐBQH ấn nút không tán thành luật An ninh mạng trong phiên họp Quốc hội ngày 12/6. Ông cho biết thêm: “Với bất cứ nội dung gì dù nhạy cảm hay không, nếu báo chí và cử tri hỏi, tôi luôn sẵn sàng công khai quyết định của mình trên nghị trường.” 


Không những vậy, ông còn khuyến khích Quốc hội công khai phiếu bầu/minh bạch biểu quyết để người dân có thể biết rõ thái độ của từng ĐBQH.

Xem thêm: Ông Dương Trung Quốc: ‘Nên công khai nút bấm của đại biểu Quốc hội’ (VnE).

2. Ông Phan Văn Tường (Đoàn đại biểu Thái Nguyên)

Ngày 14/6, trả lời báo Văn nghệ Thái Nguyên, ông cho biết: “Tôi là một trong số ít người chưa đồng ý ban hành luật An ninh mạng.”

Cũng như ông Dương Trung Quốc, ông nhấn mạnh rằng sẽ không ngần ngại công khai quan điểm khi được cử tri chất vấn.

Xem thêm: Luật An ninh mạng và tâm tư của vị Tướng đoàn Thái Nguyên (VNTN).

3. Ông Nguyễn Lân Hiếu (Đoàn đại biểu An Giang)

Trả lời chất vấn của một vài cử tri, ông Nguyễn Lân Hiễu cũng cho biết ông là thiểu số ít ỏi bỏ phiếu không tán thành cho luật An ninh mạng gây tranh cãi này.

4. Ông Nguyễn Văn Chiến (Đoàn đại biểu Hà Nội)

Tương tự, ông Nguyễn Văn Chiến cũng trả lời một số cử tri ngay sau phiên họp Quốc hội về thái độ không tán thành của mình với điều luật đang gây tranh cãi này.

Còn lại 4 vị ĐBQH dưới đây được ghi nhận từ một người dùng Facebook theo đường link: HỌ ĐÃ VÌ NHÂN DÂN! (FB Mai Quốc Ấn). Nếu ai có thêm thông tin xác nhận nào của 4 vị này (hoặc bất cứ ai khác) xin cùng chia sẻ.

5. Ông Trương Trọng Nghĩa (Đoàn đại biểu TP Hồ Chí Minh)

6. Ông Hồ Quang Bình (Đoàn đại biểu An Giang)

7. Bà Trần Thị Dung (Đoàn đại biểu Điện Biên)

8. Bà Phạm Thị Minh Hiền (Đoàn đại biểu Phú Yên)

KHÔNG BIỂU QUYẾT

1. Bà Dương Minh Ánh (Đoàn đại biểu Hà Nội)

Trả lời một cử tri, bà Dương Minh Ánh xác nhận là không biểu quyết luật An ninh mạng.

Xem thêm: ĐBQH DƯƠNG MINH ÁNH – 1/28 NGƯỜI BỎ PHIẾU TRẮNG THÔNG QUA LUẬT AN NINH MẠNG (FB Đinh Thảo).

Ngoài những đại biểu trên đây, nhiều cử tri đã chia sẻ các cuộc gọi chất vấn của mình với những đại biểu khác, tuy nhiên hầu hết tránh trả lời câu hỏi về phiếu biểu quyết của mình bằng các lý do khác nhau.

Có lẽ, chúng ta có quyền đặt câu hỏi tại sao 423 ĐBQH ấn nút tán thành luật An ninh mạng nhưng cho đến nay chưa có vị nào dám công khai phiếu bầu của mình với cử tri? Trong khi đó, tất cả những người công khai thái độ đều thuộc vào nhóm thiểu số. Lẽ nào, những người bỏ phiếu tán đã ấn nút vì một lý do gì khác thay vì ý chí nguyện vọng của người dân, và điều đó khiến họ không dám minh bạch trước cử tri của mình?

Để trả lời những câu hỏi trên, cử tri chúng ta không còn cách nào khác là phải tiếp tục liên lạc, chất vấn, gây sức ép để các đại biểu thực hiện trách nhiệm giải trình của mình.

#Congkhaiphieubau

Ghi chú:

Quyền và nghĩa vụ giám sát, chất vấn ĐBQH của cử tri được ghi trong điều 79 Hiến pháp Việt Nam như sau:

1. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước.

2. Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

3. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.”

Ngoài ra, theo điều 45 luật Tổ chức Quốc hội thì:

Đại biểu Quốc hội có thể bị cử tri của đơn vị bầu ra mình bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ, nếu không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Việc bãi miễn một đại biểu Quốc hội phải được quá nửa tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử bỏ phiếu tán thành.

Phần nhận xét hiển thị trên trang