Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

Bàn về ba quyền lực mà TQ dùng để trói chặt Việt Nam



Bàn về ba quyền lực mà TQ dùng để trói chặt Việt Nam
 Phùng Hoài Ngọc (VNTB)
 
Trung Quốc đã và đang dùng tổng hợp ba quyền lực đối với thế giới, đặc biệt với Việt Nam. Đó là các quyền lực nóng, cứng và mềm để xâm chiếm từng bước Việt Nam.

1. QUYỀN LỰC NÓNG LÀ CHIẾN THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA BAO ĐỜI PHONG KIẾN TRUNG HOA TỪ NHÀ ÂN TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN NHÀ MAO HIỆN ĐẠI

Đó là chiến thuật xua quân xâm chiếm lãnh thổ bằng bạo lực với kỹ thuật đơn giản nhất: vũ khí nóng và biển người nóng máu ăn cướp.
Đến thời hiện đại, quyền lực nóng buộc phải sử dụng hạn chế. Mở đầu là cuộc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa 1974 chớp nhoáng, bất ngờ. Kế đó là cuộc chiến tranh Biên giới 1979 kéo dài gần 1 tháng, rồi lai rai giằng co mấy điểm cao biên giới cho tới 1989 trong đó cuộc cướp 1 nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Chưa kể âm mưu dẫn dụ Khmer đỏ gây cuộc chiến biên giới Tây nam.
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhijWj062grYwilCQhfdFHJua-KWzhJkndEQUMxldK4CE6Ic2U0_pWp3ZOb5MxCdgJ9wAsZsWyLdLO8Ei3t4CL5wp7OaEYgZL42TU-7T18HYwqGf0rQ3xzlz_oPoyUVU6Z4KwY8wKuEMIg/s640/vai-tro-cua-quyen-luc-mem-trong-chinh-sach-doi-ngoai-cua-trung-quoc.jpg
Học viện Khổng Tử tại Hà Nội.
Chiến thuật quyền lực nóng tấn công thường bị quốc tế phản đối, vả lại, bản thân họ cũng chịu thiệt hại khó lường, họ chuyển chiến thuật khác.
Chuyển qua thủ thuật quyền lực nóng kiểu đe doạ: họ ngăn cản khai thác dầu khí biển Đông như cắt cáp tàu thăm dò của đối phương và ngăn cản ngư dân ta đánh cá ngày càng gia tăng. Trung Quốc còn đơn phương ra lệnh cấm đánh cá theo mùa vụ do họ ấn định trên vùng biển Việt Nam, xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trong hải phận chủ quyền nước ta.
Thủ thuật quấy rối, chọc tức, khiêu khích cũng thuộc phạm vi quyền lực nóng.
Vài năm nay một số đoàn du khách TQ sử dụng hướng dẫn viên lậu người Hán trà trộn thay thế HDV người Việt để trâng tráo phản tuyên truyền chủ quyền biển đảo và lãnh thổ ngay trên đất nước ta. Du khách Trung Quốc cố tình mặc áo in hình “lưỡi bò” nhập cảnh vào Việt Nam tại sân bay Cam Ranh hôm 13 Tháng Năm, 2018. Mang tên lửa và tàu bay quân sự ra đảo Trường Sa. Đối đầu với giàn tên lửa Việt Nam.

2. QUYỀN LỰC CỨNG: HÀNH ĐỘNG XÂM LẤN DỄ NHẬN THẤY BẰNG MẮT THƯỜNG

Thể hiện rõ nhất trên Mặt trận kinh tế: đó là việc tận dụng đường biên giới dài và khó kiểm soát tuồn hàng buôn lậu, hàng kém chất lượng, hàng giả vào nội địa nước ta.
Thả cho thương lái TQ mua vét những thứ sản vật không có giá trị hàng hoá nhằm phá hoại và kìm hãm phát triển kinh tế đời sống của Việt Nam (Thương lái lỗ nhưng nhà nước hẳn đã bao cấp cho họ thực hiện ý đồ phá hoại).
Mua những thứ sản vật có vẻ tầm thường nhưng trả giá cao nhằm phá hoại sản xuất, huỷ hoại môi trường như móng trâu, móng bò, đuôi trâu, đỉa, ốc bươu vàng, lá điều, rễ hồ tiêu…
Bán thực phẩm bẩn và rẻ, thượng vàng hạ cám, từ đồ chơi có hoá chất độc gây tác hại lâu dài đến thị trường điện tử giá rẻ. Chỉ mua những thứ quí hiếm như gỗ sưa…
Móc nối, thương lượng với quan chức Việt để chiếm được các Dự án rải khắp Việt Nam. Nhân đó họ xuất khẩu công nghệ lạc hậu, tiêu biểu như đường sắt Cát Linh- Hà Đông và các nhà máy thép, điện khắp ba miền.
Ba “đặc khu kinh tế” cho thuê đất 99 năm, đang chờ Quốc hội bấm nút nhưng đã có lệnh ngầm từ Bộ Chính trị (ngày xưa cách đây hơn 100 năm, Từ Hi Thái hậu, Hoàng đế Đạo Quang và Đế quốc Mãn Thanh thua trận trong Chiến tranh Nha phiến, Đế quốc Anh phải đổ máu mới giành được quyền nhượng địa, thực chất cũng là thuê đất 99 năm). Ngày nay “hai đồng chí láng giềng hữu hảo” chỉ cần gặp mặt ngầm, Việt Nam đã sắp sửa hai tay dâng đất ở ba điểm Bắc-Trung-Nam cho ngoại bang 99 năm.

3. QUYỀN LỰC MỀM: ĐÂY LÀ THỦ ĐOẠN ĐA DẠNG VÀ TINH VI NHẤT BAO GỒM

NHÓM QUYỀN LỰC MỀM GIÁO DỤC
Việt Nam có nhiều du học sinh đại học và trên đại học ở khắp các trường đại học TQ từ Quảng Tây giáp biên tới Nội Mông xa xôi.
Bên cạnh nhu cầu nghiên cứu Trung văn tự nhiên của một bộ phận tuy không lớn như nhu cầu tiếng Anh, họ biết đa phần học sinh, sinh viên và cả công chức, nhất là giáo viên khả năng kinh tế thấp. Đi du học là cơ hội lấy được cả bằng cấp và cải thiện kinh tế gia đình, làm vốn đáng kể.
Phần lớn sinh viên, công chức với tiếng Anh không đủ khả năng thi đầu vào du học phương Tây và Mỹ theo diện học bổng. Bên cạnh đó một nhóm người có khả năng du học tự túc đại học Âu Mỹ chiếm tỷ lệ khá lớn.
Trung Quốc cạnh tranh với thế giới tiếng Anh bằng cách tung học bổng thu hút du học như một quyền lực mềm (không kể Đài Loan cũng cạnh tranh vụ này với TQ nhưng chỉ với mục tiêu kinh tế).
Mỗi năm hiện diện ở Trung Quốc với số lượng 15 000 SV và NCS Việt Nam (đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ở TQ và Đài Loan đều gọi chung là Nghiên cứu sinh như vậy là chính xác về thuật ngữ), số mới tuyển liên tục thay thế bù vào số tốt nghiệp về nước. Trung Quốc móc nối kết hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam tuyển sinh và xét duyệt. Một số em NCS phàn nàn rằng Bộ ngầm đòi chia sẻ học bổng cho Bộ với luật bất thành văn.
TQ tranh đua với Đài Loan giành giựt SV, NCS chủ yếu đi học các ngành khoa học xã hội nhân văn và ngôn ngữ, nhưng cơ bản là truyền bá tiếng Trung. Tốt nghiệp về nước không được trọng dụng chuyên môn, du học sinh khoa học cơ bản trở thành phiên dịch và làm các dịch vụ tiếng Trung. Khoa học tự nhiên kỹ thuật công nghệ của Trung Quốc thì rõ ràng thua kém phương Tây và Mỹ nên số du học sinh VN đi học TQ theo nguyện vọng tự nhiên rất ít. Một số không nhỏ chọn TQ mục đích chỉ là đi kiếm học bổng đạt thu nhập cao hơn trong nước, lại khỏi đóng học phí.
Thí sinh dự tuyển đi học TQ đầu vào mù chữ Hán cũng được chấp nhận, họ sẽ dành cho 1 năm đầu rèn ngoại ngữ.
NHÓM QUYỀN LỰC MỀM QUẢNG BÁ NGHỆ THUẬT GIẢI TRÍ
Hầu hết các kênh Đài truyền hình VTV, VTC và các đài địa phương tỉnh thành đều chiếu phim Tàu quanh năm suốt tháng. Thực là một sự kỳ lạ!
Trung Quốc biết rõ cái gu văn nghệ cổ trang của người Việt gắn bó mật thiết với văn hoá Tàu đã cả nghìn năm… nay thực khó dứt bỏ. Các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương vẫn lẳng lặng chiếu phim Tàu, phải chăng chỉ vì họ ham bản quyền bán rẻ hoặc tặng biếu, giao hảo, đổi quảng cáo, dịch vụ mà mất cảnh giác? Hay là có sự chỉ đạo từ trung ương?
Giới cầm quyền Trung Quốc vừa tự hào về lịch sử dân tộc họ, nhưng cũng không khỏi mắc cỡ về những ấn tượng đen tối tàn bạo của lịch sử. Họ muốn tác phẩm văn nghệ phải “sửa chữa”, tân trang, tô điểm lịch sử cho đỡ đen đúa. Họ chi tiền và cầm cân nảy mực khi kiểm duyệt đối với các nhà sản xuất tác phẩm nghệ thuật nhất là phim ảnh.
TQ một đất nước có bề dày lịch sử và cũng có khoa sử học lâu đời. Khoa Sử ở các trường đại học được chăm chút, từ cái cổng Khoa cũng được kiến trúc trang nghiêm cổ kính khác hẳn những khoa khác trong trường. Ít nhất là về hình thức, sử học được coi trọng, còn thực chất thì chưa hẳn là vậy. Với một thể chế cộng sản, thực và ảo dường như mơ hồ khó phân định.
Ở Trung Quốc dường như có một chỉ đạo xuyên suốt khi xây dựng tác phẩm văn nghệ kinh điển để xuất ra ngoài bờ cõi. Những tác phẩm ấy phải được ý thức là “quyền lực mềm”, khiến cho người xem nước ngoài phải thấy lịch sử TQ đáng trọng đáng yêu đáng quí sau sự hấp dẫn giải trí (!).
Sửa chữa lịch sử qua tác phẩm văn nghệ Trung Quốc là một khuynh hướng quá rõ ràng. Trong các phim cổ trang lịch sử, những hoàng đế hào hoa phong nhã, những ông vua vì hoàn cảnh mà phải tàn bạo, phải bất nhân. Những ông vua bà chúa cố gắng chăm lo cho đoàn kết dân tộc, sắc tộc v.v…
Văn nghệ sĩ có bản lĩnh thì viết theo kiểu “trung dung” khôn ngoan của Khổng phu tử (thành bại ai quyết được/thịnh suy đâu phải vu vơ). Đồng thời dùng thủ thuật giep rắc chủ nghĩa hư vô lịch sử. Đó cũng là một thứ “hiện sinh chủ nghĩa mới”. Từ đây dẫn đến một triết lý hiện sinh: hãy vui sống với bây giờ, trước mắt, đừng bận tâm quá khứ và tương lai ra sao.
Chúng ta thử đánh giá quyền lực mềm chỉ với một bộ phim “Tam quốc diễn nghĩa”. Qua hai ca khúc lồng trong bộ phim là “Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông” và “Bầu trời lịch sử”, khán giả sẽ nhận thấy ý đồ ngoài nghệ thuật của họ.
Ca khúc “Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông” lặp đi lặp lại đầu mỗi tập phim. Chuyển ngữ:
“Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông
Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng.
Phải-trái, thành-bại cũng như không.
Non xanh vẫn cứ thế,
Ngày tháng qua bao nhiêu?
Ngư ông, tiều phu tóc bạc trên bãi sông
Đã quen ngắm trăng thu gió xuân
Một vò rượu đục vui gặp bạn
Bao nhiêu việc xưa nay
đều bỏ vào trong câu chuyện mà cười”.
Nhạc sĩ triết lý đầy ẩn ý: “Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng/Phải-trái, thành-bại cũng như không” và sau đó hạ câu kết để xí xoá tất cả phải trái: “Bao nhiêu việc xưa nay, đều bỏ vào trong câu chuyện mà cười”.
Kết thúc bộ phim sử thi “Tam quốc diễn nghĩa” là ca khúc “Bầu trời lịch sử” (nguyên văn “Lịch sử đích thiên không”) gọi “phiến vĩ khúc”. Một bài hát cho giọng nữ, khúc hát của nàng chinh phụ, cũng là suy ngẫm của một nhà triết học lịch sử bất lực và ngập ngừng. “Bầu trời lịch sử” là giọng hát buồn bã nao lòng của nữ nhi, ngược chiều với giọng điệu bi hùng cảm khái của ca khúc chủ đề mở đầu phim.
Chuyển ngữ:
“Mờ mịt rồi ánh đao bóng kiếm,
Đã xa rồi kèn trống đua vang
Trước mắt vẫn hiển hiện từng khuôn mặt hiên ngang tươi tắn.
Đã chôn vùi những đường xưa cát bụi,
Đã hoang sơ những thành quách biên cương
Mặt trời mặt trăng vẫn mang theo những cái tên người quen thuộc.
Thành bại ai quyết được?
Thịnh suy đâu phải vu vơ!
Một trang sử gió mây vung vãi
Vũ trụ biến đổi, có cũng như không.
Hợp tan đều bởi duyên
Ly tán thảy do tình.
Gánh vác việc đời trước
Mặc kệ đời sau bàn luận.
Trường Giang đau lòng tuôn dòng lệ
Trường Giang chứa tình phát lời ca
Bầu trời lịch sử sao nhấp nháy
Trong nhân gian khí thế bao anh hùng
vó ngựa vẫn dọc ngang”.
(chuyển ngữ 2 ca khúc: Phùng Hoài Ngọc)
Khó mà kể hết các chiến thuật Trung Quốc sử dụng ba quyền lực, cũng có thể kể thêm chiến thuật “hội nghị quốc tế”.
Tham gia Hội nghị “đối thoại Sangri-La” hàng năm, nơi đây các thuyết khách Trung Quốc gian ngoan trổ tài hùng biện, câu giờ.

KẾT

Viện Hàn lâm KHXH-NV nước ta có nhiều chuyên gia nghiên cứu khoa “Trung Quốc học” nhưng thiếu phòng nghiên cứu “Âm mưu Trung Quốc học”. Bởi vì họ đã được/bị chỉ đạo bởi tư tưởng “16 vàng 4 tốt” – cái khoá chân tay nhà nghiên cứu.
Nhà cầm quyền Việt Nam mặc cho mạng xã hội với người dân yêu nước tự nguyện chống ngoại xâm với những video-clip tự chế cảnh báo ba quyền lực Trung Quốc và kêu gọi đồng bào cảnh giác phòng chống.
Quan điểm đối ngoại chính thống và công chúng tự do ở Việt Nam đi theo hai hướng trái chiều, đất nước rơi vào bi kịch vì thiếu sức cố kết. Thất bại là điều khó tránh khỏi.
P.H.N.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƯ NGỎ GỬI QUỐC HỘI VỀ DỰ LUẬT AN NINH MẠNG


Lời dẫn của Nguyễn Quang Lập: Lá thư cực tâm huyết của một kỹ sư an ninh mạng gửi QH. Nó hay và đúng đến nỗi tôi không thể nói thêm được gì. Biết rằng lá thư này sẽ không tới tay các ĐBQH nên tôi share bài này và mong mọi người cùng share, sao cho càng nhiều càng tốt các ĐBQH đọc được thư này.
Dương Ngọc Thái, May 31, 2018
Một bản tóm gọn của lá thư này đã đăng trên tờ Một Thế Giới.
Tôi xin lỗi vì thư dài. Tôi đã cố gắng viết ngắn lại, đã chỉnh sửa nhiều lần và đây là phiên bản vừa ý nhất. Hi vọng mọi người sẽ đọc hết, cho ý kiến và chia sẻ với nhiều người khác. Dự thảo Luật An Ninh Mạng, nếu được Quốc hội thông qua vào ngày 12/6/2018, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả chúng ta, không chừa một ai, nên tôi hi vọng sẽ có nhiều người hơn hiểu các vấn đề dự thảo này.

Ở Mỹ người dân có thể gọi điện thoại hoặc email cho dân biểu của họ để phản ánh vấn đề mà họ quan tâm. Ở Việt Nam mỗi thành phố hay tỉnh đều có Văn phòng đoàn Đại biểu Quốc hội. Nếu bạn đồng ý với những gì tôi viết trong thư, tôi đề nghị scan rồi gửi email, hoặc gửi fax, hoặc in ra và gửi thư đến văn phòng nơi bạn đang sinh sống.

Chân thành cảm ơn những người bạn không tiện nêu tên ở đây đã đọc và chỉnh sửa các bản nháp.
-------------------

Kính thưa Quốc Hội,

Tôi là Dương Ngọc Thái, kỹ sư an ninh mạng đang làm việc ở Mỹ. Tôi năm nay 34 tuổi, bắt đầu học và làm an ninh mạng từ năm 18 tuổi. Năm 20 tuổi tôi đã là trưởng phòng an ninh mạng của một Ngân hàng ở Việt Nam. Năm 2011, tôi rời Việt Nam sang Silicon Valley làm việc. Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về an ninh phần mềm. Các phát hiện của tôi có ảnh hưởng sâu rộng đến sự an toàn của Internet, được trích dẫn trong nhiều bài báo khoa học, được đưa vào giảng dạy ở các đại học danh tiếng và đăng tải trên các tờ báo lớn trên thế giới.

Tôi giới thiệu dài dòng như vầy với hi vọng Quốc Hội hiểu rằng tôi là một kỹ sư an ninh mạng có kinh nghiệm thực tế và được thế giới biết đến.

Để soạn thảo và thông qua một bộ luật đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn như Luật An Ninh Mạng, Chính phủ và Quốc hội cần phải dựa vào sự tư vấn và lắng nghe ý kiến của các chuyên gia. Tuy vậy cho đến ngày 31/5/2018, mục “Ý kiến chuyên gia" trên trang Dự Thảo Online của Quốc hội không có ý kiến nào. Cá nhân tôi chỉ biết về dự thảo khi báo chí đưa tin. Với trách nhiệm xã hội của một chuyên gia, tôi viết thư này để chia sẻ với Quốc hội và những ai quan tâm góc nhìn của một người đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về an ninh mạng. Ba vấn đề tôi đặt ra và phân tích với Quốc hội (1) liệu dự thảo có đưa ra được các giải pháp chính sách thực sự để giải quyết vấn đề an ninh mạng? (2) tác động dự thảo đến doanh nghiệp, đến phát triển kinh tế như thế nào; và (3) khuyến nghị của tôi cho luật an ninh mạng và chính sách an ninh mạng Việt Nam.

Đây là ý kiến của cá nhân tôi, không thể hiện quan điểm hay ý kiến của nơi tôi làm việc hay bất kỳ ai khác.

Chống nói xấu Đảng không đảm bảo được an ninh mạng

Tôi đã học và làm việc chung với nhiều giáo sư và chuyên gia hàng đầu thế giới, nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai giải thích về an ninh mạng như đại biểu Nguyễn Thanh Hồng - Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã nói trên tờ VnExpress: "An ninh mạng nếu giải thích dễ hiểu nhất là không truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước và làm sao để mỗi công dân có ý thức trong việc phòng chống tội phạm, bảo vệ bản thân và gia đình". Hiểu an ninh mạng như vậy là sai bản chất và có thể dẫn đến nguy cơ vừa mất an ninh quốc gia vừa kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Đúng là Việt Nam đã và đang liên tục bị tấn công trên không gian mạng. Năm 2014, giữa lúc người Việt trong nước và hải ngoại đang sôi sục vì Trung Quốc kéo giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, các chuyên gia đã phát hiện hệ thống máy tính của Bộ Tài Nguyên Môi Trường Việt Nam bị xâm nhập. Tại sao lại là Bộ Tài Nguyên Môi Trường? Vì đây là cơ quan nhà nước sở hữu nhiều thông tin quan trọng về bản đồ, sơ đồ, hải trình, báo cáo… của các chuyến thăm dò dầu khí, khai thác ngư sản cũng như các hoạt động tuần tra bảo vệ của Việt Nam trên Biển Đông. Ngoài Bộ Tài Nguyên Môi Trường, Tập Đoàn Dầu Khí, Thông Tấn Xã và Tập Đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam cũng bị xâm nhập. Có nhiều bằng chứng để tin rằng những đối tượng đứng đằng sau các vụ tấn công này đến từ Trung Quốc.

Gần đây hơn, nhiều sự cố an ninh mạng cũng liên tục xảy ra:

Tháng 5/2016, ngân hàng Tiên Phong Bank bị hacker xâm nhập, đánh cắp 1,1 triệu đôla Mỹ (đại diện Tiên Phong Bank nói rằng họ phát hiện và chặn được tấn công đúng lúc).

Tháng 7/2016, mạng máy tính sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội Bài và Vietnam Airlines bị hacker Trung Quốc phá hoại.

Tháng 5/2017, ngay trong lúc ngài Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang sang thăm Mỹ, hệ thống máy chủ email của Bộ Ngoại Giao lại bị hacker “lạ" xâm nhập.

Từ nhiều năm nay, các công ty công nghệ Việt Nam đã nằm trong tầm ngấm của những nhóm hacker “lạ". Tháng 4/2018, kẻ tấn công đã tung lên mạng thông tin cá nhân bao gồm tên, ngày sinh, chứng minh nhân dân, số điện thoại, email và mật khẩu của gần 75 triệu tài khoản người dùng của VNG, công ty game và Internet lớn nhất Việt Nam.

Có lẽ không cần nói thêm, Quốc hội cũng hiểu rằng “chống truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước” không thể bảo vệ Việt Nam khỏi những vụ tấn công như trên.

Đảm bảo an ninh mạng không có nghĩa là phải hi sinh phát triển kinh tế và tự do của người dân

Trong lúc hệ thống mạng máy tính Việt Nam liên tục bị tấn công, chính phủ mất bí mật, doanh nghiệp bị mất tiền, người dân mất thông tin cá nhân, sẽ là một sai lầm chiến lược nếu Quốc hội thông qua dự thảo Luật An Ninh Mạng. Dự thảo này không có nhiều sáng kiến cụ thể có thể giúp Việt Nam kiện toàn an ninh mạng mà còn có khả năng cản trở đà phát triển kinh tế, kìm hãm sự tự do sáng tạo và xâm hại riêng tư của người dân.

Một vệ sĩ giỏi là người biết lùi lại phía sau, âm thầm quan sát, đảm bảo an toàn cho yếu nhân mà không gây cản trở công việc của họ. Một chuyên gia lành nghề là người hiểu mục tiêu kinh doanh của công ty, từ đó sáng tạo các giải pháp có sự cân bằng giữa an ninh, chi phí và tiện dụng để sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu khách hàng, giúp công ty kinh doanh thuận lợi, với những rủi ro chấp nhận được. Tôi hay nói với đồng nghiệp công việc của chúng ta không phải là chỉ là đảm bảo an ninh, mà là đảm bảo an ninh để công ty vẫn có thể sáng tạo và phát triển. Trách nhiệm của chúng ta là phục vụ các nhóm làm sản phẩm, giúp họ đảm bảo an toàn thông tin mà vẫn có thể tự do sáng tạo, vẫn tiết kiệm được thời gian, công sức, chứ không thể bắt họ phục tùng. Nếu chính sách an ninh kìm hãm sự tự do sáng tạo, làm chậm tốc độ phát triển, thì chính sách đó chưa đạt yêu cầu. Kỹ sư an ninh mạng làm việc có tâm phải luôn trăn trở tìm cách để chính sách an ninh không những không gây cản trở, mà còn đem đến lợi thế cạnh tranh.

Tương tự như vậy, ở tầm quốc gia, một chiến lược an ninh mạng đúng đắn không thể bỏ qua phát triển kinh tế. Việt Nam cần đảm bảo an ninh mạng, nhưng an ninh mạng chỉ là phương tiện, không phải đích đến, để đạt đến các mục tiêu quan trọng nhất của đất nước là phát triển kinh tế, khai phóng con người, bảo vệ môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Muốn vậy, lực lượng chuyên trách an ninh mạng quốc gia cần đóng vai trò người hỗ trợ chứ không phải người kiểm soát. Nhưng tôi e rằng trao quyền cho cơ quan quản lý trực tiếp can thiệp vào cách doanh nghiệp điều hành và quản lý hệ thống thông tin của họ (như điều 26 và 24 dự luật) dễ dẫn đến lạm quyền, tạo điều kiện cho tham nhũng. Việc yêu cầu báo cáo, đánh giá - đi kèm với phê duyệt, chấp thuận - sẽ làm tăng chi phí; giảm sự sáng tạo; làm mất lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (vì thời gian là ‘vàng’ trong kinh tế số và thị trường công nghệ vốn cạnh tranh khốc liệt).

Bài toán mà Quốc hội cần phải đặt ra cho dự thảo Luật An Ninh Mạng là: làm thế nào để không bị tấn công mạng, nhưng vẫn giữ tốc độ phát triển kinh tế cao, đảm bảo tự do cho người dân, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của Việt Nam trên thế giới? Đặt đúng câu hỏi là đã giải quyết được một nửa vấn đề. Trong phần tiếp theo tôi đề xuất một số ý kiến về chính sách để giải quyết nửa còn lại.

Giải pháp nào cho an ninh mạng quốc gia?

Đối với Luật An Ninh Mạng nói riêng, chính sách và chiến lược an ninh mạng quốc gia nói chung, tôi đề xuất ba điểm.

Thứ nhất, thay vì ôm đồm rất nhiều nội dung, luật chỉ nên tập trung vào hệ thống thông tin trọng yếu, chủ thể trung tâm trong vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Hệ thống thông tin trọng yếu bao gồm hệ thống công, do Chính phủ quản lý và hệ thống tư, thuộc sự quản lý và là tài sản của các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ chịu trách nhiệm và tùy nghi điều chỉnh hệ thống công, nhưng Chính phủ không được phép kiểm soát hệ thống tư, mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, ngoại trừ có sự đồng ý của doanh nghiệp hoặc lệnh của tòa án.

Để giúp đỡ doanh nghiệp, Chính phủ có thể chủ động chia sẻ thông tin tình báo, thông tin sự cố an toàn thông tin, hoặc các nhóm hacker nước ngoài mà Chính phủ đã theo dõi và nắm bắt được. Chính phủ cũng có thể khuyến khích doanh nghiệp hợp tác, chia sẻ thông tin, nhưng bất kỳ sự chia sẻ nào cũng phải là tự nguyện và phải đảm bảo được sự riêng tư của khách hàng của các doanh nghiệp. Chính phủ không thể mặc nhiên yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tất cả thông tin mà Chính phủ muốn. Quá trình chia sẻ thông tin, nội dung chia sẻ giữa doanh nghiệp và Chính phủ phải được luật hóa cụ thể.

Chính phủ cũng có thể giúp doanh nghiệp bằng cách đặt ra các tiêu chuẩn về an toàn thông tin. Các tiêu chuẩn này chỉ áp dụng cho hệ thống mạng máy tính của Nhà nước. Tuy nhiên doanh nghiệp có thể dựa vào đó để tự xây dựng tiêu chuẩn cho hệ thống máy tính và sản phẩm của họ. Nhà nước chỉ mua các sản phẩm đạt chuẩn, tạo động lực để doanh nghiệp muốn bán sản phẩm cho Nhà nước xây dựng các sản phẩm đúng chuẩn.

Một việc có ích khác Chính phủ nên làm là dùng ngân sách để đào tạo nguồn nhân lực an toàn thông tin chất lượng cao và nâng cao nhận thức an toàn thông tin cũng như quyền riêng tư của người dân. Bộ Thông Tin Truyền Thông đã trình Chính phủ những đề án cụ thể về hai vấn đề này, trách nhiệm của Quốc hội lúc này là giám sát việc thực thi các đề án này. Để đánh giá đề án thực thi có hiệu quả, có đúng với mục tiêu đặt ra, Quốc hội nên tham khảo ý kiến đánh giá độc lập của các chuyên gia.

Thứ hai, chính sách an ninh mạng quốc gia cần phải bảo vệ quyền riêng tư của người dân. Quyền riêng tư là một quyền hiến định và được Liên Hợp Quốc công nhận là quyền cơ bản của con người. Nhà nước không thể dựa vào lý do an ninh quốc gia để tùy tiện xâm phạm riêng tư của người dân.

Luật An Toàn Thông Tin Mạng có đề cập đến quyền riêng tư, nhưng tôi e rằng chưa đủ. Để bảo vệ riêng tư của người dân, tối thiểu Việt Nam cần có luật yêu cầu những tổ chức thu thập thông tin cá nhân của người dân phải thông báo đại chúng khi những nơi này bị xâm nhập và để lộ thông tin. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần cân nhắc tạo luật yêu cầu những do tổ chức thu thập và xử lý thông tin cá nhân nhạy cảm như tài chính và y tế phải có cơ chế đảm bảo sự riêng tư của khách hàng. Luật này sẽ đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể, cách thức người dân có thể phản ánh khiếu nại và cách Nhà nước sẽ xử lý chế tài ra sao các doanh nghiệp hay tổ chức phạm luật.

Nhưng bảo vệ riêng tư không có nghĩa là phải lưu trữ dữ liệu ở Việt Nam. Đa số người dân châu Âu sử dụng dịch vụ của các công ty Mỹ, nhưng Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) không yêu cầu các công ty Mỹ phải đặt máy chủ ở châu Âu. Do đó cách quy định như điều 26 của dự thảo luật không có mấy ý nghĩa thực tế.

Dữ liệu là vấn đề pháp lý phức tạp, tôi cho rằng Quốc hội nên nghiên cứu kỹ lưỡng để có một đạo luật riêng về vấn đề này thay vì gộp chung vào Luật An Ninh Mạng như hiện nay.

Cuối cùng, tôi cho rằng, để chống lại tấn công mạng, điều cốt lõi là con người, chứ không phải là công cụ pháp lý. Tuy nhiên, những chuyên gia hàng đầu Việt Nam mà tôi đã có dịp trao đổi đều không làm việc cho Chính phủ vì khu vực doanh nghiệp trả lương cao hơn, đãi ngộ tốt hơn, cơ hội nghề nghiệp công bằng hơn. Nhưng với uy tín của Chính phủ, tôi tin rằng Chính phủ dễ dàng huy động được những chuyên gia tên tuổi tham gia vào các dự án giúp đỡ đất nước. Năm 2016 tôi có đề xuất Việt Nam nên thành lập một đội đặc nhiệm bao gồm những chuyên gia Việt Nam giỏi nhất mà Việt Nam hiện có (xem bài Có một Biển Đông trên không gian mạng). Nhóm chuyên gia này, tương tự như tổ tư vấn về chính sách kinh tế, làm việc theo cơ chế phi lợi nhuận, sẽ giúp Chính phủ về chính sách và công nghệ. Đội đặc nhiệm này có vai trò tương tự như “Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an” mà dự thảo nêu ra, nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ, chứ không có quyền kiểm soát doanh nghiệp.

Kết thư

Từ vài năm nay tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về chiến lược an ninh mạng quốc gia cho Việt Nam. Những ý kiến của tôi ở đây đều là tổng kết của quá trình suy nghĩ lâu dài, không phải những suy nghĩ vội vàng.

Tôi thấy cần phải chỉnh sửa, thu hẹp phạm vi của dự thảo Luật An Ninh Mạng, chỉ nên tập trung vào mục tiêu đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống máy tính trọng yếu do nhà nước quản lý, loại bỏ những nội dung vi phạm quyền hiến định của người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền riêng tư, cản trở tự do báo chí, tăng chi phí kinh doanh, giảm năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở pháp lý cho một nhóm thiểu số nhũng nhiễu doanh nghiệp. Tôi không phải là một luật sư, nhưng với vốn kiến thức hạn hẹp tôi thấy rằng làm luật để kiểm soát người dân, kiểm soát doanh nghiệp là dùng pháp luật để cai trị dân chúng, chứ không phải dùng pháp luật để vận hành và phát triển đất nước. Dự thảo Luật An Ninh Mạng, do đó, nếu được thông qua, sẽ đẩy Việt Nam đi thụt lùi trên con đường trở thành một quốc gia pháp quyền.

Kính thưa Quốc hội,

Tôi đến Mỹ vì muốn tìm kiếm cơ hội chạy đua cùng thế giới, nhưng điều mà tôi tìm thấy lại quý giá hơn nhiều lần, đó là sự tự do. Nước Mỹ được như hôm nay là vì hiến pháp và văn hóa tôn trọng tự do của mỗi cá nhân. Ai cũng có quyền nói. Báo chí độc lập, là quyền lực thứ tư, giữ vai trò giám sát Nhà nước cho người dân. Internet không bị tường lửa ngăn chặn. Ở Trung Quốc thì ngược lại hoàn toàn. Vì vậy, mặc dù Trung Quốc đang giàu lên rất nhanh, nhưng người Trung Quốc vẫn muốn thành người Mỹ, chứ người Mỹ không muốn thành người Trung Quốc. Dự thảo Luật An Ninh Mạng có khả năng biến Việt Nam thành một bản sao xấu xí của Trung Quốc.

Tôi hi vọng Quốc hội sẽ có một lựa chọn sáng suốt để người dân Việt Nam, chí ít là cá nhân tôi, không phải mong muốn trở thành công dân một quốc gia khác.

Alsace, 31/5/2018
Dương Ngọc Thái

Nguồn: Tại đây.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Căn phòng đầy phóng xạ TQ dành cho cố TBT Lê Duẩn, người đanh thép: ‘Chừng nào tôi còn ngồi đây, đừng kẻ nào mong cướp nước Việt Nam này’


Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cận vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…
Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất dân tộc cũng như ý chí kiên cường và tinh thần cảnh giác cao độ trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, thì có lẽ ít người nghi ngờ…

Bài học lớn về Trung Quốc

Trước hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn là người lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Như nhiều nhà lãnh đạo của Việt Nam khi ấy, ông thực sự tin Trung Quốc là người anh em, đồng chí thực sự của cách mạng Việt Nam.

Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết đã bẻ ngoặt nhận thức của ông về mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:

Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.

Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước – một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.

Sau khi hiệp định được ký, trên đường từ Bắc vào Nam, nhìn những quân dân miền Nam giơ 2 ngón tay chào nhau, vừa là biểu tượng victory – chiến thắng, vừa là lời hẹn 2 năm sau sẽ đoàn tụ, ông Lê Duẩn đã khóc. Ông hiểu, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, sẽ không bao giờ chỉ là 2 năm… Rồi đây đất nước sẽ còn bị chia cắt rất lâu vì Hiệp định Geneva năm đó.

Sau đó, khi chia tay Lê Đức Thọ ra Bắc tập kết, ông Lê Duẩn đã nói với người đồng chí của mình một câu rất nổi tiếng: “Anh ra nói với Bác, 20 năm nữa tôi mới được gặp Bác”.

Rất trùng hợp, 20 năm sau, đất nước thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, đó là lần ông Lê Duẩn thực sự thấy thấm thía nhất về nỗi đau chứng kiến đất nước ông đã bị người anh em Trung Quốc phản bội. Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.

Dù là năm 1954 hay năm 1972 hay sau này, dù là lúc đang lãnh đạo cách mạng miền Nam hay khi đã ra Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, kể cả khi đất nước đã thống nhất, chưa một phút giây nào, TBT Lê Duẩn quên bài học đó.

“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”

Khi còn sống, TBT Lê Duẩn luôn cho rằng, hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam, khi mà lịch sử địa lý, trớ trêu thay đã khiến ta mãi mãi phải là láng giềng của họ. Mà để hiểu người Trung Quốc nhất định phải hiểu được những đặc tính của dân tộc Việt Nam.

Đắm chìm vào trong dân tộc để hiểu cái ở ngoài dân tộc và giữ dân tộc là cách mà TBT Lê Duẩn đã làm khi ở cương vị người đứng đầu đất nước.

Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhân danh việc chi viện, giúp đỡ chúng ta, rất nhiều lần Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có lần Trung Quốc đề nghị cho chúng ta 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ. Nhưng TBT Lê Duẩn không nhận bất cứ một chiếc xe nào.

Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao ông không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.

Hẳn là vì hiểu rõ dân tộc, mà ông đã không quên rằng, Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp vua Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội. Như một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: “Với TBT Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia”.

Điều mà TBT Lê Duẩn vẫn thường cố gắng cắt nghĩa là tại sao Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1.000 năm mà không đồng hóa được ta? Bởi 1.000 năm là quá dài, và người Trung Quốc chưa bao giờ giấu diếm tham vọng ấy suốt những thời kỳ họ cai trị Việt Nam. Trong lịch sử, nhiều dân tộc khác bị đồng hóa rất dễ dàng chỉ với vài trăm năm, nhưng sự khác biệt của người Việt Nam đã khiến dân tộc này thoát khỏi quy luật đáng sợ đó.

Có rất nhiều thứ người Trung Quốc cho là chân lý, nhưng người Việt Nam không chấp nhận. Người Trung Quốc dùng đạo Khổng để giáo dục người dân. Người Trung Quốc dạy: “Tại gia tòng phụ”, nhưng người Việt Nam nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Người Trung Quốc nói “xuất giá tòng phu”, người Việt Nam lại cho rằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.

Và ông Lê Duẩn luôn nhìn thấy, qua những khác biệt đó người Việt Nam vừa để dạy mình, vừa thể hiện sự phản kháng với tư tưởng đó, và sâu xa hơn là phản kháng sự đồng hóa mà người Trung Quốc cố tình áp đặt lên số phận của dân tộc Việt Nam. Sự phản kháng này nằm sâu trong mầm mống tồn tại của dân tộc, khiến sức mạnh đồng hóa của người Trung Quốc không đâm thủng được. Trung Quốc ngày đó bắt người phụ nữ bó chân, nhưng người Việt Nam không bao giờ đồng ý. Với người Việt Nam, để sinh tồn thì bàn chân là phải vững chắc trên mảnh đất này. Đó là một nền tảng văn hóa vô cùng Việt Nam, tự thân người Việt Nam và nó đối chọi hoàn toàn với người Trung Quốc.

Dường như, khi hiểu được truyền thống ấy và sức mạnh phản kháng ấy của dân tộc, TBT Lê Duẩn đã luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng trước sức mạnh của người Trung Quốc, trong rất nhiều giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước.

Một lần, khi ra ngoài Bắc bàn về đấu tranh miền Nam, ông Lê Duẩn nói: “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”.

Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó. Nhưng ông Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ: “Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”.

Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó. Chỉ tiếc là đến giờ những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như vẫn chưa được công bố, khiến những câu chuyện này không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng.

Điều khiến nhiều người suy nghĩ là những năm tháng đó, trong lúc khó khăn nhất, khi mà chúng ta đang dựa vào họ, thành bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự ủng hộ của họ, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn biết cách giữ được vị thế của mình với những nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Ông cũng rất khéo léo giữ được độc lập của đất nước mà vẫn khiến Trung Quốc duy trì sự ủng hộ với Việt Nam trong một giai đoạn dài. Cái ý thức “không sợ Trung Quốc” ấy có lẽ đã khiến TBT Lê Duẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng luôn ở thế ngang bằng với những lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng cũng chính vì tư tưởng đó, TBT Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam khiến Trung Quốc e dè, nếu không muốn nói là “gai mắt” nhất trong giai đoạn ấy.

Nhà thơ Việt Phương từng kể một câu chuyện: “khi Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc, TBT Lê Duẩn có chuyến thăm Trung Quốc và ở gần nơi Bác chữa bệnh. Bác Hồ lúc đó đã bảo với ông Lê Duẩn: “Chú Ba đến ăn cơm với Bác. Chắc là họ chưa đến mức có ý định giết Bác. Bác đã rất nghi ngại việc TBT Lê Duẩn ở một mình có thể có những chuyện không hay và tìm cách giữ an toàn cho ông bằng mọi cách”.

Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cận vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…

Khi Trung Quốc ngày càng tráo trở và ngang ngược ở biển Đông, với tham vọng bá quyền không giấu diếm, rất nhiều người dân Việt Nam nhớ về vị TBT mà lịch sử đã nhìn nhận là người có đường lối cứng rắn nhất với Trung Quốc.

Có lẽ ngày hôm nay, với vấn đề biển Đông, người Việt Nam chúng ta sẽ phải nhớ lại câu nói của cố TBT Lê Duẩn và bài học mà ông đã để lại: “Chúng ta, bằng bất cứ giá nào, cũng không được phép sợ Trung Quốc”.

Theo MỘT THẾ GIỚI


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Bình tĩnh, Bình Thuận ơi!



Mấy tháng trước, trên đường phóng xe máy về quê, tôi có ghé vào vài điểm trên đường quốc lộ 1. Rồi nghe được câu chuyện nhiều ngư dân ra khơi bị tàu Trung Quốc đuổi đánh, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn, với thiên tai, bệnh dịch, rồi cả việc nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, với khói đen, xe chở xỉ, nhiều người mắc các bệnh về hô hấp...

Tôi hứa với họ trong năm 2018 sẽ quay lại để làm tặng họ một phóng sự điều tra kỹ lưỡng. Rồi tôi cũng được họ kể cho nghe, vào thời điểm 2015, hàng trăm người dân huyện Tuy Phong đã đấu tranh, không cam chịu được nên đã xảy ra đụng độ, sau đó nhiều người dân địa phương đã bị bắt giam.

Chiều nay, có lẽ như một giọt nước tràn ly, với nỗi uất hận bị dồn nén từ nhiều năm trước, người dân Phan Rí, huyện Tuy Phong đã phản kháng mạnh mẽ, thậm chí tràn vào UBND tỉnh Bình Thuận đốt cháy các phương tiện của cảnh sát.

Đêm nay, chắc chắn sẽ có rất nhiều công an, quân đội được điều động đến, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận nói không thể chấp nhận được, phải xử lý kịp thời, nghiêm minh...

Chắc chắn, ngày mai sẽ có rất nhiều người dân Bình Thuận bị bắt, thậm chí bị đánh đập, cả xã hội sẽ lên án họ. Nhưng với tôi lúc này, thật khó ngủ, cảm thấy thật xót xa và thương họ nhiều hơn. Hy vọng ông bí thư tỉnh ủy xâu chuỗi lại các sự việc, đặt mình vào hoàn cảnh của họ, và trách nhiệm của chính ông, để thông cảm vơi họ nhiều hơn, và để biết... ông vẫn là một con người.

FB ĐỖ CAO CƯỜNG10.06.2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang