Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

Những người thay đổi thế giới ở tuổi học trò



https://baomai.blogspot.com/
Họ được biết đến với tâm trạng thất thường, nghiện mạng xã hội và gu thời trang không rõ ràng.

Tuy nhiên một số người trẻ tuổi đã phá bỏ định kiến này. Một thế hệ mới những người trẻ già dặn sớm đang giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hôm nay với công nghệ tham vọng và đột phá.

Cho nên nếu bạn không cảm thấy mình chưa làm được gì nhiều thì đây là danh sách của bốn người trẻ tuổi đã góp phần định hình thế giới chúng ta đang sống.

Keiana Cavé, 18 tuổi, New Orleans, Hoa Kỳ

https://baomai.blogspot.com/

Hành trình khám phá của Cavé bắt đầu với vụ tràn dầu của giàn khoan Deepwater Horizon xảy ra ở Vịnh Mexico hồi năm 2010. Nó dẫn đến vết dầu loang trên biển lớn nhất trong lịch sử nhân loại với khối lượng 4,9 triệu thùng (780.000 mét khối) dầu ở một trong những vùng nước quan trọng nhất trên thế giới.

https://baomai.blogspot.com/ 
Vụ tai nạn Deepwater Horizon gây thảm họa môi trường khủng khiếp cho Vùng vịnh Mexico

Xem bản tin thời sự trên TV, Cavé đã ngay lập tức cảm thấy nhất định có thiệt hại về môi trường chưa phát hiện được. Cô quyết định tập trung vào việc khám phá điều gì đang thật sự xảy ra.

Ở tuổi 15, cô bắt đầu nghiên cứu điều gì xảy ra với dầu khi dầu tràn ra mặt biển và phát hiện được rằng khi bị tia cực tím từ Mặt trời chiếu vào, nó sẽ phản ứng thành các hóa chất có tính năng gây ung thư.

https://baomai.blogspot.com/

Giờ đây cô đã đưa nghiên cứu của mình vào hai công trình khoa học và hai bằng sáng chế để đưa ra các phương pháp hóa học giúp phát hiện chất gây ung thư. Cô cũng đã thành lập một công ty khởi nghiệp có tên là Mare hiện đang nghiên cứu cách làm tan dầu tràn để cho chúng không gây thiệt hại đến thế. Và nghiên cứu của cô đã nhận được số tiền tài trợ 1,2 triệu đô la.

Rifath Shaarook, 18 tuổi, Ấn Độ

https://baomai.blogspot.com/

Khi còn nhỏ, Shaarook đã cùng với bố dành hàng giờ để nhìn say sưa vào lăng kính của chiếc viễn vọng. Đáng buồn là ông Mohamed Farook, một giáo sư và một nhà khoa học ở địa phương, đã qua đời khi con trai ông còn đang học tiểu học.

Nhưng niềm đam mê không gian của Shaarook thì vẫn tiếp tục nhen nhóm. Khi còn trong tuổi thiếu niên, cậu đã tham gia vào Space Kidz India, một trung tâm nhằm nuôi dưỡng tài năng những người trẻ có đam mê công nghệ. Cậu đã thành lập một nhóm gồm sáu người và dành bốn năm kế tiếp để làm một vệ tinh dưới sự hướng dẫn của giám đốc và người sáng lập của trung tâm.

Hàng đêm, nhóm của cậu bàn kế hoạch qua cuộc gọi truyền hình, thường là cho đến 4:30 sáng. Cuối cùng họ đã phát minh ra KalamSat, vệ tinh nhẹ nhất thế giới.

https://baomai.blogspot.com/

Nặng chỉ có 64g, vệ tinh này có khối lượng bằng một chiếc pin cỡ lớn. Thực chất đó là một khối hình lập thể có chiều rộng 3,8 cm được làm từ chất dẻo được in 3D được gia cố bằng sợi carbon. Nó có một số cơ quan cảm ứng khác nhau, bao gồm cảm ứng đo nhiệt độ, từ trường, độ cao và sức căng bề mặt khi nó băng qua không gian. Vệ tinh này còn có nguồn điện riêng và một chiếc máy tính nhỏ để bật tất cả các cơ quan cảm ứng vào đúng thời điểm và lưu lại dữ liệu thu thập được.

https://baomai.blogspot.com/

Kế hoạch của nhóm là đưa vệ tinh KalamSat vào tầng dưới quỹ đạo để kiểm tra hoạt động của loại nhựa được gia cố trong điều kiện trọng lực tối thiểu. Các chất liệu nhẹ vốn có thể chịu đựng được áp lực khi đi ngoài vũ trụ  rất hiệu quả vì mỗi 450 gram bất cứ chất liệu gì cũng tốn khoảng 10.000 đô la để phóng vào không gian. Sau khi đến nơi cần đến, vệ tinh sẽ chỉ có 12 phút để thu thập dữ liệu trước khi quay trở lại Trái Đất và rơi xuống biển.

Vào ngày 22/6/2017, vệ tinh đã được phóng thành công từ cơ sở phóng trên đảo Wallop của Nasa ở tiểu bang Virginia - ở ngay chính địa điểm mà nhà khoa học hỏa tiễn lừng danh mà vệ tinh được đặt tên theo - ông Abdul Kalam - đã đến thăm trên nửa thế kỷ trước đó.

Hannah Herbst, 17 tuổi, Florida

https://baomai.blogspot.com/
The Beacon có thể tạo ra điện năng từ hầu như bất kỳ nguồn nước nào

Herbst được khơi dậy cảm hứng sáng tạo từ lúc mới 15 tuổi bởi một người bạn biết qua thư từ mà khi đó mới chín tuổi vốn sống ở Ethiopia và không có đèn điện. Điều này bình thường một cách đáng kinh ngạc: có 1,3 tỷ người hiện đang sống thiếu điện. Do đó mà cô học trò này đã nghĩ ra thiết bị Beacon vốn chuyển sóng biển trực tiếp thành năng lượng.

https://baomai.blogspot.com/

Suy nghĩ của Herbst là dân cư thường có xu hướng sinh sống quanh các nguồn nước; khoảng 40% dân số thế giới sống trong vòng bán kính 100 km từ bờ biển và chỉ có 10 % dân số thế giới sống cách xa nguồn nước ngọt không phải đào sâu vào lòng đất, chẳng hạn như sông hay hồ, hơn 10 km.

Công nghệ này bao gồm một ống nhựa rỗng có một thiết bị đẩy ở một đầu và một máy phát điện ở đầu kia. Do năng lượng của sóng biển kích hoạt thiết bị đẩy, năng lượng này được máy phát điện chuyển hóa thành năng lượng có thể sử dụng được. Sau khi thiết kế ra mô hình trên máy tính của một chiếc turbine nguyên mẫu, Herbst đã in 3D ra một nguyên mẫu của vệ tinh mà cô thử nghiệm ở các đường nước lưu thông giữa các bờ biển.

https://baomai.blogspot.com/

Nếu mô hình này được mở rộng quy mô, Herbst đã tính toán rằng Beacon có thể sạc ba bình xe cùng một lúc trong một giờ. Cô gợi ý rằng nguồn điện được tạo ra có thể được sử dụng để lấy năng lượng cho công nghệ lọc nước, hay máy ly tâm máu tại các bệnh viện ở các nước đang phát triển.

Phát minh này đã giành chiến thắng tại Thử thách Nhà khoa học trẻ 3M của kênh Discovery Education hồi năm 2015 cùng với rất nhiều giải thưởng khác nữa và Herbst hiện đang học ngành kỹ sư máy tính trong khi đang hoàn tất chương trình trung học.

Julian Rios Cantu, 18 tuổi, Mexico

https://baomai.blogspot.com/

Nhà phát minh này chỉ mới 13 tuổi khi mẹ của cậu bé bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú. Em đã bàng hoàng chứng kiến khối u từ kích thước của một hạt gạo thành một cục cỡ quả bóng golf trong vòng chưa đến sáu tháng. Cuối cùng bà cũng mất cả hai bên ngực mặc sau đó bà đã khỏi hẳn ung thư.

https://baomai.blogspot.com/
Áo lót ngực EVA chỉ cần mặc một tuần một giờ đồng hồ

Chỉ một vài năm sau đó, cậu bé Cantu bắt đầu tìm cách bảo vệ những người khác khỏi mắc bệnh. Cùng với ba người bạn, cậu thành lập công ty Higia Technologies để sản xuất một thiết bị có thể mặc được vào người có khả năng dò soát sớm các dấu hiệu của ung thư.

Nguyên mẫu áo ngực EVA có các bộ phận cảm ứng dính liền với chiếc áo ngực bình thường, và sẽ cần mặc mỗi tuần một giờ để phát huy hiệu quả. Nguyên tắc hoạt động là tìm kiếm sự thay đổi ở nhiệt độ và độ co giãn da vốn nằm trong số các dấu hiệu nhận biết ung thư vú. Sau mỗi lần mặc, dữ liệu sẽ được gửi đến ứng dụng của công ty và thuật toán trí tuệ nhân tạo sẽ dựa vào đó để tính toán nguy cơ của người mặc.

https://baomai.blogspot.com/

Thiết bị này đã tìm được 20.000 đô la Mỹ tiền tài trợ với việc thắng cuộc trong Giải thưởng Doanh nghiệp Sinh viên Toàn cầu, nhưng có vẻ như là còn lâu thiết bị này mới được đưa vào sản xuất hàng loạt. Nó vẫn chưa được thử nghiệm lâm sàng và các công nghệ tương tự trước đây đã chứng minh là không đáng tin.

Tuy nhiên, nếu dự án này thành công, nó có thể cứu mạng hàng triệu người. Gần 1,7 triệu ca ung thư vú mới được phát hiện trong năm 2012 và khiến cho trên nửa triệu người tử vong trong cùng năm. Để chữa trị được thành công, phát hiện sớm là điều hết sức quan trọng.

Do đó mặc dù đúng là bốn cô cậu học trò này có đôi mắt to hơn nhiều và gương mặt non choẹt hơn nhiều so với những nhà phát minh là người lớn, đừng lầm tưởng - bất cứ ai trong số họ cũng có thể là Thomas Edison hay Elon Musk kế tiếp.




Zaria Gorvett

https://baomai.blogspot.com/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi đất đai bị quan tham nhũng hợp pháp


>> Nước cờ chiến lược Vũ ‘Nhôm’ và Hội nghị trung ương 7
>> Tướng tình báo Phan Hữu Tuấn làm lộ ‘bí mật nhà nước’ nào?
>> Cựu Trung tướng Phan Hữu Tuấn Phó Tổng Cục trưởng Tình báo BCA là ai?


Quốc Phong





















VNN - Mấy chục năm trước, vụ án Minh Phụng xôn xao dư luận, vì định giá một mét vuông đất chỉ bằng mấy cây kem, khiến ông Tăng Minh Phụng không thể khắc phục hậu quả trong khi giá thực tế mà ông ta mua là giá thị trường thì không được công nhận để rồi cuối cùng phải bị xử bắn.

Chuyện đất đai đến lúc cũng phải nhìn thẳng vào sự thật

Dòng thời sự chủ lưu gần đây là chuyện đất đai, nhà công sản là tài sản dạng công thổ quốc gia, là sở hữu toàn dân đã bị một nhóm những kẻ có quyền lực biến chất bảo kê bằng những công văn đóng dấu "Mật", "Tuyệt Mật" vượt qua sự nghiêm minh của pháp luật, biến thành tư hữu.

Thực ra đây không phải lần đầu tiên những vụ tham nhũng qua việc xẻ thịt đất công mới được bàn đến. Từ rất lâu rồi, dư luận trong xã hội và tại các cuộc thảo luận công khai trên các diễn đàn chính thức bàn về đất đai – sở hữu toàn dân, vấn đề này đã được báo động đỏ. Nhưng chuyện tham nhũng đất công vẫn được hợp pháp hoá nhờ những kẻ biến chất có quyền lực rất lớn.

Con số trên ba chục dự án nhà cửa và đất đai ở  Đà Nẵng mà Bộ Công an đang đề nghị địa phương làm rõ hoá ra chỉ là...  “muỗi" so với con số thực mà Phan Văn Anh Vũ (Vũ " nhôm") đã qua tay hoặc đang nắm giữ trên toàn quốc, hay những nghi vấn trong vụ“thâu tóm”đất của Quốc Cường Gia Lai lại làm dư luận sôi sùng sục câu chuyện đất công bị các nhóm lợi ích thao túng.

Theo giới phân tích, luật pháp hiện hành liên quan tới quản lý đất đai của Việt Nam đã khá đủ và kín, vậy mà bàn tay đen của ông trùm Vũ "nhôm", nguyên Chủ tịch HĐQT Cty Cổ phần Xây dựng Bắc Nam 79; nguyên Chủ tịch HĐQT Cty Cổ phần Nova Bắc Nam 79 (nay là Cty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Chấn Phong) vẫn có thể lách qua được sự nghiêm minh của pháp luật để biến sở hữu toàn dân thành sở hữu nhóm lợi ích.

Vũ “nhôm” được biết đến là đại gia sở hữu rất nhiều khu đất vàng, không chỉ ở Đà Nẵng. Hầu hết các khu đất này có nguồn gốc là nhà, đất công.

Câu chuyện Vũ “nhôm”, chuyện tham nhũng đất công ở Đà Nẵng trong nhiều năm qua có thể xem là một ví dụ điển hình của bức tranh chung.

Ví dụ, làng phong Hòa Vân, nơi sinh sống và chữa bệnh cho những người bị bệnh cùi dưới chân đèo Hải Vân hơn nửa thế kỷ nay cũng bị chính quyền TP. Đà Nẵng thu hồi từ nhiều năm trước để giao cho doanh nghiệp và hiện giờ vẫn là dự án… treo.

Đi dọc từ Bắc tới Nam, nhiều khu đất canh tác đã phải nhường chỗ cho các dự án doanh nghiệp.

Rõ ràng, tài sản quốc gia bị thất thoát có địa chỉ nhưng không ai nghĩ đó là thất thoát, càng không nghĩ đó là tham nhũng, ai cũng nghĩ nó là đương nhiên vì nó hoàn toàn đúng quy trình và thủ tục hợp pháp.

Chỉ đến khi những lớp vỏ tàng hình được bóc dần nhờ sức nóng của lò lửa từ cuộc chống tham nhũng, người ta mới choáng. Hóa ra lâu nay, sự tham nhũng hợp pháp này đã bị những kẻ như Vũ “nhôm” được một nhóm những kẻ tham lam, biến chất bao bọc bằng chính những cơ quan không phải ai cũng có thể động vào. Tấm thẻ sỹ quan tình báo làm kinh tế và nghiệp vụ cho ngành và một vài lãnh đạo tham lam đứng phía sau, Vũ “nhôm”, một kẻ được cho là chưa tốt nghiệp phổ thông trung học, trong một thời gian dài dễ dàng đạp lên luật pháp bằng những công văn được đóng dấu "Mật" hoặc " Tuyệt mật " để hợp pháp biến đất công thành đất tư.

Như thế, thử hỏi có khác nào "giặc đã ở sau lưng vua" như trong huyền sử cuối đời Hùng Vương?

Nhìn rộng ra sức nóng của lò lửa chống tham nhũng sẽ thấy, những kẻ như Vũ“nhôm” chưa phải là tất cả. Với quyết tâm cao nhất, với sự nghiêm minh, nghiêm túc trong công cuộc chống tham nhũng hiện nay, những kẻ như Vũ “nhôm” sẽ dần dần được đưa ra ánh sáng. Người đứng đầu Đảng đã khẳng định: Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, bất kể đó là ngành nào.

Sự nghiêm minh của cuộc đấu tranh với tham nhũng, lấy lại niềm tin của nhân dân sẽ không dừng ở việc lôi ra ánh sáng những kẻ như Vũ “nhôm”. Chỉ khi chúng ta lôi ra được những con sâu to, những kẻ đứng đằng sau, bảo kê cho những phi vụ biến công sản thành tư hữu và xử nghiêm theo quốc pháp thì mới đủ sức răn đe khiến những kẻ tham lam phải biết sợ và không dám lấy của công làm của riêng, không dám hưởng lợi qua việc đẩy bất hạnh cho dân.

Nhìn lại câu chuyện tham nhũng hợp pháp đất công hiện nay, tôi chợt nhớ tới một câu thơ trong bài Tâm sự của nhà thơ Tố Hữu: "Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu/Trái tim lầm chỗ để trên đầu/Nỏ thần vô ý trao tay giặc /Nên  nỗi cơ đồ đắm bể sâu."

Nhắc lại huyền sử An Dương Vương mất cảnh giác để thấy bài học cảnh giác với chính mình vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

Nếu không nghiêm khắc với chính nội bộ, e sẽ phạm phải sai lầm lớn trong tương lai, khi nội bộ lọt vào những phần tử nguy hiểm như Vũ " nhôm" và những kẻ bảo kê cho hắn.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trí tuệ của Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson: Ngọn đèn tự do của thế giới



“Thomas Jefferson: Tác giả ‘Tuyên ngôn độc lập’ và Dự luật Tự do Tôn giáo Virginia, người sáng lập Đại học Virginia, an táng tại đây”. Vị Tổng thống Mỹ đời thứ 3 Thomas Jefferson yêu cầu viết một câu ngắn gọn duy nhất trên bia mộ của mình, một chữ không được thay đổi. Có lẽ ông muốn nhắc nhở đời sau, đó là ba việc ông xem trọng nhất.
“Tôi xin thề trước bàn thờ Chúa, sẽ mãi mãi chống lại mọi âm mưu độc quyền khống chế tự do tư tưởng của loài người”. – Thomas Jefferson (khắc trên Đài kỷ niệm Jefferson)
Trí tuệ sáng suốt và tầm nhìn xa trông rộng của vị Tổng thống Mỹ đời thứ 3 Thomas Jefferson ngày càng được nhiều người ghi nhớ. Ông từng là Nghị sĩ và Thống đốc bang Virginia, Nghị sĩ Quốc hội, Đặc phái viên trú tại Pháp, Quốc vụ khanh, Phó Tổng thống và hai khóa Tổng thống.
Rất nhiều người, cả tổng thống Kennedy, đều phải thừa nhận Thomas Jefferson là vị tổng thống thông tuệ nhất trong các đời tổng thống Mỹ. Một lần chiêu đãi tiệc 49 người đạt giải Nobel ngay tại Nhà Trắng ông đã nói hài hước, trong lịch sử những người từng dùng bữa ở đây có lẽ chỉ có trí tuệ của Jefferson là vượt qua tổng số tài năng của những người có mặt tại đây ngày hôm nay.
Monticello, một trang viên đặc biệt thuộc khu Charlottesville tươi đẹp nằm phía bắc Virginia, mỗi ngày đều tấp nập du khách đến từ các nơi, trong nước Mỹ cũng như trên thế giới. Họ là những người ngưỡng mộ vị tổng thống đời thứ 3 Thomas Jefferson của nước Mỹ. Trang viên Monticello là do đích thân tổng thống Jefferson thiết kế là một trang viên mang phong cách kiến trúc Rome cổ xưa. Thomas Jefferson đã sống tại đây 40 năm.
Ngày nay, trang viên Monticello vẫn giữ nguyên kiểu dáng như hai trăm năm về trước, chiếm một diện tích vùng đồi núi khoảng ba ngàn mẫu Anh (1 mẫu anh bằng 4.048,86 mét vuông), ngôi nhà của Thomas Jefferson ở được xây tại khu đất bằng trên đỉnh núi.
Cứ khoảng 40 phút, hướng dẫn viên lại dẫn một nhóm du khách đi từ bảo tàng dưới chân núi lên đỉnh núi, trong khi đó bên trong ngôi nhà, trong những căn phòng khác nhau, các hướng dẫn viên vẫn đang kể lại những câu chuyện về Thomas Jefferson. Qua những câu chuyện, mọi người có thể thấy Thomas Jefferson không chỉ là một nhà chính trị: ông rất ham đọc sách, mê cuộc sống điền viên, mê thiết kế sáng tạo, là một thiên tài trên nhiều phương diện: kiến trúc, toán học, nông nghiệp, ngoại ngữ…
“Thomas Jefferson: Tác giả ‘Tuyên ngôn độc lập’ và Dự luật Tự do Tôn giáo Virginia, người sáng lập Đại học Virginia, an táng tại đây”. (Ảnh: twitter)
Mọi người bình đẳng vì đều do Chúa tạo ra
Dĩ nhiên, không ai có thể phủ nhận “Tuyên ngôn độc lập” của Thomas Jefferson là áng văn bất hủ trong lịch sử nhân loại.
“Chúng ta phải khẳng định một chân lý hiển nhiên: Con người do Chúa tạo ra nên mọi người đều bình đẳng; Chúa cũng trao cho họ những quyền không thể bị tước đoạt; những quyền này bao gồm quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Trích “Tuyên ngôn độc lập”)
Hơn hai trăm năm qua, áng văn giản dị mà sâu xa này đã cổ vũ tinh thần mạnh mẽ cho các nước trên thế giới, khắp nơi người ta không ngừng tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, độc lập, tự do.
Dĩ nhiên, có thể hiểu tại sao Thomas Jefferson muốn chúng ta nhớ đến Đại học Virginia do ông sáng lập. Cho đến ngày nay Đại học Virginia vẫn nằm trong tốp trường đại học công lập có chất lượng ưu việt nhất. Thomas Jefferson luôn mong muốn nước Mỹ có một ngôi trường thật sự biết cống hiến cổ vũ cho tinh thần tự do tư tưởng của loài người.
Sau khi kết thúc hai nhiệm kỳ tổng thống, Thomas Jefferson đã nỗ lực dốc tâm sức trong mười năm cuối đời để xây dựng nên Đại học Virginia, ông đích thân làm tất cả mọi việc to nhỏ: thiết kế ngôi trường, mời giáo sư giảng dạy, xây dựng chương trình học tập.
Đạo luật tự do tôn giáo mới mẻ
Dĩ nhiên sẽ có nhiều người băn khoăn tại sao Thomas Jefferson không nhắc đến hai nhiệm kỳ tổng thống Mỹ, ký kết văn kiện mua vùng đất Louisiana giúp mở rộng gấp đôi diện tích lãnh thổ nước Mỹ. Vì sao lại xem trọng Đạo luật Tự do Tôn giáo Virginia (the Virginia Statute for Religious Freedom), vốn chỉ là Đạo luật tại một bang của nước Mỹ, và chỉ có hiệu ứng pháp luật trong một kỳ Nghị viện? Chúng ta phải làm sao để hiểu được nỗi ưu tư trăn trở của con người tiên phong kiến tạo nên nước Mỹ hiện đại này?
Vào một ngày mùa thu năm 1776, sau khi hoàn thành tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập”, Thomas Jefferson lại nhận chức Nghị sĩ bang Virginia, sẵn sàng cho việc đưa vào thực tiễn đời sống bang Virginia “Tuyên ngôn độc lập” của mình. Không lâu sau, ông lại khởi thảo Đạo luật Tự do Tôn giáo Virginia, vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay, theo đó tôn giáo tín ngưỡng phải độc lập với chính quyền Nhà nước.
Năm 1979, lần đầu Dự thảo được đưa ra Nghị viện nhưng không được thông qua. Bảy năm sau, vào năm 1786, lúc đó Thomas Jefferson là Đặc phái viên tại Pháp, ông đã thuyết phục được bạn mình là James Madison, Nghị sĩ bang Virginia. Với nỗ lực của hai người, Đạo luật Tự do Tôn giáo Virginia lần thứ hai được đưa ra, cuối cùng đã được thông qua.
Xin dẫn một đoạn sâu sắc trong “Lời dẫn” của Đạo luật Tự do Tôn giáo Virginia:
“Tư tưởng của con người không thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước. Nếu chúng ta cho phép quan chức chính phủ kéo dài quyền lực của họ xen vào đời sống tín ngưỡng, cho phép họ quyết định tôn giáo nào là chính hay tà, nghĩa là sẽ khống chế những người tu hành truyền đạo, như vậy là vô cùng nguy hiểm, nghĩa là không còn quyền tự do tôn giáo.
Vì quan chức lấy kiến giải cá nhân để đánh giá chuyện đúng hay sai của tôn giáo tín ngưỡng; họ lấy mình làm chuẩn để khen ngợi hay trách phạt đối với cách suy nghĩ của người khác… Lịch sử đã chứng minh, sự kết hợp giữa giáo hội và chính quyền luôn dẫn đến chuyên quyền và áp bức. Khi tôn giáo biến thành công cụ của quốc gia sẽ gây an nguy cho tự do, vì chỉ có sự sai trái mới cần dựa dẫm vào chính phủ nâng đỡ, còn chân lý luôn đứng hiên ngang, độc lập”.
Sau phần lời dẫn là phần Chính văn của Dự luật: “Nghị viện (Bang Virginia) không thể ép buộc bất cứ cá nhân nào tham gia hoặc ủng hộ cho một tôn giáo, cũng không thể vì cách nhìn của mình về một tôn giáo hay tín ngưỡng mà bị cưỡng chế, ép buộc, quấy rối, gây đau đớn về thân xác, mất mát tài sản hoặc những đau khổ khác; mọi người đều có quyền lên tiếng tranh luận bảo vệ cho quan niệm về tôn giáo của mình, không thể vì điều này mà địa vị xã hội được nâng cao hơn, bị hạ xuống hay chịu bất kỳ ảnh hưởng nào”
Phần thứ ba của Dự luật là Tuyên ngôn. Tuy Dự luật chỉ được một kỳ Nghị viện thông qua, nhưng Thomas Jefferson vẫn long trọng tuyên bố:
“Chúng tôi tuyên bố, Dự luật này chủ trương quyền tự do tôn giáo là quyền tự nhiên của con người, sau này nếu có bất kỳ pháp lệnh nào muốn hủy bỏ hoặc thu hẹp phạm vi của Dự luật này, tức là đã xâm phạm quyền tự nhiên!”.
Sau khi Nghị viện bang Virginia cho thông qua dự luật này, nhiều bang khác cũng nhiệt liệt hưởng ứng theo. Văn kiện này cũng được lan truyền đến các nước châu Âu, được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Ý, được truyền bá rộng rãi trong giới làm luật ở châu Âu.
Sau đó không lâu, Thomas Jefferson lại căn cứ vào Dự luật Tự do Tôn giáo để viết Tu chính án Hiến pháp (lần thứ nhất), còn gọi là “Dự luật về Quyền tự do”. Ngay đoạn mở đầu đã viết: “Quốc hội không được lập ra điều luật để khai lập một tôn giáo, ngăn cản quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng, hạn chế tự do ngôn luận và tự do xuất bản, ngăn cản người dân biểu tình ôn hòa ra yêu sách yêu cầu chính phủ sửa sai những bất công”. Tu chính án này đã được thông qua năm 1791.
Bức tượng Thomas Jefferson trên khuôn viên trường đại học Virginia được đặt vào ngày 28 tháng 8, 2013. (Ảnh: Campus Reform)
Từ đây, nước Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới mà quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân được bảo đảm bằng Hiến pháp, khởi đầu thời đại dân chủ đích thực với xã hội mở mang đậm tinh thần khoan dung.
Nhà tư tưởng và sử gia nổi tiếng người Pháp là Alexis de Tocqueville vào thập niên 30 thế kỷ XIX đã đi tới nước Mỹ để theo dõi chế độ dân chủ của đất nước mới nổi vô cùng độc đáo này. Ông đã sửng sốt khi thấy “tinh thần tự do” đi cùng với “niềm tin tâm linh”, ở châu Âu, hai giá trị này là “thù địch” đối lập nhau, nhưng ở quốc gia này lại chung sống hòa bình với nhau!
Ngọn đèn tự do của thế giới
Trên đỉnh đồi Monticello trời xanh mây trắng, những ngày đầu hạ nhìn ra xa là một màu xanh thăm thẳm nhưng vẫn có thể lờ mờ trông thấy đỉnh vòm hình tròn kiểu kiến trúc Rome cổ xưa của tòa nhà chính khu trường Đại học Virginia, trang viên to rộng khoáng đạt. Cuộc sống điền viên yên tĩnh mới thật đáng giá, vậy mà cho đến tận những năm tháng cuối đời Thomas Jefferson mới có cơ hội được hưởng thụ cuộc sống hòa điệu cùng thiên nhiên.
Nếu như mọi người bình thường, có tài trí cao xa, họ thường sẽ mong muốn trở thành kiến trúc sư, nhà khoa học, nhà giáo dục, nhưng Jefferson hiểu rõ sứ mệnh lịch sử quan trọng, từ “Tuyên ngôn độc lập” đến “Dự luật Tự do Tôn giáo”, với trí tuệ vượt trước người đương thời, ông muốn nhắn nhủ cho người đời sau:
Tự do, gồm tự do tinh thần, tự do tôn giáo tín ngưỡng, không phải do chính quyền trao cho chúng ta, mà là Chúa hoặc Thần linh tạo dựng ra nhân loại trao cho chúng ta, không ai có quyền tước đoạt hay xâm phạm.
Với trí tuệ cao xa, bản tuyên ngôn tài hoa của Thomas Jefferson không chỉ là hòn đá tảng của nền dân chủ Mỹ mà còn là ngọn đèn tự do soi sáng cho thế giới. Người Mỹ có trách nhiệm kế tục sự nghiệp của cha ông để bảo vệ quyền tự do tôn giáo trên toàn thế giới, vì đây chính là nguồn cội của những quyền tự do khác.
Năm 1988, Quốc hội Mỹ đã thông qua “Luật Tự do Tôn giáo Quốc tế”. Theo luật này, Quốc vụ viện Mỹ đã sáng lập Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (United States Commission on International Religious Freedom). Ủy ban có trách nhiệm giám sát tình hình tự do tôn giáo trên toàn cầu, hàng năm đều có Báo cáo về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới, đưa ra kiến nghị về tình hình tự do tôn giáo với Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ.
Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (Ảnh: abcnews)
Ngày 4 tháng 7 năm 1826, vào lúc bản “Tuyên ngôn độc lập” tròn 50 năm, Thomas Jefferson đã hoàn thành sứ mệnh và lặng lẽ ra đi, chẳng lẽ đây chỉ là sự trùng hợp của lịch sử?
Ông đã để lại những áng văn bất hủ cổ vũ cho chúng ta, đặc biệt đã có rất nhiều người sống trong chế độ chuyên chế không tiếc phải trả giá bằng cả tính mạng của mình để đi theo con đường khai sáng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình.
(Tác giả: Zhang Di (张迪), Tiến sĩ Đại học Illinois, hiện là Giáo sư Văn hóa và Ngôn ngữ Trung Quốc).
Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung
Đoàn Thanh biên dịch

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vùng đất mua Louisiana


Vùng đất mua Louisiana bao gồm những phần đất của 15 tiểu bang hiện tại của Hoa Kỳ và hai tỉnh bang của Canada. Vùng đất mua này bao gồm tất cả các tiểu bang ngày nay là Arkansas, Missouri, Iowa, Oklahoma, Kansas, Nebraska, một phần của Minnesota nằm ở phía nam Sông Mississippi, phần lớn Bắc Dakota, gần toàn bộ Nam Dakota, đông bắc New Mexico, miền bắc Texas, một phần Montana, Wyoming, và vùng đất Colorado nằm bên phía đông Phân tuyến Lục điạ, và Louisiana ở hai bên bờ Sông Mississippi bao gồm thành phố New Orleans (Vùng cán chảo Oklahoma, và phần đất tây nam Kansas và Louisiana lúc đó vẫn còn bị Tây Ban Nha tuyên bố chủ quyền). Ngoài ra, vùng đất mua này gồm có những phần đất nhỏ mà dần dần sau đó trở thành một phần đất của các tỉnh bang Alberta và Saskatchewan của Canada. Vùng đất mua này chiếm khoảng 23% lãnh thổ của Hoa Kỳ ngày nay.
Vùng đất mua Louisiana nằm trong vạch đậm.
Việc mua đất này là một khoảnh khắc quan trọng trong nhiệm kỳ tổng thống của Thomas Jefferson. Vào lúc đó, việc mua vùng đất này phải đối mặt với sự phản đối từ trong nước và bị coi là vi hiến. Mặc dù cảm nhận rằng Hiến pháp Hoa Kỳ không có điều khoản nào nói đến việc mua bán đất nhưng Jefferson đã quyết định mua Louisiana vì ông cảm thấy khó chịu trước sức mạnh của Pháp và Tây Ban Nha ngăn cản lối giao thương của người Mỹ đến Hải cảng New Orleans.
Ngay sau khi kết thúc thỏa thuận Napoleon Bonaparte đã phát biểu rằng "Sự thỏa thuận về lãnh thổ này sẽ mãi mãi khẳng định sức mạnh của Hoa Kỳ, và tôi đã cho Anh Quốc một đối thủ cạnh tranh về biển mà sớm muộn gì cũng sẽ làm cho họ (Anh Quốc) bớt tính kiêu ngạo của họ."

Bối cảnh

Thành phố New Orleans kiểm soát Sông Mississippi ngay tại vị trí của nó; các nơi khác đã được dùng làm cảng thử nghiệm nhưng không thành công. New Orleans đã là một cảng quan trọng để chuyên chở nông sản đến và đi từ khắp các phần đất Hoa Kỳ nằm ở phía tây Dãy núi Appalachian. Qua Hiệp ước Pinckney ký với Tây Ban Nha vào ngày 27 tháng 10 năm 1795, các nhà buôn người Mỹ có "quyền tồn trử" tại New Orleans. Điều này có nghĩa là họ có thể dùng cảng này để chứa hàng hóa xuất khẩu. Người Mỹ cũng dùng quyền này để chuyên chở các sản phẩm như bột mì, thuốc lá, thịt heo, thịt bacon, mở heo, lông chim, rượu táo, bơ, và phó mát. Hiệp ước cũng công nhận quyền của người Mỹ đi lại trên toàn dòng Sông Mississippi mà vào lúc đó đã trở nên càng quan trọng trong việc giao thương đang phát triển của các lãnh thổ phía tây của Hoa Kỳ.[3] Năm 1798 Tây Ban Nha bải bỏ hiệp ước này khiến người Mỹ rất bất bình. Năm 1801, Thống đốc Tây Ban Nha Don Juan Manuel De Salcedo lên làm Thống đốc Hầu tước Casa Calvo, và quyền tổn trử hàng hóa của Hoa Kỳ được tái phục hồi hoàn toàn. Napoleon Bonaparte đã mang Louisiana trở về sự kiểm soát của người Pháp từ tay người Tây Ban Nha năm 1800 dưới Hiệp ước San Ildefonso (Louisiana đã là thuộc địa của Tây Ban Nha từ năm 1762). Tuy nhiên, hiệp ước được giữ bí mật và Louisiana vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Tây Ban Nha cho đến khi chuyển giao quyền lực về tay Pháp. Việc chuyển giao sau cùng xảy ra vào ngày 30 tháng 11 năm 1803, chỉ ba tuần trước khi nhượng lại cho Hoa Kỳ.
James Monroe và Robert R. Livingston đến Paris để thượng lượng việc mua bán vào năm 1804. Mối quan tâm và chú ý của họ chỉ duy nhất là bến cảng và những vùng đất xung quanh đó. Họ đã không dự đoán đến việc chuyển giao một vùng lãnh thổ rộng đến như thế xảy ra sau đó.

Các cuộc thương lượng

Viễn cảnh về "Louisiana" của một nhà vẽ bản đồ đương thời. Vùng đất này có rìa phía Tây chạm Dãy núi Rocky.
Hiệp ước gốc của Vùng đất mua Louisiana.
Tổng thống Jefferson đã đặt nền móng cho việc mua bán này bằng việc phái Livingston đến Paris năm 1801 sau khi khám phá ra việc chuyển giao Louisiana từ Tây Ban Nha sang cho Pháp. Sứ mệnh của Livingston là phải theo đuổi việc mua lại thành phố New Orleans nhưng ông đã bị người Pháp cự tuyệt.
Năm 1802, Pierre Samuel du Pont de Nemours được tuyển mộ để giúp việc thương lượng. Du Pont vào lúc đó đang sống tại Hoa Kỳ và có quan hệ gần gũi với Jefferson cũng như các thế lực chính trị tại Pháp. Ông đã tiến hành ngoại giao bí mật với Napoleon trên danh nghĩa của Jefferson trong chuyến viếng thăm cá nhân của ông đến Pháp. Ông đã khởi sự cái ý tưởng mua vùng đất Louisiana rộng lớn hơn nhiều như một cách để giảm bớt sự xung đột tiềm ẩn giữa Hoa Kỳ và Napoleon tại Bắc Mỹ.
Jefferson không thích ý tưởng mua Louisiana từ tay Pháp vì như vậy giống như có ý công nhận Pháp có quyền hạn tại Louisiana. Là một người bảo thủ, Jefferson cũng tin rằng một tổng thống Hoa Kỳ không có quyền tiến hành một cuộc thương lượng mua bán như thế vì điều đó không có ghi trong hiến pháp và ngoài ra nếu làm vậy sẽ làm giảm bới quyền của tiểu bang bằng cách gia tăng quyền lực của hành pháp liên bang. Mặc khác, ông nhận thức về mối đe dọa tiềm ẩn từ một quốc gia kề cận như Pháp đối với quốc gia non trẻ, và chuẩn bị tiến hành chiến tranh để ngăn cản sự hiện diện của nước Pháp hùng cường trong vùng. Trong lúc đó, Bộ trưởng Ngoại giao của Napoleon Charles Maurice de Talleyrand chống đối quyết liệt việc bán vùng đất Louisiana vì như vậy đồng nghĩa với việc kết thúc các chương trình bí mật của Pháp cho một đế quốc Bắc Mỹ.
Trong suốt thời kỳ này, Tổng thống Jefferson luôn nhận được tin tình báo cập nhật về những ý định và hoạt động quân sự của Pháp tại Bắc Mỹ. Một phần chiến lược biến hóa của ông là cho du Pont biết những thông tin mật mà Livingston cũng không được biết đến. Ông cũng cố tình cho những chỉ thị trái ngược nhau đến hai người. Bước kế tiếp ông phái Monroe đến Paris năm 1803. Monroe trước đây từng bị Pháp trục xuất trong sứ mệnh ngoại giao cuối cùng, và việc chọn lựa phái ông đi Paris lần nữa có ý nghĩa truyền đạt cho người Pháp thấy sự nghiêm chỉnh của cuộc thương lượng.
Napoleon đang đối mặt trước sự bại trận của quân đội ông tại Saint-Domingue (ngày nay là Cộng hòa Haiti) nơi một lực lượng viễn chinh dưới quyền của anh rể ông là Charles Leclerc đang cố tìm cách tái lập trật tự sau một cuộc nỗi loạn của người nô lệ. Cuộc nổi loạn này đang đe dọa thuộc địa sinh lợi nhiều nhất của nước Pháp.
Các cuộc xung đột chính trị tại Guadeloupe và tại Saint-Domingue phát triển song song với việc phục hồi chế độ nô lệ vào ngày 20 tháng 5 năm 1802, sự đào vong của các sĩ quan lãnh đạo của Pháp như tướng da đen Jean-Jacques Dessalines và sĩ quan da trắng lai da đen Alexandre Pétion vào tháng 10 năm 1802 cùng với khung cảnh của một cuộc chiến tranh du kích đang diễn ra. Người Pháp thành công trục xuất Toussaint L'Ouverture về Pháp tháng 6 năm 1802, nhưng bệnh sốt huyết vàng đã hủy hoại quân đội châu Âu và giết chết Leclerc vào tháng 11.
Thiếu lực lượng quân sự tại Bắc Mỹ, Napoleon cần hòa hoản với Vương quốc Anh để thực thi Hiệp ước San Ildefonso và thâu tóm Louisiana. Ngược lại, Louisiana sẽ là một miếng mồi dễ nuốt cho người Anh hoặc thậm chí người Mỹ. Vương quốc Anh đã không giữ lời hứa của họ rời bỏ Malta vào tháng 9 năm 1802 như đã qui định trong Hiệp ước Amiens. Đầu năm 1803, chiến tranh giữa Pháp và Anh dường như càng ngày càng không thể tránh khỏi. Ngày 11 tháng 3 năm 1803, Napoleon quyết định xây dựng một hải đoàn gồm nhiều xà lan để xâm chiếm Anh Quốc.
Các tình thế như vậy đã khiến Bonaparte từ bỏ các kế hoạch xây dựng đế quốc Tân Thế giới của Pháp. Napoleon chỉ thị cho bộ trưởng ngân khố của ông là François de Barbé-Marbois vào ngày 10 tháng 4 năm 1803 rằng ông đang xem xét việc từ bỏ Lãnh thổ Louisiana lại cho Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 4 năm 1803, chỉ vài ngày trước khi Monroe đến, Hầu tước de Barbé-Marbois nói với Livingston rằng Pháp muốn bán cả Lãnh thổ Louisiana thay vì chỉ có Thành phố New Orleans. Tổng thống Jefferson đã chỉ thị Livingston mua chỉ mỗi Thành phố New Orleans. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận một cuộc giao dịch lớn như vậy.
Các nhà thương lượng Mỹ đã chuẩn bị chi 10 triệu đô la cho Thành phố New Orleans nhưng phải điếng người khi toàn bộ vùng Louisiana được ra giá là 15 triệu đô la. Hiệp ước được ghi là ngày 30 tháng 4 năm 1803 và được ký vào ngày 2 tháng 5. Ngày 14 tháng 7 năm 1803, hiệp ước đến Washington D.C. Lãnh thổ Louisiana rất rộng lớn, trải dài từ Vịnh Mexico ở miền nam đến Rupert's Land ở miền bắc, và từ Sông Mississippi ở miền đông đến Dãy núi Rocky ở miền tây. Việc mua lãnh thổ này đã làm tăng gấp đôi lãnh thổ của Hoa Kỳ với cái giá vào lúc đó là dưới 3 xu một mẫu Anh.
Hầu như tất cả vùng đất này đều có người bản thổ Mỹ sinh sống và từng phần đất lại được mua lại lần thứ hai từ tay người bản thổ Mỹ. Giá tiền thật sự được trả cho Vùng đất mua Louisiana vì thế cao hơn giá tiền đã trả cho Pháp. Tuy nhiên giữa người mua và người bán lại không có tham khảo ý kiến của bất cứ bộ lạc người bản thổ nào vì thế đa số người bản thổ Mỹ không hề biết là có chuyện mua bán vùng đất họ vẫn đang sinh sống.

Phản đối trong nước

Việc Hoa Kỳ mua lãnh thổ Louisiana không được suông sẻ vì có sự phản đối từ trong nước. Triết lý sống kiên định theo luật pháp của Tổng thống Jefferson bị nghi ngờ vì đã diễn giải một cách sai lệch Hiến pháp Hoa Kỳ. Nhiều người tin rằng ông là kẻ đạo đức giả và cố tình làm những việc mà ông sẽ có thể tranh cải được để chống Alexander Hamilton. Những người theo chủ nghĩa liên bang chống đối kịch liệt việc mua bán này vì muốn có quan hệ tốt đẹp với Anh Quốc hơn là Napoleon. Họ tin rằng việc mua bán này là vi hiến và quan tâm rằng Hoa Kỳ đã trả một số tiền lớn để tuyên chiến với Tây Ban Nha. Những người theo chủ nghĩa liên bang cũng sợ rằng thế lực chính trị của các tiểu bang vùng bờ biển Đại Tây Dương sẽ bị đe dọa bởi các tân công dân ở phía tây dẫn đến một cuộc xung đột giữa các nông gia miền tây và các thương gia, nhà băng của vùng Tân Anh Cát Lợi. Cũng có một mối quan tâm khác rằng các tiểu bang mới chấp nhận chế độ nô lệ sẽ được gia tăng và phát triển từ lãnh thổ mới mua này sẽ càng gia tăng sự chia rẻ giữa miền bắc và miền nam. Một nhóm người theo chủ nghĩa liên bang dưới sự lãnh đạo của Thượng nghị sĩ của Massachusetts là Timothy Pickering đi xa hơn với kế hoạch thành lập một liên hiệp các tiểu bang miền bắc riêng biệt và hứa hẹn với Phó Tổng thống Aaron Burr chức tổng thống của tân quốc gia nếu như Burr có thể thiết phục New York gia nhập vào liên hiệp. Mối quan hệ của Burr với Alexander Hamilton, người giúp kết thúc phong trào ly khai mới phôi thai ở miền bắc, trở nên tồi tệ trong thời kỳ này. Mối thù nghịch giữa hai người đã dẫn đến cái chết của Hamilton trong một cuộc đấu súng giữa hai người vào năm 1804.

Ký kết hiệp định

Tại hội chợ triển lãm một trăm năm Vùng đất mua Louisiana, một họa sĩ đã tưởng tượng cuộc ký kết hiệp ước như được thấy trong hình.
Ngày 30 tháng 4 năm 1803, Hiệp ước về Vùng đất mua Louisiana được ký kết bởi Robert Livingston, James Monroe, và Barbé Marbois tại Paris. Jefferson thông báo hiệp ước này với nhân dân Mỹ vào ngày 4 tháng 7. Sau khi ký kết thỏa thuận về việc mua bán này vào năm 1803, Livingston đã phát biểu một câu nói nổi tiếng "Chúng ta đã sống lâu rồi nhưng đây là một công việc cao quí nhất cả đời người của chúng ta...Hoa Kỳ ngày nay đứng hạng trong số các cường quốc đầu tiên của thế giới". Thượng viện Hoa Kỳ thông qua hiệp ước này trong một cuộc biểu quyết với kết quả 24-07 vào ngày 20 tháng 10. Ngày hôm sau, thượng viện cho phép Tổng thống Jefferson nắm quyền sở hữu lãnh thổ và thiết lập chính quyền quân sự lâm thời. Theo luật được ban hành ngày 31 tháng 10, Quốc hội lập ra các điều khoảng tạm thời cho chính quyền dân sự địa phương tiếp tục như còn thời dưới quyền của Pháp và Tây Ban Nha và cho phép Tổng thống dùng các lực lượng quân sự để duy trì trật tự. Các kế hoạch đã được đưa ra cho một sứ mệnh thám hiểm và vẽ bản đồ lãnh thổ này. Sứ mệnh sau đó được biết như là Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark.
Pháp trao New Orleans vào ngày 20 tháng 12 năm 1803 tại The Cabildo. Ngày 10 tháng 3 năm 1804, một buổi lễ chính thức được tiến hành tại St. Louis để chuyển sở hửu lãnh thổ từ Pháp sang cho Hoa Kỳ.
Có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 1804, lãnh thổ mua được này được tổ chức thành Lãnh thổ Orleans (phần lớn trở thành tiểu bang Louisiana) và Địa khu Louisiana tạm thời nằm dưới quyền của thống đốc và các thẩm phán của Lãnh thổ Indiana.

Ranh giới

Các con sông nhánh của Sông Mississippi được giữ làm các ranh giới. Theo ước tính từng tồn tại thì tầm rộng và bộ phận của vùng đất mới mua này ban đầu được dựa theo những chuyến thám hiểm của Robert LaSalle.
Nếu lãnh thổ này bao gồm tất cả các con sông nhánh của sông Mississippi bên bờ phía Tây thì giới hạn phía Bắc của vùng đất mới mua kéo dài vào trong phần đất đang sở hữu nhưng chưa được định rỏ của người Anh - đó là vùng Rupert's Land của Bắc Mỹ thuộc Anh, hiện nay là một phần đất của Canada. Vùng đất mới mua này ban đầu trải dài tới vĩ tuyến 50 độ. Tuy nhiên, phần đất phía bắc vĩ tuyến 49 độ Bắc như Lưu vực Sông Red, Sông Milk (Montana-Alberta), và lưu vực Sông Poplar bị nhượng lại cho Vương quốc Anh theo Hiệp ước 1818.
Ranh giới phía đông của vùng đất mới mua Louisiana là sông Mississippi từ thượng nguồn của nó đến vĩ tuyến 31 mặc dù thượng nguồn của Sông Mississippi lúc đó chưa được biết đến. Ranh giới phía đông dưới vĩ tuyến 31 độ thì không rỏ ràng. Hoa Kỳ tuyên bố chủ quyền vùng đất xa đến Sông Perdido, và Tây Ban Nha tuyên bố chủ quyền ranh giới của Thuộc địa Florida nằm trên Sông Mississippi. Đầu năm 1804, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Mobile nhìn nhận Tây Florida là một phần của Hoa Kỳ. Hiệp ước Adams-Onís năm 1819 giải quyết được vấn đề này. Ngày nay, vĩ tuyến 31 độ là ranh giới phía bắc của nữa phần phía tây của vùng Cán chảo Florida và Sông Perdido là ranh giới giữa Florida và Alabama.
Vùng đất mới mua này trải rộng về phía tây đến Dãy núi Rocky, đặc biệt là Phân tuyến Lục địa nhưng một phần duy nhất ở phía nam vẫn thuộc Tân Tây Ban Nha.
Ranh giới miền Nam của Vùng đất mua Louisiana (đối diện với Tân Tây Ban Nha) ban đầu không rỏ ràng vào thời gian mua bán. Hiệp ước Trung lập năm 1806 tạo ra Tiểu quốc Tự do Sabine trong thời gian lâm thời và Hiệp ước Adams-Onís năm 1819 bắt đầu tiến hành phân ranh giới chính thức.
Vùng đất mua là một trong số những vùng đất được thêm vào lãnh thổ Hoa Kỳ.

Tài chính

Chính phủ Hoa Kỳ dùng số lượng vàng có giá trị 3 triệu đô la Mỹ để đặt cọc và các trái phiếu cho phần tiền còn lại phải trả cho Pháp. Vì chiến tranh sắp xảy ra với Anh Quốc, các ngân hàng của Pháp không mua bán trái phiếu của Mỹ. Các nhà ngoại giao Livingston và Monroe vì vậy đã giới thiệu các hãng Baring and Company của London và Hope and Company của Amsterdam mà Pháp đồng ý để làm giao dịch. Vì các công ty này nổi tiếng như là hai nhà tài chính vững vàng nhất tại châu Âu và vì Napoleon muốn nhận tiền của ông ta nhanh càng sớm càng tốt nên bộ trưởng ngân khố Pháp Barbé-Marbois đã xếp đặt cùng với hai công ty này để đổi trái phiếu mà Pháp nhận thành tiền mặt. Sau khi trái phiếu của Mỹ được giao, chính phủ Pháp liền bán lại cho Baring và Hope ở một giá rẻ hơn. Một phần của giá bán 80 triệu Franc (khoảng 15 triệu đô la Mỹ) được dùng để trừ nợ mà Pháp thiếu Hoa Kỳ. Cuối cùng Pháp nhận 8.831.250 tiền mặt cho thỏa thuận mua bán.
Tài liệu gốc việc mua bán vùng đất Louisiana được trưng bày tại đại sảnh chính của các văn phòng London của công ty Baring cho đến khi nó phá sản vào năm 1995.

Phần nhận xét hiển thị trên trang