Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Chợ “chồm hổm”


https://baomai.blogspot.com/ 

Với tôi, ở Mỹ sướng nhất là quanh năm chẳng ai dòm tới mình và mình cũng chẳng dòm tới ai.

Tại Houston (Texas) tôi ở một mình căn hộ 4 buồng cư xá Golf Green, ra vào bấm code mở cổng như ba-ri-e xe lửa. Trộm đứng ngoài nhìn vào mà khóc. Có lần đi chơi xa vài ngày quên không đóng cửa, tưởng đồ đạc bị khuân hết, ngờ đâu chẳng suy suyển gì . Khu cư xá nằm trong sân gôn ngay giữa thành phố mà suốt ngày vắng ngắt.  Mỗi tuần hai lần kéo thùng rác ra cửa, hoạ hoằn gặp hàng xóm giơ tay “say hello”  rồi  lại tụt vào nhà bấm nút hạ cổng sắt xuống là chẳng ai thấy ai. Vào dịp lễ như Tạ Ơn, Giáng Sinh, tết Dương lịch…nhà nào nhà nấy chăng đèn kết hoa ở …ngoài cổng. Tối đến đèn bật sáng trưng nhưng tụ tập hết trong nhà, chẳng ai thò mặt ra nên đường xá vắng tanh. Hoạ hoằn mới gặp đôi vợ chồng già người Đài Loan bên hàng xóm dắt nhau liêu xiêu tản bộ trên con đường vắng.

https://baomai.blogspot.com/
Note: hình trong bài này là minh họa

Vào dịp giáp Tết, thời tiết Houston na ná như Sapa ở ta , rét có lúc không độ nhưng vẫn nắng vàng hoe và trời xanh ngăn ngắt. Trừ lúc phóng xe ra Fiesta ( chợ Mễ) mua thức ăn, suốt ngày tôi ngồi thu lu trong nhà hoặc ra vườn…sưởi nắng. “Khách”  duy nhất trong ngày chỉ có…đàn vịt. Chúng sống ở hồ nước trong sân gôn. Con nào con nấy mập thù lù. Tôi thường đổ cơm thừa ra hàng rào cho chúng tới ăn thành quen, cứ gần trưa là kéo nhau đến “cạc, cạc” ỏm tỏi. Có hôm anh Hùng, bạn tôi ở khu Memorial, khu nhà giàu, tới thăm. Thấy tôi chơi với vịt, anh kêu lớn :

https://baomai.blogspot.com/

“ Này chớ có xớ rớ tiết canh con nào mà chết đó…”

Tôi cười cười :

“ Vịt  hoang mà…của ai đâu mà lo !”

Hùng trợn mắt :

“ Hoang cũng không được thịt. Dân ở đây biết nó gọi điện cho “county”  là cảnh sát tới phạt liền…”

Thảo nào đàn vịt đông thế, con nào con nấy béo hú mà cả tháng chẳng thấy suy suyển. Dân nhậu quê tôi mà vớ được thì phải biết, cho lên đĩa hết…

https://baomai.blogspot.com/

Hùng nhìn ra khoảnh vườn trơ trọi  rủ rê :

“ Vườn rộng thế sao không mua ít cây giống về trồng .”

“ Ở Mỹ cũng có bán cây giống ?”

“ Người giống cũng có huống hồ cây giống…”

Thấy mặt tôi thộn ra, Hùng hớn hở giải thích :

“ Giả dụ ông là chồng già, vợ còn trẻ, muốn có con nhưng ông lại hết con ”cung quăng”. No problem…nó sẵn sàng bán giống cho ông cấy vào bụng vợ. Giả dụ vợ ông bốn chục cái lá vàng rơi mà vẫn hám có con. No problem…nó cho ông thuê bụng để cấy giống của ông bà vào. Đẻ thuê ở bên này đã trở thành dịch vụ có giá đó.”

Tôi nghe bùi tai, hôm sau theo Hùng leo lên xe phóng tới trại cây giống. Trại cách trung tâm chừng hơn nửa giờ chạy xe, rộng bát ngát, vừa bước chân vào đã hoa cả mắt vì các loại kỳ hoa dị thảo. Nào phong lan, nào cúc vạn thọ, nào mãng đình hồng, nào vạn niên thanh…Rồi cây táo, cây bưởi, cây cam….không thiếu cây gì. Khách mua cây chẳng khác gì mua đồ trong siêu thị. Cũng lấy một cái xe tự đẩy sâu vào  vườn chọn cây . Ưng cây nào tự bưng lên xe. Chọn xong đẩy xe ra quầy thanh toán tiền. Nói thì gọn vậy nhưng vườn rộng mênh mông chia thành nhiều lô tuỳ theo các loại cây, đẩy xe toát mồ hôi mới rảo xong một góc. Hùng lôi tôi đi rạc cẳng mới chọn được hơn chục chậu, đẩy ra chỗ tính tiền, chủ Mỹ chặt hơn trăm đô làm tôi méo cả miệng :

“ Í trời ôi… chỗ cây này ở Việt Nam giỏi lắm là 200 ngàn tức 10 đô chứ mấy.”

Hùng càm ràm :

“ Ông tiêu tiền ở Mỹ cứ quy ra tiền Việt thì đố ông dám mua gì. “

https://baomai.blogspot.com/

Tôi phì cười. Còn nhớ hồi mới sang đi chợ mua mớ hành 1 đô quy ra tiền ta là 16 ngàn, mớ thìa là 2 đô quy ra là 32 ngàn, nửa ký thịt bò 10 đô tính ra trăm sáu…mới sơ sơ vài món tính sang tiền Việt đã hết triệu bạc . Rồi ăn phở nữa. Chơi tô lớn, thêm cái hột gà cộng thêm tiền “bo” là mất đứt 12 đô gần 200 ngàn mà thua phở Nam Ngư Hà Nội là cái chắc. Sau tôi phải quên đi, không quy tiền Mỹ sang tiền Việt nữa mới dám đi chợ. Chợ Mỹ bao giờ cũng đắt hơn chợ Việt. Chợ Việt lại đắt hơn chợ Mễ. Thế là cứ nhằm chợ Mễ mà mua dù rau cỏ không phong phú bằng chợ Việt.

https://baomai.blogspot.com/

Đánh xe ra khỏi trại cây, Hùng cười bí mật :

“ Tớ có món này hay lắm…dám chơi không ?” 

Mắt tôi sáng rực :

“ Thịt chó hả ?”

“ Oh My God…vợ tớ có chân trong hội animal right.. nó thì giết…thì giết…”

“ Tiết canh dê à ?”

Hùng cười hô hố :

“ Gần đúng. Tiết canh vịt.  Lòng lợn mắm tôm. Và còn cái này nữa mới độc …”

Tim tôi đập thình thịch :

“ Rươi hả ? ối trời ôi chả rươi vỏ quýt …”

Hùng lắc quày quạy :

“Mùa này kiếm đâu ra rươi ? Lá húng…húng Láng hẳn hoi…”

Tôi giật mình :

“ Ấy chết…hải quan Mỹ khám được phạt mấy chục ngàn tội mang cây cỏ vào Mỹ đó…”

“ Bà mẹ vợ tớ điếc không sợ súng. Biết ông con rể ham ăn nên giấu một mớ dưới đáy va li gửi baggage. Nào, lên đường …”

Hùng hăm hở đánh xe chạy xa khỏi thành phố. Xe rẽ vào một cánh rừng thưa , băng qua cổng một khu đất có vẻ trang trại rồi dừng trước ngôi nhà gỗ. Chủ nhân trạc ngoài 50, vạm vỡ lực điền reo lên mừng rỡ :

“ May quá vừa xong xuôi hết. Xin mời vào…”

Phòng khách sơ sài với bộ bàn ăn, cái bếp ga chẳng khác gì vùng quê Việt Nam. Ông chủ mở tủ lạnh bưng ra một đĩa tiết canh đỏ lự và một đĩa thịt vịt chặt khẩu mía. Ông vỗ hai tay vào nhau vui vẻ :

https://baomai.blogspot.com/

“ Tế sớm khỏi ruồi…xin mời…xin mời… ”

Hùng rót rượu ra ly, giơ cao :

“ Nào…hai ông…một ông lính Bắc Kỳ…một ông lính Nam Kỳ…cụng ly với nhau  trên đất Mỹ để hoà hợp dân tộc …”

Hoá ra Quân, chủ nhà, theo lời kể của Hùng, ngày xưa là đại uý Lữ đoàn 258 Thuỷ Quân Lục Chiến  đã từng hành quân ở Ba Gia, Quảng Ngãi , Bời Lời Tây Ninh… Quân cụng ly tôi cái cốp, cất giọng :

“ Ngày trước, hồi tôi còn ở đơn vị…”

Bất chợt Quân nhìn mặt tôi, hơi ngẩn ra rồi cười phá :

“ Ông yên trí… tôi không kể chuyện “hồi ấy” tôi đóng chức gì, chỉ huy ở đâu , chiến đấu ra sao đâu ? Ông sang đây chắc nghe nhiều chuyện “hồi ấy” nên mới thoáng hai tiếng đó đã xanh mặt lại kìa. Tôi chỉ muốn kể chuyện “hồi ấy” tôi cũng đánh…tiết canh vịt nhưng lần nào cũng hỏng. Sau có thằng lính mách tôi muốn tiết đông đẹp, mầu sắc tươi rói, đại uý cứ nhỏ vào tiết vài giọt …nước tiểu. Bí quyết nhà nghề đó.  Quả nhiên thành công mỹ mãn…”

Hùng kêu toáng :

“ Vậy rồi đĩa tiết này ông có áp dụng “công nghệ” đó không ?”

Quân cười  lắc đầu :

“ Đã sang Mỹ rồi ai còn làm trò man rợ vậy ? Tiết canh này tôi hãm bằng nước mắm với nước xôi đúng theo công nghệ các cụ ta.”

Sau món tiết canh, vịt luộc chấm nước mắm tỏi, Quân bưng ra món lòng lợn mắm tôm và sau cùng là giả cầy ăn với bún. Chẳng khách sáo gì, cả ba chúng tôi chén chú chén anh, hăm hở lao vào “tiêu diệt” sạch . Tôi khoái nhất món giả cầy, thật không ngờ trên đất Mỹ cũng có giềng, có mẻ . Quân lắc quày quạy :

https://baomai.blogspot.com/

“ Không không…giềng thì có, mẻ thì không, tôi thay bằng…yaourt đó…”

Tôi ngạc nhiên :

“ Yaourt…tức sữa chua ?”

Quân gật đầu :

“ Chứ sao ? Anh ăn có thấy thua gì mẻ không ?”

“ Bái phục, bái phục…còn hơn cả mẻ nữa kìa…”

Lúc chia tay, Quân có vẻ bịn rịn :

“ Chủ nhật tới lại mời hai ông xuống đây xơi đặc sản …”

Hùng vui vẻ :

“ Xin nhận lời cả hai tay. Nhưng còn món gì nữa đây ?”

Quân long trọng :

“ Lợn, bò, gà vịt ăn cả rồi. Tuần tới phải rờ tới món… quốc hồn quốc tuý…”

Hùng kêu to :

“ Cày tơ ?”

“ Đúng thế …tuần tới xin đãi hai ông thịt chó…”

https://baomai.blogspot.com/

Hùng giơ cả hai tay lên trời :

“ Oh My God…thiệt không ? Ông nói thiệt không ?

“ Thiệt chớ sao không ? Tuần tới không có cái món “cờ tây” đó xin cứ đem đầu tôi ra chặt !”
Tôi thắc mắc :

“ Thịt chó berger à ?”

Quân lắc quày quạy :

“ í trời, ai thèm, gây  bỏ mẹ. Tôi đãi hai ông cày ta đàng hoàng …”

Ra khỏi nhà Quân, Hùng lắc đầu :

“ Bên Mỹ này đa số sợ cholesterol , tiểu đường . Anh nào cũng kè kè cái máy đo. Riêng cha Quân này đớp xả láng. Tôm, cua, óc lợn…toàn những thứ dầy đặc cholesterol mà cha cứ chén tì tì…”

Tuần sau Hùng lại tới nhưng không rủ tôi tới nhà Quân ăn thịt cày mà lại đi tận … New Orleans xa tới 6 giờ chạy xe. Quân bảo tới đó dự ngày Mardi Gras của dân Mỹ gốc Pháp rồi đi chợ “chồm hổm”, đặc sản không đâu có của bà con Việt kiều trên đất Mỹ.

Tôi bùi tai OK liền. Thế là hai anh em trên một chiếc xe VAN phăm phăm chạy trên hệ thống xa lộ chằng chịt miền Tây Nam nước Mỹ. Hùng không thạo đường, bù lại anh có hộp định vị vệ tinh GPS toàn cầu ( Global Positional Satellite ) đi tới đâu có tiếng nói trong hộp chỉ đường tới đó, thật chẳng khác gì con ma xó. Hoá ra cái hộp quái quỷ này cũng không đắt lắm, bỏ ra $200 mua nó mình có thể chu du khắp nước Mỹ mà không sợ lạc. Đường xá ở Mỹ có hệ thống biển báo thật hết chỗ chê. Mấy ngày đầu cứ hoa cả mắt vì đèn xanh đèn đỏ nhưng dần dà rồi cũng quen hoá ra hệ thống tín hiệu giao thông chi li chặt chẽ đến thế này thì cảnh sát giao thông đến thất nghiệp. Quả thực chạy xe cả mấy tiếng đồng hồ, qua bao nhiêu là thị trấn, đường giao…mà chẳng thấy chú cảnh sát nào, thật chẳng bù cho Việt Nam ta cứ ra ngõ là gặp mấy chú.

Hùng cho xe ghé trạm đổ xăng, bơm xe… tuốt tuột đều dùng máy tự phục vụ . Xem ra tiết kiệm nhân lực là một cố gắng lớn của người Mỹ. Chỉ những phần việc máy không làm hết  phải có con người nhúng tay vào như làm cỏ vườn, dọn dẹp nhà cửa… mới phải dùng tới … “người Mễ” sáng sáng tập trung đầy ở các “chợ lao động” gần công viên, cây xăng, đa số nhập cư lậu , Sở di trú biết thừa mà lờ đi vì nếu làm dữ lấy ai làm “cỏ vê” cho dân Mỹ ?

Tôi vào tiệm mua hai ổ bánh mì kẹp thịt rồi lại tiếp tục rong ruổi trên đường thiên lý. Gần tới thành phố New Orleans, Hùng chỉ tôi coi một mái vòm khổng lồ bên tay trái xa lộ :

“ Superdome đó….sân vận động lớn nhất thế giới . Hồi bão Katrina dân Mỹ chạy vào đây tránh bão …”

Hùng kể vào tháng 9 năm 2005, cơn bão Katrina với sức gió 170 km/ giờ, gây thiệt hại 300 tỉ USD - tức vượt quá chi phí  Mỹ bỏ ra cho 2 cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq trong vòng 4 năm, ngay ngày đầu đã làm vỡ đê khiến New Orleans ngập sâu tới vài mét. Dù có lệnh cưỡng bức di tản, nhưng hàng trăm ngàn người vẫn mắc kẹt do không kịp hay không có phương tiện. Hai mươi lăm ngàn người phải trú tạm nhiều ngày trong điều kiện thiếu thốn và mất vệ sinh tại sân vận động có mái che Superdome này. Tôi ngoái nhìn cái mái vòm khổng lồ cố tưởng  tượng ra cơn cuồng phong gào rú quanh đây.

https://baomai.blogspot.com/

New Orleans, dân ta gọi là Ngọc Lân, trung tâm công nghiệp và cảng biển,  lớn nhất tiểu bang Louisiana, giữa bờ sông Mississippi và hồ Pontchartrain.Thành phố  được đặt tên theo Philippe II, Công tước Orleans, công tước nhiếp chính Pháp,và là một trong những thành phố cổ nhất nước Mỹ. New Orleans có riêng một  khu phố Pháp ( French Quartier) trong đó phố Bourbon với những ban công, đường phố mang dáng dấp “phố tây” cổ ở Hà Nội, san sát cửa hàng, cửa hiệu, khách sạn mang tên Pháp. New Orleans là cái nôi ra đời và phát triển của nhạc Jazz. Louis Armstrong, nhạc sĩ Jazz vĩ đại nhất của mọi thời đại chọn nơi này khởi đầu sự nghiệp âm nhạc lừng lẫy của mình từ những năm 20. Và lịch sử sơ khai  thể loại nhạc này cũng được nghiên cứu và ghi chép đầy đủ nhất nơi đây chứ không phải bất kỳ nơi nào khác. New Orleans còn là nơi mại dâm được hoạt động hợp pháp với một số “Nhà Thể Thao” (tiếng lóng chỉ Nhà Thổ) thuộc loại tinh tế và lịch sự nhất nước Mỹ.

https://baomai.blogspot.com/

Hùng đưa tôi trọ một khách sạn nhỏ phố Bourbon. Mardi Gras  là lễ hội đặc trưng của New Oleans với ẩm thực, hoá trang  và nhạc jazz. 

Ngày mai mới lễ chính nhưng cả đêm hôm đó từng tốp du khách đã chơi nhạc jazz và nhảy nhót  suốt đêm . Thành phố đã hồi sinh sau cơn bão Katrina, vào dịp này, ít nhất 23.000 phòng trong tổng số 28.000 phòng toàn thành phố  đã có khách trọ.

Sáng sớm hôm sau, Hùng đánh thức tôi dậy xuống nhà ăn sáng “miễn phí” rồi đi chợ Pháp ( French Market) mua mấy thứ lưu niệm . 

Chúng tôi thả bộ dọc theo phố Crescent City dọc bờ sông Missisippy qua những đám hát múa, vẽ chân dung, thổi kèn…san sát hai bên đường. Cảnh sát đi ngựa xuất hiện nhưng không phải để dẹp trật tự mà chính là phô diễn một nét văn hoá đẹp cổ xưa . Ở vườn hoa tôi bắt gặp một đám các bà già hoá trang thành những cô gái “thi hoa hậu” trong trang phục áo tắm . Bia chảy như suối và các bếp nướng ngoài trời đủ món bốc khói nghi ngút. Quá nhiều đồ uống nhiều thức ăn khiến dân Mỹ phải chiến đấu với cái “dạ dầy” rất quyết liệt mà người vẫn béo phì. Quả thực cố tìm trong đám đông mà hiếm thấy cô gái nào ở tuổi thiếu nữ lại có vòng 2 dưới …1 mét. Nghe tôi phàn nàn, Hùng bật cười :

“ Thiếu nữ mình ve dáng liễu phải ở New York hoặc Washington DC trong Mỹ quý tộc mới có nhiều kìa…”

Đi bộ mỏi chân mới ghé quán Cafe du Monde – trung tâm văn hoá Pháp ở French Quartier này. Phải chờ mãi mới có chỗ ngồi để vừa nhâm nhi ly cà phê vừa thưởng thức một dàn nhạc jazz chơi hết mình. Lúc đứng dậy, ngoài tiền cà phê, tôi tự nguyện móc túi trả thêm $20 nữa để được nhận bộ ly kỷ niệm của quán cà phê nổi tiếng thế giới dẫu rằng cũng chẳng ngon hơn cà phê Ban Mê Thuột là mấy .

https://baomai.blogspot.com/

Sáng hôm sau trước khi rời New Orleans chúng tôi ghé khu Versaille, nơi tập trung đông bà con Việt kiều. Hùng chạy xe chầm chậm theo con phố ven biển. Khu trung tâm sầm uất đã lui lại phía sau. Vết tích của cơn bão năm trước dần dần lộ rõ. Hai bên đường những dãy nhà, những công xưởng , những trạm xăng …đổ nát vẫn bỏ hoang. Có rất nhiều người đã bỏ đi sau cơn bão và không quay trở về . Chúng tôi đi qua một thị trấn hoang vắng và đổ nát, ghé một xóm nhỏ ven biển.  Hoá ra cả một vùng dân Mỹ bỏ đi hết nhưng dân Việt mình vẫn trụ lại. Những đường phố vắng lạnh, tôi nhìn thấy biển phố mang tên Sàigòn trơ trọi bên dãy nhà hoang. Và rồi đột ngột trước mắt tôi là một xóm nhỏ. Đây là bà con dân chài trôi dạt mãi từ Vũng Tàu – Long Hải sang đây lập nghiệp. Cơn bão quái ác Katrina đã cướp đi tất cả – thuyền tàu, lưới đánh cá, cơ sở chế biến và cả nhà ở lẫn người đàn ông trong gia đình. Vậy nhưng bà con vẫn trụ lại.

Trên một mảnh đất trống có rất nhiều người ngồi “chồm hổm”  bày ra những mẹt hàng đủ loại nào gạo, nào rau tươi, nào tôm cá, cả những mặt hàng “thuần Việt” như bánh trưng, bánh tét, bánh cuốn thật không thể tưởng tượng lại xuất hiện nơi cùng trời cuối đất trên xứ Mỹ này.

https://baomai.blogspot.com/
Người đứng cười toe bên góc chợ chồm hổm chính là tác giả tiểu thuyết "Đi về nơi hoang dã"!

Một bà mẹ áo nâu xồng, chít khăn mỏ quạ, run run giọng trong mưa lạnh :

“ Bão làm tan tành hết trơn rồi. Giờ bán ba con tôm  qua ngày . Con mua giùm má đi…”

Tôi nghẹn lời :

“ Sao má không di cư sang Houston như những người khác ?”

“ Má sang đây vài chục năm nay rồi. Mồ mả người thân cũng chôn đây rồi. Đời người đã một lần đi tìm quê hương mới. Đành  trụ lại đây chứ còn biết đi đâu …”

https://baomai.blogspot.com/

Hoá ra chợ “chồm hổm” nổi tiếng trên đất bão ở nước Mỹ là đây. Tôi bước đi trong xóm nhỏ đã thấy ánh đèn le lói trong những căn nhà dựng lại. Xóm đạo người Việt mình rồi sẽ lại hồi sinh, chiều chiều sẽ lại vang lên tiếng chuông nhà thờ, tiếng cầu kinh, tiếng trẻ thơ oe oe  như thời trước bão. Ở nơi cùng trời cuối đất này tôi chợt thấy một cách hết sức cụ thể sức sống muôn đời bất diệt của dân tộc mình. 

Bất chấp bão tố, biển cả và muôn ngàn bất hạnh  …vượt lên trên tất cả vẫn là sức sống mãnh liệt của con người, con người Việt Nam.


***

BM
Một góc chợ chồm hổm ở Làng Versailles, với hai bà cụ ngồi bán rau mặc y phục của phụ nữ miền Bắc Việt Nam cách đây vài chục năm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

30 THÁNG 4: TẢN MẠN NHÂN VẬT LỊCH SỬ DƯƠNG VĂN MINH


Trần Văn Chánh - Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đều theo Phật giáo, trong khi Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền là người rất mộ Kitô giáo. Đạo Phật là đạo của hòa bình, từ bi hỉ xả; Kitô giáo là đạo của lòng bác ái vị tha, lẽ tất nhiên các ông đứng đầu này đều có khuynh hướng chung không muốn cho sinh linh phải bị tàn sát, trong bất kỳ điều kiện nào còn có thể tránh được. Họ đều là những người nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, sống nghèo, chưa nghe có tai tiếng gì về đời tư, thậm chí có người còn sống khổ hạnh, như ông Huyền cả đời chỉ ở nhà cấp 4, không có xe hơi riêng, cuối đời chỉ chuyên lo việc tu hành. Riêng bản thân ông Dương Văn Minh theo đạo Phật, nhân từ, thương người, sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai hoạn nạn thì ra tay can thiệp, cứu giúp, cả đối với một số người thuộc chiến tuyến đối lập.
Trong lịch sử cận-hiện đại của Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954 nói riêng, trường hợp nhân vật lịch sử Dương Văn Minh (1916-2001) có lẽ khá đặc biệt, và không ít người đã coi ông là một vị tướng lãnh “có vấn đề”. Ông sống nói chung trong sạch, bề ngoài có vẻ luôn khiêm tốn hiền lành nhưng toàn tham gia những đại sự quân chính có tác dụng đảo chuyển hướng đi của lịch sử.

Vào thời kỳ đầu của Việt Nam Cộng Hòa, dưới thời Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh đã từng được coi là anh hùng trong thành tích đánh dẹp lực lượng Bình Xuyên (năm 1954) ở khu Rừng Sác (ngoại vi Sài Gòn) và dẹp tan quân đội của giáo phái Hòa Hảo (năm 1956), được thăng chức Trung tướng (5.1.1956). Hai đại sự khác trong đời ông là việc năm 1963 với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ông cầm đầu nhóm tướng lãnh đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và việc năm 1975 với tư cách Tổng thống đã quyết định đầu hàng không điều kiện “đối phương” miền Bắc để kết thúc gọn nhẹ cuộc chiến tranh thảm khốc 30 năm, lập lại hòa bình cho dân tộc Việt.

Sở dĩ bị coi là vị tướng “có vấn đề” vì trong cả hai trường hợp vừa nêu trên, ông có những chỗ rất dễ bị chỉ trích bởi một số người khác biệt quyền lợi hoặc không đồng quan điểm. Đây cũng là một lẽ rất thường tình, bởi nếu ông Minh chỉ là một kẻ tầm thường vô dụng, không lý tưởng, chỉ biết sống “dĩ hòa vi quý” cho được vinh thân phì gia như bao người khác thì có lẽ chẳng ai cần nhắc gì tới ông, kể cả việc chỉ trích ông thậm tệ nhất đi nữa.

Liên quan cuộc đảo chánh 1.11.1963, trừ ra một số người sùng bái ông Diệm mà quyền lợi của họ vốn gắn chặt với chế độ Đệ nhất Cộng hòa, còn thì đa số nhân dân miền Nam lúc đó đều hoan nghênh ủng hộ.

Về lịch sử/ diễn biến cuộc đảo chánh, đã có rất nhiều sách báo/ tài liệu đề cập chi tiết nên ở đây xin khỏi nhắc lại. Chỗ có vấn đề đang nói cho đến nay vẫn còn nhiều người thắc mắc, đó là việc ông Minh có phải hay không là người ra lệnh cho những người dưới trướng ông hạ sát Tổng thống Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu trên chiếc xe bọc sắt M 113 một cách thảm thiết quá, trên đường chở hai ông Diệm-Nhu về Bộ Tổng tham mưu ngày 2.11.1963 để xử lý, thay vì theo truyền thống văn hóa chính trị, phải để cho hai nhân vật lãnh đạo này được lưu vong sang xứ khác? Ngoài ra, nhắc lại việc này, một số người còn tố cáo ông Minh là kẻ phản bội tàn ác, vì con đường binh nghiệp của ông được thăng tiến nhanh chóng có một phần quan trọng là nhờ ở Tổng thống Ngô Đình Diệm…

Cho đến cuối đời, sống ở Pháp rồi ở Mỹ, vì là việc quá tế nhị, nhóm đảo chánh của ông Minh (gồm cả Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính…) không ai dám hé môi nói rõ việc này. Tuy nhiên, cũng có vài chi tiết được hé lộ trong hồi ký của một vài chứng nhân, qua đó chúng ta có thể đánh giá tương đối chính xác.

Hồi ký Tâm sự tướng lưu vong của Hoành Linh Đỗ Mậu (NXB Công An Nhân Dân, 1995, tr. 502-503), có đoạn kể, ngày 2.11.1963, ông Mậu thấy các tướng đảo chánh gồm Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Đại tá Dương Ngọc Lắm đang xầm xì bàn tán có vẻ bí mật, đến hỏi thì tướng Trần Văn Minh (Minh nhỏ) trả lời rất nhỏ, “Anh em đang bàn định cách đối xử với ông Diệm, nên giết hay nên cho ông ta xuất ngoại”. Ông Mậu phát biểu không đồng ý giết ông Diệm [1] thì tướng Nguyễn Ngọc Lễ nói to lên: “Xin anh em đừng nghe lời anh Mậu, đã nhổ cỏ thì phải nhổ cho tận rễ”. Thấy không ai phản đối tướng Lễ mà có vẻ im lặng đồng ý, Đỗ Mậu bèn nói thêm: “Việc tha hay giết ông Diệm là hành động lịch sử, vậy muốn tha hay giết ông ta, tôi đề nghị phải lấy quyết định tối hậu qua một cuộc bỏ phiếu kín, phải ghi vào biên bản đàng hoàng”. Đỗ Mậu cho biết tiếp: “Tất cả mọi người lại im lặng không có ai tỏ ra tán đồng ý kiến của tôi. Còn tướng Dương Văn Minh thì nhún vai tỏ thái độ bất mãn với tôi… Sau đó tướng Minh ra lệnh cho tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và Đại úy Nguyễn Văn Nhung đi đón hai ông Diệm-Nhu tại nhà thờ Cha Tam”.

Đỗ Thọ (cháu gọi Đỗ Mậu bằng chú ruột) lúc đó là sĩ quan tùy viên thân cận nhất của Ngô Đình Diệm, người đã theo sát đến phút chót bên cạnh hai ông Diệm-Nhu trên đường trốn từ Dinh Gia Long đến nhà thờ Cha Tam, trong một đoạn hồi ký cũng có nhắc lại sự kiện gần giống như trên: “Chú tôi (tức Đỗ Mậu- TVC) nói rằng luôn luôn kính trọng thương tiếc Tổng thống Diệm. Vụ 1.11.1963 chỉ cốt lật đổ ông bà Ngô Đình Nhu. Đưa Tổng thống Diệm lên Đà Lạt hoặc Côn Đảo trong một thời gian. Nhưng quyết định này đã có nhiều tướng lãnh không chịu. Trong đó có tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân”(Nhật ký Đỗ Thọ, Đồng Nai xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr. 158). Ở một đoạn tiếp theo, tác giả Đỗ Thọ còn cho biết, khi ông Nhu không chịu lên xe M 113 để chở về Bộ Tổng tham mưu, một sĩ quan phe đảo chánh đã gào lên: “Ông không còn là cố vấn… và Tổng thống nữa. Hãy lên xe gấp. Chúng tôi được lệnh Trung tướng Chủ tịch phải thi hành” (tr. 177).

Theo mấy chi tiết dẫn chứng trên đây, chúng ta có thể thấy, việc giết hai ông Diệm-Nhu, ông Minh không quyết định một mình, mà có sự họp bàn tập thể nhưng chỉ bàn kín hạn chế với vài tướng lãnh chủ chốt, trong đó có các tướng Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Đại tá Dương Ngọc Lắm, chứ không đưa ra toàn thể Hội đồng Quân nhân Cách mạng lấy quyết định. Còn ở một vài tướng tá khác, tuy không thấy nhắc trong đoạn hồi ký trên kia của Đỗ Mậu, nhưng chắc chắn cũng đã được ông Minh tham khảo ý kiến trước đó theo một cách nào đó thôi.

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, một người thân cận có vài năm sống tá túc hoạt động báo chí trong nhà của Dương Văn Minh (ở số 3 Võ Văn Tần bây giờ), “Có sách ngoại quốc nói rõ người điều khiển việc bắt giết Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là Trung tướng Mai Hữu Xuân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tướng Xuân là người thân tín với Dương Văn Minh. Rất có thể tướng Xuân đã ra lệnh bắn chết Diệm, Nhu để tuyệt trừ hậu họa. Người thi hành lệnh bắn là thiếu tá Nhung, một trong những cận vệ của tướng Minh. Tướng Mai Hữu Xuân trực tiếp chỉ huy việc tiến chiếm Dinh Gia Long, ông chịu trách nhiệm về cái chết của Diệm, Nhu với tư cách người chỉ huy trực tiếp trận đánh. Nhưng một vấn đề chưa sáng tỏ là ông Xuân thi hành lệnh của Dương Văn Minh hay tự ý quyết định tại mặt trận. Giết Diệm, Nhu để tránh hậu họa, một giả thuyết hợp lý đối với con người mưu lược như ông Mai Hữu Xuân”. Rồi Dương Văn Ba kết luận: “Về phần Dương Văn Minh, ông chưa lần nào lên tiếng nói rõ vấn đề này. Dù có ra lệnh giết hay không, tướng Minh vẫn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về cái chết của Diệm, Nhu” (Hồi ký Những ngả rẽ, Bản thảo phổ biến nội bộ, tr. 26-27).

Từ khi hai anh em ông Diệm-Nhu bị chết thảm (ngày 2.11.1963), ông Minh và đám tướng tá đồng sự của ông không ai công khai thừa nhận mình có tham gia quyết định giết Tổng thống, có thể vì 2 lẽ: (1) Việc giết nguyên thủ quốc gia có tiếng tăm lớn như ông Diệm là một việc quá sức tưởng tượng theo quan niệm của Việt Nam Cộng Hòa thời đó; (2) Các tướng tá tham gia đảo chánh trong chừng mực nào đó hầu hết đều có thọ ơn ông Diệm trên con đường thăng tiến binh nghiệp của mình, nhưng họ bất đắc dĩ phải hạ thủ là để “sát nhất miêu cứu vạn thử” (giết một con mèo để cứu muôn con chuột), và cần phải “nhổ cỏ tận gốc” đề phòng nhóm ông Diệm lưu vong nước ngoài sẽ có thể tái tập hợp lực lượng, kết hợp với ngoại bang hoặc thành phần trong nước tìm cách phục hồi.

Xét hai lẽ nêu trên thì thấy việc nhóm ông Minh trước sau vẫn kín tiếng không thừa nhận giết Tổng thống Diệm cũng là một sự cận nhân tình, hầu như ai cũng vậy, vì họ sợ dư luận nghĩ không tốt về mình. Còn việc bắt buộc phải giết Tổng thống như trong trường hợp ông Diệm thì đó thuộc về lý do chính trị mà theo cách nghĩ của họ ngay vào thời điểm đó, khó thể có một chọn lựa nào khác tốt hơn. Có thể rằng ông Minh và vài người khác sau này cảm thấy áy náy trong lòng khi nghĩ lại chuyện đã qua, nhưng đây thuộc trường hợp mâu thuẫn mà một chính khách có lương tâm dễ bị mắc phải khi phải đối đầu với những tình huống quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, hành động của nhóm ông Minh đã có thể được biện minh khi kết quả cuộc đảo chánh như được biết đã mang lại lợi ích cho đại đa số dân chúng, bằng việc loại trừ được một chế độ có nhiều chỗ bất ổn cho dân, theo kiểu “sát nhất miêu cứu vạn thử!”.

Đại sự thứ hai trong cuộc đời ông Minh liên quan đến ngày 30.4.1975 lịch sử, khi đại quân miền Bắc ồ ạt tiến sát vào Sài Gòn, quân lính Việt Nam Cộng Hòa nhiều nơi đã bị tan rã. Khi ấy, với cương vị Tổng thống vừa được Quốc hội đưa lên trước đó chỉ 3 ngày, nhóm chấp chính Dương Văn Minh (gồm cả Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu…) đã quyết định “không chống cự” và sau đó tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. 


Sự đầu hàng nhanh chóng này tất nhiên nhận được nhiều sự đánh giá trái ngược nhau. Đối với “bên thua cuộc”, mỗi lần nhắc đến Dương Văn Minh, không ít người Việt tị nạn ở nước ngoài vẫn còn oán trách, cho ông là “hàng tướng” đã hèn nhát đầu hàng CS, “trao nước cho giặc”, để đến nỗi đất nước phải như ngày hôm nay (theo họ là nghèo nàn lạc hậu, nạn tham nhũng tràn lan vô phương cứu chữa, mất dân chủ này khác…). Đây là một quan điểm đánh giá có nhiều phần vội vã, cực đoan, đơn giản, không thấy hết thực tế của hình thế thời cục lúc đó, cũng như nhu cầu bức thiết chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình phải là mối ưu tiên hàng đầu đối với bất kỳ nhà lãnh đạo nào biết thương dân, vì đó là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả hai miền Nam, Bắc, sau khi đã bị nếm trải cuộc chiến tranh kéo dài vô cùng khốc liệt, mà cuộc chiến tranh ấy, ai cũng biết, không hoàn toàn do mỗi bên chủ động vì còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các cường quốc, trong đó cả hai bên chiến tuyến đều thường có những người là họ hàng ruột thịt với nhau. Là một quân nhân kinh qua nhiều chiến trận, hơn ai hết ông Dương Văn Minh là người thấu cảm với nỗi khổ của nhân dân vô tội trong chiến tranh, và ngay cả bản thân ông, cũng có người em ruột là sĩ quan cao cấp Dương Thanh Nhựt (Mười Tỵ) đang đấu tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa ở bên kia chiến tuyến.

Giả định, ngày 30.4.1975, Dương Văn Minh không chịu đầu hàng mà kiên quyết “tử thủ” thì khó thể suy đoán sẽ còn bao nhiêu dân và quân của cả hai bên chiến cuộc tiếp tục thương vong, đổ máu. Ngay cả những người chủ trương “tử thủ” cùng với gia đình vợ con họ vì thế còn chưa biết số phận rồi sẽ đi đến đâu? Trong khi đó, tử thủ trong điều kiện cận kề ngày 30.4 như đã biết thì kết quả hầu như chắc chắn phải thua, nhưng cho dù có thắng, phía bên kia tiếp tục kháng chiến thì chiến tranh vẫn sẽ còn kéo dài lâu hơn, 5 năm hay 10 năm nữa chưa biết chừng. 

Cho nên có thể nói, ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng là một hành động sáng suốt tránh cho Sài Gòn và cả nước không bị đổ máu thêm vô ích, trước hết vì mục tiêu hòa bình và hòa giải hòa hợp dân tộc, vốn là chủ trương căn bản của ông, cho dù ông có chịu ảnh hưởng bởi những ý đồ chính trị phức tạp của người Mỹ, người Pháp, hay có bị CS móc nối hay không. Trong trường hợp này, cũng giống như trong cuộc đảo chánh năm 1963, có lẽ phải nghĩ ông Dương Văn Minh tuy không hoàn toàn độc lập hành động (làm sao có sự độc lập này được?), cũng không phải tiếp tay cho CS (tuy rằng về mặt tác dụng khách quan thì có), nhưng là người đã biết khéo nương theo diễn biến thời thế, khai thác những chỗ “ám hợp” (hợp ngầm) giữa ông với những thế lực chi phối khác để làm lợi cho dân tộc: năm 1963 xóa bỏ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, còn nay là để kết thúc cuộc chiến tranh đau khổ tái lập nền hòa bình. Giả định, nếu được cầm quyền lâu hơn, đường lối chính trị của ông Minh chắc chắn sẽ có nhiều điểm không giống hẳn với những người CS. 

Việc ông Dương Văn Minh đầu hàng “giặc” trong thế thua để tránh bớt thương vong cho dân quân của cả hai phe xem ra cũng có khía cạnh hao hao giống với quyết định giao thành cho giặc rồi uống thuốc độc tự tử của Phan Thanh Giản, khi hùng binh của Pháp tiến đánh Vĩnh Long tháng 6.1867. Điểm khác biệt là ở đối tượng được giao, và ông Minh đã không tự tử như Phan Thanh Giản[2], vì hoàn cảnh lịch sử và tình huống cụ thể có khác, nhưng trong cả hai trường hợp của người xưa và người nay, đều rất dễ phát sinh dị nghị.

Có quan điểm khá phổ biến cho rằng ông Minh tuyên bố đầu hàng đơn giản chỉ vì bị lâm vào cái thế hoàn toàn thúc thủ, nhưng theo một số nhân chứng lịch sử lúc bấy giờ, tướng Dương Văn Minh nhận lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với phe cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông vốn chủ trương hoà bình, hòa giải hòa hợp dân tộc(xem Chánh Trinh, Hồi ký không tên, NXB Thời Đại, 2012).

Một câu hỏi nữa cũng đáng để đặt ra: Là một tướng lãnh cấp cao nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thông thường phải có khuynh hướng chủ chiến, nhưng tại sao Chính phủ do ông Minh đứng đầu lại có vẻ hiền lành chủ hòa với thiện ý cao nhất?

Ngoài những lý do đương nhiên về chính trị, cũng như những đòi hỏi khách quan của lịch sử cùng nguyện vọng hòa bình của dân tộc, theo tôi chắc hẳn còn có một lý do sâu xa tiềm ẩn quan trọng nữa có thể giải thích nguồn gốc thái độ và chủ trương hòa bình-hòa giải hòa hợp dân tộc của Chính phủ Dương Văn Minh, từ đó đi tới quyết định đầu hàng nhanh chóng. Đó là lý do tôn giáo: Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đều theo Phật giáo, trong khi Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền là người rất mộ Kitô giáo. Đạo Phật là đạo của hòa bình, từ bi hỉ xả; Kitô giáo là đạo của lòng bác ái vị tha, lẽ tất nhiên các ông đứng đầu này đều có khuynh hướng chung không muốn cho sinh linh phải bị tàn sát, trong bất kỳ điều kiện nào còn có thể tránh được.

Họ đều là những người nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, sống nghèo, chưa nghe có tai tiếng gì về đời tư, thậm chí có người còn sống khổ hạnh, như ông Huyền cả đời chỉ ở nhà cấp 4, không có xe hơi riêng, cuối đời chỉ chuyên lo việc tu hành. Riêng bản thân ông Dương Văn Minh theo đạo Phật, nhân từ, thương người, sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai hoạn nạn thì ra tay can thiệp, cứu giúp, cả đối với một số người thuộc chiến tuyến đối lập.

Cả ba vị đứng đầu Chính phủ Dương Văn Minh đều đã hành động xuất phát từ lòng nhân đạo, đã kết hợp nhuần nhuyễn nhau trong sự đồng thuận chấp nhận ưu tiên đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc và giải pháp đầu hàng trong buổi hoàng hôn của chế độ để tránh cho thành phố Sài Gòn khỏi đổ nát và nhân dân vô tội cả nước khỏi phải chết thảm thêm nữa vì việc đánh nhau giữa hai bên vào giờ chót. Nếu không có sự đồng thuận giữa những con người cùng lý tưởng, được un đúc thấm nhuần bởi tinh thần từ bi hỉ xả và vị tha của các bậc giáo chủ, thì thật khó đi đến một quyết định mau lẹ, kịp thời và sáng suốt như vậy.Vì thế cho nên bây giờ bình tĩnh nhìn lại, có người còn đánh giá cuộc đầu hàng lịch sử nêu trên chẳng những không chút nhục nhã mà còn đáng ca ngợi là một hành vi anh hùng, đặc biệt hợp với lối hành xử bi-trí-dũng của nhà Phật.


Một số người thân cận với Dương Văn Minh (như các ông Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, Thích Trí Quang…) đều cho rằng ông không phải là người làm chính trị sắc bén, có bản lĩnh[3], có lẽ họ nói theo nghĩa phàm đã xông pha vào chính trị thì phải khéo linh hoạt với rất nhiều thủ đoạn.

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, một người thân cận từng ở nhờ thời gian khá dài trong tư gia của tướng Dương Văn Minh (số 3 đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần), cả trước và sau 30.4.1975, thì ông Minh là “loại người trầm lắng, suy tư dù gốc của ông là một quân nhân. Triết lý của ông là triết lý trầm lắng của Phật giáo, ông không đua chen, không sân si; ông thuộc vào loại thấy đủ biết đủ, thấy nhàn biết nhàn. Đó là một loại triết lý pha lẫn giữa Phật giáo và Lão giáo. Ông sống khá bình dị, hòa mình với mọi người, đa số bạn bè bà con đều thương ông” (tldd., tr. 263).

Ông Ba còn cho biết tiếp: “Gia đình ông Dương Văn Minh thuộc vào loại thanh bạch, không có dư dả nhiều. Tài sản ông để lại trước khi ông đi Pháp là hàng ngàn chậu Hoa Lan, 3-4 con chó bẹc giê, 5-7 cái máy chụp hình loại chuyên nghiệp và lũ khũ những đồ đạc, vật dụng linh tinh không giá trị nhiều lắm của một vị tướng lãnh” (tr. 364).

Rõ ràng, ông Dương Văn Minh đầu hàng “giặc” không phải để được vinh thân phì gia, vì ai cũng biết, sau khi hoàn tất trách nhiệm trước lịch sử và lui khỏi chính trường, ông đã sống cuộc đời ẩn dật nơi nước ngoài với con cái, không phát biểu về chính trị, không viết hồi ký để kiếm tiền, chấp nhận cuộc sống nghèo bình thường, từ chối mọi sự trợ cấp từ phía các chính phủ Pháp, Mỹ mà ông đã có thời gian từng phục vụ[4]. Ông không giống như một vài vị tướng khác, suốt ngày đeo cái lon tướng để được tiếp tục nhận sự vinh danh cho tới chết mới thôi, mặc dù nhiệm vụ lịch sử đã hoàn thành từ rất lâu.

Ngày nay, xét diễn biến các sự kiện, đa số người ta đều thừa nhận việc đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các của ông chẳng những không nhục nhã mà còn là hành động sáng suốt thức thời vụ. Điều này về sau đã được cố thủ tướng Võ Văn Kiệt công khai thừa nhận trong một lần trả lời cuộc phỏng vấn liên quan đến vấn đề đang xét của tuần báo Quốc Tế (Bộ Ngoại giao) nhân dịp 30.4.2005. Có lần ông Kiệt chia sẻ với cựu dân biểu Lý Quý Chung: “Ông Minh là một con người tốt và có lòng yêu nước…” (Hồi ký không tên, sđd., tr. 447).

Cho nên, liên quan đến một chi tiết về thủ tục tiếp quản tại Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975, khi ông Minh bảo rằng sáng nay đã có một tuyên bố trao quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời rồi thì người cán bộ tiếp quản nói “Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng!”[5], tôi cho câu nói vặn lại này là một câu hơi lố, rất dở, không thật sự cần thiết, không xứng với tầm nghĩ việc lớn cũng như với thiện chí rất đáng được trân quý của ông Dương Văn Minh. 


Con trai ông Dương Văn Minh, kỹ sư Dương Minh Đức, có lần được hỏi ý kiến nhận xét sự kiện lịch sử ngày 30.4.1975, và về người cha của mình, đã phát biểu: “Tôi rất yêu quý ba tôi… Thứ nhất, ông là vị tướng sống trong sạch, không chấp nhận chuyện tham nhũng; thứ hai, trong nguyên tắc tìm giải pháp hòa bình cho đất nước Việt Nam, theo ông phải do chính người Việt Nam tự giải quyết. Tôi hiểu quan điểm của ba tôi luôn đặt dân tộc và sinh mệnh nhân dân trên hết. Chính vì vậy, ông không ngại đứng ra đảm nhận vai trò Tổng thống trong buổi hoàng hôn của một chế độ…. Ba tôi là người luôn chủ trương hòa giải, hòa bình dân tộc và ông đã bác bỏ ý kiến của một số người yêu cầu “tử thủ” Sài Gòn. Tôi tin rằng đây là quan điểm xuyên suốt trong cuộc đời chính trị của ông “ yêu nước trước hết là phải cứu dân” (theo tạp chíHồn Việt, 1.6.2009).

Đúng như vậy đó, khái niệm yêu nước rất rộng. Đánh giặc hăng say chỉ là một trong những biểu hiện của tinh thần yêu nước khi đất nước bị xâm lăng mất độc lập, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là hành động bất đắc dĩ chứ chẳng nên lúc nào cũng cổ vũ thái quá, bởi lẽ đơn giản “phi nguy bất chiến” (lời trong Tôn Tử binh pháp, không kẹt vào thế nguy thì đừng đánh).

Trong mọi trường hợp khác nhau, yêu nước không thể tách rời với thương dân/ cứu dân, mà thương dân/ cứu dân trước hết là phải bảo vệ tối đa và bằng mọi cách sinh mạng của dân, rồi sau đó mới tính tới chuyện để cho họ được hưởng đầy đủ các phúc lợi vật chất cũng như các quyền về tự do dân chủ. Thà chịu “thua” ngay tức khắc mà bảo vệ được sinh mạng của dân, sớm mang lại hòa bình cho dân tộc, còn danh dự hơn cố đánh trong cái thế tất bại mà để cho dân, quân phải hi sinh xương máu quá nhiều. 

Mặt khác, cho dù một bên có thắng mà nướng con dân trong lửa đỏ cũng không phải điều tốt. Hiểu được như vậy ta sẽ thấy ông Dương Văn Minh là một người có đức kiên trì tốt nhịn, có lòng nhân ái thiết tha, đã xử lý vấn đề hợp tình lý, đúng lúc đúng thời theo cái nghĩa “quân tử kiến cơ nhi tác” (người quân tử biết nương theo thời cơ mà hành động), “thức thời giả vi hào kiệt” (kẻ thức thời là hào kiệt), và sẽ là không quá đáng nếu chúng ta hôm nay coi quyết định đầu hàng ngày 30.4.1975 của ông là một hành động anh hùng.

23.4.2018

[1] Đỗ Mậu tham gia đảo chánh chỉ vì muốn loại trừ sự lộng hành của vợ chồng Ngô Đình Nhu, còn đối với ông Diệm, Đỗ Mậu vẫn là người tâm phúc.

[2] Trong một bức thư ông Minh gởi cho tướng Nguyễn Chánh Thi (người từng đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1960 nhưng thất bại) đề ngày 15.4.1987, có đoạn viết: “Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra. Có lẽ anh Đỗ Mậu (cũng như nhiều người) không rõ là tôi lấy quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến với một số những vị dân biểu và nghị sĩ còn lại, với những anh em quân nhân đến gặp tôi vào giờ chót, với các thầy mà trong đó thầy Trí Quang và Trí Thủ đã nói và đã nhắn nhủ để cứu dân” (xem Trương Võ Anh Giang, Máu chảy về tim, NXB Trẻ, 2016, tr. 311).

[3] Xem Chánh Trinh, Hồi ký không tên, NXB Thời Đại, 2012, tr. 225, 305.

[4] Về cuộc sống đạm bạc của ông Dương Văn Minh trong thời gian ẩn dật ở Pháp và ở Mỹ, cũng như nhiều chi tiết khác liên quan cả cuộc đời ông, rất nhiều sách vở tài liệu đã ghi chép. Có thể xem: Trương Võ Anh Giang, sđd., “Viết tiếp bài ‘Ông Dương Văn Minh và tôi’”, NXB Trẻ, 2016, tr. 290-318.

[5] Xem Lý Quý Chung, sđd., tr. 410.

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 23-4-18
http://www.viet-studies.net/kinhte/TranVanChanh_DuongVanMinh.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vị Đại tướng không có nhà riêng

Đại tướng Lê Trọng Tấn, Lê Trọng Tấn, đại tướng không có nhà riêng

Đại tướng Lê Trọng Tấn


Trong lịch sử các tướng lĩnh Việt Nam hiện đại, tên tuổi đứng sau Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, người thứ hai có lẽ là Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ông là người chỉ huy Đại Đoàn 312 tấn công Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castries và nội các kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ông từng là chỉ huy các chiến dịch vang danh thời chống Mỹ và là Phó Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông đập tan mọi cánh cửa tử thủ, phòng tuyến của địch tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975, bắt Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng cùng nội các. Kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc.
Vị tướng "trận mạc"
Trong một lần gặp gỡ với một số tướng lĩnh Việt Nam, cố Chủ tịch Phidel Castro (Cu Ba) đã chủ động tiến đến bắt tay Đại tướng Lê Trọng Tấn, rồi Chủ tịch quay sang tươi cười nói với mọi người: "Đây có phải là vị tướng đánh giặc hay nhất Việt Nam?". Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang đứng cạnh đã tiếp lời Chủ tịch: "Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại".

Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), quê ở Yên Nghĩa, Hoài Đức, Hà Tây cũ (nay là TP Hà Nội). Xuất thân từ gia đình nhà giáo, ông từng học Trường Bưởi - Hà Nội, học lực giỏi, say mê võ nghệ và bóng đá. Sau khi gia nhập đội bóng Tia Chớp (Éclair) của không quân Pháp, ông nhập ngũ làm lính khố đỏ, đồn trú tại một đồn nhỏ khu vực sân bay Tông (Sơn Tây). Được bà Bích Vân (tức Hoàng Ngân -Xứ ủy Bắc Kỳ) làm công tác binh vận, Đội Tố đã tham gia Việt Minh và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945, làm ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông.
Đại tướng Lê Trọng Tấn còn là một trong những tướng lĩnh rất đặc biệt: "Ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đại đoàn 312 do Tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy đã bắt sống tướng De Castries và cắm cờ trên nóc hầm cứ điểm Điện Biên. Ở giai đoạn cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ - ngụy, thống nhất đất nước, Tướng Lê Trọng Tấn cũng là Tư lệnh chỉ huy cánh quân chủ lực từ phía Đông tiến vào giải phóng Sài Gòn, cờ đỏ sao vàng bay trên nóc Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các Tổng thống Dương Văn Minh. Với hai chiến công đó, Lê Trọng Tấn xứng đáng hai lần tuyên dương Anh hùng" - Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói về ông như thế.
Tham gia cách mạng từ năm 1944, lần lượt ông trải qua nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như: Trung đoàn phó, trưởng các Trung đoàn Sơn La, Sơn Tây, Quyền Khu trưởng Khu XIV, Khu phó Liên Khu X. Trong chiến dịch Biên giới 1950, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 và chỉ huy các Đại đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", bắt sống tướng De Castries và toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên.
Từ năm 1954 đến 1961, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân. Tư lệnh Mặt trận Đường 9, chiến dịch Bình Trị Thiên và Phó tổng Tham mưu kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1. Từ tháng 3/1975, ông là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, Phó tổng Tham mưu, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ huy cánh quân phía Đông dọc theo các tỉnh duyên hải Miền Trung với phương châm: thần tốc, táo bạo tấn công tiến vào giải phóng Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975.
Đại tá Trần Văn Thức - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Lê Trọng Tấn là tướng trận, tướng tấn công. Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các Quân đoàn đều đoàn kết một lòng, tin tưởng, vững tâm vào trận đánh.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chỉ huy trực tiếp Đại đoàn 312 trong 3 đêm 2 ngày phải đột phá, xuyên thủng 3 phòng tuyến cực mạnh của tập đoàn cứ điểm Him Lam, Mường Thanh. Trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng từ 26 đến 29-3-1975, chỉ trong mấy ngày, Tướng Tấn đã chỉ huy Quân giải phóng đập tan 10 vạn quân địch…
Chiều 26/1/1954, người chỉ huy Đại Đoàn 312 phải đến từng chiến hào giải thích với bộ đội chủ lực về sự thay đổi phương án, từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" nên phải kéo pháo quay trở ra. Sau khi tiêu diệt cứ điểm Him Lam mở màn chiến dịch, chiều 7/5/1954, Đại đoàn 312 do Lê Trọng Tấn chỉ huy đã tấn công vào sở chỉ huy đầu não của Pháp tại cứ điểm Điện Biên, bắt sống tướng De Castries và toàn Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên. Kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta "Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng".
Chiến trường miền Nam ngày càng trở nên ác liệt hơn khi Mỹ đổ bộ quân vào Miền Nam. Do đó, vào năm 1964, trên chiếc tàu buôn tỏi của nước ngoài cập cảng Sihanoukvile (Campuchia), trên tàu có chở 2 vị tướng "sừng sỏ" nhất của "Bắc Việt" là tướng Nguyễn Chí Thanh trong vai thợ máy và Lê Trọng Tấn trong vai ông chủ buôn tỏi, xách cặp da bóng loáng, được Bác Hồ và Bộ Chính trị đặc phái vào miền Nam chỉ huy cuộc chiến đấu mới.
Không lâu sau đó, chiến dịch Bình Giã khai hỏa, đánh một đòn rất mạnh vào âm mưu chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm cương vị Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam với bí danh Ba Long. Đồng thời, ông trực tiếp làm Tư lệnh của nhiều chiến dịch quan trọng của quân chủ lực...
Với quyết tâm cao độ giải phóng Miền Nam, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã giao cho tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế- Đà Nẵng sau khi giải phóng Tây Nguyên. Tháng 4-1975, tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm các Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Sư đoàn 3 đập tan phòng tuyến từ xa tại Phan Rang (Ninh Thuận), đập nát cánh cửa thép tử thủ tại Xuân Lộc, trực diện tấn công vào cửa ngõ phía Đông giải phóng Sài Gòn.
Do phải vượt sông Đồng Nai, Sài Gòn với khoảng cách từ 15-20km với nhiều tuyến phòng thủ, kháng cự với hỏa lực cực mạnh của địch, Tướng Tấn đề nghị Quân ủy và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho cánh quân phía Đông nổ súng trước từ 18h ngày 29/4.
Cho đến trưa 30/4 sau khi trinh sát, đặc công tiêu diệt những ổ kháng cự cuối cùng tại cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn, Hàng Xanh, Thị Nghè đại quân phía Đông với Binh đoàn Tăng Thiết giáp, bộ binh đã tiến công thần tốc như vũ bão, húc đổ cánh cổng sắt Dinh Độc Lập giữa trưa ngày 30/4, bắt sống toàn bộ nội các Tổng thống Sài Gòn Dương Văn Minh, kết thúc cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Hòa bình, thống nhất đất nước nhưng ông chưa có một ngày nào để nghỉ ngơi. Sau thời kỳ quân quản của thành phố, biên giới Tây Nam của đất nước đã bị bọn diệt chủng Pol Pot và Khmer Đỏ xâm phạm biên giới, gây tội ác đối với nhân dân ta ở nhiều nơi. Tháng 12/1978, Tướng Lê Trọng Tấn được Trung ương giao nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng vũ trang chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc.
Đến tháng 2/1979, ông tiếp tục được điều động về Bộ Tổng Tham mưu, trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Lúc sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về ông như sau: "Với toàn quân, đồng chí Lê Trọng Tấn là một người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc. Riêng tôi, đồng chí là người bạn chiến đấu thân thiết, là một trong những cán bộ tin cậy nhất để thực hiện những ý đồ chiến lược của Bộ thống soái tối cao".
Chuyện Đại tướng không có nhà riêng
Đại tướng Lê Trọng Tấn, Lê Trọng Tấn, đại tướng không có nhà riêng
Đại tá Lê Đông Hải cùng vợ con
Một chiều cuối năm cũ, sắp chạm ngày giỗ Đại tướng, tôi ngồi trong quán cà phê trên đường Trường Sơn trước cửa vào sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cùng con trai Đại tướng. Đây cũng chính là căn biệt thự mặt tiền trong cư xá gia binh cũ, xây dang dở thì giải phóng, mà lần thứ 3 ông đã trả lại cho Nhà nước, từ chối cuộc sống sang trọng ở các biệt thự, quay về sống giản tiện cho đến cuối đời.
Câu nói cửa miệng của Đại tá, GS- TS Lê Đông Hải - Nguyên Viện trưởng Phân viện kỹ thuật quân sự 2 tại TP.HCM, là con trai duy nhất của Đại tướng từng khiến chúng tôi nghe rất chạnh lòng.
Theo cuốn "Họ Trịnh và Thăng Long" tác giả còn có những bằng chứng cho thấy: viễn tổ của gia tộc Đại tướng Lê Trọng Tấn là hậu duệ của Chúa Trịnh Căn. Trong ba anh em ruột của Đại tướng, có anh cả Lê Mạnh Hồ, đến Lê Trọng Tấn (Tố) và Lê Qúy Đông là út. Chắc không phải ngẫu nhiên mà cả ba chữ lót được cụ Đồ Lăng đặt cho con là những từ chỉ thứ tự thời tiết: "mạnh" là (đầu mùa), "trọng" ở giữa và "quý" là cuối, út và có họ Trịnh.
Từ nhỏ, anh Hải theo học trường thiếu sinh quân và trở thành "lính" của bố mình trong Đại Đoàn 312. Sau 1954, anh được sang Liên Xô học tập. Nhấp giọng bằng chút cà phê nóng thơm lừng, anh nhìn ra phía đường Trường Sơn rồi tâm sự: Cả một đời cha tôi, không để lại một chút tài sản, nhà cửa, đất đai nào, vì ông cụ chưa bao giờ nhận cho mình nhà riêng, đất riêng. Nhưng cha tôi đã để lại một sự nghiệp rất to lớn và đạo lý làm người để cho con cháu đời đời noi theo. Những biệt thự được cấp, ông đều từ chối nhận và trả lại cho Nhà nước, quân đội. Lúc nào bên mình ông cũng kè kè một cái ba lô và bên trong lúc nào cũng sẵn chiếc võng dù.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thư ký riêng của Đạit tướng kể lại: Đại tướng suốt ngày làm việc kín lịch từ 7h30 đến 22h tối, thậm chí có ngày 18 cuộc làm việc, với 18 cán bộ khác nhau. Tuy là con duy nhất của Đại tướng, nhưng anh Lê Đông Hải đã phải ngậm ngùi thừa nhận, anh cũng chỉ sống lâu nhất bên cạnh cha mình khoảng thời gian 2 đến 3 năm.
Miền Bắc xây dựng XHCN, ông tiếp tục lãnh đạo, chỉ huy công tác đào tạo, xây dựng lực lượng quân đội, vũ trang tiếp viện cho chiến trường Miền Nam đánh Mỹ. Từ năm 1960 đến 1975, ông nhiều lần ra vào miền Nam để xây dựng và chỉ huy lực lượng vũ trang chống Mỹ, đánh bại những âm mưu, chiến dịch của địch tại miền Nam và chống trả mọi cuộc tấn công xâm phạm không phận, hải phận miền Bắc.
Theo anh Hải kể lại, khoảng thời gian mà cả gia đình anh được hạnh phúc, sum vầy nhất là khi ở số 36 Hoàng Diệu (Hà Nội) trong căn nhà nhỏ, được cấp 2 phòng diện tích khoảng 48m2, cùng các bác Tạ Quang Bửu, Vương Thừa Vũ, Đặng Kính…
Thời kỳ đó, ông liên tục ra vào chiến trường còn anh Hải chuyển sang học tại Liên Xô và công tác ở đơn vị Bộ đội Hóa học. Nhà vắng người, mẹ anh phải dời về khu nhà ngang ở 36C, Lý Nam Đế sống với mấy anh em phục vụ tiện trồng trọt, chăn nuôi… cải thiện đời sống.
Sau ngày đại thắng mùa Xuân 1975, anh em đồng đội chạy đôn đáo khắp nơi tìm những ngôi biệt thự sang trọng của giới chóp bu lãnh đạo chế độ Sài Gòn cũ để cho ông ở. Song, ông đều lắc đầu từ chối. Sau này, ông đồng ý về ở căn nhà số 2, đường Cửu Long, (cư xá gần sân bay) mặt tiền đường Trường Sơn, Tân Bình ngày nay có diện tích khoảng 30m2.
Thấy ông ở chật hẹp, bất tiện trong khi nhà ở bỏ hoang tàn khắp nơi sau chiến tranh. Thế là nhân cơ hội ông ra Hà Nội họp, anh em ở Quân đoàn 4 cho xe Zeep đến nhà dọn hết đồ đạc, vật dụng cá nhân của ông "dời" đến biệt thự số 195, Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đường Công Lý cũ), Quận 3 định dành cho ông một bất ngờ. Họp xong trở về, ông đành chấp nhận "sự đã rồi" dù không hài lòng và luôn có ý trả lại nhà.
Một hôm, ông điện thoại báo tin cho mọi người biết, ông quay lại sống ở nhà số 2 đường Cửu Long. Còn ngôi biệt thự ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa rộng thênh thang ông xin giao lại cho đồng chí Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội TP để có điều kiện lo cho thương bệnh binh.
Nhiều anh em trong Quân khu 7 cùng một số tướng lĩnh vẫn không an tâm về nơi ở của vị tướng chỉ huy tài ba, đã bao năm xông pha trận mạc, nên đã tìm mọi cách thuyết phục, thậm chí còn áp dụng cả "nguyên tắc" để đưa ông tới ở tại biệt thự số 126, đường Pasteur, Quận 3, gần ngay giao lộ Điện Biên Phủ - Pasteur ngày nay.
Không nỡ khước từ tình cảm của đồng đội anh em, ông cũng khoác tạm ba lô đến ở "ví dụ" một thời gian, rồi sau đó lại kiên quyết đòi về số 2 đường Cửu Long. Đến nước này thì mọi người đành chịu thua ông. Đại tướng đã sống tại đây cho đến khi qua đời ngày 5-12-1986. Sau đó, nhà số 2 đường Cửu Long đã được cấp cho người khác….
Đại tướng Lê Trọng Tấn đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao vàng năm 2007, Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân, huy chương khác. Tên của ông đã được đặt cho nhiều trường học, đường phố tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số nơi khác.
Chuyện Bác Tôn từ chối nhận quà địa phương

Chuyện Bác Tôn từ chối nhận quà địa phương

Tỉnh Quảng Ninh biết Bác Tôn hay uống trà, có biếu Bác 2 cân chè ngon, Bác kiên quyết không cho nhận.
Chuyện Bác Tôn 3 lần từ chối nhận nhà Trung ương cấp

Chuyện Bác Tôn 3 lần từ chối nhận nhà Trung ương cấp

Trung ương từng ba lần thu xếp cấp nhà riêng nhưng Bác Tôn lần nào cũng kiên quyết từ chối.
Đại tướng Lê Trọng Tấn - nhà quân sự mưu lược

Đại tướng Lê Trọng Tấn - nhà quân sự mưu lược

Sáng 23/9, Bộ Quốc phòng tổ chức hội thảo "Đại tướng Lê Trọng Tấn - Nhà quân sự đức độ, mưu lược của cách mạng Việt Nam" nhân 100 năm ngày sinh của Đại tướng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang