Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Quá nguy hiểm đạn đường:

Giám đốc công an Đà Nẵng nói gì về thông tin 'biệt phủ'?

>> Sếp Tổng công ty đường sắt Việt Nam thu nhập nửa tỷ đồng mỗi năm
>> Giám đốc Công an Đà Nẵng nói gì về việc sở hữu biệt thự do Vũ "nhôm" tặng?
>> Giám đốc Công an Đà Nẵng nói gì trước thông tin nhận biệt thự 100 tỉ của Vũ "nhôm"?
>> Vụ Vũ “Nhôm”: Lợi ích nhóm làm hàng loạt cán bộ cao cấp “dính chàm”


PV





















TTO - Trả lời việc mạng xã hội đăng tải về căn biệt thự tại làng châu Âu Đà Nẵng - Euro Village Đà Nẵng và đặt câu hỏi có phải Vũ "nhôm" tặng, đại tá Lê Văn Tam - giám đốc Công an TP Đà Nẵng - nói người đưa sai sẽ "chịu trách nhiệm".

Trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ sáng 20-4, đại tá Lê Văn Tam - giám đốc Công an TP Đà Nẵng - cho biết ông đã đọc thông tin trên mạng đưa về việc ông có căn biệt thự tại làng châu Âu Đà Nẵng - Euro Village Đà Nẵng.

"Tôi có một cái nhà bên đó, do tôi đứng tên sở hữu nhưng nội dung phản ánh trên mạng thì không đúng sự thật. Báo chí có thông tin đưa ở đâu thì quyền của mấy ảnh, còn đưa sai thì họ chịu trách nhiệm" - ông Tam nói.

Trả lời về vấn đề ông có yêu cầu cơ quan chức năng xử lý nếu người ta đưa thông tin sai không, ông Tam nói: "Cái đó cơ quan chức năng sẽ làm việc. Đồng thời cơ quan chủ quản của cá nhân đó sẽ có trách nhiệm xử lý trong vấn đề đưa thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến uy tín cá nhân người khác".

Trước đó, trên mạng xã hội lan truyền thông tin từ facebook của một nhà báo tại Đà Nẵng cho rằng ông Lê Văn Tam có biệt phủ rộng khoảng 1.000m2 trong làng biệt thự Euro Village với giá trị đất và nhà giá trị 100 tỉ đồng.

Nội dung bài viết cũng đặt dấu hỏi về việc có phải nhà đất trên do Vũ "nhôm" tặng hay không. Thông tin cũng cho rằng ông Tam không còn ở biệt thự tại đây từ nhiều tháng qua…

Được biết, ông Lê Văn Tam được bổ nhiệm giữ chức giám đốc Công an TP Đà Nẵng từ ngày 21-5-2015.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

Biển Đông : Đối lập Philippines đòi hỏi chính quyền cứng rắn hơn với Trung Quốc


Các nghị sĩ đối lập Philippines.

Đảng Tự Do Philippines (LP) hôm nay 19/04/2018 đòi hỏi chính quyền Duterte có thái độ cứng rắn hơn trước Bắc Kinh tại Biển Đông, sau sự kiện hai máy bay quân sự Trung Quốc hạ cánh xuống Đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa.

Một lần nữa, đảng đối lập lại chỉ trích thái độ thụ động của chính phủ Duterte, mặc dù Tòa Trọng tài Quốc tế La Haye (PCA) đã ra phán quyết bác bỏ yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc chiếm gần hết diện tích Biển Đông. 


Tờ The Inquirer dẫn tuyên bố của thượng nghị sĩ Benigno « Bam » Aquino IV, đòi tổng thống Rodrigo Duterte phải minh bạch khi thương lượng với Bắc Kinh, để có thể biết được Philippines nhượng bộ những gì trong quan hệ « hữu nghị »mới này. Ông Aquino cho rằng nếu chính quyền có quyết tâm và trung thực trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì phải khẳng định chiến thắng của Manila tại PCA.

Thượng nghị sĩ Francis Fangilinan, chủ tịch đảng Tự Do chỉ trích, thái độ và cách xử sự của chính quyền trước hành động leo thang quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông là « không thể chấp nhận được ». Ông nhấn mạnh, lẽ ra vấn đề chủ quyền và an ninh phải được ông Duterte nêu ra trong chuyến thăm Trung Quốc gần đây.

Cựu dân biểu Erin Tanada, phó chủ tịch đảng Tự Do phụ trách đối ngoại nói rằng, nếu ông Duterte không giữ được lời hứa « đi xe trượt nước ra cắm cờ Philippines lên các đảo tranh chấp », thì ít nhất cũng phải biết đấu tranh bảo vệ thắng lợi đã đạt được tại Tòa Trọng tài ; và hy vọng tổng thống Philippines « có được can đảm đối đầu với Trung Quốc như hồi tranh cử đã hứa ». 

Tờ The Inquirer hôm qua đã công bố các hình ảnh chụp được hồi tháng Giêng cho thấy hai máy bay quân sự Trung Quốc đáp xuống Đá Vành Khăn (Mischief Reef). Rạn san hô này bị Trung Quốc kiểm soát từ năm 1995, nhưng Philippines, Việt Nam và Đài Loan vẫn đang tranh chấp với Bắc Kinh.

Phản ứng của Việt Nam 

Về phía Việt Nam, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng hôm nay 19/04/2018 tuyên bố : « Các hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của các bên mà không có sự đồng ý của Việt Nam là hoàn toàn vô giá trị và bất hợp pháp ».


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những đường băng và mô hình máy bay cổ đại ở Peru hé lộ điều gì cho con ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÓI THẲNG: Đồng tiền của Vũ "nhôm" thật đáng sợ


Nguyễn Đức 

(NLĐO) – Vũ "nhôm" đích thị là ông trùm mafia ở Việt Nam. Ông ta dùng những đồng tiền bẩn để mua chuộc một số kẻ có chức quyền đứng ra che chắn, biến ông ta thành thế lực "hô mưa gọi gió".

Tin 2 cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, 1 cựu Trung tướng - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Công an cùng một số cựu quan chức của Sở Tài nguyên – Môi trường, cựu sỹ quan công an bị khởi tố vì liên quan đến Phan Văn Anh Vũ (Vũ "nhôm"), gây chấn động dư luận.

Trước đó, cựu Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh cũng bị kỷ luật đến mức mất hết các chức vụ trong Đảng cũng vì liên quan đến Vũ "nhôm".

Sắp tới, ai sẽ là người tiếp theo? Vì sao nhiều quan chức cấp cao lại ngã ngựa, sa vào lao lý vì Vũ "nhôm"?

Cách đây chừng 15 năm, Vũ "nhôm" chỉ là một anh chàng làm cửa hàng nhôm kính ở Đà Nẵng, chẳng mấy ai biết đến. Ấy vậy mà, chỉ trong phút chốc, Vũ "nhôm" bỗng lột xác, trở thành đại gia bất động sản với hàng chục dự án tọa lạc ở những khu vực đắc địa của TP Đà Nẵng.

Theo một số thông tin được công bố, có đến 31 bất động sản là công sản được bán cho Vũ "nhôm" hoặc các doanh nghiệp có liên quan đến Vũ "nhôm" không qua đấu giá, hoặc nếu có đấu giá thì với giá rẻ mạt, làm thất thu ngân sách hàng ngàn tỉ đồng. Sau đó, Vũ "nhôm" hoặc doanh nghiệp của Vũ "nhôm" bán lại số đất này và thu lợi hàng trăm tỉ đồng. Số tiền chênh lệch khủng đương nhiên chảy vào túi của Vũ "nhôm" và phe nhóm của ông ta.

 Vũ "nhôm" còn thành lập hoặc trở thành cổ đông chi phối hàng loạt doanh nghiệp bất động sản ở Đà Nẵng và TP HCM như: Công ty TNHH The Sunrise Bay Đà Nẵng, Công ty CP Xây dựng Bắc Nam 79, Công ty I.V.C, Công ty CP Nova Bắc Nam 79. Chưa dừng lại, Vụ 'nhôm" còn lủng đoạn cả lĩnh vực ngân hàng, cụ thể ở đây là Ngân hàng Đông Á.

Khối tài sản khủng của Vũ "nhôm" phần lớn không phải do làm ăn chân chính mà nó được dịch chuyển từ tài sản công sang làm của tư dưới sự tiếp tay của những người có chức, có quyền.

 Việc làm của Vũ "nhôm" kéo dài hàng chục năm nhưng không bị phanh phui, ngăn chặn. Bởi lẽ, Vũ "nhôm" dùng chính những đồng tiền bẩn đó để mua chuộc một số kẻ có chức quyền đứng ra che chắn, biến ông ta trở thành thế lực "hô mưa gọi gió". Nếu không phải vì tiền và vì được chống lưng, liệu Vũ "nhôm" có được cái thế và lực đó không? Câu chuyện Vũ "nhôm" từng chỉ thẳng mặt Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng mà chửi khi vị này không làm theo ý của Vũ "nhôm" đủ thấy cái uy của đối tượng này lớn đến cỡ nào.

Còn nhớ ông trùm xã hội đen Năm Cam khi lôi kéo, mua chuộc cán bộ nhà nước bảo kê cho mình đã có câu nói nổi tiếng: "Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền". Với phương châm đó, Năm Cam và đàn em đã mua chuộc hàng loạt cán bộ bảo vệ pháp luật, trong đó có cả Ủy viên trung ương Đảng đứng ra bảo kê hoặc làm ngơ cho ông ta làm mưa làm gió ở TP HCM. Giờ đến lượt Vũ "nhôm", cao tay hơn và có nhiều quan chức cỡ bự bảo kê. Vũ "nhôm" đích thị là một ông trùm mafia ở Việt Nam.

Nói thẳng, Vũ "nhôm" không thể tác oai, tác quái nếu trước đây, cơ quan có thẩm quyền xử lý đến nơi đến chốn đối với Vũ "nhôm" và các quan chức làm sai. Bởi lẽ, vào năm 2013, Thanh tra Chính phủ đã từng thanh tra đất đai TP Đà Nẵng và có kết luận sai phạm 3.400 tỉ đồng liên quan đến việc bán đất công, trong đó có 22 dự án liên quan đến của Vũ "nhôm". 

Lúc đó, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng kiểm điểm chủ tịch, các phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời kỳ 2003-2011. Thanh tra Chính phủ còn kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công an xác minh, làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái, hành vi chuyển nhượng đất trái phép, gây thất thu ngân sách, nếu có dấu hiệu tội phạm thì phải xử lý hình sự.

Nếu lúc đó, những kiến nghị của Thanh tra Chính phủ được làm nghiêm thì có lẽ câu chuyện Vũ "nhôm" không đến mức nghiêm trọng như hiện nay; tài sản nhà nước không bị thất thoát, không bị "chảy" thêm vào túi Vũ "nhôm". Và, một số cán bộ cấp cao không lún sâu thêm đến mức phải sa vào vòng lao lý.    

Lấy tài sản công đem "dâng" cho Vũ "nhôm", không chỉ có hai cựu chủ tịch TP Đà Nẵng mà còn có những người khác, có quyền lực hơn. Người đó là ai, chắc chắn trong thời gian tới, cơ quan điều tra sẽ làm rõ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghiên cứu trẻ Việt Nam trước “bước ngoặt nhân học”



Nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn, “bước ngoặt nhân học”. Đã đến lúc nghiên cứu văn học không thể chỉ dùng các phương pháp thuần túy của chính nó, mà phải kết hợp với các phương pháp khác của khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó, quan trọng hơn cả là nhân học, đặc biệt nhân học văn hóa. 
    Điều này đòi hỏi nhà nghiên cứu trước hết phải có tri thức liên/xuyên ngành. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải đủ. Nhà nghiên cứu phải trở nên độc lập, độc lập về kinh tế và độc lập về tư tưởng, nhất là tư tưởng học thuật.
    Ở xã hội bao cấp hoặc bán bao cấp, đòi hỏi tự chủ kinh tế hoàn toàn là điều khó, tự chủ tư tưởng còn khó hơn, nhưng không làm được điều kiện sau thì không thể trở thành nhà nghiên cứu độc lập. Anh ta phải dám từ bỏ những gì đã được dạy dỗ trong nhà trường để nhẹ bước vào một hành trình mới. Và, điều này dường như dễ dàng hơn với những người trẻ.
    Nguyễn Mạnh Tiến (sinh năm 1983), thạc sĩ văn học ở Huế, khi ra Hà Nội đã trở thành một trong những người đầu tiên tham dự “bước ngoặt nhân học” này. Những đỉnh núi du ca(NXB Thế Giới, 2014; Hội Nhà Văn, 2017) là một mở đầu hoàn hảo.
    Từ những bài dân ca H’mông, thể loại văn học dân gian tiêu biểu cho tộc người này, bằng phương pháp “xếp chồng văn bản” của nhà phê bình phân tâm học Charles Mauron, tác giả đã tìm ra những “biểu tượng ám ảnh”, tức những biểu tượng có tần suất lớn và có cội rễ từ vô thức tập thể. Phân tích, sắp xếp và lý giải các biểu tượng này là “con đường hoàng đạo” dẫn đến cá tính/căn cước/bản sắc văn hóa tộc người.
    Tuy vậy, “bước ngoặt nhân học” không chỉ là một lối rẽ trong phòng giấy, mà phải trên thực địa. Nguyễn Mạnh Tiến đã phải tự bỏ tiền túi để “xe lên xe xuống” hàng chục lần trên đất Hà Giang, Lào Cai… để sống không phải cùng với người H’mông, mà sống H’mông.
    Những sống trải này không chỉ giúp Tiến kiểm chứng những gì đã đọc, mà còn thêm những biết mới, đặc biệt từ sự lý giải những sai lệch giữa cái đọc và cái biết, giữa lý thuyết và thực tế, Nguyễn Mạnh Tiến đã có tư duy nghiên cứu độc lập, mở rộng quan niệm về văn học.
    Điều này chẳng những đưa nghiên cứu văn học thoát khỏi sự “cầm tù của văn bản” đến với văn hóa, mà còn kiến tạo nên “mô hình núi” mở ra con đường tiếp cận Việt Nam từ núi, ngoài con đường cố hữu từ đồng bằng, hoặc từ biển mới biết gần đây. 
    Nguyễn Mạnh Tiến trong chuyến tìm hiểu tiếng khèn Ma Khái Sò của người H’mông trên cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: TLNV
    Đàm Nghĩa Hiếu (sinh 1988, Đại học Sư phạm Đà Nẵng) cũng dấn thân vào con đường này. Không quản “thân gái dặm trường”, Hiếu cũng một mình lặn lội nhiều lần ở vùng núi các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình để nghiên cứu truyện cổ Bru-Vân Kiều, một nét trội của văn học tộc Mon-Khmer này.
    Người Bru-Vân Kiều vốn ở cao nguyên Trung Lào, thậm chí gần châu thổ sông Mekong. Do những xáo trộn xã hội và tộc người (người Thái vào đất Lào và chiếm cứ vùng đồng bằng), họ phải tìm đến những vùng đất mới. Điểm dừng chân cuối cùng của họ là phía đông Trường Sơn.
    Tại đây họ phải đối mặt với một thiên nhiên khắc nghiệt và những tộc người láng giềng gốc Nam Đảo xa lạ. Để tồn tại được, họ phải tìm cách sống hòa hợp với chung quanh. Thích nghi, bởi vậy, trở thành con đường sống của họ, trở thành cá tính tộc người của họ. Những kinh nghiệm ấy, những cảm xúc ấy đã được lưu giữ trong truyện cổ, cuộc sống thứ hai của họ. Điều tưởng như đơn giản ấy không nằm sẵn trong văn bản văn học.
    Để “phát hiện” nó, Đàm Nghĩa Hiếu đã phải qua rất nhiều những cuộc trò chuyện với các “già làng trưởng bản”, các cán bộ văn hóa, đoán ý họ qua những ngập ngừng, đoán nghĩa qua những hiện tượng văn hóa bị lai ghép, hoặc đã tàn phai. Tuy nhiên, từ đó Hiếu cứ băn khoăn: nếu người Bru-Vân Kiều cứ thích nghi mãi, thích nghi nữa do sự đòi hỏi ngày càng nhiều của những hoàn cảnh mới thì liệu họ có còn là họ nữa không?
    Mai Anh Tuấn
    Sự thành công của “bước ngoặt nhân học” này, cũng như sự “lôi kéo” của Nguyễn Mạnh Tiến khiến một số nhà nghiên cứu khác cũng dần ít nhiều ngả theo hướng đi trên. Điều này phần nào được thể hiện ở Tủ sách Hiểu Việt Nam, như trong cuốn Những cạnh khía của lịch sử văn học… Đoàn Ánh Dương từ văn học Việt Nam đương đại. Nguyễn Đào Nguyên từ văn học Việt Nam trung đại. Phan Tuấn Anh từ lý luận văn học ở/của Việt Nam. Lê Nguyên Long từ lý luận văn học hiện đại thế giới. Phùng Kiên từ dịch văn học và so sánh văn học…
    Đặc biệt là trường hợp Mai Anh Tuấn (sinh 1985), người đang gặp khó khăn trong một công trình viết về Nguyễn Huy Thiệp. Lối tiếp cận thi pháp học, tự sự học ở Việt Nam đã bắt đầu kém năng suất kể cả trên những thửa ruộng cao sản Nguyễn Huy Thiệp. Hơn nữa, nghiên cứu nội quan biến các nhà phê bình thành những kẻ “đặc tuyển”, nói một thứ ngôn ngữ riêng đầy thuật ngữ khó hiểu. Chuyển sang nghiên cứu nội - ngoại quan là đưa văn học về với xã hội, cho phê bình văn học về với văn hóa, thế giới sống nguyên thủy của nó. Bởi, phê bình văn học thực chất là phê bình văn hóa. Và, một trong nẻo về đó là đến với nhân học, tham dự vào “bước ngoặt nhân học”.
    Truyện ngắn, kịch, phiếm luận Nguyễn Huy Thiệp được nhìn từ nhân học văn hóa bỗng hiện lên với ánh sáng khác, không phải sáng lóa, sáng lòe, mà sáng trắng. Thậm chí, các tiểu thuyết của Thiệp, nếu nhìn bằng con mắt tiểu thuyết, là yếu kém, thì lại giàu nghĩa, dôi nghĩa trong con mắt của nhân học văn hóa. Sự chuyển hướng này đòi hỏi ở Mai Anh Tuấn nhiều can đảm. Tuấn đã phải bỏ những gì mình đã làm gần xong để bắt đầu lại từ đầu, bỏ những gì đã chắc ăn để lao vào cái chưa hẳn đã ăn chắc.
    Nghiên cứu tâm lý một tộc người cũng là nghiên cứu văn hóa tộc người đó, bởi như G.Deveureux nói: tâm lý là văn hóa phóng
    Phạm Minh Quân
    chiếu ra bên ngoài, còn văn hóa là tâm lý phóng chiếu vào bên trong. Vào các ngày từ 28.11 đến 1.12.2017, Hội Tâm lý học ứng dụng quốc tế kết hợp với Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Hà Nội), Viện Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội tổ chức hội thảo quốc tế “Tâm lý học khu vực Đông Nam Á lần thứ nhất” ở Hà Nội.
    Tiểu ban Tâm lý học dân tộc do Đỗ Lai Thúy làm trưởng tiểu ban và điều khiển phiên hội thảo, gồm các báo cáo của Đỗ Lai Thúy, Phạm Minh Quân, Nguyễn Mạnh Tiến, Đàm Nghĩa Hiếu, Nguyễn Văn Sơn, được nhiều nhà khoa học nước ngoài tham dự và tranh luận.
    Nhân đây, cũng nên giới thiệu một gương mặt mới của nhân học trong lĩnh vực dịch thuật: Phạm Minh Quân (sinh 1993). Tốt nghiệp thạc sĩ văn hóa học, do trình độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ, Quân được nhiều cơ quan nghiên cứu sẵn sàng đón nhận (dĩ nhiên là không mất tiền!). Nhưng Quân đã từ chối để lấy thời gian “tranh thủ” dịch nhiều tác phẩm của nhân học Mỹ, như Tư duy của người nguyên thủy của F.Boas, người sáng lập trường phái nhân học Mỹ; Các mô thức văn hóa của R.Benedict, người khởi đầu trường phái văn hóa và nhân cách; Tuổi trưởng thành ở Samoa của M.Mead; Tình dục và ức chế trong xã hội hoang dã của Malinowski, nhà nhân học Anh, cha đẻ của phương pháp “quan sát tham dự”… Các công trình trên đã và đang được in trong Tủ sách Văn Hóa Học.
    Dịch, giới thiệu, nghiên cứu mảng nhân học văn hóa ở Tân lục địa là miếng ghép cuối cùng, “viên đá đỉnh vòm”, của bức tranh toàn cảnh. Điều tôi muốn nói thêm ở Phạm Minh Quân là anh đã nhất quyết không vào “biên chế”, trở thành nhà nghiên cứu độc lập, dù biết hàng núi khó khăn đang chờ phía trước.
    Trần Ngọc Hiếu
    Tuy nhiên, “bước ngoặt nhân học” không làm “lung lay” được Trần Ngọc Hiếu (sinh 1980), người sử dụng lý thuyết trò chơi để nghiên cứu cách tân thơ, dòng thơ ngôn ngữ.
    Văn học chính thức và chính thống thì bao giờ cũng đeo một bộ mặt nghiêm trang, thậm chí long trọng, nên nó rất sợ mọi trò chơi, bởi từ trò chơi đến cười cợt, chế giễu chỉ có một bước. Nhưng trò chơi của Hiếu là theo nghĩa triết học.
    Bị phê phán, Trần Ngọc Hiếu chỉ lẳng lặng cho bạn đọc biết được tính phổ quát, tính vũ trụ của trò chơi, đồng thời để anh ta nhận ra đằng sau những cách tân kỹ thuật của nhà thơ là một cái nhìn nghệ thuật khác, một cái nhìn thế giới khác. Thơ ca và triết học vốn là chị em. Mỗi nhà nghiên cứu thơ đều mong muốn vươn tới tầm triết học, thậm chí trở thành nhà triết học.
    Không phải ngẫu nhiên mà Trần Ngọc Hiếu tâm đắc và dịch Chết cho tư tưởng của C.Bradatan (Tri Thức, 2017). Khuynh hướng nghiên cứu văn học từ/như là triết học là một dòng chính từ thời cổ đại đến nay. Bước sang thế kỷ XX, với sự phát triển của khoa học, nghiên cứu văn học cũng được coi là một khoa học, gần gụi với khoa học xã hội và nhân văn. “Bước ngoặt nhân học” là một phát triển tự nhiên của xu hướng này. Theo một xu hướng nào đó không phải là thời thượng, mà là phù hợp thể tạng của mình, là được trở thành chính mình. Kiên trì một định hướng triết học trước “bước ngoặt nhân học” thể hiện phẩm chất độc lập của Trần Ngọc Hiếu. 
    Đã đến lúc khoa học phải thuần túy khoa học. Có như vậy khoa học mới vượt qua được “lợi ích nhóm” để đóng vai trò phản biện, trước hết với chính nó. Từ những nghiên cứu độc lập đến nhà nghiên cứu độc lập rồi đến lớp trí thức độc lập là một con đường dài, nhưng không thể không đi, nhất là với người trẻ. 
    Đỗ Lai Thúy

    http://nguoidothi.net.vn/nghien-cuu-tre-viet-nam-truoc-buoc-ngoat-nhan-hoc-13028.html


    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Lập chốt công an trong bệnh viện: Bệnh nhân - bác sĩ càng xa nhau?


    >> Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và “Niềm đau dĩ vãng”
    >> Cơ chế nào cho “siêu” Uỷ ban quản lý vốn?
    >> Khách hàng Eximbank bị "bốc hơi" 245 tỷ đồng, Phó Thống đốc nói gì?


    Phạm Trung Tuyến















    KPO - Người như thế nào mới có thể đánh bác sĩ khi đang đưa con đến bệnh viện để cấp cứu? Tôi nghĩ rằng đó là một câu hỏi cần thiết trước khi đưa ra một quyết định, một thái độ về những hình ảnh người nhà hành hung bác sĩ tại bệnh viện.

    Đó có thể là một người đàn ông vì quá thương xót con mà mất kiểm soát trước những điều phiền toái khiến con mình không được cấp cứu kịp thời.

    Đó cũng có thể là một kẻ tâm thần, ghét bác sĩ bẩm sinh.

    Dù ở trường hợp nào kể trên, việc một người nhà bệnh nhân đánh bác sĩ cũng không thể phổ biến. Một người cha đưa con vào bệnh viện bỗng nhiên đánh chính người đang cứu chữa cho con mình: hoặc anh ta không bình thường, hoặc anh ta bị làm cho phát điên.

    Tôi không đủ dữ liệu để biết người đàn ông này thuộc diện nào trong 2 trường hợp đó. Nhưng điều tôi thấy rõ ràng nhất là đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc lập chốt công an trong bệnh viện là không bình thường.

    Trong xã hội loài người, những nghề nghiệp nào dễ bị đánh nhất? Hẳn nhiên, đó là những ngành nghề dễ xung đột lợi ích với người khác. Nhà báo tọc mạch đời tư của người khác, dễ bị đánh. Công nhân xây dựng - vệ sinh môi trường làm việc thiếu khoa học, bới tung đường hoặc làm cản trở giao thông của người khác, dễ bị đánh. Còn nghề làm thầy - thầy thuốc, thầy giáo - chắc chắn ít bị đánh hơn. Vì họ cứu người, dạy người.

    Dễ và khó, đều không có nghĩa là hoàn toàn không xảy ra. Nhà giáo bị đánh, thầy thuốc bị đánh, nhà báo bị đánh, công nhân môi trường bị đánh, cảnh sát giao thông cũng bị đánh. Vậy tại sao chỉ có thầy thuốc là được đề nghị được bảo vệ đặc biệt? Đề nghị đó đã sai ngay ở tính khả thi. Bởi không thể lập chốt mỗi điểm nhà báo đi tác nghiệp, không thể cử cảnh sát đi theo xe rác hay chốt chặn ở các công trường, không thể có anh cảnh sát vác dùi cui đi trong sân trường, và ngồi uống nước chè cả ngày trong phòng khám.

    Cảnh sát chỉ nên lập chốt bảo vệ ở đâu? Ở những vị trí bảo vệ mục tiêu, tức những nơi trọng yếu, có khả năng bị tấn công cao như ngân hàng, trụ sở các cơ quan nhà nước. Hoặc đó là những điểm có nguy cơ xung đột, mất an ninh như các khu vực biểu diễn, các sự kiện của đám đông.

    Bệnh viện không bao giờ là địa điểm có nguy cơ bị tấn công. Đó cũng không phải môi trường dễ nảy sinh xung đột, vì tính chất của mối quan hệ giữa y bác sĩ và người nhà bệnh nhân là mối quan hệ tương trợ, giúp đỡ nhau. Vậy thì đặt chốt cảnh sát ở bệnh viện làm gì?

    Chốt cảnh sát trong bênh viện sẽ mang lại điều gì? Sự yên tâm của nhân viên y tế khi tác nghiệp ư? Chẳng bác sĩ nào có thể yên tâm với chốt cảnh sát ở nơi làm việc của mình. Bởi khi họ yên tâm với cái chốt cảnh sát, tức là họ không yên tâm với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân mà họ đang cứu chữa. Điều gì sẽ xảy ra khi các nhân viên y tế luôn nghi ngại, sợ hãi bệnh nhân của mình? Họ sẽ có tâm lý thù địch, và dễ dàng chuyển hoá thành thái độ thù địch với bệnh nhân. Và chính cái thái độ thù địch, thiếu niềm tin của nhân viên y tế mới là nguồn cơn lớn nhất khiến người ta điên tiết.

    Một người bình thường đưa con đi chữa bệnh, khi ức phát điên thì mới ra tay với bác sĩ. Bởi nếu không ức phát điên thì một kẻ giang hồ máu lạnh cũng không muốn làm hại ân nhân của con mình. Mối giao cảm giữa người nhà bệnh nhân với bác sĩ là mối giao cảm phụ thuộc, tin tưởng, và biết ơn. Một mối giao cảm như vậy rất khó để tạo ra bạo lực. Bạo lực chỉ xảy ra khi quan hệ giữa nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân không thể giao cảm với nhau theo cách thông thường. Điều đó chỉ xảy ra nếu nhân viên y tế coi việc cứu người là một quyền lực.

    Đã có những bác sĩ bị đánh tại nơi làm việc không phải bởi kẻ điên, mà bởi những người bình thường không kiềm chế được cơn giận dữ và lo lắng. Điều đó không khỏi có những khi xuất phát từ ý thức quá mức về quyền lực của những nhân viên y tế.

    Và với sự có mặt của những người mặc sắc phục cảnh sát trong bệnh viện, với sự tự tin được bảo vệ, cái ý thức quyền lực của kẻ mạnh trong các nhân viên y tế có thể dễ hình thành hơn. Và vì thế, họ có thể dễ bị đánh hơn, một khi đã mất đi hoặc đã quên đi những giao cảm tốt đẹp với chính cái cộng đồng mà họ đang là thành tố quan trọng và đáng được trân trọng nhất.


    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Tưởng nhớ nhà thơ Nguyên Sa nhân 20 năm ngày mất (1998-2018)

    Phần nhận xét hiển thị trên trang