Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

EVFTA sẽ ra sao sau cú giáng án Hội Anh Em Dân Chủ?


PHẠM CHÍ DŨNG 

















VOA - Lần thứ hai trong vòng 9 tháng, cánh cửa của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu (EVFTA) vừa hé ra đã sập trở lại ngay trước mũi giới chóp bu Việt Nam.

Hai cú sập cửa vang động

Cú sập đầu tiên xảy ra vào tháng Tám năm 2017, ngay sau khi Nhà nước Đức ra thông báo tố cáo mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin. Ít ngày trước đó là một chuyến công du của thủ tướng Việt Nam - ông Nguyễn Xuân Phúc - đến bên lề Hội nghị G20 ở Đức, với một trọng tâm của chuyến đi này là vận động Đức “linh hoạt thông qua EVFTA”. Khi đó, đã xuất hiện vài tín hiệu thuận lợi từ thủ đô Bruxelles của Bỉ - nơi đặt trụ sở của Liên minh châu Âu (EU) - về Hiệp định EVFTA có thể được ký kết vào cuối năm 2017 và tiến tới phê chuẩn trong năm 2018. Nhưng sau vụ “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh”, phần lớn trong số 28 nước châu Âu đã dừng kế hoạch xem xét thông qua EVFTA. Còn người Đức thì khỏi phải nói: không chỉ trục xuất vài cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức về nước, Nhà nước Đức còn thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam vào tháng 10/2017 và một tháng sau đã thông báo ngừng luôn hiệp định về miễn trừ visa đối với quan chức Việt Nam đi công tác ở Đức.

Chỉ đến tháng 11/2017, trước một số hứa hẹn của giới ngoại giao Việt Nam trên bàn đàm phán song phương với Đức về vụ Trịnh Xuân Thanh, phía Đức mới bớt nghiêm khắc với EVFTA và để lỏng cho hiệp định này có cơ hội được chính thể Việt Nam “quốc tế vận” ở một số nước Tây Âu và Đông Âu như Thụy Sĩ, Bỉ, Pháp, Luxemburg, Hà Lan, Séc, Hungary, Bungary… Đó cũng là khoảng thời gian mà bầu không khí “Việt Nam đang tích cực vận động EVFTA” và “EVFTA sẽ được phê chuẩn và đi vào hoạt động vào đầu năm 2018” - theo lối tuyên giáo một chiều và bất cần đối sánh của báo đảng Việt Nam. Một số quan chức ngoại giao cao cấp của Bỉ và Thụy Điển cũng đến Việt Nam vào thời gian này. Tình hình có vẻ có chút thuận lợi để EVFTA có thể được Ủy ban châu Âu trình lên Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu để “linh hoạt sớm thông qua”.

Nhưng đến ngày 5/4/2018, cú sập cửa thứ hai đã vang động đất nước của những tiếng sầm sập cửa nhà tù. Bản án bất công và án tù khủng khiếp đến 66 năm đối với 6 thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ đã kích thích phản ứng quốc tế có thể không mấy kém thua vụ ‘bắt cóc Trịnh Xuân Thanh”.

Vì sao EU quan tâm Hội Anh Em Dân Chủ?

Hoàn toàn trái ngược với lối quy chụp “tuyên truyền chống nhà nước” và “âm mưu lật đổ chính quyền” của chính thể Việt Nam đối với Hội Anh Em Dân Chủ, tổ chức xã hội dân sự này đã làm được nhiều hơn bất cứ tổ chức xã hội dân sự nào khác, và hơn hẳn toàn bộ khối tổ chức hội đoàn nhà nước như Mặt trận Tổ quốc, Tổng liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên cộng sản… trong mục tiêu hỗ trợ ngư dân và giáo dân 4 tỉnh miền Trung đòi lại công lý và tiền đền bù sau thảm họa xả thải ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra vào hai năm 2016 và 2017.

Nếu Formosa đã trở thành một chủ đề quốc tế và được nhiều tổ chức môi trường lẫn chính phủ một số nước và báo chí quốc tế đặc biệt quan tâm, số phận những lãnh đạo Hội Anh Em Dân Chủ bị công an Việt Nam tống giam cũng bởi thế được quốc tế quan tâm không kém - theo tiêu chí các giá trị dân chủ và nhân quyền trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Hoàn toàn dễ hiểu là phiên tòa của chính quyền Việt Nam xử “Luật sư Nguyễn Văn Đài và các đồng phạm” trong Hội Anh Em Dân Chủ được chính phủ nhiều nước chú tâm đến thế nào. Trước khi phiên tòa này diễn ra vào ngày 5/4, nhiều đại sứ quán nước ngoài ở Việt Nam, bao gồm EU, Mỹ, Đức và Australia đã liên tiếp đề nghị chính quyền Việt Nam để đại diện chính phủ của những nước này tham dự phiên tòa.

Thông tin từ những người trong giới đấu tranh nhân quyền cho biết vài ngày trước phiên xử, lời đề nghị trên đã được chính quyền Việt Nam chấp nhận. Tuy nhiên đến chiều muộn ngày 4/4, một nhà ngoại giao từ EU cho biết Hà Nội đã rút lại phép với lý do an ninh. Nhưng đến gần 10 giờ tối cùng ngày 4/4, phía EU lại “được phép” tham dự phiên tòa, dù chỉ được vào một phòng riêng trong khu vực tòa án có màn hình để theo dõi phiên xét xử chứ không được vào phòng xử án để trực tiếp mắt thấy tai nghe về Hội đồng xét xử và tiếng nói của những người ra xét xử.

Vậy EU đã phản ứng ra sao sau khi Hội đồng xét xử của phiên tòa trên - dù không đủ chứng cứ nên phải suy diễn theo hướng quy chụp có tội - giáng một bản án đến 66 năm đối với 6 thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ, trong đó riêng Luật sư Nguyễn Văn Đài bị giáng án đến 15 năm tù?

Cứng rắn chưa từng có

“Những bản án mà Tòa Hà Nội tuyên cho 6 nhà hoạt động dân chủ Việt Nam vào ngày 5 tháng tư là sự vi phạm trực tiếp những nghĩa vụ quốc tế mà chính Hà Nội cam kết; cũng như Liên Minh Châu Âu mong muốn được tôn trọng đầy đủ. Liên Minh Châu Âu mạnh mẽ cam kết bảo vệ những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi sẽ tiếp tục giám sát và làm việc với các cơ quan chức năng và những đối tác liên quan nhằm cải thiện tình hình nhân quyền tại Việt Nam” - tuyên bố của Phát ngôn nhân Maja Kocijancic của EU phát đi từ Bruxelles.

Bruxelles lại là thủ phủ của EU - nơi mà các quan chức cao cấp của Việt Nam như Phó thủ tướng Vương Đình Huệ và Bộ trưởng công thương Trần Tuấn Anh liên tục đến để “vận động EU linh hoạt sớm phê chuẩn EVFTA” trong năm 2017 và đầu năm 2018.

Chi tiết ngoại giao đáng chú ý là trong tuyên bố của Phát ngôn nhân Maja Kocijancic của EU phát đi từ Bruxelles đã không còn những từ ngữ “lo ngại” hay “quan ngại” như một cách biểu lộ phản ứng nhẹ nhàng hoặc vừa phải, mà là lời lẽ cứng rắn - thậm chí còn cứng rắn hơn cả mức độ cứng rắn trong bản nghị quyết về vấn đề nhân quyền Việt Nam - mang số hiệu 2016/2755 (RSP) mà Nghị viện châu Âu tung ra vào tháng 6/2016, vào lúc chính quyền Việt Nam bắt đầu một chiến dịch đàn áp khốc liệt kéo dài 17 tháng liên tiếp đối với giới đấu tranh nhân quyền ở quốc gia “lệ rơi hình chữ S” này.

Sau nhiều năm giữ ôn hòa với chính quyền Việt Nam và thậm chí còn bị cho là khá mềm yếu trước quá nhiều vi phạm nhân quyền, từ giữa năm 2016 đến nay EU ngày càng quan tâm đặc biệt đến chủ đề nhân quyền cho Việt Nam và nói thẳng đây là một trong những điều kiện bắt buộc, để nếu Việt Nam không chịu cải thiện nhân quyền thì sẽ không có cơ hội nào có được EVFTA.

Cả Pháp cũng “ưu tiên nhân quyền Việt Nam”

Sau khi TPP đổ vỡ lần đầu vào đầu năm 2017 do Mỹ chính thức rút khỏi hiệp định này, chính thể Việt Nam chỉ còn EVFTA là hiệp định thương mại mang lại lợi lộc nhiều nhất ứng với đà xuất siêu của Việt Nam sang châu Âu lên đến 25 tỷ USD mỗi năm - gần bằng giá trị nhập siêu lên đến 30 tỷ USD hàng năm (chỉ tính theo đường chính ngạch, chưa kể khoảng 20 tỷ USD nhập siêu theo đường tiểu ngạch) của Việt Nam từ Trung Quốc.

Muốn EVFTA được thông qua, Việt Nam cần có toàn bộ đồng thuận của 28 quốc hội ở 28 nước châu Âu, mà nếu chỉ một nước không đồng ý thì Hà Nội coi như trắng tay.

Đối với chính thể độc đảng ở Việt Nam, EVFTA quan trọng đến mức mà vào tháng Ba năm 2018, người đứng đầu đảng là Nguyễn Phú Trọng đã phải tự thân đến Pháp, để vận động Nghị viện Pháp cho EVFTA được Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu “linh hoạt sớm thông qua”.

Nhưng ngay sau cuộc gặp Macron - Trọng, không phải báo đảng Việt Nam, mà những hãng thông tấn của Pháp như AFP đã loan tin là trong cuộc gặp này, Tổng thống Pháp Macron đã đề cập một cách nhấn mạnh về tình hình nhân quyền tại Việt Nam và trường hợp các blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền bị bỏ tù, đồng thời kêu gọi Việt Nam thực hiện những cải cách để tăng cường nhà nước pháp quyền.

Đề cập và lời kêu gọi của Tổng thống Macron là logic với đánh giá cho rằng Chính phủ Pháp đã chủ động yêu cầu phía Việt Nam phải đưa nội dung “nhấn mạnh nhân quyền” vào Tuyên bố chung Việt - Pháp 2018 và đôn nội dung này lên vị trí thứ 2 trong bản tuyên bố này, vượt hơn nhiều so với vị trí thứ 6 của chủ đề nhân quyền được thể hiện trong bản tuyên bố Việt - Pháp vào tháng Chín năm 2013 trong chuyến công du Pháp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp Thủ tướng Jean - Marc Ayrault.

EVFTA lại vô định!

Vào tháng Hai năm 2018, trang Borderlex của châu Âu đã chính thức cho biết để thông qua EVFTA, “EU khăng khăng yêu cầu Việt Nam phê chuẩn ba hiệp ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tự do lập hội, quyền tổ chức và thương lượng tập thể, và việc bãi bỏ lao động cưỡng bức dường như đã mang lại kết quả”, và khẳng định “Phía sau việc trì hoãn này (EVFTA) còn có một số lý do chính trị như: ưu tiên đưa ra thỏa thuận của EU với Nhật Bản, cuộc đụng độ ngoại giao giữa Berlin và Hà Nội, và Liên minh châu Âu nhấn mạnh rằng Việt Nam cần tôn trọng hơn các quyền con người và quyền lao động”.

Trước khi phiên tòa xử Hội Anh Em Dân Chủ diễn ra, báo đảng Việt Nam đã ồn ào khoa trương về việc Việt Nam đang đôn đốc vận động Ủy ban châu Âu hoàn tất bản thảo của EVFTA vào cuối tháng 3/2018 để trình Hội đồng châu Âu và sau đó trình Nghị viện châu Âu với hy vọng “sẽ thông qua vào mùa thu năm 2018”. Tuy nhiên đã hết tháng Ba và sang tháng Tư mà vẫn không có bất kỳ tin tức nào về “hoàn tất bản thảo”.

Cú giáng án bất công và quá nặng nề đối với Hội Anh Em Dân Chủ không chỉ cho thấy chuyến công du Pháp của Nguyễn Phú Trọng hầu như không đạt được kết quả nào về “vận động EVFTA sớm thông qua” mà đã dẫn đến động tác “giận cá chém thớt” những người hoạt động nhân quyền, mà còn khiến cánh cửa mới hé của hiệp định này đóng sập trước mũi Hà Nội và còn lâu mới trở thành “cứu cánh” cho nền kinh tế lẫn chân đứng chế độ độc đảng đang nhanh chóng ruỗng mục ở Việt Nam.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT, NHÂN MỘT NĂM SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM




14-4-2018

Sự việc

Sự kiện Đồng Tâm xảy ra một năm trước đây đã đánh dấu bước ngoặt mới trong phong trào phản kháng của người dân đối với chính sách đất đai của nhà nước. Nếu trước đó nhiều dân oan mất đất chỉ biết kéo nhau đi khiếu kiện đông người một cách ôn hòa, thì ở Đồng Tâm lần đầu tiên dân chúng trong một xã đã tổ chức quy củ dùng thế hợp pháp kết hợp dân vận, binh vận, lập làng chiến đấu, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Một năm sau sự kiện Đồng Tâm, tuy sự đối đầu giữa người dân và chính quyền tạm thời lắng dịu, nhưng ngòi nổ của sự phản kháng và bất ổn xã hội vẫn chưa được tháo gỡ. Người dân không chỉ riêng ở Đồng Tâm, mà ở khắp mọi nơi trong cả nước, đều thấy rõ các giải pháp của chính quyền từ trung ương đến địa phương hầu như chỉ nhằm đối phó sự phản kháng một cách tạm thời để răn đe hoặc xoa dịu. Gốc rễ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, đó chính là chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Vấn nạn

Đất đai luôn được xem là loại tài sản đặc biệt, nên quốc gia nào cũng xem trọng và đặt chính sách đất đai vào vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Tại Việt Nam, theo mô hình xã hội chủ nghĩa từ năm 1955 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, chế độ sở hữu tư nhân đối với đất đai chấm dứt, và thay vào đó quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này thuộc về “toàn dân”, thông qua vai trò quản lý tập trung của Nhà nước. Đây là một chính sách đất đai hoàn toàn dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế-chính trị Marx-Lenin.

Sau hàng chục năm hiện hữu ở nước ta, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được cưỡng ép áp dụng vào đời sống xã hội và kinh tế nhằm thực hiện một kế hoạch chính trị hoang tưởng gọi là “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Kết quả là khủng hoảng kinh tế-xã hội xảy ra nghiêm trọng, khiến Đảng Cộng sản phải tiến hành đổi mới kinh tế theo theo hướng thị trường. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai tiếp tục gây ra nhiều trở ngại hơn cho sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế và đe dọa sự ổn định của cả xã hội.

Gắn liền và xuất phát từ quan niệm “sở hữu toàn dân” là định chế “quyền sử dụng đất”, một khái niệm đặc biệt về quyền tài sản chỉ có ở các quốc gia thuộc khối Liên Xô cũ và nay còn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam. Tuy được luật pháp công nhận đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (tức là chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, v.v…) tương tự với quyền sở hữu các tài sản thông thường khác, người có quyền sử dụng đất lại không thể định đoạt trọn vẹn mảnh đất của mình, mà trái lại tùy thuộc vào quyết định tối hậu của Nhà nước trong vai trò đại diện toàn dân quản lý toàn bộ đất đai trên lãnh thổ quốc gia.

Người nông dân luôn đối diện nguy cơ bị tước đoạt đất đai bất cứ lúc nào, và giấc mơ người cày có ruộng của họ không bao giờ trở thành sự thật.

Việc quy hoạch sử dụng đất dù trên lý thuyết thuộc về nhà nước, nhưng trên thực tế là do các chủ đầu tư khởi ra và vận động để có sự quyết định của quan chức các cấp, trước nhất là quan chức các địa phương. Điều này khiến quan chức trở thành loại cường hào, ác bá còn đáng sợ hơn cả trong chế độ phong kiến. Họ biến mình thành công cụ của giới đầu tư bất lương khi hỗ trợ các dự án xây dựng địa ốc hoặc công trình hạ tầng bằng cách tước đoạt đất đai của người dân và đền bù với giá rẻ mạt.

Tình trạng lạm dụng quyền hành biến đất công thành đất tư, bồi thường di dời không thỏa đáng để trục lợi, nhận hối lộ để phê duyệt và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong những dự án kinh doanh bất động sản đã và sẽ tiếp tục xảy ra trầm trọng, tạo nên bất mãn xã hội ngày càng sâu rộng. Điều này là nguyên nhân chính của nạn khiếu kiện đông người khắp cả nước, hay còn gọi là nạn dân oan.

Nguyên nhân

Cốt lõi của tất cả những trở ngại nêu trên bắt nguồn từ sự kết hợp khiên cưỡng hai khái niệm vốn dĩ khác biệt nhau để tạo nên định chế quyền sử dụng đất, đó là khái niệm “quyền sở hữu tài sản” theo tư duy pháp lý và khái niệm “sở hữu toàn dân” theo tư duy chính trị-ý thức hệ.

Về phương diện pháp lý, chủ thể của quyền sở hữu tài sản lẽ ra chỉ là thể nhân hoặc pháp nhân, mà danh tính và lý lịch pháp lý được xác định cụ thể, trong khi “toàn dân” chỉ đơn thuần là một ý tưởng không có khuôn mặt rõ ràng và chưa bao giờ được công nhận là chủ thể pháp lý riêng biệt trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào trên thế giới.

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung được xây dựng trên nền tảng lý luận Marx-Lenin, tư duy chính trị thắng thế, nên sự tác hại của sở hữu toàn dân đối với đất đai bị bưng bít khiến người ta có cảm giác nó không tạo ra nhiều vấn đề nan giải cho xã hội. Hơn nữa, do nền kinh tế được hoạch định theo kế hoạch tập trung, nên mọi bất đồng và bất cập đều có thể giải tỏa bằng mệnh lệnh hành chính từ nhà nước.

Tuy nhiên, từ khi chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường được áp dụng, yếu tố thị trường sẽ ngày càng chi phối sự phát triển, tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của quan niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Thực tế đã chứng minh rằng việc cưỡng lại yêu cầu này là nguyên nhân khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa.

Yêu cầu

Trước tình hình nghiêm trọng nêu trên, chúng tôi – các tổ chức xã hội dân sự và người Việt trong và ngoài nước – đồng lòng đưa ra tuyên bố như sau:

Thứ nhất, quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai cần được sớm công nhận. Do đó, cần quy tụ ngay các chuyên gia kinh tế và pháp lý để nghiên cứu một cách khoa học khả năng chấp nhận tư hữu hóa các loại đất được sử dụng vào mục đích kinh doanh để phát triển kinh tế, hơn là tiếp tục duy trì quan niệm sở hữu toàn dân chung chung mơ hồ đối với đất đai như hiện nay.

Thứ hai, cần chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp để công nhận chế độ đa sở hữu đối với đất đai, trong đó có sở hữu nhà nước, sở hữu của các tổ chức và sở hữu tư nhân.

Thứ ba, trong khi chờ đợi thay đổi luật lệ và chính sách, cần sớm công nhận quyền sử dụng đất như một loại quyền tài sản mà nhà đầu tư và người sử dụng đất phải thỏa thuận theo nguyên tắc thuận mua vừa bán, dựa trên giá cả thị trường, nếu nhà đầu tư muốn sử dụng cho các dự án nhằm mục đích phát triển kinh tế. Cần chấm dứt ngay nạn cưỡng bức thu hồi đất mà chính quyền ở các địa phương đang thực hiện. Việc giải quyết các tranh chấp đất giữa người dân và giới đầu tư phải dựa trên nguyên tắc công bằng, bảo đảm lợi ích của người dân, của nhà đầu tư và lợi ích công cộng.

Lập ngày 15 tháng 4 năm 2018

Tổ chức và cá nhân ký tên:
Tổ chức:
  1. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, do ông Lê Thân đại diện
  2. Diễn đàn Xã hội Dân sự, do TS Nguyễn Quang A đại diện
  3. Nhóm Vì Môi Trường, do Nguyễn Thị Bích Ngà đại diện
Cá nhân:
  1. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu văn hoá, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
  2. Nguyễn Quang A, TS khoa học, Hà Nội
  3. Nguyễn Đăng Quang, Cựu Đại tá CAND, Hà Nội.
  4. Dương Sanh, Cựu giáo chức, Vạn Ninh, Khánh Hòa.
  5. Nguyễn Nguyên Bình, Nhà văn, ở Hà Nội.
  6. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng TK Hội trí thức yêu nước TpHCM, Chủ nhiệm danh dự CLB LHĐ
  7. Hạ Đình Nguyên, cựu tù Côn Đảo, nhà báo, Thành viên CLB LHĐ
  8. Bùi Tiến An, hưu trí, T.V. CLB LHĐ
  9. Vũ Trọng Khải, PGS.TS, nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp, Sài Gòn
  10. Lê Thân, cựu tù nhân Côn Đảo, cư trú tại Nha Trang
  11. Lê Công Định, luật gia, cựu Tù nhân lương tâm, Sài Gòn
  12. Hoàng Hưng, nhà thơ-dịch giả, Sài Gòn
  13. Hoàng Dũng, PGS.TS, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, TPHCM
  14. Đào Tiến Thi, Thạc sĩ Ngữ văn, Hà Nội
  15. Phan Quốc Tuyên, Kỹ sư tin học, Genève, Thụy Sĩ
  16. Bùi Minh Quốc, Nhà báo, Đà Lạt
  17. Trần Ngọc Sơn, Kỹ sư, Pháp
  18. Nguyễn Thị Thanh Hằng, Dược sĩ, Pháp
  19. Tống Văn Công, Nhà báo, nguyên TBT Báo Lao Động, hiện ở Hoa Kỳ
  20. Mai Hiền, Nhà báo, hiện ở Hoa Kỳ
  21. Hà Văn Thùy, Nhà văn, Sài Gòn
  22. Nguyễn Đào Trường, 65 phố Đinh Văn Tả, phường Bình Hàn, TP Hải Dương.
  23. Nguyễn Thị Thanh Bình, Nhà văn
  24. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ Hán Nôm, Hà Nội.
  25. Hà Quang Vinh, hưu trí, ngụ tại phường 15, Quận 11, Tp HCM
  26. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng (CLB Phan Tây Hồ)
  27. Trần Rạng, Nhà giáo, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn
  28. Nguyễn Văn Lịch, Kỹ sư cơ khí, Đống Đa, Hà Nội.
  29. Ngô Thị Kim Cúc, Nhà văn-Nhà báo, Sài Gòn
  30. Lê Khánh Luận, TS, nguyên giảng viên ĐH Kinh tế, Tp.HCM
  31. Nguyễn Văn Tạc, Giáo học hưu trí, Hà Nội
  32. Trần Kế Dũng, sống tại Úc Châu (Australia)
  33. Nguyễn Thị Khánh Trâm, hưu trí, TP HCM
  34. Đào Minh Châu, Hà Nội
  35. Nguyễn Hải Sơn, Công nhân, CHLB Đức
  36. Nguyễn Trọng Bách, Kỹ sư, Nam Định
  37. Mã Lam, Nhà thơ, Sài Gòn
  38. Nguyễn Đình Cống, Giáo chức hưu trí, Hà Nội.
  39. Hồ Quang Huy, Kỹ sư đường sắt, Nha Trang, Khánh Hòa
  40. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TpHCM
  41. Trần Bang, kỹ sư, cựu chiến binh, Sài Gòn
  42. Phạm Duy Hiển, Dịch giả, bút danh Phạm Nguyên Trường, Vũng Tàu
  43. Phạm Toàn, Nhà nghiên cứu Giáo dục, Hà Nội
  44. Hà Sỹ Phu, TS Sinh học, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
  45. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Sài Gòn.
  46. Võ Văn Tạo, Nhà báo, Nha Trang
  47. Mai Thái Lĩnh, Nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ – Đà Lạt.
  48. Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Sài Gòn
  49. Vũ Thế Khôi, Nhà giáo Ưu tú, Ba Đình – Hà Nội
  50. Trần Tiến Đức, Nhà báo độc lập, Đạo diễn phim tài liệu và truyền hình, Hà Nội
  51. Tiêu Dao Bảo Cự, Nhà văn tự do, Đà Lạt
  52. Huỳnh Sơn Phước, Nhà báo, Sài Gòn
  53. Nguyễn Văn Tạc, Giáo học hưu trí – Hà Nội
  54. Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An
  55. Ngô Kim Hoa, Nhà báo, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
  56. Lại Thị Ánh Hồng, Nghệ sĩ – hưu trí, TV CLB LHĐ
  57. Ngụy Hữu Tâm, dịch giả ở Hà Nội
  58. Phan Văn Hiến, cựu Giáo chức, Hà Nội
  59. Nguyễn Văn Vỵ, PGS, TS, Giáo viên, Hà nội
  60. Lê Xuân Thiêm, Kỹ sư Xây dựng, SG
  61. Đào Tấn Phần, trường THPT Trần Quốc Tuấn, xã Hòa Định Đông, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
  62. Lê Đoàn Thê, số 32, ngõ 252 Minh Khai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nôi.
  63. Lại Nguyên Ân, Nhà nghiên cứu Văn học, Hà Nội
  64. Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh Dự Đại học Liège, Bỉ, sống ở Sài Gòn
  65. Nguyễn Hữu Tuyến, Kỹ sư hưu trí, P12, Q10, Sài Gòn
  66. Lưu Hồng Thắng, Công nhân, Hoa Kì
  67. Nguyễn Thị Bích Ngà, Nhà báo, Q3, Sài Gòn.
  68. Nguyễn Đan Quế, Bác sĩ, Sai Gòn.
  69. Tô Oanh, Giáo viên THPT- hưu trí, TP Bắc Giang
  70. Phùng Hoài Ngọc, cựu Giảng viên Đại học, tỉnh An Giang
  71. Nguyễn Ngọc Xuân, Nông dân đã nghỉ hưu, Xuyên Mộc, Bà Rịa vũng Tàu.
  72. Lê Hải, Nhà nhiếp ảnh, Đà Nẵng
  73. Lý Đăng Thạnh, người chép Sử, Sài Gòn.
  74. Hoàng Văn Lạc, Nhà giáo, Bà Rịa – Vũng Tàu.
  75. Nguyễn Hồng Khoái, Chuyên viên tư vấn tài chính. Quận Tây Hồ, Hà Nội
  76. J.B Nguyễn Hữu Vinh, Nhà báo tự do, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội.
  77. Lê Mai Đậu, Cán bộ hưu trí, Trung Hoà, Từ Liêm, Hà Nội.
  78. Nguyễn Thuý Hạnh, Nhà báo tự do, sống tại Hà Nội.
  79. Huỳnh Ngọc Chênh, Nhà báo độc lập, sống tại Hà Nội.
  80. Trần Minh Quốc, Nhà giáo – hưu trí, Sài Gòn
  81. Nguyễn Quang Nhàn, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
  82. Nguyễn Kim Chi, Nghệ sĩ ưu tú, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
  83. Nguyễn Huy Hoàng, hưu trí, Sài Gòn
  84. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Đà Lạt
  85. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí, Đà Lạt
  86. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy TP Đà Lạt, Lâm Đồng
  87. Lê Phú Khải, Nhà báo, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
  88. Vũ Công Minh, Cử nhân Tài chính, Tp Hải Dương
  89. Trần Thanh Vân, Kiến trúc sư, Hà Nội
  90. Đào Đình Bình, Kỹ sư- hưu trí, Hà Nội
  91. Nguyễn Mê Linh, TS, An Phú, Q2, TpHCM
  92. Đồng Quang Vinh, hưu trí, Khánh Hòa
  93. Cấn Thị Thêu, Dương Nội, Hà Nội
  94. Trịnh Bá Phương, Dương Nội, Hà Nội
  95. Trần Ngọc Anh, Dân oan, Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu
Mời quí vị quan tâm tiếp tục ký tên. Xin ghi rõ họ tên, nghề nghiệp/ chức danh (nếu có), địa chỉ cư trú (tỉnh/thành phố Việt Nam, hoặc tên quốc gia ngoài Việt Nam). Xin gửi về địa chỉ:tuyenbodongtam@gmail.com

 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vạch trần chiêu “lách” tinh giản bộ máy của một số cơ quan Bộ ngành



(Theo Nhà Đầu tư)




















Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ việc “không thành lập phòng trong vụ”. Tuy nhiên, trước khi Nghị quyết này chính thức được ban hành, một số Bộ đã “nhanh chân” nâng cấp vụ lên cục như Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội…

Thông tin về đề án tinh giản bộ máy của Bộ Công an đã làm nức lòng dư luận. Đây có thể là cơ quan tiên phong quán triệt thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 19-NQ/TW về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

Trong khi Bộ Công an – tưởng chừng là cơ quan khó tinh giản bộ máy nhất – đã đi đầu, thì một số Bộ khác, dường như chưa hưởng ứng thực sự. Một số Bộ đã tiến hành nâng cấp vụ lên cục, hoặc giảm đầu mối nhưng lại gộp lại thành ra thêm cấp tổng cục…

“Nhanh chân” nâng cấp vụ lên cục

Từ tháng 1/2016, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ – khi đó là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc – đã yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các nội dung của Chương trình tổng thể Cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020; tăng cường công tác chỉ đạo; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước các cấp về kết quả cải cách hành chính…

Đáng chú ý, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện quy định không thành lập phòng trong vụ hoặc thành lập phòng mới trong cục.

Đến tháng 10/2017, chủ trương không thành lập phòng trong vụ được đưa vào Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 25/10/2017.

Nghị quyết số 18-NQ/TW chỉ rõ: “Các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ chủ động rà soát, sắp xếp, tinh gọn đầu mối bên trong, giảm cơ bản số lượng tổng cục, cục, vụ, phòng; không thành lập tổ chức mới, không thành lập phòng trong vụ, trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền quyết định. Giảm tối đa các ban quản lý dự án”.

Tuy nhiên, dữ liệu Nhadautu.vn cho thấy, trong thời gian hơn một năm trước khi Nghị quyết 18 chính thức được ban hành, nhiều cơ quan Bộ đã ‘nhanh chân’ nâng cấp một số vụ lên cục.

Trong khi vụ không có tư cách pháp nhân, không có cấp phòng, thì cục có tư cách pháp nhân, có con dấu để giao dịch, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật, và đặc biệt, được thành lập các phòng.

Bộ Xây dựng

Ngày 16/10/2017, 9 ngày trước khi Nghị quyết số 18-NQ/TW chính thức được ban hành, Bộ Xây dựng đã tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Cục Kinh tế – Xây dựng trên cơ sở tổ chức lại và nâng cấp Vụ Kinh tế – Xây dựng.

Vụ trưởng Vụ Kinh tế – Xây dựng Phạm Văn Khánh giữ chức vụ Cục trưởng. Ông Hoàng Anh Tuấn, bà Trương Thị Thu Thanh – giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Kinh tế – Xây dựng.

Theo Bộ trưởng Phạm Hồng Hà, việc thành lập Cục Kinh tế – Xây dựng nhằm kiện toàn cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng theo Nghị định số 81/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng.

Cục Kinh tế – Xây dựng gồm: Văn phòng; Phòng Định mức và đơn giá; Phòng Kinh tế đầu tư và hợp đồng xây dựng; Trung tâm tư vấn Kinh tế xây dựng.

Bộ Tư pháp

Cũng trong tháng 10/2017, Bộ Tư pháp cũng quyết định bổ nhiệm 3 lãnh đạo Cục Kế hoạch – Tài chính là ông Phan Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng, Quyền Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Kế hoạch – Tài chính và giữ Quyền Cục trưởng Cục Kế hoạch – Tài chính.

Ông Nguyễn Huy Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Kế hoạch – Tài chính; bà Trần Thị Kim Phú, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Kế hoạch – Tài chính.

Trước đó, ngày 16/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp. Nghị định này đã “nâng cấp” Vụ Kế hoạch – Tài chính thành Cục Kế hoạch – Tài chính. Cục Kế hoạch – Tài chính gồm có 4 phòng là Phòng Kế hoạch – Tổng hợp; Phòng Thống kê; Phòng Quản lý ngân sách – tài sản; Phòng Quản lý đầu tư và 1 đơn vị sự nghiệp là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản tập trung.

Trước khi được nâng cấp lên Cục, Vụ Kế hoạch – Tài chính (Bộ Tư pháp) gồm 5 phòng: Phòng Tổng hợp – Hành chính; Phòng Kế hoạch; Phòng Thống kê; Phòng Quản lý ngân sách – tài sản và Phòng Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Cuối tháng 5/2017, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH) đã công bố Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, đồng thời trao các quyết định bổ nhiệm nhân sự chủ chốt của Cục này.

Cục Quan hệ lao động và Tiền lương là đơn vị thuộc Bộ LĐ-TBXH, được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Vụ Lao động – Tiền lương và Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.

Cục Quan hệ lao động và Tiền lương vẫn thực hiện các nhiệm vụ như của Vụ Lao động – Tiền lương trước đây nhưng bổ sung thêm 2 nhiệm vụ mới là cho thuê lại lao động và đăng ký, quản lý hoạt động của các tổ chức đại diện người lao động theo quy định của pháp luật lao động.

Cục Quan hệ lao động và Tiền lương có Cục trưởng và một số Phó Cục trưởng trong đó có các phòng chức năng và đơn vị trực thuộc: Phòng chính sách lao động; Phòng Quan hệ lao động; Phòng Tiền lương; Văn phòng; Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (đơn vị sự nghiệp).

Giảm đầu mối nhưng thành lập thêm Tổng cục

Một điểm đáng chú ý trong đề án tinh giản bộ máy của Bộ Công an, theo Trung tướng Trần Đình Nhã, cựu phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội, cựu Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Công an), đó là phương án bỏ cấp tổng cục và giảm cấp cục qua việc sáp nhập nhiều đơn vị.

Trong khi đó, mặc dù cũng thể hiện thu gọn các đầu mối, sáp nhập, cắt giảm các đơn vị nhưng một số Bộ lại tiến hành thành lập Tổng cục mới hoặc nâng cấp Cục lên Tổng cục.

Bộ Nông nghiệp

Tháng 8/2017, hai Tổng cục mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là Tổng cục Thủy lợi và Tổng cục Phòng, Chống thiên tai chính thức được thành lập. Đồng thời, Bộ này cũng trao quyết định bổ nhiệm 2 tân Tổng cục trưởng là ông Nguyễn Văn Tỉnh giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi và ông Trần Quang Hoài giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, Chống thiên tai.

Tổng cục Thủy lợi được thành lập trên cơ sở sáp nhập Cục Thủy lợi và Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai.

Với Tổng cục Phòng, chống thiên tai, đây là lần đầu tiên một cơ quan chuyên trách cấp Tổng cục về phòng chống thiên tai được thành lập.

Về cơ cấu tổ chức, cả Tổng cục Thủy lợi và Tổng cục Phòng, chống thiên tai, mỗi Tổng cục đều có 9 đơn vị trực thuộc.

Với việc thành lập 2 Tổng cục mới, hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có 4 Tổng cục bao gồm: Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thủy lợi và Tổng cục Phòng, chống thiên tai.

Bộ Công Thương

Vốn được hợp nhất từ Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại, Bộ Công Thương có bộ máy cồng kềnh với 35 đơn vị đầu mối. Tháng 11/2016, một trong những nội dung lớn được Ban cán sự Đảng Bộ Công thương đưa ra họp bàn để thông qua là phương án kiện toàn và tái cấu trúc. Dự thảo đề án sau đó đã được công khai lấy ý kiến rộng rãi, trong phương án chỉ còn 28 đơn vị thay vì 35 đơn vị như ban đầu.

Đến tháng 8/2017, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Nghị định 98 về cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Theo đó, bộ máy của Bộ này giảm còn 30 đơn vị  (kế hoạch ban đầu là giảm còn 28 đơn vị).

Bộ thu hẹp đầu mối, nhưng đáng chú ý, Cục Quản lý thị trường lại được “nâng cấp” lên thành Tổng cục Quản lý thị trường.

Theo dự thảo Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường do Bộ Công Thương xây dựng, cơ quan này sẽ bao gồm các đơn vị: Văn phòng Tổng cục; Vụ Tổ chức – Xây dựng lực lượng; Vụ Kế hoạch – Tài chính; Vụ Chính sách Pháp chế; Vụ Tổng hợp và Đối ngoại; Vụ Kiểm tra, giải quyế khiếu nại, tố cáo; Cục Chống buôn lậu; Cục Chống hàng giả; Cục Kiểm soát chất lượng hàng hóa; Trung tâm Truyền thông và Đào tạo quản lý thị trường (đơn vị sự nghiệp công lập).

Văn phòng Tổng cục Quản lý thị trường có 3 đơn vị trực thuộc gồm: Phòng Hành chính – Quản trị, Phòng Thông tin tuyên truyền và Phòng Kế toán.

Cục Chống buôn lậu, Cục Chống hàng giả, Cục Kiểm soát chất lượng hàng hóa có 3 đơn vị trực thuộc gồm: Phòng Hành chính – Tổng hợp; Phòng Tham mưu nghiệp vụ và Đội Quản lý thị trường.

Ngoài ra, tổ chức Quản lý thị trường ở địa phương gồm các Cục Quản lý thị trường tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường.

Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh có các đơn vị: Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Nghiệp vụ – Tổng hợp; Phòng Thanh tra – Pháp chế. Đối với Hà Nội, TP. HCM và một số địa bàn trọng điểm số lượng phòng có thể nhiều hơn, nhưng không quá 4 phòng.

Ngoài ra có các Đội Quản lý thị trường ở các huyện, quận, thị xã, thành phố hoặc liên huyện thuộc tỉnh và các Đội Quản lý thị trường chuyên ngành hoặc cơ động trực thuộc Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh.

Tổng cục Quản lý thị trường sẽ có tổng cục trưởng và không quá 4 cục phó.

Trên đây là một số dẫn chứng về “bước đi” của một số Bộ trước khi Nghị quyết số 18-NQ/TW được ban hành mà  Nhadautu.vn chưa thống kê hết. Chúng sẽ tiếp tục cập nhật danh sách này.

Thống kê 18 nghị định ban hành trong năm 2016, 2017 cho thấy, ngoài Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo không tổ chức phòng trong vụ, vẫn có 16 bộ, cơ quan ngang bộ duy trì phòng trong vụ, tổng số phòng là 320, trong đó có những vụ có rất nhiều phòng (như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có từ 5 đến 7 phòng/vụ).

Đến tháng 8/2017, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Nghị định 98 về cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Theo đó, bộ máy của Bộ này giảm còn 30 đơn vị  (kế hoạch ban đầu là giảm còn 28 đơn vị).

Bộ thu hẹp đầu mối, nhưng đáng chú ý, Cục Quản lý thị trường lại được “nâng cấp” lên thành Tổng cục Quản lý thị trường.

Theo dự thảo Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường do Bộ Công Thương xây dựng, cơ quan này sẽ bao gồm các đơn vị: Văn phòng Tổng cục; Vụ Tổ chức – Xây dựng lực lượng; Vụ Kế hoạch – Tài chính; Vụ Chính sách Pháp chế; Vụ Tổng hợp và Đối ngoại; Vụ Kiểm tra, giải quyế khiếu nại, tố cáo; Cục Chống buôn lậu; Cục Chống hàng giả; Cục Kiểm soát chất lượng hàng hóa; Trung tâm Truyền thông và Đào tạo quản lý thị trường (đơn vị sự nghiệp công lập).

Văn phòng Tổng cục Quản lý thị trường có 3 đơn vị trực thuộc gồm: Phòng Hành chính – Quản trị, Phòng Thông tin tuyên truyền và Phòng Kế toán.

Cục Chống buôn lậu, Cục Chống hàng giả, Cục Kiểm soát chất lượng hàng hóa có 3 đơn vị trực thuộc gồm: Phòng Hành chính – Tổng hợp; Phòng Tham mưu nghiệp vụ và Đội Quản lý thị trường.

Ngoài ra, tổ chức Quản lý thị trường ở địa phương gồm các Cục Quản lý thị trường tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường.

Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh có các đơn vị: Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Nghiệp vụ – Tổng hợp; Phòng Thanh tra – Pháp chế. Đối với Hà Nội, TP. HCM và một số địa bàn trọng điểm số lượng phòng có thể nhiều hơn, nhưng không quá 4 phòng.

Ngoài ra có các Đội Quản lý thị trường ở các huyện, quận, thị xã, thành phố hoặc liên huyện thuộc tỉnh và các Đội Quản lý thị trường chuyên ngành hoặc cơ động trực thuộc Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh.

Tổng cục Quản lý thị trường sẽ có tổng cục trưởng và không quá 4 cục phó.

Trên đây là một số dẫn chứng về “bước đi” của một số Bộ trước khi Nghị quyết số 18-NQ/TW được ban hành mà  Nhadautu.vn chưa thống kê hết. Chúng sẽ tiếp tục cập nhật danh sách này.

Thống kê 18 nghị định ban hành trong năm 2016, 2017 cho thấy, ngoài Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo không tổ chức phòng trong vụ, vẫn có 16 bộ, cơ quan ngang bộ duy trì phòng trong vụ, tổng số phòng là 320, trong đó có những vụ có rất nhiều phòng (như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có từ 5 đến 7 phòng/vụ).

(Nguồn: Đoàn giám sát của Quốc hội báo cáo Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2016 ngày 30/10/2017)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ANH HÙNG GIAN TRÁ


FB Luân Lê - Bất cứ ai khi nghe được những câu phát ngôn vừa cương quyết nhưng vừa nhân văn với tội phạm như dưới dây từ một vị anh hùng lực lượng vũ trang, chúng ta chắc hẳn cũng sẽ thấy đồng cảm và chia sẻ cũng như đặt rất nhiều niềm tin vào vị tướng tướng công an ở cấp cao nhất trong lực lượng chống tội phạm này.




Nhưng có ai ngờ rằng, ông ấy lấy lòng dân để lừa mị dân, để che đậy hành vi phạm tội của mình. Ông ta đã trở thành tội phạm nhờ vào chức vụ và quyền bính có được trong tay. Và với những thủ đoạn vừa có tính nghiệp vụ do được đào tạo bài bản, vừa với tâm lý của kẻ phạm tội đặc biệt nguy hiểm, nó sẽ trở thành một tay tội phạm khét tiếng và tinh vi đến mức khó lòng nào có thể phát hiện được.

Nhưng tội phạm thì không bao giờ hoàn hảo, vì nó luôn để lại dấu vết nào đó để tố cáo chính kẻ đã thực hiện. Và khi chúng dung túng hay chứa chấp tội phạm, trong khi ăn lương của dân, mặc áo của dân, nhận quyền lực từ dân, lại phản bội dân để trở thành tội phạm, những vị tướng, tá đó có khi nào nhìn thấy giá treo cổ đã chờ sẵn vào một ngày nào đó hay không? Và những thân nhân của những kẻ này đã sống thế nào, sẽ ra sao khi tất cả phơi bày và ngã ngũ trước bàn tay luật pháp?

Chúng ta không thể tưởng tượng được rằng, chính thể này đã sản sinh ra rất nhiều những tên tội phạm với những chức vụ cao nhất trong hệ thống chính quyền. Chúng kết thành một bè phái và tạo thành rất nhiều những nhóm khác nhau và thực sự đã đông đảo đến mức lấn át những cơ quan công quyền khác. Vậy thì người dân lấy cơ hội nào để sống an ổn và có thể dựa vào đâu để phản kháng, để bảo vệ quyền tự do và quyền tài sản của chính mình?

Cấp dưới ở địa phương thì cát cứ, phớt lờ những chỉ lệnh từ cấp trên, tự tung tự tác với sự bạo ngược và đủ trò lưu manh. Chúng tìm đủ cách ăn chặn, ăn bớt tiền của dân hoặc mưu đồ nhằm chiếm đoạt tiền ngân sách bằng những trò ma cô, xảo trá, đê tiện. Chúng còn kết bè nhau lại để hãm hại và trù dập những người dám lên tiếng chống lại những tha hoá của bọn chúng. Và chúng tiếp tục hoành hành nhờ vào quyền lực và lực lượng thân hữu đông đảo vây quanh. Đến nỗi cấp xã còn ăn chặn những đồng tiền xương máu của người dân, của trẻ em, của những người cùng khổ. Cấp xã, huyện hay tỉnh tha hồ bổ nhiệm người thân, những kẻ không học vấn hay trình độ vẫn cứ ngày một leo cao. Những cấp cao hơn thì tìm đủ mọi cách để bày vẽ dự án để đục khoét cho thoả lòng tham vô độ mà mặc kệ sự kiệt quệ của đất nước, sự suy thoái của xã hội. Tổ quốc chỉ là mái nhà để chúng ký sinh bằng quyền bính và sự bạo lực của chúng.

Giáo dục thì ngày càng thảm hại, khi thày không ra thày, trò hỏng đằng trò, phụ huynh cũng không có hiểu biết chuẩn mực, thành ra hệ thống giáo dục như một mớ bòng bong không thể nào kiểm soát được. Con làm giáo viên bắt trẻ uống nước rửa giẻ lau bảng đã là hành vi dã man và tàn ác với học sinh và cũng là trẻ em, nhưng kẻ làm cha mẹ lại còn tiếp tục thực hiện việc bảo vệ con bằng cách tấn công vào cả gia đình nạn nhân khi họ cho cháu bé đến viện thăm khám về tình trạng sức khoẻ của mình, mà chính kẻ này lại đang với vai trò phó phòng quản lý giáo dục, thì đó là sự bại hoại có tính bản chất và hệ thống đã không còn cứu vãn được nữa. Ở một ngôi trường khác, sự thất bại của giáo dục còn được bộc lộ lớn hơn nữa khi mà một học sinh đơn độc phải cất tiếng nói trong nước mắt để cầu cứu ai đó có trách nhiệm cho việc buộc cô giáo phải mở lời để dạy học trò khi lên lớp, thì lại phải gấp rút chuyển trường đi một nơi khác, vậy thử hỏi rằng, ngôi trường đó và với những con người với vai trò giáo dục đó có đủ tư cách và giá trị để dạy bất cứ ai đi học nữa không? Ngôi trường đó có gì để học nữa, những con người đó có gì để dạy nữa, hệ thống giáo dục đó có gì là tử tế nữa?

Ai cũng tin và hy vọng vào những điều tốt đẹp, nhưng để biến nó trở thành hiện thực trong cuộc sống thì thường người ta lại rủ nhau im lặng như là một sự vô can cần thiết trước những cái ác hoành hành ngay trước mắt họ mỗi ngày.

Quyền lực tuyệt đối, thì tha hoá tuyệt đối. Nhưng sự im lặng tuyệt đối, mới là thứ để huỷ diệt nhanh nhất những điều tốt đẹp còn lại không một lời trăng trối.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao Nga chưa đáp trả cuộc tấn công của Mỹ


Mình thích đoạn này: Tại sao Nga không đáp trả ngay lập tức? Theo truyền thống của Nga, đòn đáp trả chỉ được tung ra khi đối thủ đưa ra hết những con bài của mình. Chính vì thế, đòn đáp trả của Nga thường chậm, nhưng nguy hiểm và hiệu quả. Những ví dụ cho vấn đề này không cần phải lấy đâu xa, mà ngay tại chiến trường Syria.

Sau khi bị Mỹ và liên quân tấn công và cả TG đang chờ đợi 1 cuộc tấn công đáp trả từ Nga và Syria nhưng cho tới nay vẫn chưa có. Theo các chuyên gia thì đây là điều không khó hiểu khi họ không hề muốn đẩy cuộc chiến đi quá xa. Trong khi đó 1 giả thiết khác là cuộc tấn công vừa qua không gây thiệt hại cho NGA. 
Sau những tuyên bố cứng rắn, cuối cùng Mỹ và đồng minh đã tiến hành chiến dịch can thiệp quân sự vào Syria bằng các đòn tấn công sử dụng vũ khí chính xác cao. Khi lưỡi gươm chiến tranh đã rút khỏi vỏ, sẽ có người đổ máu. Dù cuộc chiến mới bắt đầu và còn nhiều diễn biến phức tạp, nhưng kết quả của nó sẽ ảnh hưởng nhiều đến tương lai của Syria, cũng như cục diện của khu vực Cận Đông.

Nói phải giữ lời?

Đúng như kịch bản đã từng được dự báo, đêm 13, rạng sáng 14-4, lực lượng quân sự Mỹ, Anh và Pháp từ các vị trí chiến đấu đã ồ ạt tung đòn tấn công phủ đầu bằng tên lửa hành trình Tomahawk kết hợp với máy bay chiến đấu mang tên lửa phóng ngoài ô phòng không nhằm vào 8 vị trí được cho là cơ sở sản xuất vũ khí hóa học và trung tâm chỉ huy của Quân đội Syria ở khu vực Damascus và miền Nam Syria.

Cuộc tập kích phủ đầu chỉ kéo dài trong vài chục phút và kết quả của chúng đã được công khai rộng rãi không chỉ qua giới truyền thông, mà cả qua mạng xã hội.

Dù kết quả của đợt tấn công ra sao vẫn chưa được xác định, nhưng rõ ràng việc Mỹ và đồng minh tấn công Syria đã giúp Tổng thống Donald Trump giữ được danh dự của mình sau những tuyên bố cứng rắn. Hành động quân sự cũng giúp xóa đi những hoài nghi về tuyên bố của Tổng thống Mỹ được cập nhật liên tục trên trang twitter cá nhân. Tuyên bố của nhà lãnh đạo cường quốc hàng đầu thế giới đã được hiện thực hóa. Tuy nhiên, với quyết định can thiệp quân sự vào Syria, Tổng thống Donald Trump rõ ràng đang chơi một trò chơi nguy hiểm. Chiến tranh không phải là trò đùa! Nó có thể mất kiểm soát bất kỳ lúc nào. Phải chăng Tổng thống Mỹ đang áp dụng tư duy kinh doanh trong những quyết sách mang tính chiến lược "muốn làm giàu nhanh thì phải liều".

Liệu hành động can thiệp quân sự của Mỹ và đồng minh có phải là hành động chớp nhoáng và quy mô cuộc chiến sẽ được giới hạn hay không để "chữa cháy" cho tuyên bố của Tổng thống Donald Trump hay không rất khó có thể đoán định ở thời điểm hại. Tuy nhiên, kể cả khi khai chiến, những cái đầu nóng của cả hai phía đều hiểu rằng, tất cả đều nên có giới hạn, vì nếu leo thang cuộc chiến sẽ không con ai là người chiến thắng cuối cùng!

Nga đã ở đâu khi Syria bị không kích?

Ngay khi Mỹ và đồng minh tấn công, nhiều con mặt đổ dồn vào việc liệu Nga có tung đòn đáp trả ngay lập tức. Tuy nhiên, Moscow vẫn im lặng, nhưng im lặng không có nghĩa là không hành động.

Ngay trong tuyên bố trước khi cuộc chiến nổ ra, giới chức Nga đã nhiều lần tuyên bố sẽ đáp trả cứng rắn nếu đòn tấn công của Mỹ và đồng minh nhằm vào lực lượng quân sự Nga ở Syria. Một số nguồn tin cho biết, phía Mỹ đã báo trước cho Nga một vài giờ trước khi hành động quân sự được tiến hành. Vậy Nga có hỗ trợ Syria khi bị tấn công hay không? Câu trả lời chắc chắn là có. Kết quả này được thể hiện với hơn 20 tên lửa tấn công (hoặc thậm chí còn nhiều hơn nữa) bị bắn hạ, máy bay chiến đấu Nga từ Hmeymin đã cất cánh về Damascus và còn nhiều hành động không được công khai khác.

Tại sao Nga không đáp trả ngay lập tức? Theo truyền thống của Nga, đòn đáp trả chỉ được tung ra khi đối thủ đưa ra hết những con bài của mình. Chính vì thế, đòn đáp trả của Nga thường chậm, nhưng nguy hiểm và hiệu quả. Những ví dụ cho vấn đề này không cần phải lấy đâu xa, mà ngay tại chiến trường Syria. Hành động tấn công quân y viện dã chiến của Nga tại thành phố Aleppo, nhóm phiến quân bắn rơi máy bay chiến đấu Su-25 hay hành động tấn công căn cứ quân sự Nga bằng thiết bị bay mang chất nổ, đều được đáp trả.

Người ta đang dự đoán, trong sự kiện lần này, liệu "đòn thù" của Nga có giáng xuống? Câu trả lời có thể là sớm…

http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=1150439


Phần nhận xét hiển thị trên trang