Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

SOS :



Nhiều dãy phố lớn Nha Trang, Đà Nẵng rơi vào tay người Trung Quốc 

Người lao động
12/04/2018 09:10

"Gần đây, tôi vào Nha Trang, Đà Nẵng. Nhiều người làm việc trong các cơ quan chính quyền thừa nhận hàng dãy phố lớn ở đây rơi vào tay người Trung Quốc, bị người Trung Quốc mua... 
... Nếu quyền sử dụng đất trở thành quyền tài sản của người sử dụng, được mua bán đàng hoàng sẽ không có chuyện người ta bán đất cho người nước ngoài. Bởi họ chỉ được thuê trong một thời hạn nhất định thì họ sẵn sàng bán đi khi được trả giá cao.

Nhưng nếu được thừa nhận quyền tài sản, họ sẽ có chiến lược đầu tư dài hạn hơn hoặc người Việt Nam khác có thể mua chứ không phải người Trung Quốc mua theo kiểu chui lủi, mua ngầm. Như vậy, rất nhiều tài sản của Việt Nam, đặc biệt là đất đai rơi vào tay người nước ngoài một cách phi pháp.

Tôi cho rằng Luật Đất đai cần phải thay đổi. Năm ngoái, Thủ tướng đã đặt ra mốc tới tháng 9 cùng năm phải trình dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhưng chưa có được. Nếu không sớm thay đổi, chúng ta sẽ còn phải đối mặt với nhiều điểm nghẽn. Nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.

... Bất động sản Việt Nam rất gần với bong bóng rồi, mà lại muốn đặc khu để ưu tiên cho bất động sản nhằm mục đích gì? ... Nếu ưu tiên cho bất động sản, casino, chúng sẽ đánh bật tất cả các ngành công nghệ cao chúng ta muốn hướng tới. Khu công nghệ cao Hòa Lạc tuổi đời đã 20 năm mà chúng ta vẫn vất vả phát triển công nghệ như vậy đủ thấy thiết chế cho nó phát triển đâu có dễ dàng".

(Chuyên gia kinh tế PHẠM CHI LAN nêu quan điểm tại hội thảo "Kinh tế vĩ mô quý I-2018: Diễn biến và yêu cầu cải cách mới" tổ chức ngày 11-4, vừa đăng trên Dân Việt). 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quá hãi!

Những bài tựa đề có chữ "lừa"

https://baomai.blogspot.com/

Bà cụ 76 tuổi bị lừa $4 triệu
Bạn có đang tự lừa dối bản thân?
Bắt nhiều người Đài Loan giả làm công an VN để lừa...
Cả nước đã bị lừa.
Cáo buộc ‘lập công ty ma, lừa đảo chứng khoán’
Châu Phi 'khủng hoảng lừa' vì TC lột da làm thuốc
Chuyện Lừa
Chuyện thịt lừa châu Âu
Có thể lừa phỉnh bộ não hay không?
Đất nước của chiêu lừa "4T"
Hãy thôi lừa dối nhau và lừa dối chính mình
Liều, lỗ, lừa, lách, lươn lẹo…
Mánh khóe lừa đảo qua email
Một phụ nữ Việt suýt bị nhóm giả IRS lừa đảo
Một vụ lừa ngoạn mục của giới luật sư Đức
Mỹ dẫn độ một phó giám đốc lừa gạt về Việt Nam
Những chiêu lừa đảo tinh vi
Những hình ảnh đánh lừa thị giác
Những trò lừa đảo dễ mắc bẫy nhất
Sự lừa đảo trong cái chết của Nguyễn Bá Thanh
Thân phận cô gái Việt 'bị lừa sang Trung cộng'
Trò lừa tàn độc của kẻ thảm sát ở Na Uy
Vụ lừa đảo khổng lồ khiến Trung - Đài bất đồng
Vụ lừa tiền ảo (Bitcoin) 15 nghìn tỷ tại VN
Xã hội dễ bị lừa gạt bởi những lời dối trá?

https://baomai.blogspot.com/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam tăng cường vũ khí để bắt kẻ địch trả giá ở Biển Đông

Carlyle Thayer

Việt Nam không muốn tiến tới đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tốn kém tiền bạc và công nghệ. Tuy nhiên, quân đội Việt Nam được hiện đại hóa để sẵn sàng bắt Trung Quốc trả giá và để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, đó là nhận xét của chuyên gia Úc Carlyle Thayer.

Trần Quang 

Quân đội Việt Nam không ngừng lớn mạnh và hiện đại hóa, đủ sức để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc

Bài viết này xem xét tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã dẫn đến việc hiện đại hóa chưa từng thấy các lực lượng hải quân và không quân của Việt Nam như thế nào. Diễn biến này được đặt trong sự phát triển có tính lịch sử của quan hệ Trung-Việt từ tình trạng thù địch trong suốt cuộc xung đột Campuchia thành bạn bè hữu nghị.

Mặc dù tranh chấp lãnh thổ Biển Đông là điều khó chịu chính trong quan hệ song phương, nó đã không ngăn cản hai nước phát triển những gì họ gọi là một “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Việt Nam cố gắng duy trì quyền tự chủ của mình thông qua một chính sách hợp tác chính trị và kinh tế với Trung Quốc trong các lĩnh vực mà lợi ích quốc gia của họ hội tụ và bằng việc đấu tranh chống lại hành vi quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hai năm sau khi Việt Nam thống nhất, nước này bị lôi kéo vào một cuộc xung đột biên giới với nước láng giềng Campuchia. Tháng 12/1978 Việt Nam đã ra quyết định định mệnh là can thiệp vào nước láng giềng của mình và lật đổ Khmer Đỏ, một chế độ đã liên minh với Trung Quốc. Trung Quốc đã trả đũa bằng cách xâm nhập miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì thách thức Trung Quốc.

Trong thập kỷ sau đó, trong khi các lực lượng quân sự Việt Nam ổn định tình hình ở Campuchia, Trung Quốc duy trì căng thẳng biên giới phía Bắc bằng việc pháo kích lặp đi lặp lại và các đe dọa phát động một cuộc tấn công trừng phạt khác. Việt Nam đã triển khai tới 250.000 quân đến các tỉnh miền Bắc của mình để bảo vệ trước một cuộc xâm lược thứ hai của Trung Quốc.

Đến năm 1987, như là hệ quả của sự tan băng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô, các triển vọng cho việc đảm bảo một dàn xếp chính trị tại Campuchia đã trở thành thực tế và tình hình dọc theo biên giới Trung-Việt dần dần ổn định. Trong tháng 9/1989, Việt Nam đã hoàn thành việc rút tất cả các lực lượng quân sự của mình từ Campuchia về và căng thẳng với Trung Quốc giảm xuống.

Tháng 9/1990, các quan chức cấp cao Trung Quốc và Việt Nam đã tổ chức một cuộc gặp cấp cao tại thành phố Thành Đô ở miền Nam Trung Quốc và vạch ra con đường dẫn đến bình thường hóa. Tháng 6/1991, dự tính về mối quan hệ được cải thiện với Trung Quốc, Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Đường lối chỉ đạo chính sách kêu gọi Việt Nam “đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với tất cả các nước và các tổ chức kinh tế… không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau”.

Tháng 10/1991, một dàn xếp chính trị toàn diện về cuộc xung đột Campuchia đã đạt được bằng một hội nghị quốc tế họp tại Paris. Việt Nam đã đáp ứng hai yêu cầu chính của Trung Quốc: rút toàn bộ lực lượng quân sự Việt Nam khỏi Campuchia và một dàn xếp chính trị trong đó bao gồm cả đồng minh của Trung Quốc là Khmer Đỏ.

Tháng tiếp sau đó, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bình thường hóa các quan hệ ngoại giao sau thời kỳ 13 năm lạnh nhạt. Trong 4 năm tiếp sau, Việt Nam đã đạt được thành công đáng kể trong việc đáp ứng các mục tiêu do Đại hội toàn quốc lần thứ VII đã đặt ra, đến năm 1995 Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và Nhật Bản cũng như Liên minh châu Âu đều đã dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế của họ và nối lại viện trợ phát triển. Việt Nam cũng đã trở thành thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Vào tháng 3/1999, một cuộc gặp cấp cao giữa các nhà lãnh đạo đảng Trung Quốc và Việt Nam đã thông qua một phương châm mười sáu chữ kêu gọi “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Một tuyên bố chung được đưa ra vào năm sau đó đã thiết lập khuôn khổ cho các mối quan hệ dài hạn giữa hai nhà nước. Trung Quốc và Việt Nam đã nhanh chóng đạt được thỏa thuận phân định biên giới trên bộ và phân định ranh giới trên biển tại Vịnh Bắc Bộ, mà ở đó một vùng đánh cá chung đã được thiết lập.

Tại Đại hội IX của Đảng năm 2001, một Đường lối chỉ đạo chính sách mới đã tuyên bốrằng Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển quan hệ với “các nước hữu nghị truyền thống, các nước láng giềng và các nước xã hội chủ nghĩa”, ám chỉ Trung Quốc, Lào, Campuchia và Nga. Tháng 7 năm sau, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 3 “Về chiến lược an ninh quốc gia”. Nghị quyết này tuyên bố rằng Trung Quốc là một trong số bạn bè của Việt Nam. Đại hội IX cũng tuyên bố rằng “Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia”.

Trong tháng 7/2003, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 8, “Chiến lược Quốc phòng trong tình hình mới”, nhằm giải quyết bài toán hóc búa này. Nghị quyết 8 đã đặt các lợi ích quốc gia thực tế lên trên các vấn đề đã lỗi thời. Việt Nam sẽ hợp tác với các quốc gia khác ở chỗ lợi ích quốc gia hội tụ; nhưng Việt Nam sẽ đấu tranh chống lại các quốc gia nào làm tổn hại lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết 8 đã đưa ra các khái niệm biện chứng về “đối tượng hợp tác” (Đối tác) và “đối tượng đấu tranh” (Đối tượng) để biện giải cho định hướng mới này.

Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc nên được đặt trong khuôn khổ chính sách mở cửa của Việt Nam là đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ đối ngoại của mình. Từ năm 2001, Việt Nam đã theo đuổi một chiến lược lớn phát triển các mối quan hệ chặt chẽ với các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; các nước lớn chủ yếu ở Đông Bắc Á, Nam Á và Đông Nam Á; và châu Âu thông qua các thỏa thuận hợp tác chiến lược chính thức. Việt Nam đã đàm phán thỏa thuận đối tác chiến lược đầu tiên của mình với Liên bang Nga vào năm 2001. Sau đó nước này đạt được các thỏa thuận đối tác chiến lược với Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức (2011), Pháp, Italy, Thái Lan, Indonesia và Singapore (2013).

Năm 2006, Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập Ủy ban chỉ đạo chung về hợp tác song phương ở cấp Phó thủ tướng để điều phối tất cả các khía cạnh trong quan hệ song phương hai nước. Tháng 6/2008, Việt Nam và Trung Quốc đã nâng cấp quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược sau hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo đảng ở Bắc Kinh. Quan hệ song phương đã tiếp tục được nâng cấp thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược trong năm sau đó. Trong khuôn khổ này, Trung Quốc và Việt Nam đã phát triển một mạng lưới các cơ cấu đảng, nhà nước, quốc phòng và đa phương để quản lý các mối quan hệ song phương của họ. Việt Nam và Trung Quốc hiện nay miêu tả quan hệ song phương của họ như là một quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.

Trước khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, vấn đề Biển Đông nổi bật lên trong hai dịp. Đầu tiên, vào tháng 1/1974, một đội tàu hải quân Trung Quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực từ tay Việt Nam Cộng hòa. Tại thời điểm này, Việt Nam vẫn còn bị chia cắt giữa miền Bắc và miền Nam. Lần thứ hai, tháng 3/1988, trong khi Việt Nam vẫn đang bận tham chiến ở Campuchia, hải quân Trung Quốc đã tấn công các kỹ sư quân sự Việt Nam trên các cấu trúc ở Biển Đông và chiếm các bãi đá Chữ Thập (Fiery Cross) và đá Gạc Ma (Johnson South).

Năm 1992, ngay sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, hai bên đã bị lôi kéo vào một cuộc đối đầu về quyền thăm dò dầu tại vùng biển xung quanh bãi Tư Chính của Việt Nam nằm ở ngoài khơi bờ biển phía Đông Nam. Sau đó vào những năm 1990, một tranh cãi khác đã nổ ra khi Trung Quốc trao quyền thăm dò dầu cho Crestone Oil, một công ty Mỹ, tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố là một phần Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình.

Va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam xung quanh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đã nổ ra năm 2007 khi Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương ở Biển Đông phía trên 12 vĩ độ Bắc. Trung Quốc áp dụng lệnh cấm này bằng cách lên các tàu Việt Nam và thu giữ cá đã đánh bắt được của họ và máy thông tin liên lạc. Trong một số trường hợp, các tàu Trung Quốc đã đâm tàu Việt Nam. Một số bị đánh chìm và đã có những người chết. Sau đó Trung Quốc bắt giữ các ngư dân Việt Nam và giữ họ cho đến khi họ trả những khoản tiền phạt lớn. Cũng trong năm 2007, Trung Quốc bắt đầu gây áp lực buộc các công ty dầu mỏ nước ngoài hoặc phải dừng các hoạt động của họ trong vùng biển của Việt Nam hoặc phải đối mặt với những khó khăn trong các hoạt động của họ ở Trung Quốc.

Một bước ngoặt lớn trong tranh chấp ở Biển Đông xảy đến khi Ủy ban Liên hợp quốc về Ranh giới Thềm lục địa đặt thời hạn chót vào tháng 5/2009 cho việc đệ trình các tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý. Trung Quốc, lần đầu tiên, chính thức đệ trình bản đồ “đường 9 đoạn” trên Biển Đông một cách trắng trợn, ngang ngược và tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các cấu trúc ở bên trong đường này, bao gồm cả các vùng biển lân cận.

“Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ăn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam. Khu vực chồng lấn này nhanh chóng trở thành một khu vực tranh cãi khi các tàu chấp pháp biển Trung Quốc cố gắng thực thi chủ quyền. Chẳng hạn, các tàu dân sự Trung Quốc bắt đầu can thiệp vào hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu đang hoạt động trong EEZ của Việt Nam. Đã có một vài sự cố công khai, trong đó tàu Trung Quốc hoặc là quấy rối hoặc cắt cáp của các tàu thuyền nước ngoài đang tiến hành khảo sát địa chấn trong EEZ của Việt Nam. Năm 2012 khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam vạch ra ranh giới biển của mình, Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc đã đáp lại bằng cách đưa các lô thăm dò chồng lấn với EEZ của Việt Nam ra đấu thầu quốc tế.

Va chạm thường xuyên về các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục cho đến ngày nay. Không có sự cố nào lại nghiêm trọng hơn việc hạ đặt một giàn khoan dầu khổng lồ của Trung Quốc, Hải Dương- 981, trong vùng EEZ của vn từ tháng 5-7/2014. Hải Dương-981 được hộ tống bởi một đội tàu hỗn hợp của Trung Quốc gồm hơn 80 tàu chiến của hải quân, các tàu cảnh sát biển, tàu kéo và tàu đánh cá. Con số này đã lên đến hơn 100 vào đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng. Máy bay quân sự của Trung Quốc bay trên bầu trời.

Việt Nam đã phản ứng bằng cách cử các tàu của Cảnh sát biển và lực lượng kiểm ngư để phản đối hành vi vi phạm quyền chủ quyền đó của Trung Quốc. Điều này dẫn đến những cuộc đối đầu hàng ngày bao gồm cả việc va chạm có chủ ý của cả hai bên và các tàu Trung Quốc sử dụng vòi rồng áp lực cao nhắm vào buồng lái và các cột ăng-ten thông tin của tàu thuyền Việt Nam. Việt Nam tuyên bố rằng trong tháng 5 đã đưa ra hơn 30 phản kháng ngoại giao với Trung Quốc, bao gồm cả các nỗ lực kích hoạt đường dây nóng mà không có kết quả. Cuộc khủng hoảng này đã đánh dấu sự suy giảm nghiêm trọng nhất trong quan hệ song phương kể từ Chiến tranh biên giới Trung-Việt hồi năm 1979.


Cuộc đối đầu xung quanh việc triển khai Hải Dương-981 đã chấm dứt cũng đột ngột như khi nó bắt đầu. Trung Quốc thông báo rằng giàn khoan này đã hoàn thành các hoạt động của mình và rút nó khỏi khu vực. Trung Quốc sau đó đã tiếp một đặc phái viên đại diện cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và một phái đoàn gồm 13 tướng lĩnh cấp cao Việt Nam bao gồm cả Bộ trưởng Quốc phòng. Hai bên đã đồng ý thiết lập quan hệ song phương trở lại như đã đạt được trước khi có cuộc khủng hoảng Hải Dương-981. Họ cũng nhất trí rằng các tranh chấp Biển Đông không nên gây tổn hại quan hệ song phương nói chung. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tháng 5-7/2014 đã làm xói mòn nghiêm trọng lòng tin chiến lược giữa hai đối tác hợp tác chiến lược toàn diện này.

Các sự kiện có liên quan đến Biển Đông ở trên hình thành bối cảnh cho quyết định của Việt Nam hiện đại hóa các lực lượng hải quân và không quân của mình cho các hoạt động ở Biển Đông để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cho đến giữa những năm 1990, hải quân Việt Nam vẫn chỉ là một lực lượng hải quân ven bờ. Từ giữa những năm 1990, Việt Nam đã bắt đầu mua các tàu hộ tống lớp Tarantul từ Liên Xô có trang bị tên lửa chống hạm. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga đã trở thành nhà cung cấp vũ khí chính của Việt Nam. Kể từ năm 2008, hải quân Việt Nam đã được giao 1 tàu hộ tống BPS-500, 2 tàu hộ vệ tàng hình trang bị tên lửa dẫn đường lớp Gepard 3.9 (các tên lửa chống hạm Uran 3M24), các tàu ngầm Varshavyanka tức tàu ngầm truyền thống cải tiến lớp Kilo (được vũ trang bằng tên lửa chống hạm và tên lửa hành trình đối đất), 4 tàu hộ tống trang bị tên lửa dẫn đường Tarantul V, 5 khinh hạm hạng nhẹ lớp Petya, và 6 tàu tấn công nhanh lớp Svetlyak (trang bị tên lửa chống hạm). Việt Nam đã nhận được thêm 2 khinh hạm Gepard và nhận đủ 6 tàu ngầm lớp Kilo trước cuối năm 2016.

Được biết Việt Nam đã ký hợp đồng mua ít nhất hai tàu hộ tống lớp Sigma của Hà Lan (được trang bị các tên lửa chống hạm Exocet có tầm bắn mở rộng).

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã mua 11 máy bay Su-27 và 23 máy bay phản lực đa năng Su-30. Năm 2013 Việt Nam đã thông báo rằng họ tiến hành các cuộc tuần tra bằng không quân trên Biển Đông.

Robert Farley, một chuyên gia an ninh tại Đại học Kentucky, đưa ra đánh giá đầy kích động rằng có 5 loại vũ khí Việt Nam mà Trung Quốc nên sợ: máy bay chiến đấu Sukhoi, tàu ngầm lớp Kilo, tên lửa hành trình P-800 Onyx, tên lửa đất-đối-không (SAM) S-300, và chính lãnh thổ của Việt Nam. Tên lửa hành trình P-800 Onyx “có thể phóng được từ máy bay, từ các tàu nổi, từ các tàu ngầm và từ các tổ hợp đặt trên bờ” và tấn công các tàu Trung Quốc từ nhiều hướng bất ngờ và áp đảo các hệ thống phòng không của hải quân quân đội Trung Quốc (PLAN).

Hệ thống tên lửa S-300 là một trong những hệ thống phòng không tinh vi và tích hợp nhất trên thế giới. Theo Farley, “nó có thể truy lùng và tiếp cận hàng chục mục tiêu trong tầm hoạt động lên đến 75 dặm… Được sử dụng kết hợp với các máy bay chiến đấu của VPAF (Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam), mạng lưới SAM sẽ khiến việc thực hiện một chiến dịch không quân phối hợp chống lại Việt Nam với chi phí chấp nhận được trở nên rất khó khăn. “Hệ thống S-300 có thể được sử dụng để bảo vệ Vịnh Cam Ranh và các căn cứ hải quân có tính sống còn khác của Việt Nam”. Và cuối cùng, Farley lưu ý Việt Nam “có lợi thế về không gian”, có nghĩa là “địa hình khắc nghiệt”, thứ sẽ ngăn không cho Trung Quốc phát động một cuộc xâm lược trên đất liền.

Gary Li, một chuyên gia an ninh hàng hải làm việc cho IHS Maritime tại Bắc Kinh, cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí địa lý Việt Nam đối với Biển Đông. Việt Nam sở hữu nhiều đảo nhất và các hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Trung Quốc “phải đi từ rất xa để tới được cuối vùng yêu sách của mình”, trong khi “Việt Nam, mặt khác, đang tranh một vùng biển ngay ngưỡng cửa của mình. Hạm đội tàu hộ tống hạng nhẹ và tàu ngầm trang bị tên lửa của họ có thể tấn công và rút lui vào các cảng nhà của họ theo ý muốn, trong khi một hạm đội Trung Quốc bị tiến đánh sẽ ít nhiều bị tổn thất’.

Li kết luận rằng khi các lực lượng hải quân và không quân của Việt Nam được tích hợp với các lực lượng pháo binh và tên lửa ven biển được triển khai dọc bờ biển kéo dài của họ, các cách tiếp cận hải quân của Việt Nam đã được chuyển đổi thành một dạng “bãi tập bắn” nào đó. Cần lưu ý rằng Việt Nam đang vận động hành lang Nga và Ấn Độ để có được các tên lửa hành trình tấn công mặt đất BrahMos.

Brian Benedictus, một nhà phân tích chính trị-quân sự Đông Á tại Washington, lập luận rằng việc Việt Nam mua các tàu hộ vệ lớp Gepard, các tàu hộ tống lớp Molniya (Tarantul) và tàu ngầm lớp Kilo (Varshavyanka) được nâng cấp “có khả năng cho phép Việt Nam có thêm nhiều lựa chọn hơn khi triển khai sức mạnh của mình đối với các tuyên bố lãnh thổ ở Biển Đông”. Theo Benedictus, các khinh hạm và tàu hộ tống của Việt Nam “tất cả đều có khả năng là tàu tấn công nhanh trong một kịch bản xung đột ở gần Biển Đông và có khả năng ra đòn đánh tàn khốc đối với các tàu đối phương, một điều gì đó mà Bắc Kinh nhất thiết phải tính đến trước khi ra quyết định tiến tới giao tranh với hải quân Việt Nam”.

Các tàu ngầm thông thường mới của Việt Nam bổ sung những khả năng mới nào cho các khả năng chiến lược của mình? Các quan sát viên ngoại giao tại Hà Nội đã báo cáo rằng tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam đã tiến hành tuần tra dọc bờ biển nước này. Ngoài ra, thủy thủ đoàn Việt Nam hiện đang được đào tạo học thuyết và chiến thuật tác chiến dưới biển tại trung tâm tàu ngầm INS Satavahana của Ấn Độ. Những diễn biến này đã khiến các nhà phân tích an ninh và quốc phòng nước ngoài phải cân nhắc xem Việt Nam có thể tiếp nhận các loại vũ khí mới của mình và xây dựng một lực lượng hải quân đáng tin cậy có thể hoạt động ở Biển Đông nhanh tới mức nào.

Collin Koh, từ Trường S. Rajaratnam về Nghiên cứu Quốc tế ở Singapore, cho rằng Việt Nam sẽ sử dụng các tàu ngầm của mình trong các hoạt động ngăn chặn xâm nhập khu vực ngoài khơi bờ biển và trong quần đảo Trường Sa một khi chúng vận hành hoàn toàn. Theo Koh, “ngăn chặn xâm nhập biển nghĩa là tạo ra một sự răn đe về tâm lý bằng cách đảm bảo một đối thủ hải quân mạnh mẽ hơn không bao giờ thực sự biết nơi các tàu ngầm của bạn có thể hiện diện. Đó là cách tác chiến bất đối xứng kinh điển được kẻ yếu sử dụng chống lại kẻ mạnh và tôi nghĩ rằng Việt Nam hiểu rất rõ điều này. Câu hỏi đặt ra là liệu họ có thể hoàn thiện nó ở dưới mặt nước hay không mà thôi”.

Theo Benedictus, “Việt Nam nằm gần tỉnh Hải Nam của Trung Quốc, hòn đảo là bến cảng đối với Hạm đội Nam Thái Bình Dương của PLAN. Điều này đủ đáng lo ngại đối với Bắc Kinh khi xét rằng các tàu cập ở cảng có thể là con mồi dễ dàng đối với các tàu ngầm bên ngoài bờ biển của hòn đảo, nếu xung đột xảy ra; triển vọng Việt Nam một ngày nào đó có khả năng tấn công mặt đất tích hợp với hạm đội tàu ngầm của mình sẽ là một nguồn quan ngại nghiêm trọng”. Benedictus kết luận rằng các tàu ngầm lớp Varshavyanka của Việt Nam “có khả năng tiêu diệt các tàu đối phương trong một cuộc xung đột quân sự bằng nhiều cách khác nhau”, đặc biệt do PLAN yếu kém trong tác chiến chống ngầm.

Theo Lyle Goldstein, một giáo sư tại Trường Cao đẳng chiến tranh Hải quân Mỹ, người đã tham khảo các ý kiến đánh giá của Trung Quốc về quân đội Việt Nam, nhận định rằng các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc quan sát “cực kỳ chặt chẽ” các chương trình hiện đại hóa của Việt Nam và có “sự tôn trọng rất lớn... đối với Việt Nam nói chung’, bao gồm cả không quân Việt Nam.

Theo Goldstein, các tàu ngầm lớp Varshavyanka của Việt Nam “có thể ra đòn chết chóc hoặc bằng ngư lôi hoặc bằng các tên lửa hành trình đối hạm”. Tuy nhiên, Goldstein báo cáo rằng các nhà phân tích Trung Quốc đã xác định được hai điểm yếu chính trong chiến lược quân sự của Việt Nam: thiếu kinh nghiệm chủ yếu trong việc vận hành các hệ thống các vũ khí phức tạp và “giám sát, nhắm mục tiêu và quản lý trận đánh”. Những điểm yếu này đã khiến các quan chức quốc phòng của Trung Quốc chủ quan cho rằng “Trung Quốc có thể chiếm ưu thế trong bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào” với Việt Nam. Goldstein kết luận “chiến lược hứa hẹn nhất của Việt Nam đấu với Trung Quốc là hy vọng rằng họ có thể có đủ lực lượng để răn đe, trong khi vẫn đồng thời theo đuổi con đường ngoại giao để giải quyết các tranh chấp”.

Siemon Wezeman, một nhà phân tích làm việc tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, lập luận rằng theo quan điểm của Trung Quốc thì sự răn đe của Việt Nam đã là một thực tế. Theo Wezeman, “người Việt Nam đã làm thay đổi toàn bộ kịch bản – họ đã có các tàu ngầm, họ có các thủy thủ đoàn và họ dường như đã có các loại vũ khí, khả năng và kinh nghiệm của họ sẽ lớn dần từ thời điểm này. Theo quan điểm các giả định của Trung Quốc, sự răn đe của Việt Nam đã đạt tới điểm mà nó hẳn phải có thực”.

Khi tất cả các vụ mua sắm vũ khí hiện tại và tương lai của Việt Nam được tính đến, rõ ràng là Việt Nam đã có những bước tiến lớn để phát triển một năng lực mạnh mẽ nhằm chống lại sự can thiệp hải quân của một cường quốc thù địch. Điều này đã hình thành dưới dạng phát triển một chiến lược chống tiếp cận tích hợp các hệ thống pháo và tên lửa trên bờ; các máy bay chiến đấu đa năng Su-30; các tàu tấn công nhanh, các tàu hộ tống và khinh hạm trang bị tên lửa chống hạm; và các tàu ngầm lớp Varshavyanka.

Các hệ thống vũ khí này sẽ cho phép Việt Nam khiến cho việc tiến hành các hoạt động hải quân của Trung Quốc trở nên cực kỳ tốn kém trong một dải biển 200-300 hải lý dọc theo bờ biển của Việt Nam từ biên giới Việt-Trung ở phía Đông Bắc tới Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam, nếu như không tiếp tục tiến xa hơn về phía Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng có khả năng tấn công căn cứ hải quân lớn của Trung Quốc gần Tam Á trên đảo Hải Nam và các cơ sở quân sự trên đảo Phú Lâm từ hệ thống tên lửa hành trình Bastion trên bờ hoặc từ tên lửa hành trình tấn công mặt đất trên các tàu ngầm lớp Kilo.

Như Farley kết luận một cách đúng đắn, “Việt Nam không muốn một cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Quốc… Đặc biệt Việt Nam không muốn tiến tới đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tốn kém tiền bạc và công nghệ có thể tiêu hao đi những thiết bị đắt tiền mà Quân đội Việt Nam đã mua. Tuy nhiên, Trung Quốc nhất định phải đánh giá rằng Việt Nam có thể đánh trả.

Quân đội Việt Nam, trong cơ cấu hiện tại của mình, được thiết kế để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc”. Tóm lại, chiến lược quốc phòng của Việt Nam không được thiết kế để đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc xung đột kéo dài. Thay vào đó, nó nhằm ngăn chặn Trung Quốc ở vị trí cuối trong phổ xung đột, bằng cách gây rủi ro cho các tàu chiến của PLAN nếu như chúng tính chuyện can thiệp để hỗ trợ cho các tàu thực thi pháp luật dân sự hoặc cố đánh chiếm một trong những hòn đảo do Việt Nam chiếm giữ ở Biển Đông.

Việc hiện đại hóa lực lượng của Việt Nam đem lại cho nước này các phương tiện để “đấu tranh chống lại” Trung Quốc khi Trung Quốc đe dọa lợi ích quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, chiến lược chính của Việt Nam là “hợp tác” với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực bao gồm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện của họ.

* Tác giả Carlyle A. Thayer là Giáo sư Danh dự về Chính trị, Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Úc. Bài viết được đăng tại trang Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Chennai, Ấn Độ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trường đại học trong thời đại trí tuệ nhân tạo


Andrew Wachtel 
Phạm Nguyên Trường dịch

Trong 50 năm nữa, trí tuệ nhân tạo và máy móc tự học sẽ mạnh hơn hẳn hiện nay, công nghệ sẽ thay thế lao động của con người vì công nghệ hoạt động hiệu quả hơn con người trong hầu hết các công việc. Giáo dục đại học chuẩn bị gì cho sinh viên trước sự kiện này? 

Trí tuệ nhân tạo (AI) và robot đang khiến cho các đại học phải tìm cách định vị lại vai trò của mình. Ảnh: Arkos.vn 

Gần đây tôi được đề nghị giữ chức chủ tịch một trường đại học ở Kazakhstan, với ba môn học chính: kinh doanh, kinh tế học và luật pháp; giảng dạy theo chuyên ngành hẹp, mặc dù nghiêm khắc về mặt tri thức. Tôi đang xem xét công việc này, nhưng tôi có đưa ra mấy điều kiện.

Tôi đề nghị chuyển trường đại học này thành cơ cở giáo dục, trong đó sinh viên tiếp tục tập trung vào ba môn chính, nhưng họ cũng phải hoàn thành “chương trình học tập cốt lõi” về nhân văn, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên – trong đó có khoa học máy tính và thống kê. Sinh viên còn phải chọn một đề tài phụ trong một trong những môn khoa học nhân văn hay khoa học xã hội.

Có nhiều lý do để nhấn mạnh quá trình chuyển đổi như thế, nhưng quan trọng nhất, theo tôi, là cần phải chuẩn bị cho sinh viên mới ra trường để họ có thể thích ứng với thế giới, trong đó trí tuệ nhân tạo và công nghệ dựa trên trí tuệ nhân tạo ngày càng có vai trò nổi bật hơn. Muốn thành công trong công việc, sinh viên sẽ cần phải có những kĩ năng mới.

Trong 50 năm nữa, trí tuệ nhân tạo và máy móc tự học sẽ mạnh hơn hẳn hiện nay, công nghệ sẽ thay thế lao động của con người vì công nghệ hoạt động hiệu quả hơn con người trong hầu hết các công việc. Giáo dục đại học phải đào tạo sinh viên để họ có thể đối đầu với sự kiện này. Giả sử rằng trí tuệ nhân tạo sẽ chuyển hóa việc làm trong tương lai, khi con người không còn có thể cạnh tranh với người máy, những người làm giáo dục phải suy nghĩ xem sinh viên mới ra trường cần những kĩ năng nào.

Dễ dàng dự đoán rằng những nhiệm vụ đơn giản sẽ biết mất trước tiên. Quá trình chuyển háo này đang diễn ra trong những nước giàu có, nhưng sẽ cần một thời gian nữa mới tới những nơi như Kazakhstan. Khi xu hướng này tăng tốc, dân số cũng sẽ điều chính theo cho phù hợp. Suốt nhiều thế kỉ, dân số tăng lên khi cơ hội kinh tế gia tăng; ví dụ, số người trong gia đình nông dân tăng lên khi nhu cầu tăng, đấy là vì cần nhiều lao động hơn để có thể sản xuất đủ hàng hóa cho người tiêu dùng.

Nhưng dân số hiện nay trên thế giới là không ổn định. Khi trí tuệ nhân tạo tiến sâu hơn vào nơi làm việc, công việc sẽ biến mất, tỉ lệ người có việc làm sẽ giảm, dân số sẽ giảm theo. Về nguyên tắc, thế là tốt – trái đất đang nứt ra thành từng mảng – nhưng sẽ khó quản lý trong ngắn hạn, đấy là khi tốc độ suy giảm dân số thấp hơn tốc độ suy giảm việc làm.

Ví lý do đó, thế hệ người lao động tiếp theo – các sinh viên hiện nay – cần được đào tạo đặc biệt thì mới thịnh vượng được. Đồng thời, và có lẽ hơn tất cả các thời kì trước đây, họn cần loại hình giáo dục có thể giúp họ tư duy một cách bao quát hơn và tạo ra những kết nối khác thường và bất ngờ giữa những lĩnh vực khác nhau.

Rõ ràng là, những người lãnh đạo trong tương lai phải thành thạo với máy tính – từ lập trình cơ sở tới mạng máy tính mô phỏng hoạt động của bộ não người – thì mới hiểu được cách thức máy móc kiểm soát năng suất là động và các quá trình phân tích. Sinh viên mới ra trường còn cần kiến thức về tâm lý học, đấy là chỉ nói, nếu muốn hiểu được “bộ não”của máy tính khác bộ não người ở chỗ nào. Và người lao động trong tương lai còn cần phải được giáo dục về đạo đức thì mới có thể định hướng được trong cái thế giới mà giá trị của con người không còn được coi là đương nhiên nữa.

Những người làm giáo dục cho những sinh viên tương lai này phải bắt đầu ngay từ bây giờ. Muốn không trở thành những người theo thuyết định mệnh mù quáng, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh phải nghiên cứu lịch sử kinh tế và chính trị. Các sinh viên kinh tế học phải học các môn kỹ thuật, như thể họ sẽ là các kỹ sư chịu trách nhiệm xây dựng lực lượng lao động trong tương lai vậy. Còn các sinh viên luật thì phải tập trung vào giao điểm giữa tập hợp dữ liệu lớn (big data) và nhân quyền, để họ có quan điểm thấu triệt, cần cho việc bảo vệ người dân khỏi những lực lượng có thể tìm cách “vắt chanh bỏ vỏ” những người mà họ đã sử dụng.

Ngay cả những sinh viên học những môn sáng tạo và giải trí cũng phải học khác đi. Vì lý do là, trong thế giới mà trí tuệ nhân tạo giữ thế thượng phong, mọi người đều cần được giúp đỡ để quản lý thời gian rảnh rỗi của mình. Chúng ta sẽ không thôi chơi quần vợt chỉ vì robot bắt đầu thắng giải Wimbledon; nhưng sẽ cần các kỹ năng tổ chức và giao tiếp mới thì mới giúp được người ta điều chỉnh những thay đổi trong sáng tạo và chơi. Cần những kĩ năng mới, được điều chỉnh cho phù hợp với thế giới mà trí tuệ nhân tạo giữ thế thượng phong thì mới quản lý được các ngành công nghiệp này.

Công việc trong tương lai có thể khác hẳn những kịch bản mà tôi có thể tưởng tượng ra, hay có thể gây ra nhiều đổ vỡ hơn; không ai biết. Nhưng, giáo dục đại học có trách nhiệm chuẩn bị cho sinh viên trước mọi tình huống có thể xảy ra - ngay cả những tình huống mà hiện nay dường như không thể nào xảy ra được. Chiến lược tốt nhất cho những người làm giáo dục trong bất kỳ lĩnh vực nào và bất cứ khi nào, là dạy kỹ năng làm cho con người trở thành con người, chứ không phải đào tạo sinh viên để họ có thể giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các công nghệ mới.

Dù tôi có làm ở đâu trong ngành giáo dục thì việc đào tạo các thanh niên để họ có thể đối mặt với tương lai cũng luôn luôn là công việc của tôi. Và hiện nay, tương lai đó dường như sẽ bị máy móc chi phối. Muốn thành công, những người làm giáo dục - và các trường đại học của chúng ta - phải tiến hóa.

Andrew Wachtel là Chủ tịch của trường Đại học Mỹ của Trung Á.

Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary/artificial-intelligence-higher-education-by-andrew-wachtel-2018-02

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đôi dòng với ông Phó Chủ tịch Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh


>> CHU MỘNG LONG XEM THƠ PHAN HOÀNG, HỌA THƠ PHAN HOÀNG

Đỗ Duy Ngọc
Theo Blog Tễu
HH – Lâu nay tui ít đọc thơ. Thơ đăng trên các báo của nhà nước thì lại tuyệt đối không đọc. Vì thế nên chẳng dám bình thơ nào là rác rưởi, thậm chí thơ nào là… cứt! Chuyện dưới đây thì không dính dáng gì đến thơ mà là “nhà thơ”, và đọc xong thì thấy đúng là rác rưởi, thậm chí là cứt thật!
Có một ông gọi là nhà thơ, là phó chủ tịch hội nhà văn thành phố tuyên bố một câu xanh rờn như thế này: “Thơ trên facebook là rác rưởi”. Xin cũng có đôi lời cùng ông.
Tui chỉ là thằng dân bình thường, không phải nhà thơ cũng chẳng nhà văn, cũng chẳng có chức quyền như ông. Thế nhưng, cũng như những người Việt Nam bình thường khác, tui đóng thuế đẩy đủ và tui yêu thơ. Và đối với tui, không có thơ hay, thơ dở mà chỉ là thơ tui thích hay không thích mà thôi.
Đôi khi người ta yêu bài thơ, thích câu thơ vì họ rung động, đồng cảm, họ cảm xúc với câu chữ, hình ảnh trong thơ. Cảm xúc rất riêng đó là sự tương giao giữa người làm thơ và kẻ đọc thơ. Đó không phải là sự rung động của bầy đàn hay dưới sự chỉ huy của một cây gậy. Nói thế để chứng minh rằng người ta đến với thơ vì hạp hay không hạp, thế thôi.
Mà đã nói không có thơ hay hoặc thơ dở thì làm sao lại có loại thơ mà ông gọi là rác rưởi. Tiếng lòng của mỗi cá nhân, ông không thích thì đừng đọc, ông lấy quyền gì mà phê phán và chê bai. Thật sự, tui cũng đã từng đọc thơ ông, tui thấy cũng chẳng có chi để khen, những bài thơ làm dáng trong từng câu chữ, cố làm ra vẻ hiện đại nhưng mang màu sắc cải lương, sến như chuyện tình Lan và Điệp, mà lại có mùi tanh hôi của những kẻ đi bằng đầu gối và khom lưng. Thế nhưng, tui vẫn không cho thơ ông là rác dù nó chẳng có chút gì gọi là thơ, dù chúng chẳng làm tui rung động tí ti nào dù là sợi lông chân. Tui vẫn tôn trọng thơ ông bởi đó là bản chất, là suy nghĩ của ông, của riêng ông, nói lên con người của ông. Sự dối trá trong ngôn ngữ xuất phát từ tư duy giả dối của kẻ đeo mặt nạ để tiến thân.
Tui nghĩ trong cuộc đời này chỉ có những con người rác rưởi. Đó là những kẻ tìm mọi cách để kiếm danh, thượng đội hạ đạp, xu nịnh, ích kỷ và thú đoạn. Loại ấy bây giờ nhiều lắm, ở đâu cũng có, nhất là ở mấy hội, đoàn, những tổ chức của ngành nghề…Đó là những kẻ chuyên khua môi múa mép, lúc nào cũng chứa đầy âm mưu để tiến thân kiếm chút danh lợi. Cung cúc tận tuỵ với bề trên, khệnh khạng tỏ vẻ uy quyền với người dưới. Đó chính là rác rưởi làm xú uế không gian và hôi thối tổ chức. Đó cũng chính là đối tượng phải quét sạch để mang không khí tinh khiết cho những hội đoàn.
Tui không thích thơ ông, nhưng tui không gọi thơ ông là rác. Tui chỉ cảm nhận rằng bản thân ông cũng chỉ là một đống rác cần phải dọn khi ông tuyên bố câu này trên trang nhà của ông, ông dám viết nhưng rồi ông sợ hãi vì ông viết láo quá, chúng sinh sẽ đập cho ông tơi tả nên ông xóa mất. Nhưng ông ạ, một lời nói ra, dễ gì xoá sạch, nhất là lời của phó chủ tịch hội nhà văn thành phố to nhất nước. Dân gian ta có câu ví rất hay là Cứt nát mà đòi có chóp. Tui nghĩ ông là thế. Sống trên đời phải biết mình là ai chứ ông.
Ông leo đến chức đó, tui biết, cũng gian nan lắm, cũng phấn đấu lắm. Giờ ông cùng chiếu với toàn nhà văn, nhà thơ lớn như Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều…để làm thành một đống rác lớn nằm chình ình giữa cuộc đời bốc mùi tanh tưởi. Chính vì cái hội của các ông mà người ta cho rằng nhà văn chỉ là một bọn ăn hại đái nát. Một hội tiêu tiền thuế của dân mà lúc dân cần thì miệng câm như hến đấy. Đó mới đúng là rác rưởi cẩn dọn dẹp đấy, thưa ông.
Ông lấy tư cách gì để phê phán thơ trên facebook? Tư cách phó chủ tịch hội nhà văn thành phố ư! Tư cách nhà thơ ư? Hay là nhà phê bình? Cả ba tư cách ấy, ông chả có tư cách nào. Tài năng của ông thì cũng chẳng có là bao, thế thì ông nhân danh cái gì để cho rằng thơ trên face là rác rưởi? Ông đọc bao nhiêu bài thơ trên face? Hay là vì ông là rác nên ông nhìn đâu cũng thấy rác? Tây có câu ngạn ngữ rất hay, đại ý thế này: Người ta dễ dàng nhìn thấy hạt bụi trong mắt kẻ khác mà quên đi đống rác trong mắt của mình. Đại khái thế.
Tỉnh táo chút đi ông. Dưới bầu trời này còn biết bao kẻ tài năng, biết bao người tài hoa rất mực mà một kẻ như ông không đáng xách dép cho họ, đừng có bốc phét mà người ta khinh.
Nhà văn bên cạnh cái tài cũng cần có nhân cách, rất tiếc điều này ông lại thiếu cả hai, thế nên tui khuyên ông nên học im lặng. Khi ông im lặng người ta không biết ông ngu, nhưng khi ông nói ra người ta biết chắc chắn ông là thằng dốt. Đôi khi chó nhảy bàn độc thì cũng phải sủa cho có vẻ ta đây, cho người ta biết sự hiện diện của chúng. Đôi khi kẻ ăn cơm chúa thì phải múa tối ngày để kiếm chút đồ thừa. Nhưng tui khuyên ông nên thận trọng. Bút sa gà chết, ông nói thơ người ta là rác rưởi đâu chưa thấy lại hiện nguyên hình ông và đồng đội của ông mới đích thị là rác he…he

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hết thời con ông X, cháu bà Y để tung hoành, đục khoét


BẠCH ĐẰNG
(GDVN) - Với quy định mới theo ông Phan Xuân Xiểm sẽ tránh việc đổ lỗi cho việc "tôi không biết, làm ở đâu tôi không rõ" nhưng có khi chính người đó lại chỉ đạo ngầm.

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Quốc Vượng đã ký ban hành văn bản số 04-HD/UBKTTW hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.

Trong đó, Điểm d, Khoản 1, Điều 13 quy định, Đảng viên thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội cũng sẽ bị xử lý kỷ luật.

Theo đó, con của đảng viên phạm tội mà đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới gồm: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con dâu, con rể cùng sống, sinh hoạt trong gia đình và trực tiếp phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng, quản lý của đảng viên đó.

Quy định này ra đời, nhiều người hy vọng sẽ giảm được tình trạng người thân lợi dụng địa vị của chồng, cha mình đang tại vị để tổ chức làm ăn phi pháp. Doanh nghiệp sân sau do vợ con điều hành.

Ông Võ Đình Toàn (cựu chiến binh ở Ba Đình, Hà Nội) cho biết: “Với quy định này, tôi hy vọng gia đình đảng viên thực sự là gia đình gương mẫu về văn hóa, tuân thủ pháp luật.

Chứ trên thực tế, không ít gia đình bố là đảng viên nhưng con cái nghiện ngập, phạm tội. Bố mẹ quan chức nhưng con cái lêu lổng đi vào con đường tù tội.

Khi người ta nhìn vào những gia đình như vậy, họ đánh giá thấp, thậm chí xem thường những người đảng viên trong gia đình đó. 

Chính vì vậy, ràng buộc trách nhiệm của đảng viên với vợ con là đúng đắn. Vợ con phạm tội thì đảng viên đó phải chịu trách nhiệm”.

Đồng quan điểm ông Trần Huy Cường (một cán bộ về hưu ở quận Thanh Xuân, Hà Nội) cho rằng: “Chỉ có quy định như vậy thì mới chấm dứt được việc vợ con lợi dụng địa vị của chồng, cha mình để làm ăn phi pháp, nhận hối lộ, chạy chức, chạy quyền.

Không ít trường hợp chồng làm cán bộ vợ lợi dụng để trục lợi.

Hay cha làm quan chức con vi phạm pháp luật.

Đảng viên tốt trước hết  phải có một  gia đình gương mẫu, hạnh phúc.

Mỗi khi người thân trong gia đình đã vi phạm pháp luật thì tư cách của người đảng viên trong gia đình sẽ bị dư luận xem thường và có nói cũng chẳng ai nghe”.

Cũng liên quan đến quy định mới này, ngày 9/4 trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam Luật sư Phan Xuân Xiểm, nguyên Hàm Vụ trưởng vụ 1, Ủy ban kiểm tra Trung ương cho biết: “Tôi rất tán thành với quy định mới này.

Việc quy định như vậy là để ràng buộc trách nhiệm đảng viên với gia đình, vợ con là những người sát sườn với mình.

Không có chuyện đảng viên vô can trong khi có người thân phạm tội. Tránh việc, khi bị phát hiện thì tất cả tội lỗi lại đổ cho con cái, gia đình rồi mình vô can”.

Quy định này ra đời theo ông Phan Xuân Xiểm: “Mỗi khi sai phạm xảy ra sẽ không thể có chuyện chỉ cần đổ lỗi cho vợ con rồi nghiễm nhiên mình vô can như trước đây.

Quy định chặt chẽ như vậy sẽ tránh được việc đổ lỗi theo kiểu "tôi không biết, làm ở đâu tôi không rõ" nhưng có khi chính người đó lại chỉ đạo ngầm”.

Qua trao đổi với vị chuyên gia này có thể hiểu việc quy định này để hạn chế việc lợi dụng bố mẹ, vợ chồng rồi tự tung tự tác, xem thường pháp luật để thu lợi bất chính.

Nêu cao trách nhiệm của đảng viên trong giám sát, giáo dục người thân tránh đi vào con đường vi phạm pháp luật.

Trên thực tế, có nhiều gia đình truyền thống cánh mạng nhưng rồi cha con, vợ chồng, anh em cùng kéo nhau cả ra tòa, cùng chịu cảnh tù tội vì phạm tội. 

“Quy định như vậy rất đúng đắn. Lâu nay cũng có những quy định hết sức chặt chẽ nhưng bây giờ cần chặt chẽ hơn, ít kẻ hở tránh việc đảng viên tìm cách né tránh.

Đây là nội dung tôi cho rất quan trọng” – ông Phan Xuân Xiểm nhấn mạnh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang