Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Núng hết rồi!

Hải quan tiếp tay đường dây 
buôn lậu xăng dầu ngàn tỉ 

Tuổi trẻ
09/04/2018 08:05 GMT+7

TTO - Vụ buôn lậu xăng dầu "khủng" hơn 2.000 tỉ đồng của Công ty Dương Đông Hòa Phú trót lọt là nhờ có sự tiếp tay của nhiều cán bộ hải quan Chi cục Hải quan Bình Thuận.

​TP.HCM đẩy mạnh đấu tranh chống buôn lậu xăng dầu trên biển
Buôn lậu qua đường hàng không, cảng biển gia tăng
Buôn lậu xăng dầu trên biển bằng thủ đoạn tinh vi

Tàu BTS Christina khi bị phát hiện vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới 
và bị tạm giữ vào đầu năm 2016 - Ảnh: CTV

Viện KSND tối cao vừa hoàn tất cáo trạng truy tố 12 bị can trong vụ án "buôn lậu", "đưa - nhận hối lộ"... xảy ra tại Bình Thuận.

Đây là vụ án buôn lậu xăng dầu được xem là lớn nhất từ trước đến nay. Số xăng dầu buôn lậu lên đến cả trăm ngàn tấn, với tổng số tiền hơn 2.000 tỉ đồng. Hiện hồ sơ vụ án đã được bàn giao cho TAND tỉnh Bình Thuận để chuẩn bị xét xử.


Đường dây buôn lậu khủng

Theo hồ sơ, ngày 29-1-2016, đoàn kiểm tra liên ngành do Cơ quan CSĐT (C46) Bộ Công an chủ trì kiểm tra tàu BTS Christina (Công ty BTS Tankers - Singapore) do ông Romels Pagente Aleria (quốc tịch Philippines) làm thuyền trưởng, đang bơm xăng A92 từ tàu lên bồn chứa của Công ty Dương Đông Hòa Phú tại Tuy Phong (Bình Thuận).

Qua kiểm tra phát hiện, Công ty Dương Đông Hòa Phú chỉ khai báo hải quan nhập về hơn 1.800 tấn xăng nhưng trên thực tế, tàu BTS Christina đang chở đến 9.300 tấn.

Tại thời điểm kiểm tra, đã có hơn 3.200 tấn xăng được bơm ra khỏi tàu. Từ đây, C46 xác định Công ty Dương Đông Hòa Phú đã buôn lậu hơn 7.200 tấn xăng A92, tương đương 155 tỉ đồng.

Tiếp tục lục lại hồ sơ nhập khẩu xăng của Công ty Dương Đông Hòa Phú và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, cơ quan công an đã làm rõ ra đường dây buôn lậu xăng dầu khủng.

Cụ thể, từ tháng 10-2015 đến ngày 18-1-2016, công ty này đã buôn lậu trót lọt 11 chuyến với khoảng 100.000 tấn, tổng trị giá hơn 2.000 tỉ đồng. Trong số xăng dầu lậu này, Công ty Dương Đông Hòa Phú đã tiêu thụ được hơn 120 triệu lít xăng dầu, thu về hơn 1.300 tỉ đồng.

Từ điều tra trên, cơ quan tiến hành tố tụng xác định trong vụ án này, Nguyễn Đức Mạnh - chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Dương Đông Hòa Phú - là người chỉ đạo điều hành của công ty và trực tiếp ký toàn bộ các thủ tục, chứng từ liên quan đến nhập khẩu xăng dầu.

Đối với ba bị can là những người của công ty giám định và đại lý hàng hải, cáo trạng của Viện KSND tối cao xác định dù những người này biết rõ số lượng xăng dầu Công ty Dương Đông Hòa Phú nhập về thực tế cao hơn nhiều lần so với khai báo, nhưng vẫn cấp chứng thư để công ty này hoàn thành thủ tục nhập khẩu.

Tổng cộng, Công ty cổ phần giám định World Control đã 10 lần cấp chứng thư cho Công ty Dương Đông Hòa Phú.

C46 xác định Đàm Văn Dương (nguyên giám đốc Công ty cổ phần giám định World Control) đã tạo điều kiện, giúp sức cho Nguyễn Đức Mạnh buôn lậu trót lọt 10 chuyến với tổng giá trị hơn 1.500 tỉ đồng.

Đáng chú ý, Nguyễn Đức Mạnh thỏa thuận trả cho Đàm Văn Dương 70.000 đồng/tấn xăng, dầu không cấp giám định thư. Tổng cộng, Mạnh đã đưa cho Dương 2,2 tỉ đồng.

Mỗi lần ký mua hàng, bị can Mạnh ký hai hợp đồng với bên bán hàng ở Singapore: một hợp đồng ghi số lượng ít dùng để khai báo hải quan, hợp đồng còn lại có số lượng lớn gấp 5-6 lần để “buôn lậu
(Theo cáo trạng của Viện KSND tối cao)
.
Kho xăng dầu của Công ty Dương Đông Hòa Phú ở Bình Thuận - Ảnh: CTV

Hải quan tiếp tay cho buôn lậu!

Hành vi buôn lậu của Công ty Dương Đông Hòa Phú trót lọt là nhờ có sự tiếp tay của cán bộ hải quan thuộc Chi cục Hải quan Bình Thuận.

Cụ thể, Viện KSND tối cao đã truy tố Đinh Hữu Thùy - người có nhiệm vụ kiểm hóa, giám sát hàng nhập khẩu của Công ty Dương Đông Hòa Phú - về tội "nhận hối lộ". Đồng nghiệp của Thùy là Lê Văn Vinh bị truy tố về tội "lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ".

Cụ thể, Đinh Hữu Thùy khai nhận mỗi lần đi kiểm hóa, Thùy "ngó lơ" thì được Nguyễn Tuấn Anh (nhân viên Công ty Dương Đông Hòa Phú, bị truy tố tội đưa hối lộ trong vụ án này - PV) đưa cho một phong bì 12 triệu đồng.

Thùy giữ lại 3 triệu đồng, đưa cho bị can Vinh 3 triệu đồng. 6 triệu đồng còn lại nộp cho đội nghiệp vụ của chi cục. Tổng cộng, Thùy đã nhận hối lộ từ Tuấn Anh gần 150 triệu đồng.

C46 cũng xác định đối với các ông Võ Văn Toàn (chi cục trưởng Chi cục Hải quan Bình Thuận), Tạ Hùng Dũng (phó chi cục trưởng) và Lưu Trọng Vũ (đội trưởng đội nghiệp vụ) đã thiếu sự giám sát, kiểm tra cấp dưới nhưng không có căn cứ xác định bao che hay nhận tiền từ công ty buôn lậu.

Do đó, đề nghị cấp trên của những ông này xử lý hành chính nghiêm khắc.

Tuy nhiên, cáo trạng cũng xác định quá trình đấu tranh tại tòa nếu làm rõ được hành vi phạm tội của những người này thì HĐXX kiến nghị cơ quan điều tra xử lý theo quy định.

.
Đã có hơn 100.000 tấn xăng, dầu được nhập lậu trong 11 chuyến - Đồ họa: T.ĐẠT
Truy tố một người nước ngoài
Viện KSND tối cao cũng truy tố ông Romels Pagente Aleria (quốc tịch Philippines) - thuyền trưởng tàu BTS Christina - về tội "vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới". 
Cáo trạng của cơ quan này khẳng định đủ cơ sở xác định ông Romels Pagente Aleria đã vận chuyển hơn 7.200 tấn xăng A92 trị giá gần 155 tỉ đồng không đúng với nội dung nhập cảnh, giấy tờ hàng hóa vào Việt Nam. 
Bị can này bị bắt tạm giam vào tháng 2-2016 đến tháng 10-2016, bị can đặt tiền để được thay thế biện pháp tạm giam. 
Đây được coi là lần đầu tiên trong ngành tố tụng, một người nước ngoài bị khởi tố, truy tố về hành vi vận chuyển xăng dầu trái phép qua biên giới.

ĐÔNG HÀ - ĐỨC TRONG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

Điều gì đã làm nên sự phát triển thần kỳ của Thụy Sĩ?


Thu nhập bình quân đầu người của Thụy Sĩ gấp rưỡi Mỹ, Anh, Pháp, dù họ chưa từng khai chiến hay sở hữu bất kỳ một thuộc địa nào.
Năm 2012, GDP của Thụy Sĩ đạt hơn 600 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 75.000 USD. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người tại Mỹ chỉ đạt 50.000 USD, tại Pháp và Đức là 43.000 USD và Anh là 41.000 USD.
Có một điều rất thú vị là Thụy Sĩ không có nhiều tài nguyên ngoài tài nguyên nước (chủ yếu là sông ngòi) cùng nhiều danh lam thắng cảnh. Họ thậm chí không giáp biển để có thể thuận tiện cho giao thương cũng như xác lập vị thế trên toàn cầu. Tồi tệ hơn, dù nằm ở trung tâm Châu Âu nhưng diện tích núi non trùng điệp đã ngăn cách quốc gia này với các nước khác, cả về giao thông lẫn giao tiếp.
Hơn nữa, sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ cho đến thể chế chính trị, tín ngưỡng khiến xã hội Thụy Sĩ rất đa dạng và hỗn tạp, qua đó cả trở mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước. Sự phân hóa này càng trở nên trầm trọng trước sự đổ bộ của làn sóng nhập cư những ngày đầu của thời kỳ cận đại. Gần 1/3 dân số Thụy Sĩ hiện nay là dân nhập cư hoặc thế hệ sau của họ.
Với vị thế nhỏ yếu, Thụy Sĩ đã phải nỗ lực rất nhiều nhằm duy trì quan điểm trung lập trong các cuộc xung đột ở Châu Âu, nhằm đảm bảo cuộc sống tự do, hòa bình cho người dân.
Bất chấp những khó khăn đó, Thụy Sĩ đã vươn mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một quốc gia có trình độ phát triển và văn minh cao, chất lượng cuộc sống đảm bảo, sản xuất được hàng loạt sản phẩm nổi tiếng thế giới cùng nhiều dịch vụ thu hút khách hàng toàn cầu.
Vậy tại sao quốc gia này lại có tỷ lệ bằng sáng chế, tỷ lệ số người đoạt giải Nobel bình quân đầu người, sức cạnh tranh và hệ thống giáo dục thuộc hàng cao nhất thế giới?
Bản sắc Thụy Sĩ
Theo cuốn “Swiss Made” của tác giả R. James Breiding, chính việc cho mọi thành phần công dân, vùng miền, tôn giáo tham gia vào các quyết định đã biến Thụy Sĩ trở thành đất nước của ổn định, sáng tạo cũng như thịnh vượng.
Cơ cấu chính quyền của nước này luôn tuân theo 3 nguyên tắc chủ chốt là luôn hoài nghi các tập đoàn lớn nhằm bảo vệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tích cực trợ cấp người dân để giảm chi phí hành chính công và thuế suất đến mức thấp nhất (Thuế suất biên thực tế của Thụy Sĩ là 16%, thấp hơn nhiều mức 24% ở Mỹ, 26% ở Nhật Bản và 35% ở Đức, Pháp); tôn trọng quyền tự do của mỗi công dân.
Với một cơ cấu dân số đa dạng về văn hóa, vùng miền, việc Thụy Sĩ bảo vệ thiểu số và duy trì quyền tự do là một trong những yếu tố chính gìn giữ hòa bình thống nhất cho nước này. Hàng loạt các cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dù vẫn theo phe đa số nhưng điều đó lại khiến những công dân thiểu số cảm thấy được tôn trọng và hạn chế bất mãn.
Một đặc điểm khá hay ở Thụy Sĩ là kết cấu liên bang khi các tiểu bang có quyền tự trị khá cao. Đặc điểm này giúp Thụy Sĩ có sự cạnh tranh và tiến bộ nhanh chóng giữa các vùng miền. Nếu thuế suất ở một bang quá cao, doanh nghiệp có thể bỏ sang bang khác hoạt động.
Thêm vào đó, sự hội nhập của các dân tộc khác khiến Thụy Sĩ không ngừng tự đổi mới, cập nhật thêm được những tinh túy của thế giới cho đất nước mình.
Nhiều người sẽ nghĩ đến đồng hồ, chocolate hay ngân hàng nhưng trên thực tế nền kinh tế của Thụy Sĩ là một chuỗi những phát kiến được xâu kết lại với nhau. Hàng loạt các sáng tạo trong ngành may mặc, du lịch, thực phẩm, công nghệ, y khoa, hóa chất… cũng góp phần làm nên thành công của Thụy Sĩ chứ không riêng gì những ngành nổi bật.
Địa thế cũng là một nguyên nhân nữa khiến nền kinh tế nước này trở nên đặc biệt. Rất nhiều vùng miền của nước này vẫn còn hoang sơ, hẻo lánh với những phong tục, thể chế khác biệt tạo nên những khu kinh tế đa dạng, sản phẩm đặc thù của nhiều địa phương.
Nói cách khác, chủ nghĩa tư bản thế tộc, vùng miền đã đem lại một tầm nhìn bền vững và lợi ích lâu dài cho các thương hiệu, sản phẩm của Thụy Sĩ. Nhờ đó, những mặt hàng tốt nhất, lâu đời nhất của nước này vẫn giữ được uy tín qua nhiều thế hệ.
Hiện nay, bên cạnh các tập đoàn lớn mang màu sắc truyền thống dòng họ thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang làm nên 70% nền kinh tế Thụy Sĩ và không ít trong số đó vượt xa tầm vóc của chính họ.
Hầu như không ai để ý công ty Franke là nhà cung cấp mọi thiết bị nhà bếp cho McDonald, hay hãng Laboratories đang là nhà cung cấp sản phẩm chăm sóc da chống lão hóa lớn nhất thế giới, hoặc có đến 75% khả năng món mỳ ý bạn đang ăn có bột mỳ đến từ tập đoàn Buhler, hay công ty Egon Zehnder thành lập vào năm 1964 hiện đang là hãng tuyển dụng giám đốc lớn nhất thế giới.
Trung lập nhưng không cô lập
Mặc dù phần lớn thành tựu của Thụy Sĩ được đánh đổi bằng mô hôi nước mắt nhưng lợi thế là trung tâm địa lý, văn hóa giữa các nước đã khiến quốc gia này tập hợp được kiến thức và tư tưởng của nhiều nước. Nói đơn giản hơn, chính việc phát triển xã hội dựa trên tri thức, tạo điều kiện tốt cho môi trường kinh doanh đã làm nên thành công chưa từng có của Thụy Sĩ.
Việc chính phủ Thụy Sĩ duy trì trung lập, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động tự do đã giúp họ thu hút được nhiều cơ hội làm ăn lớn trên thế giới. Hiện nay, nhiều công ty thà chịu rơi vào tay các tập đoàn Thụy Sĩ trung lập hơn là phải chịu chi phối của những công ty nhà nước đến từ Mỹ, Đức hay Trung Quốc vốn bị ảnh hưởng nhiều bởi chính trị.
Sự bình đẳng giữa chính phủ và thành phần kinh tế tư nhân đã tạo nên sự khác biệt căn bản giữa Thụy Sĩ với hầu hết các nước khác. Trong khi nền kinh tế đặt trọng tâm vào thống trị và bánh trướng thì chính phủ chỉ đứng vai trò giám sát.
Nhờ đó, Thụy Sĩ luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất do tạp chí Forbes bình chọn dù họ chưa từng khai chiến hay sở hữu bất kỳ một thuộc địa nào.
Ngoài ra, chính sự trung lập khiến Thụy Sĩ không bị tàn phá nhiều bởi chiến tranh, duy trì được hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như có được sự tín nhiệm của khách hàng khi đối thủ thường xuyên bị gián đoạn bởi xung đột vũ trang.
Hơn nữa, Thụy Sĩ bị coi là “con lợn đất” khi các nhà đầu tư, người giàu đổ vốn vào đây để bảo toàn tài sản, làm giàu hơn cho hệ thống tài chính của nước này.
Thụy Sĩ có thể là quốc gia trung lập, nhưng không có nghĩa họ bị “ngu người” trong quan điểm hòa bình mãi mãi. Quốc gia này sở hữu lực lượng dân quân lớn nhất thế giới và truyền thống cũng như văn hóa trong quân đội có tầm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống dù nước này chưa bao giờ thể hiện thái độ thù địch với ai.
Thậm chí, một luật sư hay bác sĩ phải báo cáo với 1 anh công nhân quét rác trong quân ngũ. Tất cả những điều này rèn luyện sự đoàn kết, phát triển mạng lưới quan hệ bền chặt dựa trên phẩm chất và tài năng chứ không dựa vào xuất thân của mỗi người lao động.
Nhờ những chính sách thông minh trên, Thụy Sĩ từ một nước nghèo nàn hẻo lánh giữa các dãy núi thời Trung cổ, chỉ biết xuất khẩu lính đánh thuê và nô bộc đã vươn mình thành nền kinh tế đáng gờm tại Châu Âu. Trong các cuộc khủng hoảng thập niên 70 và năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp tại Thụy Sĩ chỉ bằng một nửa so với mức bình quân toàn Châu Âu.
Con người mới là tài nguyên quý giá nhất
Trong khi nhiều nhân tài bị bạc đãi tại các quốc gia khác, Thụy Sĩ đã khéo léo có chính sách thu hút nhân tài, mở các trường đại học chất lượng cao hay khuyến khích khởi nghiệp để nhào nặn các doanh nhân này thành những ông chủ của Nestle hay Breitling.
Nếu nhìn lại những tượng đài lịch sử làm nên các thương hiệu toàn cầu cho Thụy Sĩ, chúng ta có thể thấy không ít người là những đào phạm của các cuộc đàn áp chính trị, thậm chí là nạn nhân của đói nghèo trốn sang đây.
Nhà sáng lập Heinrich Nestle sinh ra ở Frankfurt-Đức trong khi nhà phát minh ra Vitamin C tổng hợp, ông Tadeusz Reichstein là người gốc Ba Lan. Nền công nghiệp đồng hồ của Thụy Sĩ cũng có khởi nguyên là các tín đồ Tin lành tại Pháp trốn chạy khỏi cuộc đàn áp tôn giáo thời vua Louis XIV.
Thành công của các công dân nhập cư Thụy Sĩ một phần đến từ môi trường kinh doanh, một phần nhờ tài trí của họ. Do bản thân là một quốc gia nhỏ bé và biệt lập, Thụy Sĩ buộc phải mở rộng, chào đón các tài năng nhập cư. Nếu những người nhập cư ở các nước khác phải trải qua quá trình xét duyệt khắt khe thì họ lại có thể tìm thấy cơ hội phát triển ở Thụy Sĩ.
Tất nhiên, không phải người nhập cư nào cũng sẽ được xã hội Thụy Sĩ chấp nhận. Nếu người nhập cư không cố gắng chứng tỏ giá trị của mình cũng như hòa đồng vào xã hội nước này, họ sẽ không được ghi nhận và tôn trọng.
Một yếu tố nữa trong tài nguyên con người của Thụy Sĩ là phẩm chất đạo đức rất cao trong kinh doanh. Đây không phải tố chất đặc thù chỉ riêng người Thụy Sĩ có nhưng chắc chắn góp phần làm nên thành công của nước này.
Hệ thống giáo dục của Thụy Sũ chú trọng rất cao vào công tác hướng nghiệp song song với học đại học, qua đó gia tăng chất lượng chuyên môn của nhân công nước này. Những công dân Thụy Sĩ có nền tảng hướng nghiệp tốt thì dù nghề nghiệp có bình dân đến đâu cũng ý thức được phẩm giá của bản thân và công việc của mình.
Bên cạnh đó, nghề giáo viên ở Thụy Sĩ được trả lương rất cao cũng như được coi trọng trong xã hội, được coi là “nghề nghiệp của Chúa”. Nhờ đó, học sinh, sinh viên được tận tình giảng dạy, hướng nghiệp và khuyến khích học hỏi.
Tất cả những triết lý này được truyền bá rộng rãi trong tầng lớp trung lưu, qua đó hạn chế khái niệm “bất chấp vì tiền” hay “kẻ thắng có tất cả” vốn này sinh từ giới buôn bán trên thị trường tự do.
Nhờ sự tôn trọng cho người lao động, bất chấp là tầng lớp bình dân hay cao cấp, cùng với sự tín nhiệm đã giúp hòa giải các xung đột trong nền kinh tế Thụy Sĩ, giúp tăng trưởng năng suất cũng như củng cố hiệu quả cho các doanh nghiệp tư nhân gia đình.
Không riêng gì người lao động, các chủ doanh nghiệp cũng cố gắng hòa nhập, học hỏi thêm ngôn ngữ, văn hóa khi họ có quá nhiều lao động nhập cư cũng như muốn giao thương với các nền kinh tế khác nhau xung quanh Thụy Sĩ.
Chính nhờ sự khiêm tốn, hòa nhập này mà nhiều thương vụ sáp nhập lớn tại Thụy Sĩ đã thành công và tạo nên những tập đoàn hùng mạnh cho quốc gia này. Novartis là đứa con chung của Ciba-Geigy và Sandoz trong khi Syngenta là thành quả kết hợp từ phân ngành hóa chất nông sản của Novartis với AstraZeneca (liên doanh của Thụy Điển-Anh). Nestle cũng mua lại hàng loạt các thương hiệu lớn như Kit Kat, Carnation hay Friskies.
Rõ ràng, tài nguyên lớn nhất của một đất nước không phải “rừng vàng biển bạc” mà chính là con người.
Chúng ta đã thấy một dân tộc Do Thái kiên cường xây dựng đất nước Israel của họ trên vùng hoang mạc; một Nhật Bản vươn mình mạnh mẽ thành cường quốc kinh tế dù bao quanh bởi biển, động đất và thiên tai; một Singapore nhỏ bé mà vẫn đem đến sự giàu có, thịnh vượng cũng như vị thế to lớn cho người dân trên trường quốc tế và giờ đây là một Thụy Sĩ đa dạng văn hóa, dân tộc nhưng vẫn đoàn kết được mọi người đi lên. Tất cả những quốc gia này đều không có nhiều tài nguyên, nhưng họ lại khai thác được nguồn tài nguyên quý giá nhất của một dân tộc là “con người”.
Theo THỜI ĐẠI

Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Vành đai và Con đường’: Tương lai hay ác mộng đối với Trung Quốc?

Mặc dù sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc được cộng đồng quốc tế hết sức quan tâm, nhưng BRI cũng đối mặt với rất nhiều thách thức. Nếu Bắc Kinh không giải quyết được những thách thức này, BRI sẽ trở thành cơn ác mộng.


Bài viết của tác giả Linda Lim, Giáo sư về quan hệ kinh tế quốc tế tại Trường Quan hệ Quốc tế Rajaratnam, Đại học Nam Dương, Singapore. Bài viết đăng trên trang “RSIS”.
Thách thức về các dự án cơ sở hạ tầng
Tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng luôn là một thách thức bởi các dự án này rất lớn, đòi hỏi nhiều chi phí, đắt đỏ, thời gian xây dựng và hoàn vốn lâu, kéo theo nhiều rủi ro. Các dự án này cũng thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại cảnh, từ chi phí và lợi ích xã hội khiến các nhà đầu tư tư nhân đầu tư dưới mức cần thiết, dẫn tới dự án không đạt hiệu quả.
Do vậy, đầu tư công là mô hình phổ biến nhất cho các dự án cơ sở hạ tầng. Chính phủ có thể vay tiền với chi phí thấp hơn so với các khoản vay tư nhân, kèm theo việc đảm bảo ngầm về chủ quyền trong trường hợp vỡ nợ. Nguồn tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng từ các liên doanh cũng là một mô hình phổ biển, liên quan tới các mối quan hệ đối tác công-tư và các thể chế tài chính khu vực, đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB).
Các liên doanh có thể tăng vốn và có được nhiều chuyên môn hơn từ các nguồn tài trợ, giảm thiểu các nguy cơ cho bất kỳ cá nhân, nhà đầu tư nào cũng như bất kỳ bên vay mượn nào trong triển khai các dự án. Ngoài ra, ở các nước đang phát triển, nguồn vốn thường rất khan hiếm, trong khi vay tiền từ các nguồn nước ngoài rẻ hơn đòi hỏi phải trả lại theo tỷ giá ngoại hối sẽ kéo theo những rủi ro về tiền tệ. Rủi ro về quản trị phát sinh từ các chính phủ thiếu kiến thức chuyên môn để đánh giá, thực hiện và giám sát các dự án; sự lãng phí tài chính xuất phát từ nạn tham nhũng, tăng chi phí đầu tư, trì hoãn và các vấn đề về chất lượng của dự án.
Rủi ro về chính trị
Cũng tồn tại rủi ro về chính trị vì sự phân bổ lợi ích và chi phí không công bằng. Bên cạnh đó là bất ổn xã hội có thể xuất hiện từ các tranh chấp về sử dụng, bồi thường đất đai, lao động và các hậu quả về môi trường như việc làm tổn hại đến những người dân trồng rừng, làm nông nghiệp hay đánh bắt thủy hải sản. Bất ổn cũng có thể xảy ra tại các quốc gia có chính quyền độc đoán hoặc là sử dụng biện pháp cưỡng chế để giải quyết tranh chấp, trong khi các chính phủ dân chủ có thể có sự thay đổi và yêu cầu thay đổi các điều khoản trong các dự án.
Phần lớn các nước tham gia BRI là các quốc gia có thu nhập thấp, thiếu vốn, nguồn nhân lực và khả năng trả nợ từ việc nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu cho các dự án BRI dẫn đến nguy cơ cao về nợ và khủng hoảng tiền tệ. Điều này có thể dẫn tới các bất ổn về kinh tế, chính trị trong nước, các mối quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng liên quan tới việc chia sẻ, sử dụng các dự án cơ sở hạ tầng như đập nước.
Một nghiên cứu mới đây do Trung tâm phát triển toàn cầu cho thấy 8 nước gồm Dijibouti, Kyrgyzstan, Lào, Maldives, Mông Cổ, Pakistan, Montenegro, Tajikistan là các quốc gia chịu tác động trực tiếp từ các dự án BRI, xây dựng các đường ống dẫn dầu sẽ làm tăng nợ lên Tổng thu nhập quốc dân và nợ Trung Quốc rơi vào mức độ rủi ro cao.
Ngay cả khi không đối mặt với các bận tâm về nợ nần thì việc háo hức tham gia các dự án cơ sở hạ tầng tại các nước tham gia BRI cũng có thể không phù hợp với nhu cầu trong nước và làm tăng nguy cơ về chính trị đối với chính phủ các nước đó. Ví dụ tại Malaysia, nhiều tiếng nói của giới kinh doanh cho rằng hầu hết các dự án BRI tại Malaysia đều không mang lại lợi ích cho đất nước. Các dự án cơ sở hạ tầng lớn như bến tàu, cảng đường sắt đều mang lợi ích chiến lược cho Trung Quốc mà hầu như không có lợi cho Malaysia. Các điều khoản trong các dự án này đều không rõ ràng cho Malaysia nhưng người dân Malaysia chỉ có thể tự trách mình vì đã để cho các chính trị gia thực hiện các thỏa thuận tồi như thế.
Mô hình kinh doanh kiểu Trung Quốc
Cách hành xử của Trung Quốc trong xây dựng cơ sở hạ tầng không giành được sự ủng hộ của cư dân địa phương bởi Trung Quốc thường xuất khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu, quản lý và đưa lao động Trung Quốc sang các nước tham gia BRI, tạo ra rất ít việc làm, đào tạo cho lao động địa phương. Điều này củng cố thêm nhận thức rằng các dự án BRI chỉ làm lợi cho Trung Quốc thay vì mang lại lợi ích cho nước tiếp nhận dự án.
Các công ty Trung Quốc thường bị cáo buộc có hành vi kinh doanh kém, chẳng hạn như việc cắt giảm các nhà cung cấp tại địa phương, vi phạm và không tuân thủ hợp đồng cũng như luật lệ địa phương, đồng thời mang đến các công nghệ và chất lượng kém như tại các dự án điện mà Trung Quốc đang xây dựng tại Indonesia.
Các công ty Trung Quốc ưa thích làm việc với các lãnh đạo chính trị địa phương, không làm việc trực tiếp với các cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng từ các dự án, dẫn tới các chi phí xã hội và đền bù cho người dân không thỏa đáng. Kết quả là nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra, gây cản trở các dự án như dự án đập Myistone và đường xe lửa nối Côn Minh với Kyaukphyu và đường ống dẫn dầu tại Myanmar.
Sự kiêu ngạo của Trung Quốc
Tại Sri Lanka, sự lừa dối của chính phủ trong việc phải nhượng lại cảng Hambantota cho một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc để đổi lại việc trả nợ đã góp phần dẫn tới thất bại của đảng cầm quyền trong bầu cử địa phương vào tháng 2/2018. Và tại Indonesia, đã có nhiều đồn đoán xuất hiện về sự khuyến khích đầu tư từ Trung Quốc sẽ làm suy yếu khả năng tranh cử nhiệm kỳ tới vào năm 2019 của Tổng thống Jokowi.
Các công ty Trung Quốc cũng thường thiếu kinh nghiệm làm việc tại các quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc và thường bị cáo buộc thiếu tôn trọng các phong tục, tập quán địa phương, minh chứng cho thói kiêu ngạo về sự thành công của Trung Quốc. Nếu muốn thành công, các dự án BRI cần mang ít tính Trung Quốc hơn, mặc dù điều này có vẻ đi ngược lại mục đích của Trung Quốc là muốn mở rộng ảnh hưởng trên toàn thế giới. Nếu Bắc Kinh không học cách thích nghi với cuộc sống bên ngoài thì những rủi ro từ BRI sẽ trở thành một cơn ác mộng đối với chính sách đối ngoại, chứ không phải là sự phồn vinh cho nước này.
Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cảnh báo:

Người thông thái.

fb10


Phần nhận xét hiển thị trên trang

lan man..



Ở đây chưa có đường sắt
thẳng theo hai bên đường rày
chúng tôi chạy bằng bánh lốp
tùy cơ
ứng biến theo ngày..
Cả chiếc la bàn cũng khó
nhận đường
theo ánh mặt trời
quay mặt là phương đông tỏ
xoay lưng át hẳn phương tây!
Mặc lòng
chon von nghĩ ngợi
Không thảo thiếc gì nơi này
muốn mát ra sông lặn ngụp
muốn ăn tự mình gieo cây
Cứ như thằng đi ở ẩn
- Thời nay,
chỗ ẩn đâu còn?
Chỉ còn đôi lần nhung nhớ
Ngày nào trở lại Vân Thôn?
Cái mẫu số chung
khốn khổ
hại ta đến tận khi nào?
xung quanh gật gờ say ngủ
ích gì thức trọn canh thâu!
"Nhịn ăn hay là nhịn nói"
Mẹ ơi lời mẹ vô cùng..
Bây giờ con mẹ lên núi
Muốn cùng mây trời
sống chung!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, qua đời vẫn kiểm tra xử lý


07/04/2018 TTO - Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Quốc Vượng vừa ký ban hành văn bản số 04-HD/UBKTTW hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Hướng dẫn thực hiện Quy định số 102-QĐ/TW nêu rõ trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.

Hướng dẫn được Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương 
Trần Quốc Vượng ký ban hành ngày 22-3-2018 - Ảnh: T.L
Hướng dẫn nêu rõ các trường hợp con phạm tội (con đẻ, con nuôi hợp pháp, dâu, rể sống trong gia đình) thì đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới; đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) thì tổ chức Đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định để xem xét, quyết định cụ thể: cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đảng viên đó. 

Đối với những đảng viên qua đời, sau đó mới phát hiện có vi phạm thì không tiến hành kiểm tra. Khi đang kiểm tra hoặc xem xét, xử lý kỷ luật mà đảng viên vi phạm qua đời thì chỉ kết luận, không thi hành kỷ luật.

Tuy nhiên, trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.

Ngoài ra, nhiều nội dung khác được hướng dẫn rất cụ thể trong văn bản này.

Phạm vi, đối tượng
Khoản 2, Điều 1 trong hướng dẫn quy định: "Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận; nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thỉ hành kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội dung nêu trong Quy định này".
Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu và đã chuyển sinh hoạt đảng mới phát hiện có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét, xử lý thì tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của các tổ chức đảng đó xem xét, xử lý theo quy định.
Khi đang xem xét, xử lý đảng viên vi phạm mà tổ chức đảng nơi đảng viên vi phạm đang sinh hoạt bị giải thể, sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn tiếp tục xem xét, xử lý hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên theo quy định.
Nguyên tắc xử lý kỷ luật
Khoản 3, Điều 2 quy định: "Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng"
Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, động cơ, nguyên nhân của vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và căn cứ vào thái độ tự giác, tinh thần quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, vi phạm và khắc phục hậu quả đã gây ra, chứng cứ đến đâu kết luận đến đấy, không suy diễn. 
Đồng thời, phải xét hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) ở Khoản 2 của các điều từ Điều 7 đến Điều 34 thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định nêu trên để xem xét, quyết định cụ thế: Cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đảng viên đó.
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu xét thấy không còn đủ uy tín thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định cho miễn nhiệm hoặc đề nghị cho thôi giữ chức vụ đó.
Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ".
Nếu bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ; nếu bị xử phạt bằng hình phạt thấp hơn cải tạo không giam giữ hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt hành chính thì tuỳ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà xem xét, thi hành kỷ luật đảng một cách thích hợp
Cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện trở lên khi phát hiện đảng viên vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tư pháp có thẩm quyền để xem xét, xử lý, không được giữ lại để xử lý nội bộ.
Đảng viên vi phạm pháp luật đang bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền thụ lý theo quy định của pháp luật thì tổ chức đảng không được can thiệp để đảng viên chỉ bị xử lý kỷ luật về Đảng, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý về chính quyền, đoàn thể.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án của toà án tuyên phạt đối với đảng viên từ cải tạo không giam giữ trở lên có hiệu lực pháp luật thì toà án phải sao gửi bản án đến cấp uỷ, ban thường vụ cấp ủy hoặc ủy ban kiếm tra của cấp ủy quản lý đảng viên. Căn cứ vào nội dung bản án, uỷ ban kiểm tra quyết định hoặc đề nghị cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy quyết định xử lý kỷ luật khai trừ đảng viên theo quy định.
Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm
Khoản 1, Điều 3 quy định: "Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật".
Đảng viên vi phạm ở bất cứ thời điểm nào đều phải được tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra, làm rõ, kết luận và biểu quyết hình thức kỷ luật cụ thể. Sau đó căn cứ vào kết quả biểu quyết và đối chiếu với quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật để quyết định thi hành hoặc không thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm.
Ví dụ: Đảng viên A có vi phạm cách thời điểm xem xét kỷ luật là trên 10 năm. Tổ chức đảng có thẩm quyền sau khi xem xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, biểu quyết quyết định kỷ luật với kết quả là cảnh cáo. 
Đối chiếu với quy định về thời hiệu kỷ luật thì tại thời điểm quyết định kỷ luật đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật nên đảng viên đó không bị thi hành kỷ luật về Đảng. Trường hợp kết quả biểu quyết ở hình thức khai trừ, đối chiếu với quy định về thời hiệu, đảng viên đó bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Điểm b, Khoản 1, Điều 3: "Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a Khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới".
Ví dụ: Đảng viên A có vi phạm vào ngày 2-5-2015 và còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật, đến ngày 8-9-2017 lại có vi phạm mới thì thời hiệu đối với vi phạm cũ được tính lại từ ngày 8-9-2017. Tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét từng nội dung vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật.
- Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm đến thời điểm tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định kiểm tra, xem xét kỷ luật đảng viên; trường hợp vi phạm xảy ra liên tục kéo dài thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
Ví dụ: Đảng viên A có hành vi vi phạm liên tục kéo dài trong thời gian 3 năm (từ ngày 8-3-2013 đến ngày 8-3-2016), đến nay mới bị phát hiện hành vi vi phạm trong thời gian đó, thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi phạm ngày 8-3-2016 đến khi tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định kiểm tra, xem xét kỷ luật.
Không tính lại thời hiệu đối với đảng viên đã bị thi hành kỷ luật nhưng sau đó, tổ chức đảng cấp trên quyết định lại (chuẩn y, tăng hoặc giảm) hình thức kỷ luật đối với đảng viên đó.
Ví dụ: Đảng viên A bị kỷ luật khiển trách, đảng viên đó khiếu nại lên các tổ chức đảng cấp trên; tổ chức đảng giải quyết khiếu nại cuối cùng quyết định chuẩn y hình thức kỷ luật khiển trách đối với đảng viên đó (thời gian từ khi có hành vi vi phạm đến khi có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là trên 5 năm), vì không tính lại thời hiệu nên đảng viên đó vẫn phải chấp hành quyết định kỷ luật của tổ chức đảng cấp trên.
Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, qua đời vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý
Khoản 1, Điều 5 quy định: "Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật".
- "Bệnh hiểm nghèo" là bệnh nguy hiểm đến tính mạng của người bị mắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật nêu trên không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng.
Ví dụ: Đảng viên A vi phạm cách đây 4 năm, khi tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kỷ luật về Đảng thì đồng chí bị ốm phải điều trị nội trú ở bệnh viện thì thời gian điều trị này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
Khoản 2, Điều 5 quy định: "Đảng viên vỉ phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đỏ vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng".
Đảng viên qua đời, sau đó mới phát hiện có vi phạm thì không tiến hành kiểm tra. Khi đang kiểm tra hoặc xem xét, xử lý kỷ luật mà đảng viên vi phạm qua đời thì chỉ kết luận, không thi hành kỷ luật. 
Trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.
Về hướng dẫn xử lý vi phạm trong công tác phòng, chống tội phạm, Điểm d, Khoản 1, Điều 13 qui định: "Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội".
Cụ thể, con của đảng viên phạm tội mà đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới gồm: con đẻ, con nuôi họp pháp, con dâu, con rể cùng sống, sinh hoạt trong gia đình và trực tiếp phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng, quản lý của đảng viên đó.
Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội". Điểm d, Khoản 1, Điều 13
Vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Điểm a, Khoản 1, Điều 15: "Viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong cùng một đơn tố cáo ".
- Đơn tố cáo giấu tên là đơn không ký và không ghi rõ họ tên. Đơn tố cáo mạo tên là đơn ký hoặc ghi tên người khác vào đơn tố cáo.
- Trực tiếp viết đơn tố cáo cho nhiều người cùng ký tên.
- Phác thảo đề cương, đọc nội dung đơn tố cáo cho người khác viết lại, đánh máy hoặc tự đánh máy rồi cùng người khác ký tên vào đơn tố cáo.
Điểm d, Khoản 1, Điều 15: "Thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, sách nhiễu trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc gây khó khăn, cản trở đảng viên, công dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo"
- Nhận được đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết nhưng dìm bỏ, không xem xét, giải quyết.
- Xem xét, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo không kịp thời theo đúng thời gian quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà không có lý do chính đáng; giải quyết không khách quan; tiết lộ danh tính, địa chỉ, bút tích của người tố cáo cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm biết.
- Đưa toàn văn hoặc một phần nội dung đơn tố cáo hoặc đưa đơn tố cáo cho người bị tố cáo.
- Tự đặt ra các quy định hoặc yêu cầu trái với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khiếu nại, tố cáo.
- Không chuyển đơn tố cáo (không thuộc thẩm quyền giải quyết) cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết.
- Không thông báo kết quả giải quyết tố cáo (bằng hình thức thích hợp) cho người tố cáo biết.
Điểm đ, Khoản 2, Điều 15: "Đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo"
- Có lời nói hoặc thông qua người khác đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo.
- Ngăn cản, gây khó khăn cho việc thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp trong việc nâng ngạch, nâng lương, khen thưởng, bổ nhiệm và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người tố cáo.
- Phân biệt đối xử, lôi kéo người khác cản trở việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người tố cáo.
- Xử lý trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thay đổi công việc của người tố cáo với động cơ trù dập.
- Trực tiếp hoặc thuê, nhờ người khác đe dọa, trấn áp, trả thù, trù dập, khống chế, vu khống người trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Trực tiếp gặp, điện thoại, nhắn tin hoặc dùng các hành vi khác gây sức ép với người trực tiếp giải quyết hoặc cấp trên của họ nhằm làm sai lệch nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Điểm g, Khoản 2, Điều 15: "Tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác ".
- Tố cáo sự việc mà mình biết là không có hoặc tự bịa chuyện, dựng chuyện, nghĩ ra điều không có thật để tố cáo.
- Đảng viên thực hiện quyền tố cáo nhưng được cơ quan có thẩm quyền kết luận có nội dung đúng, có nội dung sai hoặc đúng về hiện tượng nhưng không đúng về bản chất thì không bị coi là tố cáo bịa đặt, vu khống.
Theo UBKTTW
https://tuoitre.vn/dang-vien-vi-pham-dac-biet-nghiem-trong-qua-doi-van-kiem-tra-xu-ly-20180407123000619.htm


Phần nhận xét hiển thị trên trang