Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

Thấy gì sau hai năm thảm họa Formosa xảy ra ở VN’?



 
Nhà xã hội học Paul Jobin từng nghiên cứu các thảm họa sinh thái, môi trường và công nghiệp tại Nhật Bản (Fukushima, Minimata), tại Đài Loan (Formosa Plastic) và nhiều vụ khác (ảnh do Paul Jobin cung cấp)


8-4-2018

Tin xấu là nhiều ngư dân đánh được ‘rất ít cá so với trước đây’ khiến đời sống của nhiều ngư dân và gia đình của họ còn rất khó khăn, nhưng tin tốt là ở một số nơi ‘một lượng cá nhỏ đã trở lại biển’, một nhà nghiên cứu độc người Pháp từ Viện Xã hội học, Academia Sinica, Đài Loan, nói với BBC Tiếng Việt từ Paris về kết quả khảo sát về hậu thảm họa môi trường do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra ở miền Trung Việt Nam sau hai năm.

Hạ tuần tháng Ba 2018, tại Đại học Paris 7 – Diderot của Pháp đã diễn ra một tọa đàm khoa học với diễn giả chính là nhà xã hội học, PGS. TS. Paul Jobin, trình bày công trình nghiên cứu độc lập của ông sau một điều tra ngắn ở một số địa phương trực tiếp chịu ảnh hưởng của thảm họa môi trường cho đề tài mà ông theo đuổi là vụ thảm họa Formosa ở VN qua hai năm.

Dưới đây là nội dung chính cuộc trao đổi được thực hiện hôm 30/3 giữa BBC Tiếng Việt và PGS. TS. Paul Jobin, ngay sau tọa đàm:

BBC Tiếng Việt: Ông có thể tóm lược cho biết trọng tâm nội dung của nghiên cứu, khảo sát mà ông đã thực hiện?

PGS. TS. Paul Jobin: Nghiên cứu do tôi độc lập tiến hành và tự tài trợ, nó được thực hiện trong một thời gian ngắn (các phỏng vấn từ 29/11 tới 04/2/2018) tại các địa phương bị ảnh hưởng là Hà Tĩnh, Quảng Bình và Nghệ An. Tôi đã trình bày chi tiết tại tọa đàm bàn tròn do Đại học Paris 7 – Diderot và Viện Ngôn ngữ và Văn minh Á Đông tổ chức hôm 29/3/2018 tại Paris.

 
 Một xóm chài nằm không xa Formosa Hà Tĩnh (hình do Paul Jobin cung cấp).

Khi tiến hành khảo sát này, tôi muốn điều nghiên xem sau hai năm xảy ra vụ thảm họa do Công ty TNHH Gang Thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra (2016-2018) thì các cộng đồng đánh cá bị ảnh hưởng ở Việt Nam từ Huế tới tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An có hiện trạng kinh tế thế nào? Tôi cũng muốn tìm hiểu mức độ đền bù mà đã được tuyên bố chi trả tới nay bởi chính phủ Việt Nam, và cũng muốn nghiên cứu xem các ngư thuyền ra biển bây giờ đi đâu và họ mang được thủy, hải sản nào lên bờ? Tôi chưa có được hết câu trả lời cho tất cả các câu hỏi của tôi, nhưng tôi nghĩ tôi đã có một số hiểu biết nét chính về tình trạng.


Một vấn đề quan trọng khác mà tôi muốn biết là người dân cảm thấy như thế nào về mức độ nhiễm độc của thủy, hải sản, liệu họ có quan ngại về nhiễm độc hay không, họ có quan tâm về vấn đề này hay không và tôi cũng muốn điều nghiên về hậu quả có thể có với sức khỏe của cộng đồng, có bệnh tật gì không? Hồi tháng 11/2017, chúng tôi có một số thông tin là có các trường hợp báo cáo về bệnh ung thư, trường hợp thợ lặn bị tử vong sau khi xuống nước, tức là điều tra về vấn đề sức khỏe, bệnh tật. 

Tin xấu và tin tốt

BBC Tiếng Việt: Kết quả và tìm hiểu quan trọng và nổi bật nhất từ nghiên cứu này là gì, thưa ông?

PGS. TS. Paul Jobin: Trước hết phải nói là nghiên cứu của tôi về mặt phạm vi, quy mô là khiêm tốn, nó không thể giống như một cuộc khảo sát xã hội học với đầy đủ quy mô nghiên cứu như tôi có thể làm ở Đài Loan hay Nhật Bản, bởi vì các cộng sự của tôi quan ngại họ có thể bị công an bắt, việc phỏng vấn mọi người ở đó rất khó khăn, điều này giải thích vì sao tôi chỉ có thể tiến hành hai chục phỏng vấn sâu với mọi người tại đó, trong bối cảnh là mọi người khá bất an. Nhưng từ những phỏng vấn mà tôi tiến hành được, có thể kết luận rằng chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ người bị ảnh hưởng có thể nhận được bồi thường từ chính phủ Việt Nam…

Có địa phương, trong khi ở những xóm gần biển, trong khi các hộ gia đình nói là họ chưa thể nhận được bất cứ khoản tiền bồi thường nào, thì có một điều ngạc nhiên là cá bắt đầu quay trở lại, ít một, ít một, đó là những con cá nhỏ, dù đó là cá nhỏ, người dân có thể ra biến và đánh bắt một chút, sau một thời gian dài không có cá; nhưng sau cả năm dài, bây giờ họ có thể bắt được một số lượng cá nhỏ.

Nhưng sản lượng thấp hơn rất nhiều so với trước đây, như một ngư dân nói với tôi trước đây một ngày trung bình họ đánh được 300-400 kg hải sản, bây giờ chỉ có thể được 60 kg một ngày và anh ta chỉ có thể bán được với giá khoảng một đô-la cho một kilogram. Do vậy thật khó mà sinh sống với một thu nhập ít ỏi như thế. Như vậy tin tốt là người dân đã đánh bắt được cá, nhưng điều làm tôi kinh ngạc là họ đã đánh cá và họ đã ăn cá, dù họ quan ngại về độ nhiễm độc đối với cá. Đó là điều tôi nhận thấy rõ ràng từ người dân và đặc biệt là họ lo ngại cho con cái của họ về cá nhiễm độc, họ thường đông con nhỏ.

Người dân lo ngại vì họ chẳng biết thông tin gì cả, chính phủ có thể đã làm một số đo đạc, khảo sát về nhiễm độc, nhưng người dân nói họ không được cung cấp các thông tin, kết quả, do đó người dân lo ngại là trong dài hạn những thủy, hải sản đó sẽ gây ra độc hại cho sức khỏe của con cái họ. 

Vì sao quan tâm? 

BBC Tiếng Việt: Vì sao ông quan tâm tới Việt Nam và vụ việc này? 

PGS. TS. Paul Jobin: Tôi không phải là chuyên gia về Việt Nam, tôi là một nhà xã hội học chuyên về các vấn đề môi trường, đặc biệt ở Nhật Bản và Đài Loan. Từ đầu năm 2016 tôi quan tâm tới vấn đề nhiễm độc không khí do tập đoàn công nghiệp Formosa Plastic ở miền Trung Đài Loan gây ra, đó là một khu phức hợp công nghiệp hóa dầu mà đã gây ra ô nhiễm không khí và ô nhiễm biển. Và ở đó, người ta bắt đầu đã tiến hành các vụ kiện đòi bồi thường nhắm vào Formosa Plastic. Và tôi quan tâm tới nguyên nhân, diễn biến của các vụ việc này.

Do đó khi Formosa ở Hà Tĩnh gây ra thảm họa môi trường biển vào tháng 4/2016, tôi bắt đầu cuộc nghiên cứu mới ở Đài Loan và tôi hoàn toàn bị sốc với những gì xảy ra ở Việt Nam, và nó nhắc tôi nhớ lại những vụ việc mà tôi đã từng nghiên cứu, khảo sát ở Nhật Bản từ trước. Do đó, tôi bắt đầu tiến trình quan sát có hệ thống các tin tức từ Việt Nam về vụ việc và những vấn đề này.

BBC Tiếng Việt: Ông đã khảo sát và tiến hành giao tiếp với đối tượng nghiên cứu như thế nào? Ông đã trực tiếp hiện diện ở các nơi khảo sát đó ở Việt Nam?

PGS. TS. Paul Jobin: Vâng, tất nhiên là trực tiếp (tuy ngắn thôi chỉ hơn một tuần một chút) và tôi cần sự hỗ trợ phiên dịch do tôi không nói được tiếng Việt. Tôi đã đi xe hơi từ Huế tới Đồng Hới (Quảng Bình), rồi từ Đồng Hới tới Vinh, Nghệ An, tới Hà Tĩnh để tới các địa bàn khảo sát…

BBC Tiếng Việt: Ông được tiếp đón ra sao ở các địa phương? Ông có gửi đề nghị chính thức tới chính quyền Việt Nam trước khi ông tới nước này để tiến hành khảo sát hay là không?

PGS. TS. Paul Jobin: Không, bởi vì giả sử tôi có gửi yêu cầu và được chấp nhận cho khảo sát ở đó, thì trên đường đi ở Việt Nam, tôi biết là tôi sẽ có một ai đó theo dõi, quan sát tôi trong suốt thời gian, và người dân sẽ sợ khi phải nói với tôi sự thật về tình hình của họ. Tôi muốn nghe thực sự những gì mà người dân thật lòng quan tâm, quan ngại, tôi muốn biết những khó khăn thực sự của họ là gì. Tôi không muốn nghe tuyên truyền của truyền thông nhà nước, muốn làm xã hội học, đôi khi buộc phải như thế thôi.

Tôi sẽ rất vui sướng được bàn luận với chính quyền, nhưng phải trên cơ sở những tìm tòi, hiểu biết của tôi, chứ không phải là dựa trên những kết luận mà họ đưa ra, tôi muốn có thông tin do chính tôi kiếm được và sự tiếp cận trực tiếp tới người dân ở đó… 

Bị theo dõi hay không?

BBC Tiếng Việt: Ông có bị ai đó theo dõi trong quá trình khảo sátkhông?

PGS. TS. Paul Jobin: Nói thật là tôi đã đến Việt Nam bằng một hộ chiếu du lịch. Có thể tôi bị theo dõi nhưng tôi không biết điều đó, tôi không có kinh nghiệm để phát hiện xem tôi có bị người ta đi theo hay không. Tôi không bị theo dõi bởi công an mặc quân phục, nhưng có thể bởi những nhân viên mặc thường phục. Có thời điểm tôi được báo là phải rời đi nhanh chóng bởi có những ai đó đến tìm kiếm ở xung quanh và tôi đã phải rời đi mau lẹ.

BBC Tiếng Việt: Ông có nghĩ là thiếu sự tiếp xúc, phỏng vấn điều tra với các bên khác, giới khác, (trong đó có chính quyền, giới hữu trách hay với doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh), để ít nhất nghe quan điểm của các phía đó (hoặc kiểm chứng các ‘bằng chứng’ và những điều ông đã được nghe), thì có thể ảnh hưởng tới tính khách quan, tính toàn diện của kết quả nghiên cứu và liệu đó có thể là một thiếu sót, hạn chế nào đó?

PGS. TS. Paul Jobin: Công trình nghiên cứu nào cũng có thể có thiếu sót và quý vị đã đúng khi đặt câu hỏi này. Thậm chí bên Đài Loan, nếu quý vị muốn phỏng vấn lãnh đạo, quản lý của tập đoàn Formosa Plastic ở đó, thông thường là họ lờ đi vì họ không thích các nhà xã hội học, họ là những nhà công nghiệp lớn và họ thường lảng tránh, lờ đi báo chí và giới nghiên cứu, bất luận là xã hội học hay là ai khác. Thậm chí một Trưởng Khoa Y tế Công cộng ở một đại học lớn của Đài Loan đã bị họ từ chối cho phỏng vấn, nhưng vị đó vẫn công bố được các kết quả nghiên cứu khoa học như về bệnh học môi trường, dịch bệnh v.v…


Tôi sẵn sàng trả lời các câu hỏi thách thức về mặt khoa học với các kết luận của tôi, nhưng tôi nhận thấy không thể tiến hành nghiên cứu khoa học trong trường hợp đề tài này, trong môi trường như ở Việt Nam. Tôi đã so sánh về vụ Fukushima ở Nhật Bản về con số hàng nghìn bài báo khoa học tại Nhật về thảm họa này sau hai năm xảy ra ở đó, với việc chỉ có vỏn vẹn một bài báo tạp chí khoa học sau hai năm vụ Formosa gây hải sản chết hàng loạt ở VN. Đấy là một điều rất lạ có phải không? Tôi cảm giác rằng rất nhiều người muốn tiến hành nghiên cứu khoa học vụ Formosa ở Việt Nam, nhưng có thể họ sợ hãi về các hành động của chính quyền, nên họ không thử sức chỗ đó.
Báo chí chính thống Việt Nam từng đưa hình ảnh lãnh đạo một số địa phương ở miền Trung vẫn ‘tắm biển’ và ‘ăn cá’ không lâu sau khi thảm họa Formosa xảy ra. Ảnh: internet

Quý vị đã hỏi tôi ở đầu cuộc phỏng vấn này về kết luận và kết quả chính của công trình, và tôi đã nói ngay từ đầu rằng nó rất khiêm tốn, nhưng mặt khác tôi nghĩ các kết luận khoa học là vững chắc vì tôi đến tận nơi, nhìn tận mắt thực trạng, hỏi những câu hỏi mà tôi muốn hỏi với chính những người dân đáng phỏng vấn, do đó dù là những học hỏi, tìm tòi khiêm tốn, các nhận thức này đủ vững chắc để có thể chia sẻ với mọi người.

Formosa đã xong trách nhiệm? 

BBC Tiếng ViệtÔng có suy nghĩ gì về khía cạnh chuẩn mực đạo đức và tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh ở Việt Nam qua nghiên cứu này?

PGS. TS. Paul Jobin: Tới nay, chính quyền Việt Nam nói là Formosa đã chi trả 500 triệu đô-la tiền đền bù, một điều có vẻ như là một khoản tiền lớn. Nhưng trong khảo sát của tôi, nhiều người chưa nhận được đền bù gì cả, và với những người nhận được thì cho là khoản đền bù chẳng có nghĩa lý gì cả, khiến cho tôi phải đặt ra câu hỏi có phải Formosa đã thực sự trả đền bù 500 triệu đô-la qua chính phủ Việt Nam hay chưa? Tôi muốn nói là liệu chúng ta đã có bằng chứng gì hay chưa về giao dịch trả tiền này? Chúng ta có bằng chứng hóa đơn giao dịch Formosa trả tiền này chưa? Quý vị nhìn thấy chưa? Tôi thì chưa nhìn thấy.

Formosa Plastic nói vì họ đã trả một khoản tiền đền bù nào đó, họ đã hoàn tất việc chịu trách nhiệm. Tôi nghĩ là trách nhiệm của họ phải vượt quá rất nhiều số tiền này, nếu hải sản, cá vẫn còn nhiễm độc, tôi nghĩ rằng những thiệt hại kinh tế của Việt Nam còn lớn hơn rất nhiều số tiền 500 triệu đô-la này. Tôi không phải là một luật sư để nói về các khía cạnh pháp lý, nhưng nếu quý vị hỏi tôi về khía cạnh đạo đức và từ quan điểm này, tôi có thể nói là về mặt đạo đức mà nói, Formosa vẫn còn phải chịu trách nhiệm rất nhiều nữa vì gây ra thảm họa này.

BBC Tiếng ViệtVề phía chính quyền Việt Nam, ông suy bình luận thế nào về cách mà họ phản ứng, ứng phó, rồi xử lý, giải quyết vụ thảm họa này?

PGS. TS. Paul Jobin: Rất là tồi trong những tuần lễ đầu tiên xảy ra thảm họa vào đầu tháng 4/2016, nhưng sau đó rất tốt khi họ bắt đầu khảo sát. Đối với tôi, lúc đầu chính quyền chỉ chối bỏ những gì xảy ra, họ cố gắng bảo vệ Formosa, nói rằng không phải quan ngại gì, mọi người không có lý do gì phải sợ, chúng tôi hiểu đây là những phản ứng rất ‘ngu dại’ vì chúng tôi đã nghiên cứu và hiểu ở các vụ thảm họa khác như Fukushima, Minimata ở Nhật hay Formosa Plastic ở Đài Loan, nhưng sau đó họ làm được điều rất tốt khi họ đã tiến hành các khảo sát khoa học, như mời các nhà khoa học từ nước ngoài, huy động các nhà khoa học ở Việt Nam.
 
Chính phủ Việt Nam công bố việc Formosa nhận lỗi về vụ cá chết hàng loạt năm 2016. 
Ảnh: Getty Images

Tuy tôi chưa nhìn thấy việc Formosa chi trả tiền bồi thường cho chính phủ Việt Nam, nhưng ít nhất điểm tốt là các động thái đó buộc doanh nghiệp Formosa ở Việt Nam phải thừa nhận sai phạm và công ty này phải chịu trách nhiệm. Bước đi đó là rất hay, nhưng sau đó mọi việc lại trở lại kém đi, tôi muốn nói là tới nay, chúng ta chưa nhìn thấy công khai các kết quả khảo sát, nghiên cứu khoa học từ tháng Năm, tháng Sáu năm 2016, chúng ta không biết thực sự liệu Formosa Plastic có thực sự trả số tiền 500 triệu đô-la, hay đây chỉ là sự ‘dàn xếp’?

Và cuối cùng, điều tệ nhất là giai đoạn hại, về yêu cầu của người dân bị ảnh hưởng ở các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An, người dân bắt đầu biểu tình, phản đối để đòi hỏi đền bù thiệt hại thực sự để họ có thể lo toan những nhu cầu cấp thiết của đời sống của họ, thì đã có sự đàn áp ‘rất dã man’ với nhiều người biểu tình. Tôi đã gặp một người đàn ông ngoài 50 tuổi, ông đi biểu tình và bị đánh trọng thương vào đầu và bây giờ không thể làm việc được, ông ấy là người kiếm ăn nuôi cả nhà, bây giờ ông không thể làm được bất cứ việc gì để giúp gia đình. Đó là điều tồi tệ nhất mà chính quyền đã làm và để xảy ra, đáp lại yêu cầu hỗ trợ nhu cầu tối thiểu của các nạn nhân thảm họa. 

Bài học và so sánh?

BBC Tiếng ViệtCó so sánh gì đáng nói nhất về cách thức mà chính quyền ở các nơi khác, chẳng hạn Nhật Bản, Đài Loan, ứng phó với các thảm họa so với chính quyền ở Việt Nam và bài học đáng nói nhất nếu có thể rút ra là gì?

PGS. TS. Paul Jobin: Thật là một câu hỏi khó! Một lần nữa, vì tôi không phải là chuyên gia về Việt Nam, nhưng có thể nói với cấp độ, quy mô của thảm họa Formosa gây ra ở Việt Nam, chúng ta phải nghĩ tới những thảm họa ở cấp độ lớn như Chernobyl hay Fukushima. Trong thảm họa Fukushima ở Nhật Bản, chính quyền Nhật cũng bị chỉ trích vì phản ứng chậm, phản ứng không đủ v.v…, nhưng ít nhất, họ đã không đàn áp tàn nhẫn những nạn nhân của vụ thảm họa. Đã có những cuộc biểu tình lớn, rất lớn ở Nhật Bản, sau vụ Fukushima, đòi chấm dứt sử dụng các lò phản ứng điện hạt nhân, cảnh sát Nhật đã không tàn ác đối với người dân Nhật biểu tình, đúng không?


Nhưng trong trường hợp này với thảm họa do Formosa gây ra ở Việt Nam, tôi thấy nhà cầm quyền đã có hành xử ‘tàn nhẫn’ với các nạn nhân và người biểu tình. Kết tội, xét xử nhiều bloggers và nhà báo, tới nay 13 người đã bị bắt và kết tội và có những bản án nặng nề vì họ đã cố gắng nêu thông tin về tình hình của ngư dân. Lý do vì sao chính quyền hành xử thù nghịch như vậy ư, tôi có nghe phản ánh nói nhiều giáo dân nằm trong số những nạn nhân và người biểu tình và chính quyền sợ Nhà thờ Công giáo và có thể chính quyền ‘phân biệt đối xử’ với Nhà thờ Công giáo hoặc sợ rằng Nhà thờ lợi dụng vụ thảm họa để chỉ trích, công kích chính quyền.
 
Formosa Hà Tĩnh đã đền bù 500 triệu đo-la cho vụ thảm họa làm hải sản chết hàng loạt 
ở các vùng biển miền Trung, theo Chính phủ Việt Nam. Ảnh: Getty Images

Nhưng từ những gì tôi thấy, tôi thấy rằng Nhà thờ ở nhiều địa phương, như ở Vinh, Nghệ An chẳng hạn, chỉ cố gắng giúp đỡ, hậu thuẫn người dân, vì Nhà thờ gần dân, họ sống bên cạnh dân, và họ cảm thấy bị sốc do tình hình sau thảm họa, về mặt kinh tế, hay bị sốc khi có những người làm nghề lặn biển bị thiệt mạng, hay vì nhiều nạn nhân không thể nhận được bồi thường cho tới nay v.v… Còn chính quyền có khôn ngoan khi ứng xử như thế hay không ư? Tôi nghĩ tất nhiên là không, dù tôi nghĩ có thể họ quan ngại và sợ về tính chính danh của chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo bị ảnh hưởng. Tôi nghĩ họ không nên sợ hãi vì điều này, tôi nghĩ trái lại – nếu chính quyền càng đàn áp, thì người dân lại càng thách thức tính chính danh của chính quyền, của Đảng Cộng sản.

Nếu chính quyền và đảng thực sự quan tâm tới dân, thì họ cần cố gắng hết sức để bù đắp, bồi thường cho dân và nếu khoản tiền Formosa bồi thường là chưa đủ, thì chính quyền phải yêu cầu Formosa bồi thường nữa. Năm ngoái tập đoàn Đài Loan này đã thu lãi lớn và họ có đủ tiền nong và tài sản để bồi thường và đáp ứng cuộc khủng hoảng. Do đó chính quyền và Đảng Cộng sản không nên sợ hãi việc đi tới với người dân, đặt các câu hỏi, hỏi người dân liệu họ có thỏa mãn hay không.

Chính quyền có thể đặt các câu hỏi như mọi người cảm thấy như thế nào về cách thức chính quyền đáp ứng khủng hoảng, người dân có thỏa mãn không? Ở Đài Loan người ta làm các khảo sát như vậy và nếu chẳng hạn 70% người trả lời bảo rằng không, họ không thỏa mãn, họ muốn được bồi thường thỏa đáng, thì khi đó dân chủ đã phát huy và chính quyền phải quan tâm và cố gắng hơn nữa để giúp dân. 

Quan ngại trở lại VN?

BBC Tiếng Việt: Trở lại với khảo sát mà ông thực hiện với các phỏng vấn từ 29/1 tới 4/2/2018 vừa qua, ông có thể cho biết ai tài trợ cho dự án này hay là ông tự tài trợ?
 
Các nhà hoạt động môi trường Việt Nam biểu tình phản đối vụ Formosa Hà Tĩnh 
tại Đài Loan. Ảnh: Facebook

PGS. TS. Paul Jobin: Tôi tự tài trợ, bởi vì tôi chỉ muốn [tạo ra] thông tin tối thiểu trước khi tôi rời Đài Loan để không ai chú ý tới nghiên cứu của tôi, nên tôi đã tự tài trợ chuyến đi và nghiên cứu.

BBC Tiếng ViệtÔng sẽ làm gì với kết quả khảo sát, nghiên cứu này của ông?

PGS. TS. Paul Jobin: Hiện tại tôi và các cộng sự nghiên cứu đang chuẩn bị để xuất bản một bài báo bằng tiếng Hoa ở Đài Loan và sau đó là một bài báo khoa học bằng tiếng Anh ở tạp chí quốc tế. Lý do chúng tôi chọn xuất bản trước bằng tiếng Hoa là vì chúng tôi muốn người Đài Loan quan tâm hơn tới vấn đề này. Tôi nghĩ rằng cấp độ thông tin và ra quyết định ở Đài Loan còn chưa tốt, chúng tôi muốn người Đài Loan có trách nhiệm hơn với vấn đề này.

BBC Tiếng ViệtÔng có ngại gặp vấn đề gì khi lần sau muốn trở lại Việt Nam?

PGS. TS. Paul Jobin: Tôi không rõ, tôi sẽ cố gắng trung thực nhất thế này, đây không phải là quan ngại cho tôi, nếu chính quyền không cho tôi vào lại Việt Nam, tôi sẽ lấy làm tiếc về điều đó bởi vì tôi đã từng rất vui được gặp gỡ nhiều người và đó là một đất nước rất xinh đẹp… Tôi nghĩ là chúng tôi cần thông tin cho người dân ở Việt Nam và ở hải ngoại về điều gì đang xảy ra. Và chúng ta cần tạo áp lực để chính phủ Việt Nam phải quan tâm, lo lắng cho người dân của chính họ.


Một cuộc biểu tình yêu cầu chính quyền VN thả các bloggers và các nhà hoạt động 
trong vụ Formosa Hà Tĩnh. Ảnh: internet


Lý do vì sao tôi lo lắng cho người dân ở Việt Nam đang phải chịu các loại ô nhiễm môi trường là vì tôi đã có rất nhiều trải nghiệm, kinh nghiệm ở những nơi khác, chẳng hạn ở Nhật Bản, cũng như ở Đài Loan, do đó tôi biết đó là một vấn đề khó khăn, thậm chí ở các quốc gia có nền dân chủ như Nhật Bản, Đài Loan. Đây là lần đầu tiên tôi tiến hành một nghiên cứu ở một quốc gia như Việt Nam, và tôi đã bị sốc biết bao khi cảm nhận được sự khó khăn to lớn dù chỉ muốn tìm kiếm những thông tin rất cơ bản về sự thật. Tôi không hy vọng là các bài báo khoa học sẽ làm thay đổi gì lớn lao, nhưng tôi vẫn muốn tiến hành và cố gắng xem sao.


Khói vẫn bốc lên từ ống khói của khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh, hai năm sau thảm họa gây ô nhiễm nghiêm trọng ở các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam (Hình do Paul Jobin cung cấp)
____

Paul Jobin là Tiến sỹ xã hội học, hiện làm việc tại Viện xã hội học, Academia Sinica, ở Đài Loan, ông cũng là Phó Giáo sư thuộc Đại học Paris Diderot Pháp, giảng dạy các chuyên ngành xã hội học và nhân học, Nhật Bản và đông phương học. Ông từng là Giám đốc Trung tâm của Pháp nghiên cứu về Trung Quốc đương đại, chi nhánh tại Đài Loan. Ông từng nghiên cứu về thảm họa và ô nhiễm môi trường và môi trường công nghiệp ở nhiều nơi, trong đó có Nhật Bản, Đài Loan v.v…

Trên đây là cuộc phỏng vấn của BBC Tiếng Việt với nhà nghiên cứu, trong đó ông Paul Jobin đưa ra các thông tin và nhận định từquan điểm, góc nhìn riêng của ông. Vụ ‘cá chết hàng loạt’ ở Việt Nam 2016 hay còn gọi là thảm họa môi trường Formosa xảy ra bắt đầu từ Vũng Áng, Hà Tĩnh, phát hiện xảy ra từ ngày 6/4/2016 và sau đó lan ra hàng loạt các tỉnh miền Trung Việt Nam, trong đó có Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Chính phủ Việt Namtrong suốt thời gian hai năm qua luôn khẳng định đã có các nỗ lực liên tục để giúp đỡ, hỗ trợ người dân chịu hậu quả của thảm họa môi trường do Formosa gây ra ở các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam, khẳng định không chỉ giúp người dân được bồi thường mà còn hỗ trợ họ tái thiết cuộc sống và sinh hoạt trên nhiều mặt. 

Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam cũng khẳng định luôn có chính sách đoàn kết dân tộc, không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng, những người bị bắt và xét xử, theo chính quyền là những ‘đối tượng vi phạm luật hình sự, pháp luật’ của Việt Nam, trong đó có nhiều ‘đối tượng lợi dụng tự do, dân chủ và nhân quyền’ để‘tuyên truyền, chống pháĐảng và nhà nước. Mới đây, trong đầutháng 4/2018, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tái khẳng định ở Việt Nam không có ‘cái gọi là tù nhân lương tâm’.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dự án “tỉ đô” của Donacoop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn (1)








Bảy năm qua, cứ mỗi lần nhắc lại ngày bị thô bạo cưỡng chế nhà, ông Hoa lại uất ức bật khóc.
(Pháp Luật plus 03/04/2018) - Vùng đất từng là một xã trù phú với hàng ngàn hộ dân, hàng vạn nhân khẩu, dần bị thô bạo cưỡng chế xóa trắng, đền bù rẻ mạt, để mọc lên “khu đô thị” phân lô bán nền do Liên hiệp Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Đồng Nai (Donacoop) làm chủ đầu tư.

Kỳ 1: Cuộc cưỡng chế “thí điểm” khủng bố tinh thần toàn xã

Chỉ cách trung tâm Biên Hòa (Đồng Nai) mươi cây số, 10 năm nay, hàng ngàn nông dân sống trong cảnh lầm than. Người sống không còn nơi dung thân, mò ốc bắt còng sống qua ngày; người chết cũng không nơi chôn cất. Cuộc sống điêu tàn, oán thán chất chồng.

Xóa trắng xã lập khu đô thị “chui”

Câu chuyện bắt đầu từ năm 2007, khi “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng” ra đời, gồm ba dự án: Đồng Nai Water Front (366,7 ha), Aqua City (304,9 ha), Khu dân cư Long Hưng (227,7 ha), tại xã Long Hưng, huyện Long Thành (xã Long Hưng nay đã chuyển về TP Biên Hòa). Mục tiêu, theo giấy chứng nhận đầu tư, là “đầu tư xây dựng và kinh doanh khu đô thị”.

Năm 2008, Ủy ban Nhân dân (UBND) Đồng Nai ra các quyết định phê duyệt phương án thu hồi đất 2.532 hộ dân, trong đó 1.130 hộ bị giải tỏa trắng. Dù đây không phải là dự án công ích, dân vẫn bị áp giá với mức có khi chỉ 35 ngàn đồng/m2. Tính theo thời giá, mỗi m2 đất ăn được hai đĩa cơm sườn.

Chưa bàn đến các vấn đề pháp lý chi tiết, chưa bàn đến việc dự án thương mại có được áp giá và thô bạo cưỡng chế hay không, dự án nhanh chóng bị kết luận là dự án “chui”. Người dân đâm đơn khiếu nại tố cáo khắp nơi, không chấp nhận giao đất với giá rẻ mạt để nhà đầu tư bán lại với giá gấp hàng trăm lần. Đầu năm 2010, Bộ Xây dựng đã có văn bản khẳng định “dự án khu đô thị mới có quy mô sử dụng 200 ha trở lên phải được Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận”. Có nghĩa Đồng Nai khi đó đã cấp phép trái thẩm quyền.

Bộ Xây dựng lưu ý “khu đô thị quy mô sử dụng đất từ 200 ha trở lên là dạng hoạt động kinh doanh đặc thù và có nhiều điểm khác như sử dụng diện tích đất lớn, liên quan đến nơi sinh sống hàng vạn người dân và các lĩnh vực khác như giáo dục, thể thao, y tế, văn hóa… Ngoài ra việc đầu tư xây dựng khu đô thị mới còn phải đáp ứng các yêu cầu về xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo đảm phù hợp về kiến trúc, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, các vấn đề kết nối hạ tầng khu vực…”.

Cuối tháng 3/2010, Văn phòng Chính phủ có văn bản truyền đạt ý kiến Thủ tướng yêu cầu UBND Đồng Nai nghiêm túc kiểm điểm việc cấp phép đầu tư dự án. Tuy nhiên trước hành động “tiền trảm hậu tấu” của Đồng Nai, văn bản này vẫn cho phép tiếp tục triển khai các dự án trên, và “phải thực hiện đúng quy hoạch và tiến độ, thực hiện các cam kết về bảo đảm an sinh xã hội tại địa phương”.

Cuộc sống hàng ngàn hộ dân xã Long Hưng từ khi đó chính thức rơi vào cảnh oán thán. Nhưng trời thì cao, đất thì dày, oán thán ai nghe?

Cuộc cưỡng chế “thí điểm”

Bảy năm qua, ông Phan Văn Hoa (SN 1959, từng ngụ ấp An Xuân) không có một giấc ngủ ngon. Từ một nông dân cần mẫn gây dựng nên nhà cao cửa rộng, vườn cây ao cá, ruộng lúa mênh mông, bỗng chốc mất tất cả. Mồ hôi nước mắt nhiều đời gây dựng bị cưỡng chế đập phá thành bãi đất trống phân lô bán nền cho các “đại gia”.

Tính tới đứa cháu đang nằm nôi, nhà ông sáu đời cư ngụ ở đất Long Hưng, cái tên có nghĩa “con rồng mạnh mẽ, trí tuệ, sung túc”. Năm 1977, ông Hoa lập gia đình, thừa hưởng ruộng vườn gia đình. Gom góp, đi lượm từng thanh sắt, làm được bao nhiêu để dành mua gạch đá, hàng đêm vợ chồng xuống sông xúc cát trữ sẵn. Mất bốn năm trời ròng rã mới xây xong căn nhà năm 1991.

Khoảng vườn 1.700m2 đất thổ cư, ông đào ao thả cá, trồng cây ăn trái. Diện tích 1,6 ha đất ông vừa trồng lúa, trồng cây lâu năm. Mỗi năm bình quân ông thu lãi 80 triệu đồng, thời điểm đó tương đương 6 – 7 lượng vàng. Từ năm 1995 đến 2009, ông được xã, huyện, tỉnh Đồng Nai công nhận “nông dân sản xuất giỏi”. Những tưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc, con cái lớn lên dựng vợ gả chồng cho mỗi đứa ít đất ra riêng, làm căn nhà nhỏ. Ai ngờ tan nát hết.

Năm 2008, ông được gọi ra xã nghe phổ biến dự án “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng”. Biết đây là dự án thu đất giá rẻ bán lại giá cao, không phải vì công ích, ông không đồng ý. Chính quyền vẫn cho người kiểm đếm tài sản. Mồ hôi nước mắt sáu đời, cả nhà đất 1.700 m2 và cây trái, ao cá chỉ được bồi thường 854 triệu. Ông không đồng ý nhận tiền, không đồng ý giao đất.

Nhà ông Hoa ở đầu làng nên trở thành “mục tiêu” đầu tiên cho cuộc cưỡng chế “thí điểm”. “Không họp hành, không gặp mặt, không thuyết phục động viên. Đầu tiên không nghĩ họ bạo lực đến vậy, nhưng hóa ra họ làm bất chấp vì nhà tôi là trường hợp đầu tiên. Nếu cưỡng chế được, đó là biện pháp thị uy, cảnh cáo các nhà khác, làm tê liệt ý chí phản kháng cả xã”, ông Hoa nói. Hôm đó, ông nhớ rất rõ, ngày 19/10/2011.


Vợ ông Hoa quỳ lạy lực lượng cưỡng chế (Hình cắt từ clip)
“Hóa chất lạ” trấn áp những lời van xin

Sáng tinh mơ hôm ấy, cả xã Long Hưng bừng tỉnh bởi tiếng xe cảnh sát, cứu hỏa, cứu thương... Những nông dân chưa từng thấy cảnh tượng hàng trăm công an, trật tự đô thị, bảo vệ dân phố, cán bộ... vây một căn nhà. Trong căn nhà ấy, không có tội phạm, cũng không tiềm ẩn nguy hiểm gì. Đó là gia đình nông dân gồm một ông bố, một bà mẹ, ba đứa con và mấy đứa cháu. Ông Hoa kể lại: “Tôi chỉ lập một bàn thờ Bác Hồ và cờ Tổ quốc đặt trước sân. Đất nước độc lập tự do hạnh phúc là giữ cho dân mảnh đất mình khai phá. Cứ tưởng họ không dám phá nhà”.

Người dân đến rất đông, nín thở im lặng theo dõi. Những người già thì lên tiếng phản đối. “Gia đình tôi khóa cổng, hy vọng lực lượng cưỡng chế niệm tình thương xót, nhưng không tình, không lý. Họ tấn công...”, ông Hoa kể lại.

Trong clip người dân xã Long Hưng ghi lại, người ta thấy cảnh những người nông dân không có ý định chống đối, chỉ biết kêu gào van xin. Vợ ông Hoa quỳ sụp xuống đất, chắp hai tay trước ngực lạy lục. Lực lượng cưỡng chế chia thành nhiều mũi. Mũi đứng trước cổng vô cảm bắc loa đọc thông báo trong tiếng phản đối của dân, tiếng khóc thét kinh sợ của trẻ con. Mũi khác “đột kích” vào nhà, mở màn bằng làn khói bao trùm cả một góc vườn, không rõ là lựu đạn khói hay hóa chất gì? Tiếng chân chạy huỳnh huỵch, tiếng quát nạt, tiếng người bị quật xuống đất, tiếng trẻ ré lên rồi lịm đi. Máy xúc tiến vào giơ gầu quật liên tiếp. Mồ hôi công sức chắt chiu bao đời tan nát.

Ông Hoa kể lại: “Con trai tôi khi đó uất quá la lên. Họ lao đến lôi con tôi ra đường. Tôi hoảng quá, lôi lại, bị đè sấp mặt xuống đất. Họ bẻ gô tay cha con tôi ném lên xe thùng, chở ra sân ủy ban xã giữa trời nắng đến chiều rồi đưa về trại giam công an”. Đói, khát, giận dữ, tuyệt vọng. Vợ ông sợ hãi ngất xỉu, tỉnh lại cũng bị giải ra ủy ban.

Cơ ngơi bao đời sau ít phút chỉ còn đống xà bần. Lực lượng cưỡng chế bỏ đi mang theo gia đình ông Hoa bị còng trên xe thùng, phía sau lưng là những ánh mắt sợ hãi bàng hoàng.

Chiều muộn, vợ ông Hoa mới được thả về. Bước thấp bước cao trên con đường quen, một hàng xóm chặn lại: “Nhà thành đống gạch vụn rồi, về làm gì nữa”. Nhà bị phá, chồng con bị bắt, người phụ nữ hóa cái xác vô hồn để người ta dìu sang nhà người quen tá túc qua đêm, rồi sáng hôm sau gom chút sức tàn gượng lên Công an Biên Hòa… đóng tiền phạt.

Lập chòi tá túc cũng bị cưỡng chế

Ông Hoa và các con bị giam cho đến khi vợ lên đóng phạt mới được về. Người đàn ông ngậm ngùi: “Ngày xưa bom đạn Mỹ không tàn phá, không gây oán thán nhiều như vậy”. Ông bảo với nhà ông, nay thời bình mà quá chiến tranh, có đất có nhà nhưng thành bần cùng chỉ trong phút chốc.

Nuốt nước mắt cúi đầu chịu nhục trước bất công, ông Hoa nhặt nhạnh vật liệu từ đống xà bần, dựng cái chòi mới tá túc.“Nhưng họ đâu có tha. Lần thứ hai họ tiếp tục cưỡng chế. Họ bảo tôi xây trái phép trên đất dự án”. Hai lần dựng chòi trên nền đất nhà cũ đều bị phá, ông chuyển sang đất vườn. Túp lều sau đó cũng cùng số phận. Ông chuyển ra dựng chòi trên đất ruộng, chốn dung thân này cũng bị giật sập. Những cuộc cưỡng chế kiểu “đuổi cùng giết tận” này, theo ông, vẫn là một cách “khủng bố tinh thần”, “dằn mặt” dư luận xã.

Cuối cùng ông chuyển ra dựng chòi trên đất ruộng của một hàng xóm chưa bị giải tỏa thì mới được tạm yên. Ông lý giải không phải vì muốn tỏ ra “rắn mặt”, mà chỉ đơn giản vì ông là nông dân. Nông dân không đất như cá rời nước, sống bằng gì. Dựng chòi ngoài ruộng trồng luống rau, cấy ít lúa, mới có miếng ăn sống qua ngày.  

Kể từ ngày bị cưỡng chế mất nhà, gia đình ông tan đàn xẻ nghé. Mấy đứa con ra ở trọ hoặc tá túc mỗi nhà người quen ít hôm. Ông Hoa nói: “Người ta bảo dự án này giúp dân an cư, ổn định đời sống, nhưng tôi thấy nó đi ngược lại. Nó khiến chúng tôi nghèo đi, mất hết đất sản xuất thì ổn định kiểu gì. Nông dân như tôi, chân tay vầy đây, chữ nghĩa không biết, không ruộng, đi làm công nhân có ai nhận sao?”.

Dù sống cảnh bần cùng, ông Hoa vẫn cương quyết không ký giấy nhận bồi thường, không tiếp tay cho dự án sai, không chấp nhận cảnh vô lý. “Dự án tư nhân thu lợi cá nhân mà áp đặt đền bù, cưỡng chế lấy đất là trái luật. Dù nhà bị đập, vườn ruộng bị san phẳng, tôi vẫn tin vào pháp luật, vẫn tin Đảng và Nhà nước sẽ biết câu chuyện, phân xử đúng – sai”.

Không may mắn như bác nông dân 59 tuổi này còn sức khỏe, còn quyết tâm đi tìm công lý; vì dự án “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng”, đã có những gia đình bị đẩy vào hố sâu bần cùng, mẹ ngơ ngẩn, con mất mạng, gia đình không chốn dung thân lay lắt trong “ngôi nhà” tự chế neo trên dòng kênh đen. 

Mời bạn đọc đón đọc kỳ sau.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Máy bay không người lái và bài toán răn đe ở Biển Đông

Tác giả: Ngô Di Lân
Mặc dù tranh chấp Biển Đông đã nguội đi ít nhiều kể từ sau khủng hoảng giàn khoa HD-981 năm 2014 nhưng một số nguồn tin cho rằng trong hai năm gần đây phía Trung Quốc đã nhiều lần gây áp lực quân sự để buộc Việt Nam phải dừng các dự án hợp tác khai thác dầu khí ở Biển Đông với công ty Repsol. Do đó bất chấp những tuyên bố của Bắc Kinh, chúng ta vẫn không thể loại trừ nguy cơ Trung Quốc chủ động sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.
Một khi Trung Quốc đủ tự tin, rất có thể Tập Cận Bình và các tướng lĩnh của mình sẽ quyết định dùng vũ lực để chiếm thêm đảo và mở rộng quyền kiểm soát của mình ở Biển Đông. Giống như năm 1974 và 1988, họ sẽ cố gắng tạo ra “sự đã rồi” (fait accompli) một cách chớp nhoáng, đẩy các nước láng giềng vào thế phải chọn giữa việc chấp nhận mất đất hoặc leo thang xung đột để chiếm lại vùng lãnh thổ đã mất. Để tránh lâm vào tình huống này các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines phải gửi đi tín hiệu răn đe rõ ràng và đáng tin đến Trung Quốc. Để có thể răn đe hữu hiệu ở Biển Đông các nước này buộc phải cho thấy họ có khả năng kiểm soát leo thang xung đột (conflict escalation) và rất có thể các máy bay không người lái (drones) sẽ là công cụ hữu hiệu nhất cho nhiệm vụ này.
Nguy cơ xung đột vũ trang ở Biển Đông  
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu rằng phát động một cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Biển Đông là hành động tự sát. Mặc dù Trung Quốc mạnh hơn các nước láng giềng nhiều lần nhưng một nghiên cứu mới đây cho thấy các nước nhỏ quanh khu vực Biển Đông có đủ năng lực ngăn chặn/chống tiếp cận (A2/AD) để đánh bại các nỗ lực chiếm đảo của Trung Quốc ở Biển Đông. Kể cả Trung Quốc giành phần thắng đi chăng nữa thì cuộc chiến tranh này cũng sẽ không đến một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nếu Trung Quốc không thể tung đòn chí mạng và giành thắng lợi hoàn toàn trong vòng vài ngày hoặc đôi tuần thì nhiều khả năng các bên thứ ba, đặc biệt là Mỹ và thậm chí là Nhật Bản, sẽ can thiệp.
Một cuộc chiến tranh lớn như vậy ắt sẽ làm thiêu huỷ toàn bộ hình ảnh về một Trung Quốc trỗi dậy “hoà bình” trên trường quốc tế và khiến các nước vốn đã dè chừng với Trung Quốc ngày một sẵn lòng theo Mỹ chống Trung Quốc hơn. Điều đó rất có thể sẽ đặt dấu chấm hết đối với giấc mộng bá quyền của Trung Quốc. Hơn nữa, nếu Trung Quốc đại bại trong cuộc viễn chinh của mình thì không thể loại trừ khả năng Đài Loan sẽ lợi dụng thời cơ để tuyên bố độc lập khỏi Trung Hoa đại lục. Tất cả những điều này hẳn đã nằm trong toan tính của các nhà cầm quân Trung Quốc và vì vậy, trừ khi các nước khác khiêu chiến trước, xác suất Trung Quốc phát động một cuộc chiến tranh lớn trên Biển Đông là gần như bằng không.
Tuy nhiên chỉ vì Trung Quốc không có động cơ để gây chiến tranh không có nghĩa là họ không dám dùng vũ lực ở quy mô hạn chế hơn. Nếu thời cơ thuận lợi, không thể loại trừ khả năng Trung Quốc chủ động dùng vũ lực để chiếm một hoặc hai hòn đảo nhỏ ở Trường Sa. Nói cách khác, Trung Quốc rất có thể sẽ sử dụng chiến thuật “sự đã rồi”, tức bất ngờ chiếm một vùng lãnh thổ nhỏ trước khi đối phương kịp phản ứng. Nếu Trung Quốc đột ngột tấn công toàn miền Bắc Việt Nam thì việc chúng ta phản công là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra. Tuy nhiên việc ta có trả đũa hay không nếu Trung Quốc chỉ chiếm một hòn đảo duy nhất ở Trường Sa vẫn là một ẩn số rất lớn. Nước sử dụng chiến thuật sự đã rồi về bản chất đang đánh cược rằng phần lãnh thổ mà đối tượng bị mất sẽ đủ nhỏ để họ thà chịu mất còn hơn phản ứng và đối mặt với nguy cơ xung đột vũ trang leo thang thành một cuộc chiến tranh lớn.
Như Nga đã cho thấy ở Crimea, các cường quốc ở vị trí đặc biệt thuận lợi để thực hiện thành công một chiến dịch chiếm đất chớp nhoáng. Trung Quốc mạnh hơn tất cả các nước ở khu vực Biển Đông về mọi mặt và hơn nữa những nước như Việt Nam và Philippines lại có sự lệ thuộc kinh tế rất cao vào Trung Quốc. Khi phải chọn giữa việc mất một bãi đá không mấy giá trị và đối mặt với nguy cơ leo thang chiến tranh và trừng phạt kinh tế từ phía Trung Quốc thì nguy cơ các nước này chọn mất lãnh thổ là không nhỏ. Nói cách khác, một khi “sự đã rồi” thì mọi sự phản ứng nếu không phải là đã quá muộn thi cũng có cái giá quá đắt. Để tránh lâm vào tình huống này chỉ có cách duy nhất là gửi đi tín hiệu răn đe rõ ràng tới Bắc Kinh và thuyết phục họ không chủ động sử dụng vũ lực dù trong bất kì tình huống nào.
Máy bay không người lái và bài toán răn đe ở Biển Đông
Để có thể răn đe thành công cần hội tụ được ít nhất hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất, đối tượng phải cảm thấy cái giá phải trả sẽ quá đắt so với những gì có thể đạt được. Nếu như Trung Quốc tin rằng chiếm bãi cạn Scarborough bằng vũ lực sẽ dẫn một cuộc chiến tranh lớn với liên minh Mỹ-Phi thì gần như chắc chắn họ sẽ từ bỏ ý định này. Mặt khác, nếu họ tin rằng việc chiếm Scarborough cùng lắm sẽ chỉ bị dư luận quốc tế lên án trong vòng vài ngày thì rất có thể họ sẽ tiến hành chiếm đảo.
Thứ hai, lời đe doạ răn đe phải có đủ độ khả tín (credibility). Tinh khả tín của một lời đe doạ sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố: (i) khả năng hiện thực hóa lời đe dọa (capabiities) và (ii) độ quyết tâm (resolve). Nếu Việt Nam đe doạ Trung Quốc rằng sẽ trả đũa hạt nhân nếu Trung Quốc chiếm đảo thì rõ ràng lời đe doạ không đáng tin vì tất cả đều biết Việt Nam không sở hữu vũ khí hạt nhân và vì vậy hoàn toàn không có khả năng biến lời đe doạ thành hiện thực.
Độ quyết tâm sẽ quyết định xem người đưa ra mối đe doạ có thực sự sẵn lòng biến lời nói thành hành động hay không. Ví dụ, nếu ngày hôm nay ta tuyên bố sẽ đáp trả bằng biện pháp quân sự nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Biển Đông nhưng ngay hôm sau lại cam kết không sử dụng vũ lực thì rất có thể Bắc Kinh sẽ nghĩ rằng Việt  Nam chỉ hăm doạ suông mà không dám biến lời nói thành hành động. Sự thiếu nhất quán trong ví dụ này cho thấy Việt Nam không có quyết tâm cao. Bên cạnh đó, giá trị của thứ đang bị đặt trên bàn cân cũng sẽ quyết định tính khả tín của lời đe doạ. Ai cũng tin rằng Mỹ sẽ đáp trả hạt nhân nếu Triều Tiên tấn công San Francisco bằng vũ khí hạt nhân bởi khi đó sự sống còn của nước Mỹ đang bị đe doạ. Thế nhưng sẽ chẳng mấy người sẵn sàng tin rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân để trả đũa Triều Tiên nếu như Bình Nhưỡng chỉ bắn chìm một tàu chiến của Mỹ ở khu vực biển Hoa Đông.
Ngăn chặn Trung Quốc sử dụng vũ lực ở quy mô hạn chế tại thời điểm hiện nay là rất khó bởi cam kết trả đũa quân sự của chúng ta không đủ độ khả tín. Việt Nam và các nước trong khu vực có thể có đầy đủ tên lửa chống hạm và tàu ngầm để phản công và thậm chí là ngăn không cho đạo quân xâm lược của Trung Quốc tiếp cận mục tiêu nhưng câu hỏi là quyết tâm sử dụng các loại vũ khí này của họ đủ cao hay không, đặc biệt khi Trung Quốc ngày một tăng cường sử dụng lực lượng “dân quân biển” để mở rộng quyền kiểm soát ở Biển Đông. Nếu như Bắc Kinh phát động chiến tranh tổng lực, việc đáp trả là chắc chắn. Nếu Trung Quốc tái diễn một sự vụ giống như vụ bãi cạn Scarborough năm 2012 thì khó có thể tưởng tượng được Việt Nam hay bất kì nước nào khác sẽ dùng vũ lực để đáp trả thay vì chấp nhận mất lãnh thổ.
Hơn ai hết, Trung Quốc hiểu rằng những nước láng giềng của mình rất coi trọng quan hệ với Trung Quốc. Tranh chấp Biển Đông có thể là một vấn đề lớn nhưng đặt trong toàn cảnh quan hệ song phương hai nước thì nó vẫn chỉ là một vấn đề trong vô vàn các vấn đề khác cũng quan trọng không kém. Hơn nữa, các tướng lĩnh Trung Quốc biết chắc rằng các nước nhỏ không hề muốn đụng độ trực tiếp với Trung Quốc, càng không muốn gây leo thang căng thẳng bởi rõ ràng Trung Quốc áp đảo tất cả các nước láng giềng về mặt quân sự. Không phải tự nhiên mà phía Việt Nam đã cố gắng phản ứng một cách bình tĩnh và kiềm chế nhất có thể, bất chấp việc tàu Trung Quốc liên tục khiêu khích và gây hấn trong suốt cuộc khủng hoảng giàn khoan. Vì vậy, phía Trung Quốc sẽ không tin rằng ta sẽ dám đáp trả mạnh mẽ nếu họ sử dụng vũ lực ở quy mô hạn chế bởi họ biết rằng tại thời điểm này ta không có cơ chế nào để vừa đáp trả vừa kiểm soát rủi ro leo thang. Các vũ khí mà Việt Nam có thể dùng để ngăn chặn một đội quân xâm lược có sức công phá quá lớn và không đủ chính xác và vì vậy nếu dùng thì gần như chắc chắn sẽ gây leo thang xung đột vũ trang. Chỉ có máy bay không người lái mới có thể thực hiện được cả hai mục tiêu này.
Một nghiên cứu mới đây cho thấy máy bay không người lái là một công cụ cưỡng ép (coercion) tương đối hiệu quả chính bởi vì so với những công cụ khác, máy bay không người lái có chi phí tương đối thấp về cả người và của. Trong khi một chiếc phi cơ chiến đấu SU-35 có giá dao động từ 40-65 triệu đôla thì một chiếc máy bay không người lái XQ-222 mà Mỹ đang nghiên cứu sản xuất có thể sẽ được bán với giá từ 2-3 triệu đôla. Hơn nữa, bất kỳ máy bay tiêm kích nào, dù tối tân hết mức có thể vẫn tiềm ẩn rủi ro thương vong trong khi máy bay không người lái thì chắc chắn không có rủi ro thương vong cho bên sử dụng. Tuy chi phí tương đối thấp nhưng máy bay không người lái lại có độ chính xác rất cao. Không phải tự nhiên mà Mỹ và các đồng minh lại sử dụng loại vũ khí này thay vì tên lửa hành trình hay không kích để săn lùng khủng bố ở những nơi đông dân cư.
Một lợi thế lớn nữa của máy bay không người lái so với các vũ khí “thông minh” tương tự như tên lửa hành trình là nó có thể đảm nhiệm cả nhiệm vụ do thám trong nhiều giờ liền (theo tác giả của bài nghiên cứu thì máy bay không người lái hiện nay đã có khả năng theo dõi đối tượng 14 giờ liền trên không mà không cần tiếp nhiên liệu). Và quan trọng hơn hết, vì sức công phá của nó nhỏ hơn nhiều so với các vũ khí tương tự (tên lửa Tomhawk có sức công phá lớn hơn tên lửa Hellfire gắn trên máy bay không người lái của Mỹ chừng 5-10 lần).
Chính vì sự chính xác và sức công phá hạn chế của mình cũng như chi phí thấp, máy bay không người lái là công cụ hoàn hảo để hoá giải mối đe doạ từ một nỗ lực chiếm đảo chớp nhoáng. Với độ chính xác và sức công phá hạn chế, máy bay không người lái cho phép nhằm trực tiếp vào các lực lượng tham gia chiếm đảo, hạn chế tối đa rủi ro các đối tượng khác bị liên luỵ, gây leo thang xung đột. Hơn nữa, vì chi phí của máy bay không người lái tương đối thấp nên Trung Quốc hoàn toàn có lý do để tin rằng các nước khác sẽ sẵn sàng sử dụng chúng để phản công khi cần thiết. Một khi Trung Quốc tin rằng các nước láng giềng sẵn sàng sử dụng máy bay không người lái để tấn công đáp trả các nỗ lực tạo ra “sự đã rồi” của Trung Quốc thì họ sẽ phải cân nhắc kĩ hơn rất nhiều. Nếu như Trung Quốc vốn đã ngại sử dụng vũ lực dù ở quy mô hạn chế tại thời điểm này thì việc triển khai máy bay không người lái đến Biển Đông sẽ càng khiến Bắc Kinh cảm thấy sử dụng vũ lực không phải là lựa chọn khôn ngoan.
Kết luận
Trung Quốc sẽ không phát động chiến tranh tổng lực ở Biển Đông, ít nhất nếu họ không bị khiêu khích tuy nhiên với những gì họ đã làm trong quá khứ và các lời đe doạ trong vụ hợp tác giữa Việt Nam và công ty Repsol thì không thể loại trừ khả năng họ dùng vũ lực ở quy mô hạn chế, trong thời gian ngắn nhằm mục đích răn đe và mở rộng quyền kiểm soát từng bước ở Biển Đông. Để thuyết phục Trung Quốc từ bỏ việc sử dụng vũ lực trong mọi hoàn cảnh thì các nước láng giềng phải cho thấy họ vừa có thể đáp trả mạnh mẽ, vừa có thể kiểm soát được rủi ro leo thang xung đột vũ trang. Máy bay không người lái sẽ là công cụ đặc biệt hữu hiệu đối với mục tiêu này.
Tuy nhiên việc triển khai máy bay không người lái ở Biển Đông không phải là một vấn đề đơn giản. Thứ nhất, nó vẫn là một hệ thống vũ khí tương đối đắt đỏ so với những nước như Việt Nam, đặc biệt khi ta chưa có “cơ sở hạ tầng” để vận hành các máy bay không người lái. Hơn nữa, hiện nay có lẽ Mỹ là nước duy nhất có kinh nghiệm sử dụng máy bay không người lái trong vai trò chiến đấu. Kể cả Việt Nam có sở hữu một phi đội máy bay không người lái ngay tại thời điểm này thì cũng cần phải có một khoảng thời gian nhất định để tập luyện trước khi đưa vào sử dụng trên thực tế. Cuối cùng, tại thời điểm này máy bay không người lái sẽ chỉ thực hiện được nhiệm vụ nêu trên trong điều kiện không phận không bị kiểm soát bởi kẻ địch. Công nghệ chế tạo máy bay không người lái cần có những bước tiến lớn hơn nữa trước khi máy bay không người lái có thể hoạt động trong vùng không phận nguy hiểm. Cho đến lúc đó, chúng ta chỉ có cách hi vọng rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn tự tin rằng thời gian vẫn ở bên họ và rằng họ không cần phải dùng đến vũ lực để mở rộng tầm kiểm soát ở Biển Đông.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

LUẬT GIA VÕ AN ĐÔN THÔNG BÁO


 
Võ An Đôn

THÔNG BÁO

Sau khi Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư, về danh nghĩa tôi không còn là luật sư.

Vì yêu nghề và muốn giúp người dân nên tôi tiếp tục hành nghề luật: tư vấn pháp luật; soạn thảo đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; nhận ủy quyền cho nguyên đơn và bị đơn đến tòa tham gia tố tụng; tranh tụng tại tòa với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, hành chính, lao động, kinh tế thương mại, vay mượn tài sản.

Theo qui định pháp luật thì tôi chỉ khác luật sư duy nhất một điều: Tôi không được làm luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự (người bị kết án tù).

Bà con, cô bác, anh chị gần xa có nhu cầu về pháp lý hãy đến với tôi. Riêng đối với người nghèo, người cô thân yếu thế, người đồng bào dân tộc thiểu số, người bị oan, trẻ em dưới 18 tuổi, phụ nữ mang thai bị ức hiếp, phân biệt đối xử… hoàn toàn miễn phí.

Địa chỉ liên hệ: khu phố Phước Thịnh, thị trấn Phú Thứ, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. 
Điện thoại: 0932554399.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thôi rồi Hội An!


Nguyên Ngọc
Thú thật, cảm giác đầu tiên của tôi là: thôi rồi Hội An!
Tôi bắt chước anh Nguyễn Sự. Anh Sự được mời đi dự ra mắt chương trình hoành tráng ‘’Ấn tượng Hội An’’, anh từ chối.
Ở cương vị anh và lại ở ngay Hội An, ai cũng có thể hiểu cử chỉ đó của anh, mặc dầu anh đã về hưu, là một thái độ rõ ràng, dứt khoát. Nhưng mấy hôm sau anh lặng lẽ mua vé hai vợ chồng cùng đi xem, ‘’để cho biết họ thật sự làm gì ở đấy, rồi mình có nói gì mới có căn cứ mà nói chớ’’, anh bảo.


Cũng là một cách ứng xử của anh. Mấy năm trước, khi còn đương chức, anh đã từng lên tiếng về cái cồn đất nằm giữa sông Hoài (tức sông Thu Bồn đoạn chảy qua Hội An) này rồi. Đó là một cái cồn đất gần gũi và quen thuộc đối với người Hội An, đến nổi nó không có tên, cứ gọi là cồn bắp thì ai cũng biết, xưa nay chuyên trồng bắp ngô ngon nổi tiếng người ta bảo vì chất đất phù sa chỉ nơi ấy có, du khách đến Đà Nẵng sáng sáng nghe có người đội nón đạp xe rao đặc giọng Quảng ‘’Bắp đây! Bắp đây!’’ chính là món đặc sản thấm đẫm hương vị từ cồn đất này người Hội An lụm cụm đạp xe 30 cây số ra mời dân Đà Nẵng và khách thập phương đấy. Một cái cồn đất thật đẹp, thật Hội An.

Hội An là vậy đấy, nhỏ nhoi, hiền lành, nhẹ nhàng, tinh tế, từ mấy trăm năm nay, qua bao triều đại và binh lửa, sự kỳ lạ và anh hùng của Hội An chính là ở chỗ nó vẫn là như thế, không lay chuyển, không biến chất, cũng hiện đại hóa theo thời đại như người ta chứ, nhưng hiện đại hóa mà cứ độc đáo cổ xưa, độc đáo Hội An và biết cách giải quyết mối quan hệ đó một cách nhẹ nhàng, tự nhiên như không suốt lịch sử dài. Tôi dám nói rằng đó là một thứ bản lĩnh mà chỉ Hội An riêng có, được rèn luyện qua từng trải lâu dài. 
Không phải ngẫu nhiên mà Hội An là nơi đầu tiên ở nước ta đón tiếp các thương gia đến từ phương Tây và đã đón tiếp rất thành công; không phải ngẫu nhiên mà thời các chúa Nguyễn Hội An đã được tổ chức cai quản như một đặc khu kinh tế với những tô giới Nhật và Hoa tự quản, sớm hơn Macau, Hồng Kông đến những vài ba trăm năm; cũng không phải ngẫu nhiên mà trong thời thuộc Pháp Hội An, chứ không phải Đà Nẵng, là trung tâm văn hóa của Quảng Nam ...
Đến với một vùng đất và người như vậy, chạm vào nó, dù anh là chuyên gia ‘’cha đẻ của ngành nghệ thuật thực cảnh’’ nổi tiếng ở những đâu đâu, là người được coi cố vấn sử học hoạt ngôn có tiếng, là kiến trúc sư không biết được ai phong là nhà ‘’Hội An học’’ … thì anh đều phải hết sức thận trọng, rất khiêm nhường, lắng nghe mà học, chứ đừng vội đem những thứ mình tưởng văn minh tân thời đến dạy cho dân u muội ở đây. Hội An rất đẹp, mà đã là người làm nghệ thuật thì tất phải biết, cái đẹp bao giờ cũng mong manh, càng đẹp càng mong manh. Hội An lại rất nhỏ, đã quá đẹp lại quá nhỏ, nên càng rất dễ bị tổn thương. Chỉ cần một chút thô bạo và ngu dốt, là tai họa rồi.
Và Hội An là một tổng thể gắn kết và hoàn chỉnh, có phố cổ lại là một thứ phố cổ đặc biệt trong đó con người hiện đại đang sống hằng ngày, có sông lớn giàu phù sa bồi thành nhiều cồn đất phì nhiêu, có nhiều nhánh sông nhỏ lượn quanh các xóm làng cho nên chừng như đi đâu, ngồi chỗ nào cũng gặp sông nước, có những cánh đánh đồng xanh rờn tha hồ vi vu mà tôi biết nhiều năm qua Hội An đã quyết liệt giữ đến từng tấc đất chống lại mọi sức ép nhất thiết không cho đô thị hóa. Mất những cánh đồng đó thì cũng không còn Hội An. Mất những cồn bắp rất đẹp giữa sông kia thì cũng vậy …
  Cái gọi là chương trình ‘’Ấn tượng Hội An’’ chiếm đúng một cồn đất như vậy. Càng nguy hiểm vì đây là cồn đất rất gần phố cổ. Đứng ở cầu Cẩm Nam, tức ngay cuối chợ Hội An nhìn xuống tưởng chỉ cần với tay ra là có thể chạm vào những khối bê tông họ đang ngang nhiên hỗn hào dựng trên cồn. Vâng, bê tông và bê tông. Bắt đầu là một tập đoàn lớn, tên là Gami, đến từ Hà Nội. Cũng như mọi tập đoàn, họ rất nhạy cảm với đất, nhất là đất Hội An đang thành vàng. Bấy giờ, năm 2005, anh Sự đang còn đương nhiệm, anh không đồng ý khi họ đòi nâng cốt khu cồn đất này lên mấy mét, anh cũng quy định rõ trên cồn đất này chỉ được xây dựng nhỏ trong phạm vi 15% diện tích, còn lại phải giữ nguyên canh tác nông nghiệp. Cũng quy định chặt chẽ cầu bắc từ phía Cẩm Nam sang cồn phải là cầu gỗ thô sơ, tuyệt đối không được xây cầu bê tông … 
Giằng co cho đến năm 2011, rồi 2015 thì có quyết định đình chỉ và thu hồi đất … Nhưng rồi anh Sự nghỉ hưu.
Năm 2016, như trò ảo thuật, thoắt một cái, như đã phục sẵn ở đâu đó tứ lâu rồi, máy móc ồ ạt đổ đến, tàu bè chen chúc, cần cẩu cao nghễu mọc lên, thi công khẩn trương, không phải 15% mà 100%, đồng ngô nổi tiếng quét sạch bong, cốt trước đây nâng lên một mét đã quyết không cho, nay từ cao trình tự nhiên dưới 13,5 mét vọt lên 16,5 mét, trở thành không phải một đống mà một bức thành bê tông khổng lồ chắn giữa dòng chảy con sông Thu Bồn vốn nổi tiếng hung dữ về mùa lũ. Dựng lên một khối bê tông 25.000 mét vuông chắn giữa dòng sông lũ dữ, hậu quả thế nào, ai cũng có thể biết.
Tôi ở Hội An đã lâu, tôi biết chưa mùa lũ nào anh Sự không lao ra giữa dòng nước dữ cứu dân. Và có lẽ Hội An là nơi duy nhất suốt nhiều chục năm không có người chết vì lũ. Nhưng còn từ nay về sau với sự thể này?.... Anh Sự đã kiên quyết chống lại. Dự án tạm dừng … Nhưng anh Sự nghỉ hưu. Mọi sự lại đâu vào đó. Có phải tất yếu? Chẳng lẽ cứ phải chịu là tất yếu? Cái xấu, cái ác lẻn đi bằng con đường nào vậy? Tôi thử tìm hỏi, người ta cười chua chát, đưa ngón tay chỉ lên trên. Cũng có người không cần che giấu, họ không chỉ lên trên, họ chỉ ngang.
Ngày 18/3 vừa rồi cái chương trình ‘’Ấn tượng Hội An’’ qui mô đó đã khai trương rầm rộ trên cồn đất đã thành cồn bê tông nọ. Tuy, theo tờ bướm giới thiệu của họ, mọi sự còn chưa xong, trong số 14 công trình xây dựng mới chỉ có cái gọi là Khu biểu diễn nghệ thuật thực cảnh hoàn thành, 13 cái còn lại đang tiếp tục xây. Mà đã có thể hình dung; thay thế cho cái cồn bắp giản dị và thơ mộng vốn là một phần nối dài tự nhiên và gắn kết của phố cố Hội An, khiến cho Hội An gần gũi đến độc đáo với vẻ vừa phố vừa quê, vừa rất hòa nhập với thế giới vừa rất Việt, êm, nhẹ như không …, nay là một thứ thành phố cổ giả vụng về và lòe loẹt đứng trên một đống bê tông nghênh ngang chình ình giữa sông. Người đã ít nhiều quen biết Hội An chỉ cần đi qua trên bờ phía Cẩm Châu hay phía Cẩm Nam thoáng nhìn đã thấy gai mắt. Và nhói lòng. Cho Hội An.
Tôi không được giấy mời đi dự khai trương như anh Sự, nhưng bắt chước anh Sự mấy hôm sau tôi cũng mua vé đi xem. Nhất là sau khi đọc một bài báo ngắn trên Thanh Niên online chạy cái tít rất hồ hởi: ‘’Ký ức Hội An, vừa công diễn đã đạt liền hai kỷ lục Việt Nam’’. Hai kỷ lục gì vậy?  Bài báo ghi rõ: ‘’Kỷ lục Sân khấu ngoài trời lớn nhất Việt Nam và Chương trình biểu diễn nghệ thuật thường nhật có số lượng diễn viên tham gia đông nhất Việt Nam’’. Thanh Niên Online còn khoe thêm: ‘’Ký ức Hội An có kinh phí đầu tư lớn với ê-kíp sáng tạo hùng hậu bậc nhất Việt Nam (Lẽ ra phải thêm một kỷ lục nữa chứ!). Toàn bộ thiết bị âm thanh ánh sáng, kỹ thuật kỹ xảo đều hiện đại và tinh xảo, sân khấu thực cảnh quy mô lớn nhất từ trước tới nay’’ (Lại kỷ lục nữa!) Rất to lớn, rất hùng hậu, rất hiện đại, rất tinh xảo, rất nhiều tiền, đều nhất, đều kỷ lục!
Thú thật, cảm giác đầu tiên của tôi là: thôi rồi Hội An!
Tôi cố ngồi xem một tiếng rưởi đồng hồ. Và kinh ngạc về sự nghèo nàn và thô kệch của cái gọi là chương trình nghệ thuật thực cảnh ấy. Chẳng lẽ ‘’ê kíp sáng tạo hùng hậu nhất việt Nam’’ lại không tìm được gì hơn ngoài cái mô típ cũ rích vọng phu chờ chồng hóa đá, lại là vọng phu chờ chồng hóa đá ở Hội An, chuyên gia lịch sử nào cố vấn cho đạo diễn mời từ tận bên Tàu qua vậy?  Rồi người Hội An dồn lồng đèn lại để tạo ánh sáng cho anh chồng lạc hướng ngoài biển khơi biết lối mà tìm đường về, chuyện bịa thì cũng được thôi nhưng bịa đến thế thì quá thô kệch, xa lạ đến nhố nhăng, buồn cười với hình ảnh lồng đèn Hội An.
Nên nhớ ở Việt Nam vọng phu bao giờ cũng ngồi cô đơn trên ngọn núi cao để mòn mõi ngóng ra khơi xa, đến hóa đá, hình ảnh bi thiết mà cao cả; đâu có lếch thếch lội lõm bõm dưới sông cạn chưa đến gối để rồi hóa đá thành người mò cua thảm hại làm vậy! Họa chăng chỉ có cái cảnh kỷ xảo rẻ tiền anh chàng chinh phu bay vút từ trên cánh buồm lớn xuống với người chinh phụ đã hóa đá đứng còng lưng một cách vụng về dưới sông cạn còn có thể làm lóa mắt mấy bà cụ già ở quê lần đầu ra phố coi xiếc …
Cuộc diễn lớn được mệnh danh là ‘’Ấn tượng Hội An’’ với sân khấu thực cảnh được quảng cáo là rất tân kỳ mới nhập khẩu từ tận bên Tàu về, còn chương trình cụ thể hôm nay có tên là ‘’Ký ức Hội An’’. Mà tìm mãi, chẳng thấy tí Hội An nào. Chắc vị cố vấn lịch sử uyên bác quá biết Hội An không hề có đám cưới Huyền Trân với Chế Mân để chưng con voi không lồ ra, và kiểu chợ nổi rộn ráng trăm thứ quả ngon lành là đặc sản của Cái Răng miền Tây Nam bộ, chứ Hội An thì nét đẹp vui mỗi sáng là những gánh rau Trà Quế thơm không đâu thơm bằng các bà các chị  gánh chạy dìu dặt  trên các đường quê kia …
Tôi có hỏi cảm tưởng anh Sự, anh chỉ hạ hai chữ: trọc phú! Rất có ý nghĩa: văn hóa trọc phú ồn ào, khoa trương mà trống rỗng. Đặc điểm của văn hóa trọc phú là hình thức, hợm hĩnh và thô kệch, lấy kỷ xảo che cho sự nghèo nàn, ở đây có khá đầy đủ những thứ đó. Đều ngược với thị hiếu văn hóa nhỏ nhẹ, tinh tế Hội An. Cách đây mấy năm, có lần chúng tôi thử ngồi bàn với nhau về đặc trưng của văn hóa Hội An. Có một ý kiến rất đáng chú ý: người Hội An, do từng trải trong lịch sử nên là người rất có ý thức về sự chừng mực, người Pháp gọi đấy là sens de la mesure. Đúng ra sens de la mesure phải dịch là cảm quan về sự chừng mực (chứ không phải ý thức. Cảm quan là cái sâu hơn lại tự nhiên hơn ý thức), tức là cái do từng trải, lịch lãm mà có được, tự mình biết, tự minh cảm thấy như thế mới là phải, như thành bản năng, không diễn đạt được thành lời, không bài bản nào quy định, không sách nào dạy được, biết đến chừng nào là đủ, là vừa, là đẹp, ít quá thì chưa ‘’tới’’, nhiều quá nữa thì thành lố, thành sếnh. Hội An rất kỵ cái to, cái lố, cái sếnh. Cũng là một thứ hiền minh. Đến xứ hiền minh này, hãy coi chừng !
 Tuy nhiên lại cũng còn một mặt nữa không thể không nói. Thị hiếu thấp, qua hình thức phô trương, với kỷ thuật tinh xảo, âm thanh gọi là hiện đại chát chúa, cùng các trò chơi ánh sáng choáng ngợp lừa bịp, cũng rất dễ làm rối loạn thị hiếu công chúng, triệt tiêu sự suy nghĩ, gây câm điếc, trơ lỳ về thẩm mỹ, hoặc ít nhất gây thói quen với thẩm mỹ giả tạo, tầm thường, thấp kém, ăn xổi, mà một thành phố có tiếng văn hóa tinh tế như Hội An rất cần cảnh giác.
‘’Ấn tượng Hội An’’ đang là một tai họa văn hóa cho thành phố này. Và chắc chắn sẽ không chỉ dừng lại ở văn hóa.
Tôi báo động.
Nguyên Ngọc
http://www.viet-studies.net/kinhte/NguyenNgoc_BaoDongHoiAn.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang