Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

Tư liệu: Bùi Tín đã sai như thế nào qua bài viết của phía bên kia?



Chú là một trong những đảng viên cao cấp tiến vào Dinh Độc Lập trong ngày 30 tháng 4, 1975. Với cấp bậc đại tá, quá lắm chú cũng chỉ đứng ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba mà thôi vì trong đoàn chí ít còn có một thiếu tướng và một đại tá khác, nhưng có lẽ chú nổi tiếng hơn cả vì một câu nói để đời, trước mặt ông "Big" Minh. Khi nghe vị tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa bảo rằng ổng và nội các đang chờ đợi đã lâu để bàn giao chính quyền, chú lên tiếng chặn họng ngay: "Không có vấn đề chuyển giao quyền lực ở đây. Chế độ của ông đã sụp đổ. Người ta không thể chuyển giao cái mà người ta không có được."

Hàm ý vênh vang của kẻ chiến thắng, đối với giới lãnh đạo của một chế độ đang trút hơi thở cuối cùng, phảng phất nghe choi chói như tiếng reo hò của quân thảo khấu: "Các ông còn gì nữa mà bàn giao. Toàn thể miền Nam là chiến lợi phẩm, chúng tôi muốn lấy gì hoặc làm gì là quyền của chúng tôi, các ông đã bại trận, chỉ còn nước đầu hàng thôi." Thế rồi họ lập tức đưa ông Dương Văn Minh qua đài phát thanh để đọc "tuyên bố đầu hàng vô điều kiện" theo văn bản mà họ đã viết sẵn.

Sau chiến tranh, sự nghiệp của chú vươn cao như diều gặp gió, từ phóng viên chiến trường chú được thăng chức phó tổng biên tập nhật báo Nhân Dân rồi kiêm luôn chức tổng biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật. Chú nghiễm nhiên trở thành người lãnh đạo của hai cơ quan ngôn luận và tuyên truyền hàng đầu của ĐCSVN. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ là triển vọng được phong tướng.

Rồi đùng một cái, nhiều người cảm thấy hết sức kinh ngạc khi nghe tin chú xin tị nạn tại Pháp, nhân dịp sang Paris tham dự một hội nghị do báo L'Humanité tổ chức vào tháng 9, 1990 — với lý do chính thức là để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Mới nghe qua thì có vẻ rất xôm tụ, nhưng thực ra vào thời điểm đó chú chỉ muốn trở thành một nhân vật bất đồng chính kiến để phê phán đường lối của giới lãnh đạo ĐCSVN lúc bấy giờ mà chú cho rằng "đã tách rời lý tưởng cộng sản quá xa."

Trong giai đoạn đầu của cuộc sống lưu vong tại Pháp, chú vẫn cứ nhập nhằng với tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, không có lập trường chống cộng dứt khoát. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì đây chính là một hội chứng chung của những người muốn cải cách chế độ nhưng không muốn phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh và những huyền thoại "huy hoàng" của ĐCSVN. Đối với họ, có 2 ĐCSVN. Đảng hồi trước, lúc họ còn là đảng viên và được trọng dụng, thì thực sự có "đạo đức và văn minh." Còn đảng bây giờ, chẳng màng đoái hoài đến họ nữa, thì đã trở nên "đồi trụy và lạc hậu" — bởi thế họ phải chống đối để chấn chỉnh và hoàn nguyên.

Càng khó dứt bỏ hơn là "thành tích cách mạng" của chính cá nhân họ. Đoạn tuyệt với cái "công lao cách mạng" mà họ đã suốt đời gầy dựng để làm lại từ đầu bằng con số không là một vấn đề hết sức gian nan. Thừa nhận là "chân, thiện, mỹ" những cái mà trước đây họ đã gán cho cái mác "ngụy, ác, xấu" không phải chỉ đơn thuần cần có sức đột phá về mặt trí tuệ. Nó còn đòi hỏi một tấm lòng quả cảm. Thắng người dễ, thắng mình mới khó. Vì không thể vượt qua chướng ngại tâm lý này nên nhiều người, nói như lời của một ông đại tá Việt cộng khác, vẫn cứ muốn "ăn mày dĩ vãng."

Cho đến năm 1998, qua tác phẩm Mây Mù Thế Kỷ, chú vẫn giữ nguyên thái độ hằn học đối với Việt Nam Cộng Hòa. Chẳng hạn, ở trang 32, chú chê bai quân đội miền Nam không có chính nghĩa và lòng yêu nước như quân đội miền Bắc: "Trước nhân dân và cả nước Việt Nam, trước dư luận quốc tế, quả thật là có quá nhiều khó khăn, khi muốn dành cho quân đội [Việt Nam Cộng Hòa] ấy những chữ "yêu nước", "chính nghĩa" khác với Quân Đội Nhân Dân Việt Nam." Ở trang 54, thậm chí chú còn ngụy tạo những bằng chứng ảo để bôi bác ngọn cờ vàng: "Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: 'Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu, quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy.'"

Nhưng trong những năm tháng gần đây, có lẽ vì ánh sáng chân lý đã xua tan mây mù thế kỷ nên người ta thường thấy chú đến với cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại. Chú kính cẩn tham gia nhiều buổi lễ chào cờ vàng và chẳng ngại ngần cất tiếng ca phản động: "Này công dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!" Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ không còn thiếu chính nghĩa nữa mà "dạt dào lòng yêu nước theo cách riêng của họ."

Đối với một người thông minh và hiểu biết rộng như chú, quá trình chuyển hóa từ "giác ngộ cộng sản" sang "giác ngộ dân chủ" quả thật là quá lâu. Nói theo ngôn từ Phật giáo thì chú đi theo con đường tiệm ngộ chứ không phải đốn ngộ — giác ngộ từ từ, mỗi ngày một chút, nên thời gian kéo dài dăng dẳng, tính kỹ chí ít cũng phải mất hơn... nửa thế kỷ. Chính chú cũng đã thẳng thắn tự nhận rằng "mình ngu lâu thật."

Nhưng thà muộn còn hơn không. Tôi buồn vui lẫn lộn khi đọc lời hối lỗi gần đây nhất của chú, hoàn toàn không dè dặt và rất chân thành: "Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác." Tôi cảm nhận được nỗi niềm cay đắng trong ngôn từ của chú. Trên nhiều phương diện nó cũng chẳng khác gì nỗi đau của Mikhail Gorbachev khi ông ta thố lộ: "Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời để đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá."

Tôi vui vì chú đã thực sự cải tà quy chính, đã trở về trong lòng Mẹ Việt Nam nhân ái và dân bản. Tôi sẵn sàng tha thứ cho tất cả mọi "lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác" của chú trong những năm tháng mù quáng đi theo đảng. Người xưa có câu: "Nhân thùy vô quá. Quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên." Phàm là người ai mà chẳng có sai. Nhưng sai mà biết sửa đổi thì chẳng có gì tốt đẹp bằng. Tôi vui vì chú đang tích cực đem trải nghiệm của chính bản thân mình để cổ động các đồng chí cũ cũng như đảng viên mới nên "hồi đầu thị ngạn."

Đến đây, có lẽ nhiều bạn đọc đã đoán được chú là ai. Vâng, chú là Bùi Tín, một nhà báo tự do, hiện đang cư ngụ tại Paris. Nhưng trong sổ trắng sổ đen của ĐCSVN chú được xếp vào thành phần "phản đảng, bán nước cầu vinh" và bức tâm thư Bàn về hai chữ: Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ) mới đây của chú chắc chắn đã được đưa vào danh mục hàng hóa cấm lưu thông.

Dân tộc Việt hiện tại còn có quá nhiều người mê muội. Hy vọng nỗ lực của chú có thể góp phần làm vơi đi điều bất hạnh đó.

Nam Hải Trường Sơn
Toronto, 12 tháng 6, 2015 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện ít biết về các tượng đài trước năm 1975 ở Sài Gòn


05/04/2018 Thánh Gióng cầm cây tre, ngồi trên lưng ngựa sắt vẫn còn là một chú bé, khác với truyện Phù Đổng Thiên Vương được truyền miệng trong dân gian, với Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, khi sứ giả mang ngựa sắt, giáp sắt… đến thì chú bé vươn vai đứng dậy trở thành một tráng sĩ cao lớn để đi đánh giặc ngoại xâm. Nhưng chính nhờ sự khác này mà bức tượng Phù Đổng Thiên Vương ở Sài Gòn đã trở nên đặc biệt, đồng thời với việc nhấn mạnh truyền thống yêu nước, quyết tâm bảo vệ đất nước trước quân xâm lược, dù chỉ là một đứa trẻ cũng có thể vì quê hương mà đánh giặc.
Tượng Phù Đổng Thiên Vương những năm 60 của thế kỷ trước (Ảnh tư liệu)
Nơi đặt tượng Trần Hưng Đạo, Phù Đổng Thiên Vương, An Dương Vương hay Trần Nguyên Hãn là những địa điểm quen thuộc với người dân Sài Gòn. Không chỉ đơn thuần là những biểu tượng của thành phố, mà gắn liền với mỗi tượng đài xưa cũ này đều là những câu chuyện thú vị không phải ai cũng biết.

Chuyện tượng Trần Hưng Đạo thay thế Hai Bà Trưng canh giữ bến Bạch Đằng


Tượng Trần Hưng Đạo hiện nay - Ảnh: Hoàng Nam​

Mỗi khi đi ngang qua công trường Mê Linh, quận 1, người ta sẽ bắt gặp hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đứng trên một bệ đá cao, oai phong chỉ tay về phía bến Bạch Đằng, bên cạnh là những tòa nhà cao tầng mọc lên san sát.

Nhưng ít người biết ở vị trí này đã vài phen đổi tượng. Từ thời Pháp thuộc, công trường này đã được xây dựng và đặt tên Rigault de Genouilly, tên của Đô đốc thủy quân người Pháp và từng là Thống đốc Nam Kỳ. Khi ấy chính quyền cũng đặt một bức tượng của viên đô đốc - thống đốc tại công trường. Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam một thời gian, năm 1962, chính quyền ông Ngô Đình Diệm đã thay thế bằng tượng Hai Bà Trưng để vinh danh hai nữ tướng đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Người Sài Gòn thời bấy giờ vẫn quen gọi tượng đặt ở nơi này là tượng Hai Bà.

Tuy nhiên, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, một số người đã đến giật đổ bức tượng vì cho rằng tượng được điêu khắc có nét giống mẹ con bà Trần Lệ Xuân - phu nhân của cố vấn Ngô Đình Nhu. Trụ tượng bỏ trống, mãi 5 năm sau, đến năm 1967, tượng Trần Hưng Đạo mới được thiết kế và dựng thay thế, đặt ngay trên trụ ba chân mà trước đó đã dùng để đặt tượng Hai Bà. Kể từ đó, qua nhiều biến cố lịch sử, tượng Hưng Đạo Vương vẫn sừng sững tồn tại như một phần không thể thiếu của Sài Gòn.


Ngay tại vị trí tượng Trần Hưng Đạo bây giờ, trước kia là tượng Hai Bà Trưng (Ảnh tư liệu)

Tượng Phù Đổng Thiên Vương - một chú bé con

Ở quận 1, ngoài tượng Trần Hưng Đạo, còn có một bức tượng vô cùng nổi tiếng khác là tượng Phù Đổng Thiên Vương nằm tại ngã sáu đầu đường Nguyễn Trãi. Tượng nổi tiếng đến mức tên tượng trở thành tên của cả một giao lộ, bùng binh, người dân thường gọi là “ngã sáu Phù Đổng”.

Tượng Thánh Gióng được dựng năm 1966, tức là đã tồn tại hơn 50 năm qua cùng với đời sống của người Sài thành. Bên cạnh đó, bức tượng còn có một chi tiết mà nếu không phải cư dân sống ở khu vực này sẽ ít khi có thể để ý: Thánh Gióng cầm cây tre, ngồi trên lưng ngựa sắt vẫn còn là một chú bé, khác với truyện Phù Đổng Thiên Vương được truyền miệng trong dân gian, với Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, khi sứ giả mang ngựa sắt, giáp sắt… đến thì chú bé vươn vai đứng dậy trở thành một tráng sĩ cao lớn để đi đánh giặc ngoại xâm. Nhưng chính nhờ sự khác này mà bức tượng Phù Đổng Thiên Vương ở Sài Gòn đã trở nên đặc biệt, đồng thời với việc nhấn mạnh truyền thống yêu nước, quyết tâm bảo vệ đất nước trước quân xâm lược, dù chỉ là một đứa trẻ cũng có thể vì quê hương mà đánh giặc.

Tượng An Dương Vương chia ranh giới hai quận


Tượng An Dương Vương trên nút giao thông nhộn nhịp - Ảnh: Hoàng Nam​

Trải qua nhiều năm tháng chịu sự bào mòn của thời gian, nhưng bức tượng An Dương Vương cầm nỏ, đặt trên đỉnh cột trắng cao vút tọa lạc giữa ngã sáu Nguyễn Tri Phương vẫn giữ nguyên dáng vẻ vững chãi, chắc chắn, thẳng lên bầu trời. Trước năm 1975, tượng An Dương Vương được coi là biểu trưng cho Thánh tổ của binh chủng công binh thuộc quân đội VNCH. Sau 1975, tượng đóng vai trò là cột mốc quen thuộc không chỉ với người dân trong khu vực mà cả với những bác tài xế lưu thông từ 6 ngả đường, nhờ chiều cao và vị trí nổi bật của nó.

Một cụ già sống tại khu vực này bảo: “Tui gắn bó với bức tượng từ những năm thiếu niên. Ngày trước khi mới được dựng, cột tượng mang màu trắng trông bắt mắt lắm, chỉ cần đi từ xa về hướng ngã sáu là nhận ra ngay. Tiếc là sau nhiều năm không còn giữ được màu trắng nguyên thủy nữa”. Một điểm đặc biệt khác là tượng An Dương Vương nằm trên ranh giới giữa quận 5 và quận 10, cũng là ranh giới mang tính tương đối giữa hai khu người Hoa và người Việt. Chính vì điều này, bức tượng cũng đồng thời trở thành nơi giao nhau giữa hai khu vực văn hóa đặc sắc của Sài Gòn.

Tượng Trần Nguyên Hãn ở trung tâm Sài thành


Tượng Trần Nguyên Hãn lúc chưa bị di dời - Ảnh: Hoàng Nam​

Được dựng từ năm 1965, tượng danh tướng Trần Nguyên Hãn cưỡi ngựa đứng trên một bệ đá cao tại vòng xoay trước chợ Bến Thành đã trở thành hình ảnh khó quên với người dân sống ở Sài Gòn suốt nhiều thập niên. Nhưng câu chuyện về bức tượng lại chính là một câu chuyện buồn. Từ 4 năm trước, nhằm phục vụ việc thi công nhà ga metro Bến Thành - Suối Tiên, tượng đã được di dời khỏi vị trí trước chợ Bến Thành và đưa vào bảo quản tại công viên Phú Lâm, quận 6. Trong ấn tượng của những người trẻ, những người vừa tới thành phố sinh sống hay khách du lịch, giờ nơi này chỉ còn là một công trường thi công khổng lồ với hàng rào chắn và tiếng máy móc hoạt động bên trong. Đáng buồn hơn, sau nhiều năm chịu tác động của môi trường, tượng đã có dấu hiệu xuống cấp.

Ngày nay, khi ghé thăm công viên Phú Lâm, người ta cũng không còn nhìn thấy bức tượng, vì công trình cũng bị phủ một lớp bạt để che chắn, bảo quản và nằm lặng lẽ trong một góc khuôn viên. Theo lời người chăm sóc cây cảnh của công viên, bức tượng ngày trước được làm bằng xi măng, dù đã được trùng tu một vài lần nhưng vẫn gặp phải tình trạng xuống cấp do vật liệu làm tượng có tuổi thọ và độ bền không cao. Chỉ hy vọng sau khi tuyến metro được xây dựng xong, bức tượng sẽ được trùng tu và lại được trở về với vị trí khi xưa, tiếp tục chứng kiến sự thay đổi và phát triển của thành phố.

Hoàng Nam

http://motthegioi.vn/giao-duc-c-69/ban-tron-lich-su-c-111/chuyen-it-biet-ve-cac-tuong-dai-truoc-nam-1975-o-sai-gon-85432.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cháy Tháp Trump


https://baomai.blogspot.com/
Ông Trump đang ở Washington lúc hỏa hoạn tại Tháp Trump tại New York

Một người đàn ông thiệt mạng và bốn nhân viên cứu hỏa bị thương trong vụ cháy tòa Tháp Trump ở New York.

Ông Trump có căn hộ và văn phòng ở tòa tháp nhưng ông đang ở Washington lúc tòa nhà cháy.

Nạn nhân là một người sống trong tòa nhà, chết sau khi được đưa đến bệnh viện, giới chức địa phương cho hay.

Lửa bùng phát ở tầng thứ 50 của tòa nhà, trong đó có các căn hộ và phòng làm việc.

https://baomai.blogspot.com/

Nguyên nhân vụ cháy vẫn chưa đươc làm rõ.

Khói đen và lửa được nhìn thấy bốc ra từ tòa nhà chọc trời vào khoảng 18:00 (22:00 GMT).

https://baomai.blogspot.com/ 
Lửa bốc ra từ tầng 50

Khoảng 45 phút sau - trước khi có tin chết người - Tổng thống Trump tweet rằng lửa đã được dập tắt. Ông nói vụ cháy được không chế bởi tòa tháp được xây dựng rất tốt.

https://baomai.blogspot.com/ 

Người đứng đầu Sở Cứu hỏa New York, Daniel Nigro, sau đó cảnh báo rằng tình hình trở nên phức tạp bởi "một lượng khói dày đặc" trong tòa nhà.

"Chúng tôi phát hiện ra lửa ở tầng 50 của tòa nhà. Căn hộ cháy hoàn toàn. 

Các nhân viên cứu hỏa lao vào đám cháy và tìm thấy một người trong tình trạng nguy kịch."

Ông nói rằng căn hộ không có vòi phun nước. Theo hãng AP, chủ sở hữu các tòa nhà cao tầng cao cấp như Tháp Trump không phải lắp đặt hệ thống phun nước trừ khi tòa nhà được đại tu.

https://baomai.blogspot.com/

Các đường phố xung quanh toà nhà ở Midtown Manhattan bị phong tỏa sau vụ cháy.

https://baomai.blogspot.com/

Một phát ngôn viên của đệ nhất phu nhân Melania Trump khẳng định bà và con trai Barron Trump đang ở Washington

Cháy Tháp Trump

Cháy Tháp Trump

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

không từ một ai. Bây giừ gặp nhau nói gì?

Phan Văn Vĩnh nhập kho, luật nhân quả ko từ một ai

Trịnh Xuân Thanh với vai trò là người bị bắt và ông Phan Văn Vĩnh với vai trò là người bắt. Cả hai bây giờ đều chung cảnh ngộ ăn cơm tù của Bộ Công an. Cả hai từng được phong tặng danh hiệu anh hùng, Trịnh Xuân Thanh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2011 và ông Phan Văn Vĩnh được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang vào năm 2005. Ngày trước là anh hùng, ngày nay là tội phạm, luật nhân quả không từ một ai cho dù là tướng Công an như Phan Văn Vĩnh.
Bắt tướng Phan Văn Vĩnh, luật nhân quả không từ một ai
Năm 2013, ông Vĩnh ghi thêm điểm vào danh sách chiến công khi triệt phá thành công hai đường dây đánh bạc qua mạng Internet là M88 và 188bet trị giá hàng ngàn tỷ đồng. Khôi hài hoặc báo ứng nhãn tiền theo luật nhân qủa trời đất đã diễn ra, hiện tại là năm 2018 tức là khoảng 5 năm sau tính từ thời điểm phá đường dây cờ bạc này thì ông Vĩnh lại bị bắt khi cơ quan Công an cáo buộc ông dính vào đường dây cờ bạc cũng tầm cỡ không kém có tên là Rikvip và Tip.Club và cũng với mức độ quy mô lên hàng ngàn tỷ đồng.
Trung tướng Phan Văn Vĩnh, cựu Tổng cục
 trưởng Tổng cục cảnh sát Bộ Công an
Trong khi vụ án Trịnh Xuân Thanh còn đang ở bản án sơ thẩm thìngười quyết tâm bắt cho bằng được Trịnh Xuân Thanh là Trung tướng Phan Văn Vĩnh (63 tuổi, quê ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định). Cựu Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát Bộ Công An vào ngày 6/4/2018 đã phải tạm thời bị xộ khám với cáo buộc có liên quan đến đường dây đánh xác, rữa tiền xuyên quốc gia. Không ít tràn cười khôi hài kẻ bắt và người bị bắt mới đó giờ phải ăn cơm chung hoàn cảnh, giống như luật nhân quả báo ứng nhãn tiền…

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Phú Thọ vào ngày 6/4/2018, đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam bị can 4 tháng đối với Trung tướng Phan Văn Vĩnh, cựu Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát Bộ Công an về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại Khoản 3 Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999, tương ứng với Điều 356 Bộ luật hình sự 2015.

Theo Cali Today, việc ông Vĩnh bị khởi tố vì khi còn đương chức ông này có liên quan đến đường dây rữa tiền, đánh bạc xuyên quốc gia thông qua hai cổng game Rikvip và Tip.Club với mức độ quy mô trị giá lên đến hàng ngàn tỉ đồng đang bị Công an tỉnh phú Thọ triệt phá. Cầm đầu đường dây phạm tội này được cho là hai nhân vật Phan Sào Nam và Nguyễn Văn Dương. Vụ án đến nay đã khởi tố 84 bị can với nhiều tội danh khác nhau.

Ông Vĩnh sinh ngày 19/5/1955, đến tháng 9/1978 thì được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN). Báo chí CSVN cho biết trong sự nghiệp của mình, ông Vĩnh gặt hái được nhiều thành tích về việc điều tra và phá án đặc biệt có những vụ án chấn động dư luận như: vụ bắt ông Nguyễn Đức Kiên và Lý Đức Hải ở Công ty cổ phần đầu tư ACB vào năm 2012, truy nã và bắt Dương Chí Dũng cũng vào năm 2012, phá án thảm sát ở Bắc Giang hung thủ là Lê Văn Luyện, phá án thảm sát ở Bình Phước hung thủ là Nguyễn Hải Dương.

Đặc biệt vào năm 2013, ông Vĩnh ghi thêm điểm vào danh sách chiến công khi triệt phá thành công hai đường dây đánh bạc qua mạng Internet là M88 và 188bet trị giá hàng ngàn tỷ đồng. Khôi hài hoặc báo ứng nhãn tiền theo luật nhân qủa trời đất đã diễn ra, hiện tại là năm 2018 tức là khoảng 5 năm sau tính từ thời điểm phá đường dây cờ bạc này thì ông Vĩnh lại bị bắt khi cơ quan Công an cáo buộc ông dính vào đường dây cờ bạc cũng tầm cỡ không kém có tên là Rikvip và Tip.Club và cũng với mức độ quy mô lên hàng ngàn tỷ đồng.

Cũng xin được nói thêm một tí, trong vụ án Dương Chí Dũng và đồng bọn sai phạm ở Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), ông Vĩnh là người tham gia phá án, thời điểm này cấp trên của ông Vĩnh chính là Thượng tướng Phạm Qúy Ngọ-thứ trưởng Bộ Công an, trưởng ban chuyên án điều tra các sai phạm tại Vinalines, tức là điều tra những sai phạm của Dương Chí Dũng và đồng bọn. Tại phiên xử sơ thẩm vào ngày 7/1/2014, ông Dũng đã khai là bản thân đã dùng 500.000 USD để hối lộ cho ông Ngọ, đổi lại ông Ngọ đã báo tin cho ông Dũng chạy trốn. Sau lời khai này của ông Dũng, vài ngày sau thì ông Ngọ đột ngột qua đời. Ông Ngọ qua đời, ông Vĩnh là người kế nhiệm thay ông Ngọ giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát Phòng chống tội phạm, Bộ Công an.

Và báo ứng nhãn tiền rõ nhất, sớm nhất đối với ông Vĩnh chính là vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng bọn đã cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiệm trọng và tham ô tài sản xảy ra tại Tổng công ty xây lắp dầu khí PVC và Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam PVN. Ngày 19/10/2016, bên lề Hội thảo Quốc tế về công tác truy nã tội phạm với sự tham gia của 18 lực lượng cảnh sát quốc gia và tổ chức quốc tế về việc truy bắt Trịnh Xuân Thanh.
Ông Vĩnh có nói Công an Việt Nam có trách nhiệm bằng mọi cách truy bắt bằng được dù Trịnh Xuân Thanh trốn ở đâu.

Ngày 31/7/2017, Bộ Công an Việt Nam cho biết Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú sau gần một năm truy nã. Bất ngờ, nhà nước Đức ra thông cáo báo chí Trịnh Xuân Thanh bị mật vụ Việt Nam đột nhập vào nước Đức để thực hiện vụ bắt cóc cận thời điểm ông Thanh chuẩn bị nhận quyết định được phép tỵ nạn ở Đức hay không? Vụ việc này đã dẫn đến khủng hoảng ngoại giao giữa Đức và Việt Nam cho đến hiện tại vẫn chưa kết thúc.

Trịnh Xuân Thanh ra tòa sơ thẩm tại Hà Nội hai lần với 2 vụ án và nhận 2 bản án chung thân. Điều đáng nói ở đây, Trịnh Xuân Thanh với vai trò là người bị bắt và ông Phan Văn Vĩnh với vai trò là người bắt như đã nói trên nay cả hai đều chung cảnh ngộ ăn cơm tại trại tạm giam của Bộ Công an. Cả hai từng được nhà cầm quyền CSVN phong tặng danh hiệu anh hùng, Trịnh Xuân Thanh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2011 và ông Phan Văn Vĩnh được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang vào năm 2005. Ngày trước là anh hùng, ngày nay là tội phạm, luật nhân quả không từ một ai cho dù là tướng Công an như trường hợp của ông Phan Văn Vĩnh./.

Quê Hương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đâu là sự thật?


Chuyện thành Nam: “V mất một pha, Th đi cả cụm”

"Ranh giới giữa một người anh hùng và một tội phạm gần như chẳng có gì để phân biệt. Thế giới ngầm luôn có từ rất lâu và nó được bảo kê bởi những ông trùm nhưng mang danh là những anh hùng vì bình yên giấc ngủ của nhân dân. Còn bao nhiêu những người anh hùng như vậy? Bộ công an nếu muốn thực sự lấy lại được cảm tình và sự nể trọng của người dân thì bắt buộc phải trả lời thật nhanh chóng và chính xác câu hỏi này".
Đại ca giang hồ thành Nam
Năm ấy, có một người cầm 20.000 USD từ Nam Định sang Thái Bình mua vàng. Trên đường đi chẳng may bị tai nạn. Anh ta được đưa vào viện cấp cứu và khi tỉnh lại trong bệnh viện, số đô la đó không cánh mà bay. Vốn là chủ một tiệm vàng có tiếng ở thành Nam lại quan hệ mật thiết với giới giang hồ số má, có một cái giá được đưa ra: 50% nếu tìm lại được số đô la bị mất. Phi vụ này, đám giang hồ Thái Bình đã nhận lo liệu.

Tướng Phan Văn Vĩnh còn được gọi là Vĩnh “chột”. Ảnh: internet
Hoàn thành phi vụ, không nhận được đủ số tiền chia như đã giao ước, đám giang hồ Thái Bình qua Nam Định quyết tâm nói chuyện phải trái một lần với chủ nhân số tiền để đòi lại phần của mình. Đây bản chất không phải là vụ cướp tiệm vàng như một số nhà báo và nhiều người vẫn lầm tưởng.

Nhà Vượng vàng đêm ấy, đám giang hồ Thái Bình quây chặt. Nhưng khi nghe tiếng súng nổ, đoán chủ tiệm vàng lật kèo, thuê giang hồ Nam Định bảo kê để chơi lại, quả lựu đạn đã được đám giang hồ Thái Bình trong khi tháo chạy rút chốt ném về phía cả đám người mặc thường phục đang vật lộn với nhau. Ngày hôm sau, giới giang hồ Thái Bình và Nam Định mới biết có ít nhất 4 cảnh sát hình sự bị trọng thương trong đó có V và Th.

“V mất một pha, Th đi cả cụm” là câu mà dân Thành Nam từ trẻ đến già hay nói một cách hài hước với nhau để mô tả thương tích của những cảnh sát đêm ấy. Một người bị thương hỏng một mắt, người còn lại bị thương nặng ở bộ hạ, nghe nói ra quân không lâu sau đó.

Công an Nam Định nhắc tới sự việc này như một chiến công của những cảnh sát hình sự trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm và giữ gìn trật tự xã hội nhưng giới giang hồ cộm cán thành Nam thời ấy đều hiểu rằng chẳng có “chiến công” nào ở đây cả, bởi tất cả chỉ là một mà thôi. Lằn ranh giới giữa hình sự & giang hồ thời chập choạng mở cửa đổi mới ở thành Nam gần như không thể phân biệt. Các hoạt động kinh doanh lớn nhỏ, hoạt động tội phạm kể cả ma tuý, đều được bảo kê bởi những bàn tay đen.

Sau thời điểm đó, nếu ai tinh ý sẽ rất dễ dàng nhận ra cánh giang hồ thành Nam bắt đầu toả đi tung hoành khắp nơi. Những tên tuổi lừng lẫy như Thắng chập, Ánh thiệp, Phúc bồ, Tuấn xuyên, Hải bánh, Tuấn xiển,… trong đó, có những cái tên sau này nam tiến (thực ra là trốn triệu tập hay truy nã) đã khiến ông trùm Năm Cam phải e ngại bởi độ liều lĩnh, sự tráo trở cũng như sẵn sàng làm những việc tày trời.

Dường như họ rời khỏi Thành Nam theo những thoả thuận ngầm bởi một chỉ huy nào đó: gây án, nếu không muốn bị kêu án thì chồng tiền và ra đi. Cũng thời điểm ấy, rất nhiều trọng án tại thành Nam chìm trong quên lãng và không có câu trả lời. Đây có lẽ cũng là căn nguyên để lý giải cho sự phức tạp của vụ án Năm Cam sau này khi ông trùm có những quan hệ mật thiết với cả đám giang hồ Thành Nam liều lĩnh cũng như những chỉ huy hình sự cộm cán ở cả hai đầu Nam Bắc khiến cho chuyên án đã hết sức khó khăn mới có thể đi được đến bước cuối cùng. Nhiều điều tra viên, nhà báo tham gia chuyên án đã phải trả những cái giá không đáng có. Đã có lúc, chuyên án tưởng chừng như hoàn toàn bế tắc.

Ranh giới giữa một người anh hùng và một tội phạm gần như chẳng có gì để phân biệt. Thế giới ngầm luôn có từ rất lâu và nó được bảo kê bởi những ông trùm nhưng mang danh là những anh hùng vì bình yên giấc ngủ của nhân dân. Còn bao nhiêu những người anh hùng như vậy? Bộ công an nếu muốn thực sự lấy lại được cảm tình và sự nể trọng của người dân thì bắt buộc phải trả lời thật nhanh chóng và chính xác câu hỏi này.

Nguyễn Tuấn Anh
FB Nguyễn Tuấn Anh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MƯA BẤT CHỢT



Mưa to sấm lớn
những con chuột hốt hoảng rời hang
rung rẩy râu ngửi phương trời vô định
giờ này trú ngụ nơi đâu?
Những chú cào cào vểnh tai nghe ngóng
thu về quyền cước mảnh khảnh của mình
tiếng là con nhà võ
mà chả thể nhảy qua vũng nước
nói chi vượt đồng sình lầy?
Bon cáo già thì thào tính kế
vẽ vời thêm âm mưu..
thương chú thỏ non trên đồng bé bỏng
núp mình sau những thân rau
gió lớn nổi
mỗi ngày một hãi
dù chưa đến tiết mưa rào
Cốc vũ tháng sau mới tới
năm con chó này lạ lùng xiết bao!
Đã sấm
đã giật mình
hoảng sợ
ngàn sinh linh tội nghiệp bên cầu
Chiếc cầu cứu sinh chưa kịp bắc
mới chỉ nhô lên hai mố cầu
vốn đội mỗi ngày
chưa lấy gì để chắc..
Mưa gió vội vàng tính sao
Nhà thơ đứng bên bờ vực
Lúc này còn tâm trạng đâu mà làm thơ yêu?
Cơn ho tức ngực
lanh quanh chưa biết thế nào..
Mưa gió sớm làm chi cho nàng than thở?
Đành cắm cúi mà đi
vượt cơn mưa rào
trông vào lòng hiếu sinh trời đất
sâu cùng
và tận trên cao
Nhà thơ thấm mệt
ngả trên bãi cỏ ven sông
May mà trận mưa đã dứt
phún phún có mây ửng khồng
Anh biết sấm mưa chưa hết
Giây phút này chỉ là tạm ngưng..
Thì thôi mặc vậy
Đã chót thì yêu đến cùng
dù tối tăm trời đất
dù dưới chân chuyển rung.
Biết đâu trận thịnh nộ này là dấu hiệu
Cho buổi mai ngọt nồng?!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGÔ THẾ OANH mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ
























Là một người thơ luôn điềm tĩnh, khiêm nhường với vẻ ẩn dật, "đôi tròng" mắt thơ của Ngô Thế Oanh cứ lặng lẽ quan sát cái bề sâu nghiệt ngã của cuộc đời và mỗi con người, để nhận biết, để khắc họa, để liên tưởng và suy tư như bài thơ "Nhà thơ" của anh sau đây: 

"Đôi lúc anh giống như một mẩu thuốc lá/ 
Người ta quét khỏi quán cà phê trước giờ đóng cửa/ 
Đôi lúc anh giống như đồng tiền mất giá/ 
Khó còn giúp được gì giữa chợ/ 
Những trang thơ của anh/ 
Những mộng tưởng của anh/ 
Những lo âu hy vọng của anh/ 
Anh không thể quên nhưng cũng không muốn nhớ/ 
Anh đã học suốt đời để hiểu điều ngay thẳng/ 
Để thú nhận tận lòng những gì nhầm lẫn/ 
Hiểu mỗi ngọn cỏ vô danh cũng bình đẳng với người/ 
Nhiều cố gắng giờ đây gần như vô ích/ 
Anh vẫn đi ngược ngọn gió đời/ 
Những người anh gặp trên đường vẻ vô cảm trong đáy mắt/ 
Nét mệt mỏi hằn trên gương mặt/ 
Nhiều thần thánh tắt dần vầng sáng thiêng liêng/ 
Những hứa hẹn thiên đường đã mất/ 
Chỉ còn tiếng vọng cô đơn/ 
Anh viết những dòng thơ/ 
Có gì được khác hơn/ 
Những người nguyên thủy cũng như ta đánh viên đá làm ra lửa".


Nhà thơ Ngô Thế Oanh: ''Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ''

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Hễ lâu lâu không đến ngồi chơi với nhà thơ Ngô Thế Oanh trong căn buồng làm việc chật hẹp của anh ở Tạp chí Thơ (số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội) là tôi lại cảm thấy thiếu vắng một điều gì đấy. Mặc dù có khi ngồi với nhau, nhiều lúc chúng tôi chỉ lặng lẽ ngẫm ngợi và suy tư một điều gì đó mà Ngô Thế Oanh thì ít khi không ngẫm ngợi, bởi anh thuộc típ người sống lặng lẽ suốt đời để cảm nhận và chia sẻ. Và, tôi có cảm giác khi viết bài thơ tặng danh họa Bùi Xuân Phái "Người hiệp sĩ của cái đẹp", nhà thơ Ngô Thế Oanh cũng đã tự ví các nghệ sĩ đích thực của thi ca và hội họa cũng giống như hiệp sĩ Đông Ki Sốt chiến đấu suốt đời vì cái đẹp, dẫu chỉ là chiến đấu với những cối xay gió của chính mình: "Buổi trưa/ Một ngày mùa đông/ Người họa sĩ đi bộ một mình/ Đơn độc/ Gương mặt trắng xanh đượm buồn/ Dáng cao gầy/ Ông gợi nhớ tới Đông Ki Sôt/ Trời xám/ Mặt hồ xám/ Con đường xám/ Xám mầu áo măngtô ông mặc/ Những mái ngói âm dương rêu phong cổ tích/ Chầm chậm/ Người họa sĩ đi/ Trên cái đường biên mong manh/ Hư/ Thực/ Không cối xay gió nào chờ ông phía trước/ Không giám mã nào sau ông/ Chỉ căn phòng khuất lấp/ Phố Thuốc Bắc/ Những toan/ Những cọ/ Những mầu/ Những palet/ Những an ủi đầu tiên/ Những an ủi sau cùng/ Buổi trưa/ Một ngày mùa đông/ Đếm những bước buồn buồn/ Thành phố ông đã yêu đến hơi thở chót/ Thành phố đã soi/ Vào ông/ Trong suốt/ Người hiệp sĩ của cái đẹp/Đến/ Và đi/ Như một Đông Ki Sôt/ Và suốt đời chỉ đánh nhau với cối xay gió chính mình".
Những người thơ muốn lánh xa sự ồn ào của đám đông để giấu mình trong sự lặng lẽ của chiêm nghiệm như Ngô Thế Oanh, họ thường trở về đối diện với bản ngã thơ mình để hướng về thiên chức sáng tạo. Trong số những người bạn văn chương gây ấn tượng khá sâu sắc cho tôi, thì Bế Kiến Quốc và Ngô Thế Oanh là hai nhà thơ mà tôi khá thân thuộc và gần gũi. Các nhà thơ này đều có những nét nổi trội khá giống nhau là thơ của họ thường nghiêng về phía lý trí (với tư duy lý tính khá mạnh) nhưng không hề làm mất đi vẻ đẹp lặng lẽ của tâm hồn, và ngôn ngữ thi ca của họ thường vươn tới những bề sâu của tâm tưởng và tình cảm tốt đẹp về con người. Cùng thế hệ thi ca đổi mới với các nhà thơ Thanh Thảo, Ý Nhi, Trần Vũ Mai… Ngô Thế Oanh là một gương mặt thơ đặc biệt của lứa thơ trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ. Cho đến nay, ngoài tập thơ in chung "Tình yêu nhận từ đất" năm 1977, nhà thơ Ngô Thế Oanh chỉ có một tập thơ riêng "Tâm hồn" in năm 1995 và đoạt luôn Giải thưởng về thơ của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam năm đó.
Là một người thơ luôn điềm tĩnh, khiêm nhường với vẻ ẩn dật, "đôi tròng" mắt thơ của Ngô Thế Oanh cứ lặng lẽ quan sát cái bề sâu nghiệt ngã của cuộc đời và mỗi con người, để nhận biết, để khắc họa, để liên tưởng và suy tư như bài thơ "Nhà thơ" của anh sau đây: "Đôi lúc anh giống như một mẩu thuốc lá/ Người ta quét khỏi quán cà phê trước giờ đóng cửa/ Đôi lúc anh giống như đồng tiền mất giá/ Khó còn giúp được gì giữa chợ/ Những trang thơ của anh/ Những mộng tưởng của anh/ Những lo âu hy vọng của anh/ Anh không thể quên nhưng cũng không muốn nhớ/ Anh đã học suốt đời để hiểu điều ngay thẳng/ Để thú nhận tận lòng những gì nhầm lẫn/ Hiểu mỗi ngọn cỏ vô danh cũng bình đẳng với người/ Nhiều cố gắng giờ đây gần như vô ích/ Anh vẫn đi ngược ngọn gió đời/ Những người anh gặp trên đường vẻ vô cảm trong đáy mắt/ Nét mệt mỏi hằn trên gương mặt/ Nhiều thần thánh tắt dần vầng sáng thiêng liêng/ Những hứa hẹn thiên đường đã mất/ Chỉ còn tiếng vọng cô đơn/ Anh viết những dòng thơ/ Có gì được khác hơn/ Những người nguyên thủy cũng như ta đánh viên đá làm ra lửa".
  Trong bài thơ trên, trái tim nhà thơ đã rớm máu, đã đập cùng nhịp với những nỗi đau đời thường của con người để nếm trải, để phản ánh những day dứt, nhức nhối và thăng trầm của cuộc sống mà ngôn ngữ thi ca nhiều khi tỏ ra bất lực. Trong cái cõi lặng lẽ sáng tạo của riêng anh, thơ chỉ còn là tiếng vọng cô đơn với hình ảnh thật buồn khi nhà thơ nhận thấy mình đôi lúc giống như mẩu thuốc lá vừa bị người ta quét khỏi quán café trước giờ đóng cửa.
Thật cay đắng và chua xót khi bản chất sự tồn tại của con người trên thế gian này không ít khi nhuốm một màu bi kịch như thế. Và kể cả khi nhà thơ nhận ra được sự bất hạnh, đau đớn của người đời (cũng như bản thân người sáng tạo) trong những hoàn cảnh tối tăm như thế thì anh ta vẫn phải sống, vẫn phải vượt qua và đấy chính là lý do tồn tại của thơ, để ít nhất cứu rỗi một tâm hồn, một con người. Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác biệt và khu biệt nhất để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào.
Và theo tôi, có lẽ Ngô Thế Oanh là một trong số ít nhà thơ trong nhiều năm qua, đã lặng lẽ bền bỉ và lặng lẽ đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ với những phát hiện rất mới và sâu sắc về tâm thế và thân phận con người, hoặc số phận một nghệ sĩ mà bài thơ viết về họa sĩ Nguyễn Sáng dưới đây là một dẫn chứng: "Anh chạy đến kiệt sức/ Trên những khát vọng của mình/ Và anh gục xuống/ Lặng yên như mặt biển lặng yên/ Giữa một thế giới đầy khôn ngoan/ Anh như chỉ chọn những gì khờ dại/ Những khờ dại… đôi khi/ Giúp ta thanh thản bớt/ Bằng thế nào để đạt đến kiệt tác/ Không có câu trả lời/ Ám ảnh không ngừng trong câm lặng/ Cả trong cơn say vùi/ Bằng cách nào để đạt đến kiệt tác/ Bao phác thảo xóa đi trên mặt đất/ Bao phác thảo xóa đi trong tưởng tượng anh/ Trí tưởng tượng-con ngựa bất kham/ Nhiều bạn bè đã chết. Anh rồi cũng phải chết/ Nỗi buồn như phát điên/ Trở về từ Quán Thủy Hử/ Xập xệ như từ một bức tranh Chagall/ Chiếc mũ cát một ánh ấm áp/ Hồi niệm ngọn lửa chiều cố hương".
Thi ca và hội họa là hai lĩnh vực nghệ thuật luôn có sự bồi đắp và ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt ở những thể nghiệm cách tân đã gắn kết các thi sĩ và các họa sĩ tài danh với nhau trong một trường phái mới. Vì trong "con mắt thơ" của mỗi thi sĩ, sự rung động, thăng hoa trước cái đẹp cũng tương tự như "con mắt mỹ cảm" của mỗi họa sĩ.
Với "con mắt thơ" đầy mỹ cảm của hội họa, Ngô Thế Oanh đã vẽ một bức tranh thơ "Khỏa thân" như thế này:   "Sự trong vắt của trời/ Sự vĩnh hằng của đất/ Sự mềm mại tưởng chừng không có thực/ Và không lặp lại một lần/ Ngọn sóng cho nghỉ ngơi/ Ngọn lửa cho cơn khát/ Thân thể là thơ/ Thân thể là âm nhạc/ Tìm kiếm không ngừng/ Và luôn luôn mất/ Hi vọng là hạnh phúc/ Vô vọng là hạnh phúc/ Những chiếc chuông trong máu/ Những chiếc chuông trong máu/ Vang ngân…". Bài thơ này ngân vọng lên như một khúc tụng ca cái đẹp để nâng cao con người trong một mỹ cảm mới. Tâm sự về nghề văn, nhà thơ Ngô Thế Oanh đã viết: "Tôi không nhớ là đã đọc ở đâu, có lẽ từ một nhà văn bậc thầy,  rằng điều đòi hỏi trước hết và chủ yếu ở một người viết là sự lương thiện. Lương thiện trong cuộc đời, lương thiện trên trang viết và với riêng tôi, đằng sau hai tiếng lương thiện này còn hàm ẩn một nghĩa sâu nữa; sự giản dị, sống giản dị, viết giản dị. Cùng với thời gian, tôi hiểu rằng đi theo được lời khuyên này thực không dễ dàng…
Tôi vẫn nghĩ rằng, văn học cũng như nghệ thuật giúp cho con người nhận thức thế giới và nhận thức bản thân. Nhưng là một sự nhận thức đặc biệt, thông qua cái đẹp và mỹ cảm. Cho nên người viết, khi đối diện với trang bản thảo, có lẽ bao giờ cũng có sự trân trọng. Và có thể nói, một chút gì như là sự thiêng liêng. Dĩ nhiên có những con đường khác nhau dẫn đến văn học. Và có những quan niệm khác nhau. Càng về sau, tôi càng hiểu rằng phải viết trước hết cho chính mình, những gì mình thực sự rung động. Những niềm vui cũng như nỗi đau. Những hy vọng cũng như tuyệt vọng. Chỉ có thế mới mong được sự chia sẻ với thế giới xung quanh, với người đọc". Và bài thơ "Trên một khúc Prelude của Sôpanh" của anh sau đây đã phần nào nói lên những suy nghĩ đó: "Chậm và buồn/ thật chậm và buồn/ Nét cắt một tháp chuông nhà thờ bỏ hoang/ Biển và núi. Và những ngón tay rớm máu/ Mưa đập mãi trên mái nhà/ Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ/ Trở lại chi những niềm hy vọng cũ/ Ký ức ta dần lãng quên rồi/ Tiếng móng ngựa tắt dần nơi ngõ khuất/ Mùa thu tuôn những lớp lá không lời/ Còn lại gì cho ta sau màn sương tháng chín/ Tất cả như vết thương/ Người hát rong nào lang thang trên đường phố/ Bài hát day dứt mãi trong đêm/ Xin mẹ hãy vì con tha thứ/ Những vinh quang ồn ào đâu an ủi được con/ Nắm đất nhỏ quê nhà con vẫn giữ/ Mong dịu nguôi bao đau đớn trong hồn/ Đâu phải xứ sở nào huyễn hoặc con hạnh phúc/ Sao suốt đời con là kẻ li hương/ Chậm và buồn/ Ôi thật chậm và buồn/ Những dòng mưa cứ từ trời dội mãi/ Những dặm đường của kẻ tha phương". Bài thơ khép lại như một điệu chuông buồn trên xứ sở âm nhạc của Sôpanh và nhà thơ đang lướt những ngón tay trên phím đàn ngôn ngữ dẫu "Mưa còn đập mãi trên những cơn mất ngủ" hay "Thơ còn đập mãi trong những cơn mất ngủ" của mỗi chúng ta. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang