Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

- Công an là kém nhất!

Phạm Xuân Cần 



- Các đồng chí! Hôm nay chúng ta đang bàn về một vấn đề hệ trọng, có tính quyết định đến sự phát triển của tỉnh ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa. Các đồng chí biết, muốn hiện đại hóa, công nghiệp hóa thì con người là yếu tố quyết định. Không có vốn ta có thể vay, không có công nghệ có thể chuyển giao, nhưng nếu không có con người là chết (vỗ tay). Vậy mà, nhân lực của tỉnh ta như thế nào? Quá thiếu, quá yếu, nếu không nói là vô cùng yếu.

- Xin đồng chí cho ví dụ cụ thể.

- Ví dụ hả? Có ngay. Tôi có thể nói là chúng ta thiếu và yếu trên tất cả các lĩnh vực.

- Ồ...

- Trước hết là đội ngũ công nhân. Công nghiệp hóa hiện đại hóa thì trước hết cần đội ngũ công nhân, thế mà công nhân của ta tay nghề kém quá. Năm ngoái tôi sửa nhà, gạch lát đặt mua tận Italia, một triệu hai một viên, tôi nhắc lại là một triệu hai một viên nhé. Thế mà mấy ông thợ của ta ghép đã không phẳng, lại còn loay hoay thế nào vỡ mất mấy viên. Thế có chết không cơ chứ!

- Chết thật!

- Đấy mới là thợ xây nhé. Còn thợ cơ khí thì sao? Cũng yếu lắm. Thằng con trai tôi vừa mua “con Auđi” ngót nghét hai tỉ bạc, nghịch thế nào cái kính tụt xuống không lên được, thế mà chạy khắp thành phố không có một tay thợ nào sửa được, lại phải đưa xe vào tận thành phố HCM! Trình độ như thế làm sao lấy tiền thiên hạ được?

- Dạ, đúng là không lấy tiền thiên hạ được.

- Nông dân thì sao? Chúng ta đang định xây dựng mấy khu nông nghiệp công nghệ cao, thế mà trình độ nông dân thì như thế nào? Cái trang trại nhà tôi có dăm bảy héc ta thôi, tôi thuê một đôi vợ chồng vừa bảo vệ vừa làm vườn. Nói là thuê, nhưng tôi bỏ tiền ra cho họ làm, còn thì thu hoạch được cái gì trong trang trại cho họ hưởng hết. Ấy thế mà cũng chả ăn thua gì. Cặp cây thế đưa từ Ninh Bình về, thế mà anh chị chăm thế nào mùa hạn vừa qua đứt rồi. Tỉ bạc tôi không tiếc, mà tôi tiếc cái tình anh em người ta quý tôi, người ta biếu. Các đồng chí thấy có tiếc không?

- Tiếc lắm ạ!

- Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?

- Đến cặp cây thế bạc tỉ ạ!

- Đúng rồi, đấy là chuyện trình độ nông dân. Bây giờ tôi nói đến những người làm nghề dịch vụ. Tỉnh ta đã xác định cơ cấu kinh tế, trong đó dịch vụ hết sức quan trọng. Ấy thế mà đội ngũ những người làm dịch vụ cũng non lắm. Các đồng chí có biết vợ tôi, con gái tôi hàng tuần phải bay vào thành phố HCM làm gì không?

- Học tại chức phải không ạ?

- Không! Đi gội đầu!

- Ồ!

- Đấy, ngay cái dịch vụ đơn giản như cắt tóc gội đầu ta cũng không có thợ lành nghề, đủ tiêu chuẩn, nói gì đến các dịch vụ cao cấp khác! Như thế thì tôi hỏi các đồng chí, các đồng chí có lấy tiền thiên hạ được không?

- Chắc chắn là không ạ!

- Đấy, thấy chưa? Làm ăn như thế làm sao lấy tiền thiên hạ được! Bây giờ tôi nói đến đội ngũ trí thức. Ta chủ trương phát triển kinh tế tri thức, thế mà đội ngũ trí thức của ta thì sao? Nói các đồng chí trí thức ở đây đừng giận, cũng yếu lắm. Tỉnh ta có mấy trường đại học, nhưng chất lượng đào tạo như thế nào? Tôi làm tiến sĩ ở Mỹ chỉ mất sáu tháng, lại không cần sang bên đó, và cũng không cần biết tiếng Anh. Đấy trình độ họ như thế chứ, chỉ có sáu tháng mà họ lấy của mình 17 nghìn đô. Hôm Văn phòng làm thủ tục chuyển tiền cho tôi ai cũng khiếp. Ta thì sao, ở đây có ai học thạc sỹ, tiến sĩ chỉ có 6 tháng như tôi không? Không à? Đúng, ta làm sao đào tạo như thế được. Đúng không? Đúng quá đi chứ. Tôi hỏi các đồng chí, các đồng chí có thể moi đựơc tiền ngân sách như thế không?

- Chắc chắn là không!

- Nói đến trí thức là tôi bức xúc lắm, vì tôi cũng là tiến sĩ. Ta vẫn nói ta là đất văn vật, tưởng nhiều vị túc nho lắm, hóa ra không phải. Năm ngoái, anh con rể nhà tôi mách với tôi là có người bán chiếc trống đồng cổ hai nghìn năm tuổi, giá chỉ một triệu hai đô la. Mình là người yêu văn hóa dân tộc, không muốn cổ vật này rơi vào tay bọn trọc phú, nên bỏ tiền ra mua. Cũng gọi mấy ông ở Bảo tàng tỉnh đi xem và tư vấn hẳn hoi. Ấy thế mà bây giờ mới biết nó là cái trống đồng Trung Quốc! Thế mới đau chứ! Thế mới tức chứ! Triệu hai đô mình không tiếc, mà tiếc là tiếc cái lòng yêu nước của mình bị lợi dụng, tức là tức cán bộ chuyên môn của mình yếu quá. Các đồng chí có tức không?

- Vô cùng tức ạ!

- Mà thôi, cũng không nên bi lụy quá. Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?

- Đến chiếc trống đồng triệu hai đô la. Đề nghị đồng chí nói chuyện cặp lộc bình cổ hai tỉ tám. Đề nghị đồng chí nói chuyện con chó Tây Tạng ba trăm triệu. Đề nghị...Đề nghị...

- Được từ từ tôi sẽ nói. Bây giờ ta dân chủ nhé, ai có ý kiến gì xin mời phát biểu. Nào, mời đồng chí!

- Thưa đồng chí, theo tôi, lực lượng công an của ta cũng yếu lắm ạ!

- Nói đến công an là phải có chứng cứ đấy!

- Đấy, tham nhũng sờ sờ ra đấy mà họ có bắt được thằng nào đâu!



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao Ban nghiên cứu của thủ tướng Khải bị thủ tướng Dũng giải tán?

Lưu Trọng Văn - 


Chiều qua gã ghé thăm nhà họa sĩ Tuấn Dũng ở Võng Thị, Hồ Tây để ngó...tranh. Đập vào mắt gã là chân dung nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Phạm Duy và chân dung một người đàn bà.

Vợ tớ đấy. Nguyễn Thị Hiền, thành viên Ban nghiên cứu của ông Khải. Hình như chàng họa sĩ nổi tiếng yêu vợ muốn khoe vợ với gã bèn vọng lên gác thượng : Vợ ơi!

Vài đẫn sau một người đàn bà ăn mặc tuềnh toàng, dáng vẻ nhà quê xuất hiện. Gã để ý, nụ cười chân chất, ánh mắt tinh anh.

Chị đang trồng rau ạ? Gã hỏi thay lời chào.

Ngắm rau thôi. 

Thế rồi chuyện.

Gã hỏi câu duy nhất, vì sao ông Dũng vừa lên thủ tướng đã giải thể Ban nghiên cứu gồm các chuyên gia kinh tế, xã hội hàng đầu đất nước mà ông Khải bao năm tin dùng?

Bà tiến sĩ kinh tế Nguyễn Thị Hiền thong thả kể:

Mỗi lần ông Khải tới gặp Ban nghiên cứu câu đầu tiên là: Chào hai nữ tướng! Hai nữ tướng mà ông Khải hay đùa gọi là chị Phạm Chi Lan và tôi. Ông Khải đâu ngờ rằng chỉ ngay sau khi ông từ chức thì hai nữ tướng ấy cùng các tên tuổi như Trần Việt Phương, Trần Xuân Giá, Trần Đức Nguyên...bị ông Dũng xua đuổi như thế nào đến nỗi nhiều người trong đó có tôi không kịp thu xếp hồ sơ, tài liệu nghiên cứu của mình.

Vì sao? Vì sao ư ?

Câu trả lời rất đơn giản. Không phải do hai ông vốn không ưa nhau mà cái chính Ban nghiên cứu của chúng tôi là lực cản ngăn chặn rất nhiều thông tư, nghị định của các bộ và của văn phòng phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng vì thấy bất lợi với đổi mới kinh tế.

Luật Doanh nghiệp đã vô cùng khó khăn mới được ra đời. Lúc đầu trong Luật có nhiều điều khoản chỉ có lợi cho cơ quan quản lý mà bất lợi cho doanh nghiệp. Chúng tôi được sự ủng hộ của ông Khải đã quyết liệt đấu tranh. Các ông Trần Việt Phương, Trần Xuân Giá, Trần Đức Nguyên, Lê Đăng Doanh...và chị Phạm Chi Lan đã kiên trì đến từng bộ để thuyết phục hoặc kiên quyết đấu tranh với họ làm sao có những điều khoản thuận lợi nhất cho doanh nghiệp.

Nói thẳng ra là chúng tôi bị nhiều ban ngành không ưa vì cho là cản mũi kỳ đà.

Gã hỏi một câu phụ.

Thế khi thấy quyết định của thủ tướng Dũng giải tán Ban nghiên cứu này, phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có thái độ ra sao?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền kể:

Ông Trần Xuân Giá và các ông khác có gặp ông Phúc để kiến nghị không nên giải tán Ban nghiên cứu vì tính phản biện cần thiết của nó trong điều hành của chính phủ. Ông Phúc đã lắc đầu và nói, không thể thay đổi được gì đâu. Ông Phúc nói vậy vì hiểu ông Dũng đã quyết tâm giải thể cái Ban này rồi.

Tiến sĩ Hiền trước khi lên gác thượng tiếp tục việc... ngắm rau của mình để trả lại cho gã và ông chồng của bà câu chuyện sắc màu hội họa đã kết một câu:

Vấn đề không phải lập ra ban tư vấn gồm những ai, mà vấn đề là ông thủ tướng có chịu lắng nghe lời phản biện, lời tư vấn vì lợi ích của quốc gia hay không.

FB LƯU TRỌNG VĂN 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao Kim Jong-un lại gặp ông Tập trước khi đàm phán với Hàn Quốc và Mỹ?



Ngày cuối cùng ông Kim Jong-un và phu nhân cùng phái đoàn cấp cao Bắc Hàn lưu trú tại Bắc Kinh, Tân Hoa Xã đã chính thức đăng thông tin về chuyến thăm ‘không chính thức” của lãnh đạo tối cao Bắc Hàn tới Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Kim Jong-un lại phải gặp ông Tập Cận Bình vào thời điểm này?
Tập Cận Bình và phu nhân chụp ảnh kỷ niệm với Kim Jong-un và phu nhân. (Ảnh qua Tân Hoa Xã)
Trung Quốc trước nay vẫn là đồng minh lớn nhất và đối tác thương mại số một của Bắc Hàn. Tuy nhiên, kể từ khi ông Kim Jong-un tiếp quản Bắc Hàn từ người cha quá cố Kim Jong-il vào cuối năm 2011 và ở Trung Quốc ông Tập Cận Bình lên thay ông Hồ Cẩm Đào năm 2012, mối quan hệ Trung – Triều có dấu hiệu nguội lạnh. Trong nhiều năm qua, chỉ mới có hai lần có đoàn quan chức cấp cao Bắc Hàn tới thăm Trung Quốc và ngược lại. Tháng 5/2013, ông Kim Jong-un cử đặc phái viên Choe Ryong-hae tới thăm Trung Quốc, tiếp kiến Chủ tịch Tập Cận Bình. Tháng 10/2015, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Văn Sơn tới thăm Bình Nhưỡng và dự lễ duyệt binh nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Triều Tiên.
Trong thời gian này, Bắc Hàn liên tục thử hạt nhân và tên lửa, trong khi Trung Quốc kiên định mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Chế độ Bắc Kinh trong vài năm qua cũng ủng hộ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc chế tài Bình Nhưỡng ngày càng nghiêm ngặt hơn để buộc ông Kim Jong-un phải từ bỏ tham vọng hạt nhân, tên lửa.
Vậy vì sao ông Tập lại mời và ông Kim chấp nhận tới Bắc Kinh vào thời điểm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên hạ nhiệt và cơ hội đàm phán ngoại giao Hàn Quốc – Bắc Hàn – Hoa Kỳ đang dần hé mở? Câu trả lời nằm trong chính mối tương quan giữa Mỹ – Trung – Triều.
Thứ nhất, ông Kim Jong-un không muốn qua mặt Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Từ hơn một tháng qua, khi có thông tin ông Kim Jong-un sẽ nối lại hội nghị thượng đỉnh với Hàn Quốc vào tháng Tư và có thể hội đàm với Tổng thống Mỹ Donald Trump vào tháng Năm, ngoại giới đã nhận định rằng sẽ là rất bất thường nếu ông Kim gặp ông Moon và ông Trump mà lại chưa từng tiếp kiến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Dù quan hệ ngoại giao Trung – Triều có đi xuống trong vài năm qua, nhưng Trung Quốc vẫn đang là đối tác thương mại lớn nhất của Bắc Hàn, chiếm tới hơn 90% ngoại thương của chế độ Bình Nhưỡng. Bắc Kinh ủng hộ chế tài của Liên Hiệp Quốc áp đặt lên chế độ nhà họ Kim, nhưng vẫn kiên quyết phản đối các biện pháp trừng phạt có thể bóp nghẹt nền kinh tế Bình Nhưỡng, ví như luôn phản đối cấm xuất khẩu dầu mỏ hoàn toàn sang Bắc Hàn.
Ông Zhang Jiadun, chuyên gia về Bắc Hàn sống tại bang New Jersey, Hoa Kỳ, tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Đối sách hạt nhân: Bắc Hàn thách thức thế giới”, trong cuộc trả lời phỏng vấn VOA hôm thứ Hai (26/3), đã nhận định rằng: “Bắc Kinh có ảnh hưởng lớn đến Bình Nhưỡng, nhưng không phải khi nào họ cũng muốn kiểm soát. Khi họ thực sự muốn khống chế, chỉ cần xiết sợi dây thừng chặt hơn chút. Xin nói luôn, họ vừa xiết sợi dây thừng lại. Chúng ta cần nhớ rằng Kim Jong-un mới trực tiếp liên lạc với Tổng thống Mỹ, muốn cô lập Trung Quốc, do đó để can thiệp vào quá trình này Bắc Kinh đã nói với Kim Jong-un, trước khi gặp Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và Tổng thống Mỹ Donald Trump thì phải gặp người cai trị Trung Quốc Tập Cận Bình”.
Ông Aidan Foster-Carter, học giả nghiên cứu cao cấp của Đại học Leeds nói với CNN rằng sẽ gần như không thể tưởng tượng nổi nếu ông Kim gặp ông Moon và ông Trump mà trước đó chưa bao giờ gặp ông Tập. Liên minh Trung – Triều là rất quan trọng.
Thứ hai, ông Tập Cận Bình lo ngại trở thành kẻ ngoài cuộc trong tiến trình phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.  
Từ khi hai nước Bắc Hàn và Hàn Quốc mở lại quan hệ ngoại giao cấp cao vào tháng Hai, Bình Nhưỡng đã tích cực thực thi giải pháp người Triều Tiên tự giải quyết vấn đề Triều Tiên. Các nhà phân tích quốc tế đánh giá rằng đây là cách mà chế độ Kim Jong-un muốn tạo ra “vật cản” trong mối quan hệ đồng minh giữa Seoul và Washington.
Tuy nhiên, động thái đó của Bắc Hàn cũng đã đẩy Trung Quốc – đồng minh quan trọng nhất của chế độ nhà họ Kim, ra ngoài lề tiến trình hòa giải trên bán đảo Triều Tiên.
Hơn nữa, việc ông Kim ngỏ lời mời và ông Trump bất ngờ chấp nhận sẽ gặp lãnh đạo tối cao Bắc Hàn là bước phát triển ngoại giao mới mà Trung Quốc không thể làm ngơ.
Ông Tập Cận Bình, người vừa có những củng cố quyền lực cá nhân và vây cánh vững chắc sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 và họp “lưỡng hội”, thừa hiểu hậu quả sẽ tệ hại ra sao với Bắc Kinh nếu ông Kim gặp ông Trump và xúc tiến tiến trình tái thống nhất Triều Tiên.
Bà Sun Yun, chuyên gia về vấn đề Trung Quốc và Bắc Hàn thuộc Trung tâm Cố vấn Stimson Washington, Hoa Kỳ, gần đây đã trao đổi với tờ Business Insider rằng Trung Quốc lo ngại bị loại khỏi cuộc đàm phán Mỹ – Bắc Hàn, bởi vì kết quả của các cuộc đàm phán có thể dẫn đến thống nhất bắc và nam Triều Tiên, hoặc sự hiện diện của Mỹ tại lãnh thổ miền Bắc, cả hai trường hợp đều bất lợi đối với Trung Quốc.
Ông Tập triệu tập ông Kim tới Bắc Kinh vừa để khẳng định lại sự đoàn kết, liên minh chặt chẽ với Bình Nhưỡng vừa đưa ra những đối sách và sự đảm bảo của Trung Quốc trước khi ông Kim gặp các vị tổng thống của Hàn Quốc và Mỹ, tránh những tình huống bất lợi cho Bắc Kinh trong tương lai.
Thứ ba, Trung – Triều là đồng minh không thể tách rời dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bình Nhưỡng muốn nhận được sự đảm bảo từ Bắc Kinh. Trong khi, Trung Quốc luôn thích làm “người múa rối”.
Trong cuộc hội đàm với ông Kim Jong-un tại Đại Lễ Đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình đã nhấn mạnh rằng mối quan hệ bền chặt giữa Trung Quốc và Triều Tiên “là lựa chọn chiến lược và lựa chọn đúng đắn duy nhất mà hai nước đã đưa ra dựa trên lịch sử và thực tế cấu trúc khu vực và quốc tế và tình hình chung về quan hệ Trung – Triều”.
Trong khi đó, ông Kim Jong-un cho rằng Bắc Hàn sẽ duy trì phát triển tình hữu nghị với Trung Quốc trong tình hình mới và mối quan hệ  này sẽ không bao giờ thay đổi dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Hiện tại, Trung Quốc và Bắc Hàn vẫn duy trì hiệp định phòng thủ song phương, trong đó Bắc Kinh cam kết “ngay lập tức viện trợ quân sự và các khoản viện trợ khác bằng mọi phương tiện” trong trường hợp có chiến tranh hoặc cuộc tấn công của nước ngoài vào Bắc Hàn.
Chuyên gia Aidan Foster-Carter của Đại học Leeds cho rằng Bình Nhưỡng có thể đang đặt hy vọng Bắc Kinh sẽ yêu cầu quốc tế giảm nhẹ chế tài với Bắc Hàn sau khi diễn ra các cuộc họp thượng đỉnh Bắc Hàn – Hàn Quốc và Bắc Hàn – Mỹ.
Ông Tong Zhao, chuyên gia Bắc Hàn tại Trung tâm Carnegie Tsinghua vì Chính sách Toàn cầu có trụ sở tại Bắc Kinh nói với CNN rằng Bình Nhưỡng “muốn có một số đảm bảo từ [Bắc Kinh] trước cuộc gặp Tổng thống Trump”.
Họ [Bắc Hàn] biết cuộc gặp đó là rất quan trọng nhưng cũng rất rủi ro, có rất nhiều điều không chắc chắn. Nếu cuộc gặp thất bại, Mỹ có thể tuyên bố rằng [biện pháp] ngoại giao đã không thành công và chuyển sang một cách tiếp cận cứng rắn hơn hoặc thậm chí là tấn công quân sự”, ông Tong Zhao nói.
Chuyên gia của Trung tâm Carnegie Tsinghua nhận định rằng nếu Bắc Hàn có được “một mối quan hệ ổn định và tích cực với Trung Quốc sẽ ngăn chặn Mỹ phát động cuộc tấn công quân sự [vào Bình Nhưỡng]”.
Trung Quốc muốn Bắc Hàn thực hiện tiến trình phi hạt nhân hóa theo lộ trình mà Bắc Kinh đặt ra. Trước nay, Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng họ ủng hộ phi hạt nhân hóa nhưng phải bằng biện pháp đối thoại và tham vấn. Bắc Kinh đề xuất biện pháp “cùng đóng băng” để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại, tức là phía Bắc Hàn sẽ dừng thử hạt nhân, tên lửa, đồng thời liên minh Mỹ – Hàn Quốc cũng phải hủy bỏ các cuộc tập trận chung.
Ngoại giới đánh giá rằng, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ chấp nhận phương án của Trung Quốc và nếu ông Kim làm theo cách của ông Tập đề xuất thì tiến trình hòa bình tại Đông Á sắp tới sẽ gặp bất lợi.
Trung Quốc vẫn luôn điều khiển được Bắc Hàn nếu họ muốn và họ thường chỉ sử dụng sức ảnh hưởng của họ khi họ thấy cần thiết nhất. Hiện tại, có thể là thời điểm Bắc Kinh cần giật dây Bình Nhưỡng hành xử theo ý họ.
Về việc Bắc Kinh giật dây Bình Nhưỡng tùy thời điểm, ông Zhang Jiadun trong cuộc trao đổi với VOA có chỉ ra rằng: “Ví dụ, trong thời gian Đại hội 19 của Trung Quốc vào tháng Mười năm ngoái, Kim Jong-un không phóng tên lửa. Tôi chắc chắn ông Tập Cận Bình đã cảnh cáo Kim Jong-un rằng không được gây bất cứ hành động nào trong dịp sự kiện lớn này. Kết thúc Đại hội 19, Kim Jong-un ngay lập tức gửi thiệp chúc mừng nồng nhiệt. Đây là vì ông Tập Cận Bình yêu cầu”.
Ông Zhang Jiadun cho rằng cần tìm hiểu bản chất của quan hệ Trung – Triều. “Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến Bắc Hàn, Trung Quốc có thể nhanh chóng giải quyết được các loại vũ khí hạt nhân hoặc các vấn đề khác của Bình Nhưỡng nếu Bắc Kinh đã chọn hành động như vậy. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã không chọn làm như vậy bởi vì Bắc Kinh muốn Bắc Hàn gây bất ổn cho Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ. Phải nhớ rằng đây là mối quan hệ giữa những con rối và những con rối, còn Trung Quốc là kẻ đang chơi rối”.
Tân Bình (T/h

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÀO SẢNG TRONG VỎ TRỨNG


Dạ Ngân



NHÂN GIỖ ĐẦU NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THÂN, 7-2 ÂM LỊCH
Kết quả hình ảnh cho Nguyễn Quang Thân



(viết riêng cho Quán Văn số tháng 3/2018)
Có một khung trời xám. Bãi nhỏ, cát vàng, hoa sứ đục. Cả Chúa, cả Phật và không ít những oan khuất dạt từ biển về, xác được mang đi nhưng có thể hồn sẽ vật vờ ở lại. Hoang liêu một cách lý tưởng nhưng bức bối oán hờn, những con người nhạy cảm bước đi, không trào lộng thì trầm cảm và chết sao?
Thiếu phụ bước ra từ “Người đàn bà có con chó nhỏ” của Chekhov. Ba mươi tuổi, mảnh dẻ tóc nâu, hay tha thẩn mà không có con chó nhỏ. Gurov bốn mươi bảy tuổi tia ngay vẻ buồn buồn riêng tư của nàng. Tiếng sét thực sự giáng xuống khi mục sở thị thiếu phụ ân cần giúp cấp dưỡng chia cơm cho các mâm, một người, chao ơi một phẩm chất đàn bà sinh ra để làm vợ chứ không để làm người tình!
“Cô em mi-nhon miệt vườn đã viết những gì ta?” “Còn ông anh Bắc kỳ thì đã viết gì?” Lãng tử rách rưới bất cần sự rách rưới của mình, tặc lưỡi: “Chưa đọc nhau nhưng cần gì đọc nhau. Đi bơi đi, đọc nhau thích hơn đọc văn nhau chứ!”. Ai đó đùa góp: “Đúng, chỉ mỗi quần bơi thì dễ đọc nhau hơn!” Nhưng cô em miệt vườn mù bơi, vậy là leo núi, trèo hải đăng, ra tượng Chúa và dắt xe đạp bách bộ Bãi Dâu cho nhiều thời giờ tâm sự. “Sao ở Bắc người ngồi sau xe đạp phải chạy phóng theo còn ở trong Nam thì cả hai lên xe chậm rãi, đàng hoàng?” Bắt đầu chuyện gì cũng Bắc khác Nam khác, anh em mình chung trận tuyến mà như hai thế giới vậy kìa? “Không phải hai thế giới mà là hai nước em ơi!” Một con người sục sôi, mỗi giờ, mỗi ngày, nghĩ ngợi, phát ngôn, vẫy vùng, khám phá.
Yêu và sống hết mình cho khoảnh khắc này đi! “Em mệt quá, em không muốn một phép thử, em có hai con và em có danh dự”. “Đường rải nắng, đang thơm, người cùng ta đi giữa đường thơm”. Không, cũng chính ông ấy đã viết “Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu!” Thời gian chập chờn, không gian đồng lõa nhưng hai người hai ngàn cây số dựng đứng. Thiếu phụ về lại với đống đổ nát của mình, lãng tử Gurov nhận ra không là chuyện đùa, không có đùa cợt ở đây, chỉ có nhớ nhung sôi sục và sôi sục.
Nhà văn Nguyễn Quang Thân thành danh năm tôi mới 3 tuổi. Ba tuổi của em thì thế nào nhỉ? Anh cưới vợ lúc tôi mới 8 tuổi. Khi đó anh thế nào nhỉ? Chúng tôi có nhau trong tâm tưởng và có văn chương và cả các con còn nhỏ để tiếp tục chờ đợi. “Anh thách em lấy chồng, em lấy ai rồi em cũng phải ngoại tình với anh!” Tôi sợ chàng Roméo giỏi leo trèo của mình và 11 năm trôi vèo qua. Cũng như khi viết, không ai nghĩ tác phẩm này sẽ để đời, chúng tôi cũng đâu có nghĩ hai cái tên của mình là một thiên tình sử đậm hương.
Sau Vũng Tàu anh có thêm 10 đầu sách và 2 kịch bản văn học cho điện ảnh. Được về với nhau, anh sôi sục nhưng là sôi sục năng lượng sống và viết trong cái không gian bé tí vợ chồng ở Hà Nội. Chúng tôi tự sánh mình như hai con hải ly ngày đông giá, cần mẫn từng que củi, từng khúc cây cho cái tổ của mình, lặn ngụp, giỏi giang. Từng ngày chật ních, viết văn viết báo, đóng bàn đóng tủ, trồng rau chữa xe, tiếp khách nói trạng, ngủ có và ngủ không (từ chúng tôi lóng riêng với nhau)…Anh lục tuần, rồi thất tuần, chao ơi, thời gian nghiệt ngã không ưi ái ai cả.
Sài Gòn thong dong. Sau “Hội Thề” anh thả lỏng mình, không tâm huyết với văn chương trừ những tờ báo tin yêu anh, đặt hàng. Sao một người tài hoa và trí tuệ như vậy mà không có tiểu thuyết đỉnh cao? Anh bảo anh không đánh đổi như Bùi Ngọc Tấn, anh cũng không ưa làm đầu lĩnh như Nguyên Ngọc và cũng đã qua rồi cái thời ngồi dán lưng vào tường như Trần Dần. Anh có cuộc sống mẹ cho, anh có một gia đình để vui, viết đã nhiều mà nếm mùi truyền thông, dư luận, bạn bè cũng đã thấm, anh chả cần gì nữa cả.
Nhưng chân dung của một nhà văn đâu chỉ có một phía mặt. Bức xúc, căm hờn, khao khát, hy vọng, chán nản.. Nhưng tuổi tám mươi đã chụp xuống. Anh ví chúng tôi như hai con hươu sao thanh cảnh, hãy vui thú với cây với lá đi em. “Nhưng hươu cái đâu có viết văn còn em thì phải viết”. Anh ngao du với nhiều nhóm trang lứa: bạn trung học Phan Đình Phùng, bạn Thiếu sinh quân, bạn nghề Thủy lợi; sau “Hội Thề” anh có thêm các bạn sách Phú Nhuận, bạn Thư viện tư nhân Phạm Thế Cường và bạn hữu Quán Văn; thắm thiết nhất là bạn thuyền trên một con tàu hăm hở cùng với Hoàng Hưng, Hoàng Dũng, Ngô Thị Kim Cúc, Ý Nhi… Mỗi nơi anh mang đến một nét chân dung, bạn già của thời thiếu niên và thanh niên tươi sáng, bạn vui với người yêu sách Sài Gòn, chỗ Phạm Thế Cường là nơi anh góp sức và Quán Văn, anh góp một gương mặt an nhiên, lão thực, nghe các bạn phát biếu, đàn hát và ngắm anh Nguyên Minh “nhỏ người mà không nhỏ lửa” - từ của anh.
Một con hươu la cà, anh chỉ thực là anh khi bò ra đọc cả ngàn trang tiểu thuyết cho giải Văn Việt. “Em viết xong chưa?”, đôi khi anh lảng đi để cho “hươu cái” viết văn và không quên vấn an hươu vợ. Anh rửa tay gác kiếm, cũng được đi, tôi mới sáu mươi lăm, tôi đang thời kỳ sung sức nhất của anh hồi đó. Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ có ngày hươu chồng bay vút đi không trở lại, không ai nghĩ người như anh cũng sẽ chết, tôi càng không chuẩn bị gì cả cho người đi kẻ ở vào cái quãng anh và em viên mãn nhất.
Một người như anh thì để lại cho vợ những gì? Tất cả!. Anh tài có người tài hơn, anh trí tuệ có người trí tuệ hơn, anh khỏe mạnh có người còn khỏe mạnh hơn. Nhưng anh cho tôi cả một tấm tình, đúng như anh nói “cam đoan trên đời này không ai yêu em hơn anh”. Và tôi đã tận hiến cho anh, từng ngày sống của mình, suốt 11 năm chờ đợi và 24 năm vợ chồng.
Yêu và thương biết mấy cho vừa. Tôi đang hạnh phúc đây thôi. Các bạn nữu của chúng tôi, đừng buồn cho tôi và cũng đừng nhiều thương tiếc. Anh đã sống như anh mưu cầu, mạnh khỏe và hạnh phúc. Còn mong muốn nào hơn? Anh còn thiếu những gì, anh nợ văn chương một đỉnh cao nhưng cuộc đời có nợ anh không? Anh biết sự hữu hạn của thế thời và đời người, vì vậy mà anh sống bằng hết từng ngày anh có được. Tôi định nghĩa đó là sự hào sảng, sự hào sảng bản năng, bẩm sinh, trong không gian tự do nhỏ xíu và mong manh mà nhà văn như anh chiếm lấy, gói ghém được, thu mình được suốt cả cuộc đời.
Đó là tự do trong một quả trứng, không hơn.
Trong căn nhà một mình ở Thanh Đa đầu năm 2018

* Tranh Nguyễn Quang Thân do TN phác họa ngày Thân đi xa 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRAO ĐỔI VỚI G.S PHAN HUY LÊ VỀ SỬ VIỆT


Hà Văn Thùy
G.S PHAN HUY LÊ: “Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”?  
Image result for G.S PHAN HUY LÊ
Hà Văn Thùy: "Nói như vậy, vô hình trung, Giáo sư Lê đã đánh đồng sự sở hữu và quản lý hợp pháp với sự chiếm đóng trái phép bằng cưỡng đoạt?! Không thể có cách hiểu nào khác ngoài việc ông Giáo sư chấp nhận sự chiếm đóng trái phép của Trung Quốc không chỉ với Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng mà còn với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam?!"
Ngày 22.2.2017, tại Hà Nội, GS-NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử VN công bố Thông tin khoa học: “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” với ba nội dung: 1. Ghi nhận công lao nhà Nguyễn; 2. Những khoảng trống lịch sử  3.  Xác lập quan điểm lịch sử mới.
 Là người quan tâm đến lịch sử dân tộc, chúng tôi xin trao đổi với Giáo sư đôi điều.
       Ghi nhận công lao nhà Nguyễn.
Nửa thế kỷ trước, ngay khi các sử gia Việt Nam dân chủ cộng hòa kết tội nặng nề nhà Nguyễn, dư luận đã biểu lộ thái độ không đồng tình. Nhiều người cho rằng, dù có tội, nhưng nhà Nguyễn có công lớn đối với dân tộc. Sau năm 1975 vào sống ở miền Tây Nam Bộ với tư cách nhà văn, nghiên cứu văn hóa Hà Tiên và phía Nam, chúng tôi càng thấy rõ công lao mở đất cùng những chính sách được lòng dân của nhà Nguyễn và dấu ấn tốt đẹp mà các chúa Nguyễn để lại trong lòng dân Nam Bộ. Năm 1988, trong Hội thảo khoa học về Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, vị giám đốc Sở Văn hóa một tỉnh miền Tây hỏi tôi: “Anh người Hà Nội phỏng?” Tôi chưa kịp trả lời thì ông nói tiếp: “Tại sao mấy anh cứ áp đặt tụi tui theo quan điểm của mấy anh?” Tuy không thể nói ra nhưng uẩn ức trong lòng người trước sự bất công với lịch sử là có thực.
Chúng tôi hiểu rằng, do phải đối mặt cùng một lúc với thực dân Pháp và chính quyền của Bảo Đại, nên Đảng Cộng sản kết tội gay gắt nhà Nguyễn để khơi gợi căm thù trong dân chúng. Tuy nhiên, sau năm 1975, khi đã toàn thắng, đáng lẽ chúng ta phải giải oan cho nhà Nguyễn để đem lại công bằng cho lịch sử và tăng cường khối đoàn kết dân tộc. Nhưng không hiểu vì sao giới Sử học Việt Nam không làm. Nay việc “Ghi nhận công lao nhà Nguyễn” trở nên quá muộn, không còn đáp ứng lòng mong mỏi của người dân nên chỉ là những dòng chữ vô hồn trên giấy tờ chết.
Một sự thật cũng phải nói đến: không chỉ nhà Nguyễn mà nhiều vấn đề quan trọng khác của sử Việt bị đánh giá sai. Việc kết tội Triệu Đà xâm lược rồi trục xuất nhà Triệu khỏi lịch sử; việc chối bỏ tổ Kinh Dương Vương và nhà nước Xích Quỷ, rút lịch sử Việt Nam chỉ còn lại 2700 năm cũng đang bức xúc dư luận. Bên cạnh đó là nhiều sự kiện khác chưa được đánh giá khách quan, trung thực, khoa học như cuộc Cải cách ruộng đất, cuộc đánh tư sản, rồi hợp tác hóa nông nghiệp, cuộc tấn công Mậu Thân 1968 và nổi cộm lên là nhận định về Quốc-Cộng…
Một dân tộc, một đất nước thống nhất không chỉ trong biên giới quốc gia mà còn ở tình cảm, tinh thần, tâm linh và tư tưởng, dựa trên một lịch sử thống nhất. Do chưa có một cuốn sử chân thực nên dẫn tới tệ trạng là nhân tâm ly tán, không ít người cảm thấy thân phận tha hương ngay trên Tổ quốc mình. Một dân tộc bị phân rã đã mất đi sức mạnh.
Một câu hỏi được đặt ra, có thể luận thế nào về công và tội của giới Sử học Việt Nam trước dân tộc và lịch sử ?

2.   Những khoảng trống lịch sử
Ở phần này, Giáo sư Phan Huy Lê nêu những ý chính sau:
·       Lịch sử của các dân tộc thiểu số không được nhắc đến. Sử học hiện đại VN trong một thời gian dài cũng chỉ trình bày nặng về lịch sử người Việt.
·       Vì vậy, trên cả nước thì chỉ có lịch sử miền Bắc là được trình bày có ngọn nguồn từ thời nguyên thủy đến thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Bắc thuộc đến thời phong kiến, cận đại, hiện đại. Còn lịch sử của Nam Trung Bộ chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ 16, lịch sử Nam Bộ chỉ bắt đầu từ thế kỷ 17.
·       Lịch sử của Nam bộ, của Sài Gòn trước đó thế nào? Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Rõ ràng đây là nhận thức phiến diện tạo thành một khoảng trống lịch sử.
·       Vì sao nước ta có 54 dân tộc mà chỉ có tôn vinh lịch sử của người Việt, gạt bỏ các dân tộc khác ra ngoài?
Đúng là những khoảng trống bởi vì ở thế kỷ trước chưa được giải quyết và ngay hôm nay trong tri thức của người đứng đầu ngành Sử quốc gia cũng chưa có manh mối nào lấp được những khoảng trống khổng lồ trên!
Như ta biết, lịch sử là hoạt động xã hội của cộng đồng người trong thời gian và không gian cụ thể. Do vậy, muốn biết lịch sử “người Việt” và các “dân tộc thiểu số”, trước hết phải biết họ là ai, có nguồn gốc thế nào và có quá trình ra sao để có mặt trên đất nước ta hôm nay!
Theo khảo cứu của các học giả Viễn Đông Bác cổ thập niên 1930 thế kỷ trước, dân cư trên đất Việt Nam được hình thành như sau: “Ban đầu, trên đất nước ta có người Melanesien sinh sống. Khoảng 2000 năm TCN, do người Arien xâm lăng Ấn Độ, người Indonesien từ đất Ấn tràn sang chiếm lĩnh Đông Dương, đẩy người Melanesien ra các đảo ngoài khơi. Cuối cùng, khoảng năm 333 TCN, do nước Sở diệt nước Việt, con cháu của Việt Vương Câu Tiễn tràn xuống Việt Nam, trở thành dân cư Việt Nam hôm nay.” [1. Đào Duy Anh, 2005] Tư trưởng trên trở thành quan niệm chính thống của các nhà viết sử Việt Nam không chỉ ở thế kỷ trước mà còn tới hôm nay.
Tuy nhiên, sang thế kỷ mới, bằng nhiều nghiên cứu di truyền học dân cư phương Đông và những khám phá khảo cổ học mới nhất cho thấy bức tranh hoàn toàn khác.
   a.  Sự hình thành người Việt
Những khám phá khoa học thập niên đầu thế kỷ XXI xác nhận: “Khoảng 70.000 năm trước, hai đại chủng người tiền sử là Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven bờ biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, các dòng người hòa huyết sinh ra bốn chủng người Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, trong đó người Indonesian là đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa sang Ấn Độ và các vùng đất Đông Nam Á. 40.000 năm cách nay, đi lên khai phá Trung Quốc.” [2. J. Y. Chu et al,1998]; [3.Stephen Oppenheimer, 2004). Khoảng 18.000 năm trước, sau khi chế tác công cụ đá mới mà tiêu biểu là những chiếc búa, rìu hay việt, vừa là công cụ lao động hiệu quả vừa là vũ khí sắc bén, người tiền sử trên đất nước ta được gọi là người Việt (). Cũng từ đấy, Việt trở thành tộc danh của tổ tiên chúng ta. Khoảng 10.000 năm trước, khi làm chủ nông nghiệp lúa nước, người Việt được gọi là Lạc Việt () với ý nghĩa là chủ nhân của nghề trồng lúa nước.
Khoảng 7.000 năm trước, tại miền Trung Hoàng Hà, diễn ra sự gặp gỡ hòa huyết giữa người Việt chủng Australoid làm nông nghiệp và người du mục chủng Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid), sinh ra chủng người Việt mới Mongoloid phương Nam. Người Việt mới tăng số lượng, trở thành chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều, làm nên trung tâm nông nghiệp lớn vùng Thái Sơn-Trong Nguồn.
Khoảng 5.300 năm trước, tại vùng Thái Hồ tỉnh Chiết Giang, người Lạc Việt xây dựng quốc gia đầu tiên ở phương Đông, có kinh đô là Lương Chử, còn ranh giới chiếm trọn đồng bằng sông Dương Tử, trùng với ranh giới của nước Xích Quỷ truyền thuyết.[4. Hà Văn Thùy. 2017]
Khoảng năm 2698 TCN, người Mông Cổ phương Bắc do bộ tộc Hiên Viên dẫn đầu, đánh vào Trác Lộc, chiếm vùng miền Trung Hoàng Hà của người Việt, lập vương triều Hoàng Đế. Do cuộc xâm lăng này, người Việt vùng Núi Thái-Trong Nguồn di tản xuống Nam Dương Tử, Việt Nam và Đông Nam Á. Người di cư mang nguồn gen Mongoloid về, chuyển hóa dân cư Việt Nam và Đông Nam Á sang mã di truyền Mogoloid phương Nam. Nhân chủng học gọi đó là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á, hoàn tất vào cuối thời Đá Mới, khoảng 2000 năm TCN [5. Nguyễn Đình Khoa, 1983].
Như vậy là, cũng như toàn thể dân cư Đông Nam Á, dân cư Việt Nam được hình thành theo hai giai đoạn: ra đời khoảng 70.000 năm trước tại Việt Nam, mang mã di truyền Australoid. Giai đoạn sau, khoảng 7000 năm trước, trên lưu vực Hoàng Hà, chuyển hóa thành chủng Việt mới Mongoloid phương Nam. Khảo cổ học xác nhận, ở văn hóa Đa Bút, dân cư trên đất Việt Nam gồm hai chủng Indonesian và Melanesian. Sang thời Kim khí, tại văn hóa Phùng Nguyên, khi tiếp nhận thêm nguồn gen Mongoloid, người Indonesian chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam điển hình. Trong khi đó người Melanesian chuyển thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. [6. Nguyễn Đình Khoa, 1983] Trên thực địa, những sắc tộc Thái, Tày, Dao, Mường… trở thành chủng Mongoloid phương Nam điển hình. Trong khi đó, các sắc tộc Chăm, Khmer và nhiều sắc dân Tây Nguyên thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongolid phương Nam.
Như vậy là, khảo cổ học và nhân chủng học xác nhận, từ 2000 năm TCN tới nay, trên đất nước ta chỉ có duy nhất chủng người Việt, mã di truyền Mongoloid phương Nam sinh sống.
b. Sự ra đời của người Kinh.
Nhận tri thức từ Viễn Đông Bác cổ, các học giả Việt Nam cho rằng, “Nhóm tiền Việt Mường chuyển hóa thành Việt Mường chung. Sau đó một bộ phận tiếp xúc với nhóm Tày-Thái cổ, sinh ra người Việt.” Tuy nhiên những khám phá mới cho thấy một sự thật khác:
- Khoảng 300 năm TCN, do nước biển rút, đồng bằng sông Hồng hình thành. Những thành phần năng động nhất trong các bộ tộc người Việt ở Việt Nam, Đông Dương và Nam Dương Tử dồn về khai thác vùng đất mới. Vốn cùng một chủng tộc, với ngôn ngữ và văn hóa Lạc Việt, mọi người sống hòa hợp. Trong những người từ Nam Dương tử xuống, có người Tày-Thái, người Hẹ (Hakka), người Hán… là hậu duệ của tổ tiên lên khai phá khu vực miền Trung Hoàng Hà sau đó sống trong các vương triều Hoàng Đế tới thời Thương, Chu, Tần, Hán nên ngôn ngữ gốc Việt của họ trở nên đơn âm và hữu thanh [7. Hà Văn Thùy, 2016]. Khi tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở đồng bằng sông Hồng, đã truyền ngôn ngữ này cho đồng bào của mình. Sự việc được tăng cường sau khi Triệu Đà lập nước Nam Việt, chữ Nho được đưa sang dạy và nhất là từ khi người Trung Quốc chiếm đóng, chữ Nho thành văn tự chính thống, tiếng nói dân cư đồng bằng chuyển nhanh hơn sang đơn âm-hữu thanh.
Một cộng đồng người Lạc Việt đông đúc, sống trong môi trường tự nhiên mở, có điều kiện giao lưu tiếp xúc với thế giới bên ngoài, trong ảnh hưởng của kinh kỳ đô hội… đã dần hình thành nhóm sắc tộc riêng, với số lượng lớn, được gọi làngười Kinh. Trong khi đó, những bộ tộc người Việt khác sống trong môi trường hẹp, khép kín, dân số ít, trở thành những sắc dân thiểu số.
Tới đây cần khẳng định: người Kinh là một sắc tộc (ethnicity) trong cộng đồng dân tộc Việt (race, nation). Việc gọi người Kinh là người Việt, còn các sắc tộc khác trên đất Việt Nam không phải Việt là sai lầm tai hại. Có lẽ cũng cần làm rõ một số khái niệm dân tộc học. Nhân học chia loài người thành ba cấp độ: Loài (species): Homo sapiens. Dưới loài gồm nhiều chủng người (race, nation): North Mongoloid, South Mongoloid, Indonesian, Melanesian… Dưới chủng là các sắc tộc (ethnicity): Tày, Thái, H’mong, Kinh… Một thời gian quá dài chúng ta đã lẫn lộn trong hệ thống phân loại này. Bắt đầu từ sau năm 1954. Học theo Trung Quốc nói rằng “Trung Quốc có 56 dân tộc anh em,” chúng ta ghi vào hiến pháp: “Việt Nam có 54 dân tộc anh em.” Điều này không đúng bởi thực tế, Trung Quốc có 56 sắc tộc (ethnicity) trong năm chủng tộc (race) là Hán, Hồi, Mông, Mãn, Tạng. Sau này nhận ra sai lầm, người Trung Quốc đã sửa. Trong khi đó chúng ta vẫn theo quan niệm cũ khiến các sử gia lúng túng.
Từ phân tích trên cho thấy, một khi đã xác định rõ nguồn gốc và quá trình hình thành người Việt và người Kinh, thì những “khoảng trống” mà Giáo sư Phan Huy Lê nêu ra phần lớn đã được san lấp: 
·       Trên đất nước Việt Nam chỉ có duy nhất một dân tộc Việt, cùng một cội nguồn, cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa và cùng lịch sử. Những cộng đồng người Chăm, Bana, Êđê, Khmer…là những sắc tộc thiểu số của dân tộc Việt. Ngay cả người Hoa gốc Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến… đang sống ở nước ta thì cũng là sắc tộc Hoa của dân tộc Việt bởi lẽ tổ tiên họ cũng là người Việt.            
·       Là cộng đồng do người Việt sinh ra, nhận được những phẩm tính ưu tú của dân tộc, sống trên vùng đất phì nhiêu nhất và có số lượng lớn vượt trội nên người Kinh là tiêu biểu của dân tộc Việt. Lịch sử một dân tộc là lịch sử của cộng đồng chủ thể làm nên dân tộc đó. Vì vậy, lịch sử của người Kinh chính là lịch sử của dân tộc Việt. Cha ông ta đã đúng khi lấy lịch sử người Kinh làm đại diện cho lịch sử Việt Nam. Nghiên cứ lịch sử các sắc dân khác là cần, để bổ sung cho tính đa dạng của lịch sử dân tộc.

·       Do được hình thành như trình bày ở trên nên người Chăm, Khmer, các sắc dân Tây Nguyên đều là người Việt. Từ xa xưa, cha ông của đồng bào Chăm, Khmer, Bahnar, Êđê… đã sống trên đất Việt Nam và góp phần xây dựng nền văn hóa Việt như văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Đồng Nai, văn hóa Óc Eo… Có người thắc mắc, đồng bào Tây Nguyên có phải con cháu vua Hùng? Khảo cổ học và nhân chủng học đã trả lời: các sắc dân này cùng là người Việt Australoid bản địa, nhận được nguồn gen Mongoloid từ hậu duệ của Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương để chuyển mã di truyền sang Mongoloid phương Nam nên cũng là con cháu vua Hùng! Do trước đây chưa biết điều này nên chúng ta bỏ qua, từ nay cần nghiên cứu và đưa vào chính sử nước nhà. 

·       Từ di truyền học và những chứng cứ khảo cổ học, văn hóa học, có cơ sở để nói rằng, vào thời Văn Lang, toàn bộ Đông Dương, bao gồm cả Thái Lan, Mianmar và bán đảo Mã Lai nằm trong sự thống thuộc của các vua Hùng do mối liên hệ về huyết thống, tâm linh và văn hóa. Nhưng khi Văn Lang bị diệt và nhất là khi Việt Nam bị phương Bắc đô hộ, do mất liên hệ với trung tâm nên các thủ lĩnh địa phương phía Nam lập những quốc gia riêng như Lâm Ấp, Chămpa, Chân Lạp, Phù Nam… Việc nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn thu phục những vùng đất phía Nam, về bản chất là việc thống nhất lãnh thổ để xây dựng quốc gia chung giầu, mạnh của người Việt. Do vậy, lịch sử Việt Nam phải gồm lịch sử của cộng đồng người Việt từng sống trên những quốc gia cổ đó.
·       Xác lập quan điểm lịch sử mới.
Khi đề nghị một quan điểm mới để nghiên cứu Sử Việt, Giáo sư Lê viết: “Một quan điểm tuy không được đưa vào các văn kiện của Liên Hợp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử (HVT nhấn mạnh). Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng. Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”.
Bạn đọc kính mến, bạn nghĩ gì khi đọc những dòng này: “Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”? Chúng ta đều biết rằng, hầu hết các đường biên quốc gia hiện nay được hình thành trên sự tranh chấp lãnh thổ và tồn tại dưới hai dạng: hợp theo công pháp quốc tế hay chiếm đóng trái phép. Nói như trên, vô hình trung, Giáo sư Lê đã đánh đồng sự sở hữu và quản lý hợp pháp với sự chiếm đóng trái phép bằng cưỡng đoạt?! Không thể có cách hiểu nào khác ngoài việc ông Giáo sư chấp nhận sự chiếm đóng trái phép của Trung Quốc không chỉ với Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng mà còn với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam?!
Không chỉ thế, câu này của Giáo sư cũng có vấn đề: “Lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử.” Phải chăng Giáo sư, người đứng đầu ngành Sử chỉ cho phép viết sử Việt Nam trong phạm vi biên giới hiện tại? Sẽ ra sao khi chỉ nghiên cứu những gì đã có và hiện có trên đất Việt Nam? Như trên đã trình bày, hành trình sinh tồn và phát triển của người Việt trên trái đất này không chỉ 4000 năm, càng không phải 2700 mà những 70.000 năm. Hơn nữa, không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà tổ tiên ta từ Việt Nam còn đi lên khai phá Hoa lục và xây dựng ở đó nền văn minh vật chất và tinh thần rực rỡ. Rồi từ Thái Sơn - Trong Nguồn, tổ tiên ta mang nguồn gen Mongoloid về chuyển hóa không chỉ dân cư Việt Nam mà toàn bộ Đông Nam Á sang người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam. Và tại đồng bằng sông Dương Tử, người Lạc Việt tổ tiên ta không chỉ làm ra đồ gốm đầu tiên, thuần hóa cây lúa nước đầu tiên mà còn xây dựng nhà nước đầu tiên ở phương Đông để vinh danh họ Hồng Bàng với biểu trưng con Rồng cháu Tiên! Lẽ nào những sự thực lịch sử này là của ngoại bang, cấm không được nói đến!? Thật cay đắng, đau xót và nhục nhã cho những người yêu và nghiên cứu Sử Việt khi đứng trước Bảo tàng Lăng Triệu Văn Đế ở Quảng Châu! Phải chăng Giáo sư Lê muốn “bàn giao” thêm nhiều nữa? Liệu “Quan điểm lịch sử mới” của Giáo sư Lê có là cú đòn tiếp theo nhằm hủy diệt lịch sử Việt Nam?

Tài liệu tham khảo:

1.      Đào Duy Anh. Lịch sử cổ đại Việt Nam. (NXB Văn hóa thông tin. H, 2005)
2.      J. Y. Chu et al. Genetic relationship of populations in China. PNAS.https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC21714/
3.      Stephen Oppenheimer. Out of Eden: The Peopling of the World:...
4.      Hà Văn Thùy. Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực. (NXB Hội Nhà văn. H, 2017)
5.      Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. (NXB DH&THCN.H, 1983)
6.      Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCN. H, 1983
7.      Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn. H, 2016.n “bàn giao” thêm nhiều nữa? Liệu “Quan điểm lịch sử mới” của Giáo sư Lê có là cú đ
òn tiếp theo nhằm hủy diệt lịch sử Việt Nam?

Sài Gòn, dịp giỗ Tổ năm 2017
Hà Văn Thùy                       
https://danquyenvn.blogspot.com/2018/03/trao-oi-voi-gs-phan-huy-le-ve-su-viet.html?spref=fb


Phần nhận xét hiển thị trên trang