Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2018

Công nhân Pouchen tràn ra quốc lộ 1K phản đối thang lương mới




Tuổi trẻ
24/03/2018 11:13 GMT+7
 

TTO - Phản ứng việc công ty tuyên truyền xây dựng thang lương mới, hàng ngàn công nhân Công ty TNHH Pouchen VN (xã Hoá An, TP. Biên Hoà, Đồng Nai) đồng loạt tràn ra đường khiến quốc lộ 1K kẹt cứng. 


Công nhân ngưng việc tràn ra đường, Quốc lộ 1K tắc nghẽn 
Hàng trăm công nhân KL Texwell Vina có việc làm mới 
Công nhân nhà máy giày Đồng Nai ngưng việc vì lo giảm lương

Công nhân công ty Pouchen chắn ngang quốc lộ 1K, đoạn đi qua xã Hóa An, 
TP Biên Hoà, Đồng Nai khiến giao thông tắc nghẽn - Ảnh: A LỘC

Sáng 24-3, hàng ngàn công nhân Công ty TNHH Pouchen VN (xã Hóa An, TP Biên Hoà, Đồng Nai) đứng trước cổng công ty và tràn ra quốc lộ 1K (đoạn trước cổng công ty) để phản đối công ty tuyên truyền việc xây dựng thang lương mới, khiến giao thông qua đây bị gián đoạn. 

Cụ thể, từ 7h sáng, nhiều công nhân lên công ty quẹt thẻ xong nhưng không ở công ty làm mà tràn ra trước cổng công ty và đường quốc lộ 1K. Một số công nhân dàn hàng ngang chắn ngang đường, thậm chí ngồi giữa đường khiến xe không thể lưu thông.

Lực lượng CSGT đã được huy động, lập rào chắn trên các giao lộ để ngăn xe đi vào khu vực có công nhân tràn ra đường, điều tiết xe lưu thông đi theo hướng khác. Các lực lượng khác cũng được điều động đến hiện trường để đảm bảo tình hình an ninh trật tự.

Đến khoảng 9h cùng ngày, hàng ngàn công nhân vẫn đứng, ngồi thành nhóm dưới đường chắn ngang quốc lộ 1K, giao thông qua đây hoàn toàn tắc nghẽn. Lực lượng chức năng đã có mặt để tuyên truyền nhưng công nhân vẫn chưa chấp nhận.

Hàng ngàn công nhân đứng bên ngoài cổng công ty và quốc lộ 1K - Ảnh: A LỘC

Theo một số công nhân, thời gian qua, công ty tuyên truyền về việc xây dựng thang lương mới để áp dụng cho năm 2019. Trong đó, công ty xếp lại bậc lương cho các công nhân làm việc lâu năm giảm từ bậc 24 xuống bậc 10-15, kèm theo đó là mức lương cơ bản cũng giảm xuống theo.

Khoảng chênh lệch được chuyển vào hạng mục điều chỉnh lương nhằm đảm bảo tổng thu nhập vẫn được giữ nguyên như cũ. Công ty cũng cho biết các chế độ khác vẫn được giữ nguyên.

Tuy nhiên, theo một số công nhân, nếu áp dụng bậc lương mới thì công nhân lớn tuổi sẽ không được tăng lương 5%/ năm như mọi năm. Ngược lại, các công nhân thâm niên thấp cũng chỉ tăng lương đến mức "sàn" rồi dừng lại.

Ngoài ra, công nhân cũng lo ngại các chính sách không được đảm bảo. Vì vậy, công nhân đã không đồng tình mặc dù công ty mới chỉ mang tính chất lấy ý kiến tham khảo.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Đoàn Văn Đây - phó chủ tịch Liên đoàn lao động Đồng Nai - cho biết đang làm việc với ban giám đốc công ty. "Quan điểm của công đoàn là hủy bỏ việc xây dựng thang lương mới nhằm đảm bảo an ninh trật tự, ổn định sản xuất tại công ty", ông Đây chia sẻ.

Công nhân đứng kín cả lòng đường quốc lộ 1K - Ảnh: A Lộc

Như đã đưa tin, ngày 23-3, hàng ngàn công nhân của Công ty TNHH Pouchen VN, 100% vốn Đài Loan, chuyên gia công giày Nike, đã ngưng việc tập thể sau khi công ty tuyên truyền xây dựng thang lương mới.

Sau khi sự việc xảy ra, Liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai đã phối hợp với Sở Lao động, thương binh và công an tỉnh cùng các cơ quan chức năng TP. Biên Hòa đến công ty nắm tình hình, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tranh chấp lao động, đình công.

Theo Liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai, hiện công ty Pouchen có trên 18.000 lao động. Cơ chế cải cách thang lương nói trên dự định áp dụng đầu năm 2019. Việc tuyên truyền cho quản lý, công nhân của công ty được thực hiện trong tháng 3 này.

Sau 5 ngày triển khai (từ 19 đến 23-3), có khoảng 60% công nhân đồng thuận, 40% còn lại chưa đồng thuận và yêu cầu công ty không thực hiện cải cách thang lương như trên.

Sau khi làm việc với đoàn liên ngành, ban giám đốc và công đoàn cơ sở công ty thống nhất thông báo tới công nhân rằng việc tuyên truyền chỉ mang tính chất lấy ý kiến tham khảo, chính sách tiền lương hiện tại vẫn giữ nguyên trong năm 2018.

Hiện, đoàn liên ngành đang theo dõi tình hình, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của công nhân nhằm sớm ổn định tình hình sản xuất kinh doanh và an ninh trật tự tại địa bàn. 

Công nhân đứng trên lòng đường quốc lộ 1K - Ảnh: A LỘC

A Lộc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

SÁM HỐI


Dieb hat mir nach 6 jahren Geldbörse zurück geschickt -
Ông Jürgensen nhận lại ví tiền sau 6 năm do kẻ móc túi
gửi trả lại (Ảnh báo Bild ngày 14/11/2013)

“Tháng 3 năm 2008, một kẻ móc túi, lấy đi bóp đựng giấy tờ và 350 Euro của ông Jürgensen ở Walsrode (CHLBĐức). Sau hơn sáu năm giày vò lương tâm, kẻ cắp đã hoàn trả lại nạn nhân, toàn bộ giấy tờ, tiền bạc. Cũng theo báo Bild (ngày 14-11-2013), ngoài số tiền 350 Euro đó, kẻ móc túi đã trả thêm cho ông Jürgensen 50 Euro, kèm theo bức thư xin lỗi. Để lý giải hành động này, ngoài sự day dứt, hắn bảo, còn tin vào chúa và luật nhân quả, nên gửi trả lại tài sản cho ông”
SÁM HỐI
Hôm rồi, ngồi nghe ông bạn giảng giải về triết học, có đoạn ngoài lề, ông nói tôi rất thích: Một xã hội yên bình, kinh tế, khoa học tân tiến, thì dứt khoát luật pháp và Tôn giáo phải độc lập và song song phát triển. Để diễn giải cho việc mua thần bán thánh, hoặc sự lạm dụng, lừa đảo của các nhà ngoại cảm, trong nước, ông cho rằng, đó là sự bế tắc của xã hội cũng như Tôn giáo hiện nay. Con người mất phương hướng, mất lòng tin hoàn toàn vào chế độ xã hội, nên tìm đến tâm linh, ngoại cảm nhưng đằng sau nó thực ra là mê hoặc, lừa đảo. Họ bấu víu vào bất kể lời hứa hay con đường nào, dù là phi lý, mơ hồ nhất, hòng giải thoát bế tắc. Do vậy, các nhà ngoại cảm đểu sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, để đáp ứng nhu cầu đó.
Có lẽ chưa bao giờ lương tâm, đạo đức, tình người xuống thấp như hiện nay. Dù có người phản đối, nhưng tôi vẫn phải viết, con người chính là sản phẩm của xã hội đương thời. Một bác sỹ phi nhân, đã hủy xác phi tang, khi làm chết chính người bệnh của mình. Những cảnh sát, công an Bắc Giang, chỉ vì một chút thành tích bổng lộc, không ngần ngại cho người dân vô tội vào tù. Hay những ông có chức có quyền các công ty tầu biển, xây dựng cầu đường… trộm cắp, bòn rút máu của dân để gái gú, xa hoa trác táng, có khi nào lương tâm gợn lên một chút dằn vặt?
Vâng! Những sự việc kinh hoàng đó nhiều lắm, đầy đặc trên mặt báo. Và xã hội càng bế tắc, thì cái ác càng phát triển, nảy nở. Để rồi, người ta cũng lợi dụng cái u mê bế tắc đó, để thần thánh hóa lãnh tụ, thần thánh hóa con người. Và sự thần thánh hóa đó, chỉ thấy xảy ra ở những nơi, những nước lạc hậu, đói nghèo.
Sau cái chết và lễ tang cụ Võ Nguyên Giáp, một nhóm, trong đó có cả một số nhà thơ tên tuổi, phát động, cùng nhau làm thơ, viết thơ về cụ Giáp. Tôi vui, buồn lẫn lộn, nhưng ông bạn nghiên cứu triết của tôi bảo, thơ ca gì, đọc lên sao thấy nó giống như dàn kèn, tụng ca vua chúa thời phong kiến vậy... Và không hiểu sao, dạo này các bác hay đùa dai đến thế: Cứ bảo, cụ Giáp về với dân. Về với dân có nghĩa là như các bậc tiền nhân, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, dám từ bỏ quyền lực, trở về ngôi nhà cũ của gia đình dòng họ và làm lại đúng cái nghề gõ đầu trẻ của mình. Chứ ai lại về với dân, mà sau khi thắng giặc, cụ ngự Villa to vật vã giữa lòng thủ đô. Không phải ai muốn gặp cụ cũng được. Khi mất, lăng mộ cụ lại ngự nơi được cho có phong thủy đẹp, lưng là núi mặt tiền là biển và dường như có cả lính túc trực ngày đêm? Vậy là xa dân, chứ làm sao có thể nói, cụ gần dân, về với dân. Thôi thì, cụ cứ nằm chung với các đồng chí của mình giữa thủ đô, có người chăm sóc luôn thể, có khi lại giản dị, đỡ tốn kém hơn.
Vâng! Người có công với chế độ như cụ Giáp, được hưởng thụ ở mức “đại Nhà Thờ, đại Tôn Đản“ là điều đương nhiên, khỏi bàn cãi. Nhưng các bác cứ cố gò ép, cụ về với dân, quả thật nó vênh, tội và oan cho dân lắm.
Viết ra điều này, không có nghĩa là tôi không tôn trọng ý kiến cũng như việc làm của các bác về cụ Giáp. Và chắc chắn có người, trong đó có cả bạn bè, người quen biết không cùng chung suy nghĩ với tôi. Nhưng đây là ý kiến cá nhân, dù tôi cũng rất kính trọng con người, cũng như sự trường thọ của cụ.
Có lẽ, do quá yêu quí cụ, nên nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, trí thức cho rằng, cụ Giáp không vướng vào những sai lầm cải cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm v.v... Dù là người dốt về chánh trị, cũng có thể nhận ra, chủ trương dẫn đến những sai lầm này, của cả bộ chính trị, không phải chỉ có riêng các cụ Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng gánh chịu, mà phải tính từ cụ Hồ trở xuống. Cụ Giáp lúc đó là ủy viên bộ chính trị, uy tín, tiếng tăm đang lẫy lừng, quyền hạn cao chót vót, nên không thoát khỏi trách nhiệm này.
Cũng như vậy, nguyên nhân sự xuống đường của Phật giáo, rồi chính phủ đưa quân đội, cảnh sát ra “chiến đấu“ thời cụ Diệm, cụ Thiệu, cụ Kỳ không nên đổ lỗi hết cho người cộng sản, hoặc cá nhân nào đó...Miền Nam trù phú, lại có gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư làm nhân chứng và hậu thuẫn, nếu như không có cái tôi lớn hơn cái chúng ta của các cụ ngồi trên, thì kẻ nào dám xách động và sợ gì xách động? Khi đã chạy sang Âu - Mỹ rồi, có lúc nào các cụ có một chút lăn tăn, ân hận? Hay cái tôi lại trỗi dậy, quay ngoắt trở về ôm vai bá cổ..., thao thao bất tuyệt, như diễn viên trên sân khấu với nhau?
Sự sai lầm này, trách nhiệm chính và trước nhất thuộc về cụ Diệm, cụ Thiệu, những người đứng đầu quốc gia.
Không phải là người nghiên cứu sử, nên suy nghĩ trên của tôi chỉ ở những sự việc, hiện tượng, nhìn thấy, không biết đúng sai thế nào? Nếu đằng sau còn những uẩn khúc khác, có lẽ phải nhờ đến sự giảng giải, nghiên cứu công tâm của sử gia Trần Gia Phụng (Canada). Chứ ở trong nước, đến như nhà sử học Dương Trung Quốc, chưa đến bảy bảy, bốn chín ngày cụ Giáp, bác đã vội vàng (bộp chộp) đưa ra ý kiến, bằng cách ghép tên Võ Nguyên Giáp vào tên đường Điện Biên Phủ. Thì quả thật, dù tôi rất thích tính khí bác đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc này, nhưng cũng buộc phải lăn tăn(nghi ngờ) tính nghiên cứu sử học của bác.
Tất cả những gì đã qua, đều chứa giá trị lịch sử văn hóa của nó. Con đường nói chung chỉ là vật chết, vật câm, nhưng khi được đặt, gắn tên mang tính đặc trưng riêng, mặc nhiên nó trở nên có linh hồn và sự sống, tự bản thân nó nói lên được giá trị lịch sử văn hóa của mình. Với cái tên Tây Avenue Puginier, sau này các cụ nhà ta đổi thành đường Cột Cờ là đẹp và hoàn toàn chính xác bởi nó gắn liền với Cột Cờ Hà Nội (1812) từ thời nhà Nguyễn. Cái sai lầm năm 1970, chính quyền Hà Nội đổi tên thành đường Điện Biên Phủ. Bây giờ, theo đề nghị của bác Dương Trung Quốc một lần nữa ghép chung tên Võ Nguyên Giáp vào con đường này. Thành ra, đường Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ, xét về ngôn ngữ cũng như văn hóa hoàn toàn bất ổn, đọc lên chẳng khác gì mittinh, hô khẩu hiệu. Về tâm linh, ông bạn tôi (không biết đùa hay thật) bảo, càng không nên. Trận Điện Biên Phủ địch và ta chết rất nhiều, cứ mỗi lần đọc tên phố Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ liền tù tì (như hai cái mệnh đề chính) như vậy, cô hồn (vất vưởng) của những người lính tử trận cả hai phía, tưởng là ngày lễ, ngày mừng chiến thắng. Cô hồn đồng chí, đồng đội đến thăm hỏi, chúc tụng, có khi lại kêu oan báo oán, kẻ thù đến quấy quả, cụ không thể trọn giấc ngủ ngàn thu...
Như vậy, sai lầm chồng lên sai lầm. Với cái nhìn tủn mủn này, dẫn đến phá sử, chứ không phải nghiên cứu sử, làm sử. Thật ra, đặt tên phố, tên đường cho danh nhân có nhất thiết cứ phải ở Hà Nội mới là ý nghĩa, mới là sang trọng? Khi nơi đó không phải quê quán, hoặc nơi gắn liền với tên tuổi chiến tích của họ.
Do vậy, các bác muốn đặt tên danh nhân hay cái gì gì đó, nên tìm con đường mới. Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung, hiện tại không thiếu đất các bác đã, đang và sẽ thu hồi của dân để làm những công trình, những con đường đại hoành tráng, đại qui mô như các bác đã vẽ ra.
Ở cạnh nhà tôi, quận Grünau, thành phố Leipzig, thời Đông Đức có con đường mang tên cụ Hồ, (Ho Chi Minh Strasse). Nhưng sau ngày thống nhất nước Đức, chính quyền mới bỏ tên Ho Chi Minh Strasse, trả lại tên cũ đường (người) Karlsruher Strase. Trong phe xã hội chủ nghĩa, hình như bác nào cũng khoái thay tên, đổi phố, chẳng cần tính đến văn hóa lịch sử, địa lý như vậy, chứ không riêng đất Việt ta.
Các cụ nhà ta có câu, bỏ dao thành phật, không biết đúng sai thế nào. Nhưng sáng nay, vô tình đọc câu chuyện trên báo Bild dưới đây, không hiểu sao, tôi tin tuyệt đối vào cái thiện trong mỗi con người cũng như luật nhân quả:
Vâng! Sự sám hối của kẻ móc túi tuy có muộn màng, nhưng đó là một hành động dũng cảm với tâm hồn đẹp và trong sáng vô cùng. Từ đó tôi mới ngộ ra một điều, khi đã trèo lên, ngồi được ngất ngưởng trên cao, người ta ít khi nhìn lại, chiếc đế giầy bẩn của mình. Và nếu như được trở về cái thời cắp sách sách đến trường, phải viết bài luận gợi ca, thần thánh hóa con người, một điều chắc chắn tôi sẽ nghĩ đến hắn (Kẻ móc túi vặt này).
Đức Quốc, 23/11/2013
Đỗ Trường
Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔNG PHAN VĂN KHẢI...NHƯ TÔI ĐÃ BIẾT


Lê Phú Khải

(Nguồn: https//Baotiengdan.com)
.
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang đứng và bộ vét

LTS: Trong bài có một chi tiết, nói về chuyện TT Phan Văn Khải khi qua Mỹ, gặp TT George W. Bush năm 2005, ông đã phải cầm giấy đọc. Tiếng Dân xin được bào chữa cho ông Khải: Thật ra, lúc đó ai ở vị trí của ông Phan Văn Khải cũng đều phải làm như vậy. Cũng cần lưu ý, ông Khải là lãnh đạo đầu tiên của Chính phủ Việt Nam sang thăm Mỹ kể từ khi chiến tranh chấm dứt năm 1975.
Mặc dù ông Khải là thủ tướng, là người đứng đầu chính phủ CSVN, nhưng ông là người của Bộ Chính trị, do BCT quản, ông không được quyền nói bất cứ điều gì ông nghĩ, mà chỉ nói những điều ông được phép nói, những phát biểu của ông ở Mỹ phải được BCT duyệt trước, ông phải ghi ra giấy, nếu nói sai là không còn đường quay về với đảng. Đảng “lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối” mà, làm gì có chuyện ông Khải được tự do phát biểu?!
_____
Mấy ngày nay, tin về nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải lâm trọng bệnh, khó lòng qua khỏi, tự dưng những kỷ niệm cũ về ông như một cuốn phim quay chậm, cứ hiện lên trong đầu tôi. Ông không phải là một nhân vật lớn hiểu theo nghĩa rộng, nhưng ít nhất, ông giữ một chức vụ lớn, Thủ tướng nước Việt đến gần 2 nhiệm kỳ (10 năm), sự chấp chính của ông có ảnh hưởng không nhỏ đến thịnh suy của đất nước trong một thời kỳ nhiều biến động của thời cuộc.
Một con người, một cuộc đời, một nhân vật như thế ra đi, ắt hẳn có nhiều lời bình phẩm, đánh giá công tội của thế gian. Đó là điều đương nhiên, tất yếu: “Trâu chết để da, người ta chết để tiếng” như ông bà mình vẫn nói! Tôi không dám làm công việc “đánh giá của lịch sử”, nhưng tôi biết rất rõ về ông từ lúc còn “hàn vi” ở Hà Nội đến khi trở thành một ông lớn đứng đầu chính phủ. Hơn nữa, là một nhà báo, là người quan sát (observateur) công việc của năm đời Thủ tướng từ Phạm Văn Đồng đến Phạm Hùng (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt và ông (Phan Văn Khải)… tôi chỉ nói những điều mình biết, mình chứng kiến tận mắt, nghe tận tai để góp chút tư liệu cho người đời biết về một con người đã từng làm nên những vui buồn cho họ, cho cái đất nước tươi đẹp và đau khổ này.
Vào đầu năm 1966, ông Nguyễn Văn Trân (tức Bẩy Trân), một cán bộ cao cấp của Miền Nam ra Bắc tập kết đã dẫn một đôi vợ chồng trẻ đến nhà tôi chơi và giới thiệu. Người vợ là chị Nguyễn Thị Sáu, cháu gọi ông bằng chú ruột, còn người chồng là Phan Văn Khải (Sáu Khải) mới đi học ở Liên Xô về. Từ đó vợ chồng Phan Văn Khải trở thành khách của gia đình tôi cùng với ông Bẩy Trân trong những ngày lễ tết, như 2-9, Tết Nguyên đán hàng năm. v.v…
Số là, sau hòa bình 1954, tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Trân chờ Trung ương bố trí một trọng trách. Duyên nợ thế nào, ông Bẩy Trân lại trở thành sui gia (Miền Bắc kêu là thông gia) với bố mẹ tôi. Vì ông có người con nuôi là Tám Trọng, quê Long An lấy bà chị ruột của tôi là Lê Thị Thuận, đang làm công an hộ khẩu ở khu Ba Đình Hà Nội (lúc đó gọi là khu). Đùng một cái, Bẩy Trân mắc nạn vì trong lúc chờ đợi phân công công tác, ông đi học Trường Đảng Cao Cấp… và dám cả gan cãi lại ông Trường Chinh đến giảng ở Trường Đảng về vụ Thanh Niên Tiền Phong ở Nam Bộ trong Cách Mạng Tháng Tám 1945. Ông Trường Chinh giảng rằng Thanh Niên Tiền Phong của Nhật dựng lên để phá cách mạng. Bẩy Trân cãi lại, là của ta, do chính Bẩy Trân đề nghị Phạm Ngọc Thạch đứng ra phụ trách, ngoài là của Nhật, trong là của ta! Thế là Bẩy Trân phải về vườn ở tuổi ngoài 50! Lúc dẫn vợ chồng Phan Văn Khải đến nhà tôi giới thiệu, thì Bẩy Trân đã được… “nghỉ hưu”!!!
Một lần vào dịp 30 Tết, ông Bẩy và vợ chồng Phan Văn Khải đến nhà tôi ăn Tết ở làng Hoàng Mai (ngoại vi Hà Nội). Lúc mẹ tôi đang bóc bánh chưng bầy cỗ thì Phan Văn Khải xuống bếp, ông “góp ý” với mẹ tôi: Năm ngoái cháu thấy bác bóc mỗi mâm hai cái bánh chưng to, nhưng người ta chỉ đụng đũa vào có một cái bánh, cái kia vẫn còn nguyên. Vậy năm nay, bác chỉ bóc một cái cho một mâm là đủ (!). Mẹ tôi giải thích cho ông Khải: Vì cái mâm đồng to, nếu chỉ bóc một cái bánh thì người ngồi phía bên kia muốn ăn bánh phải với tay sang, như thế không tiện. Nên cứ phải bóc hai bánh, mỗi bên một cái.
Lúc Sáu Khải lên nhà trên rồi, mẹ tôi mắng tôi: Người ta là dân miền Nam giầu có, mà biết tiết kiệm, còn anh thì cứ hai tay đút túi quần, đồ vô tích sự. Đối với mẹ tôi và cả dân miền Bắc nói chung, hễ là người Miền Nam thì là dân giàu có! Hay ít nhất cũng sinh ra ở miền đất giầu có, ra bắc chịu khổ cực nên phải được chiếu cố. Mẹ tôi luôn khen cái tính tiết kiệm của Phan Văn Khải và rất quý mến vợ chồng ông. Và không ngày lễ Tết nào không mời ông sui gia Bẩy Trân và vợ chồng Phan Văn Khải đến chung vui. Sau ngày đất nước thống nhất, một lần mẹ tôi vô Sài Gòn, tôi đã mượn một cái xe mô-bi-lét chở mẹ tôi đi thăm ông sui gia Bẩy Trân ở Gò Vấp và các anh chị cán bộ miền Nam tập kết từng đến nhà tôi chơi. Sau cùng, tôi hỏi mẹ tôi: Còn anh Sáu Khải mẹ có đến thăm con chở đi. Mẹ tôi ngần ngại nói: Nghe chị mày (tức vợ Tám Trọng) nói, giờ anh ấy làm to lắm (Chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh), sợ đến chơi người ta tưởng lầm mình đến nhờ vả gì, thôi không đến…
Khi Sáu Khải trở thành Thủ tướng Phan Văn Khải rồi, lúc nói chuyện với các nhà báo đứng vây quanh, hỏi han, phỏng vấn, Thủ tướng đều xưng hô với các nhà báo là “các đồng chí”. Nhưng một lần bất chợt nhìn thấy tôi, ông nói: Mày dạo này thế nào? Mọi người đều ngạc nhiên về cách xưng hô đó dành cho tôi. Sau có người hỏi: Sao lại gọi ông là mày?! Tôi “giải thích”: Vì tôn trọng các anh nên ông ấy gọi là đồng chí, còn “khinh” tôi nên gọi là mày, vậy thôi. Mọi người đều cười.
Có lần, trong một cuộc họp chính phủ với các lãnh đạo các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giờ giải lao, Thủ tướng khoác vai tôi đi dọc hành lang dinh Thống Nhất nói chuyện. Ông hỏi tôi: Mày dạo này sinh sống ra sao, có cần tao giúp đỡ gì không? Tôi trả lời: Ít khi được gặp anh, em không muốn nói chuyện riêng tư của gia đình mình, em muốn anh biết về cái xã hội… Tôi chưa nói hết lời thì Sáu Khải đã nói: Thối nát lắm rồi phải không?
Thì ra Phan Văn Khải đã nhìn ra cái xã hội VN đã “thối nát lắm rồi” khi ông đang ngồi trên ghế Thủ tướng!
Trước khi dời ghế Thủ tướng, Phan Văn Khải đã đề nghị, tiến cử ông Vũ Khoan (lúc đó là Phó thủ tướng) lên thay mình. Tôi xin mở ngoặc ở đây nói một chi tiết có tính quái gở như sau. Lúc Phan Văn Khải đang là Thủ tướng thì chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Vì thế sau cơn bão số 5 đổ bộ vào hai tỉnh Cà Mau, Kiên Giang ngày 2/11/1997 gây thiệt hại rất lớn, tại cuộc họp khẩn cấp ở TP.HCM để khắc phục cơn bão này có Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì, cố vấn Võ Văn Kiệt dự ngay lúc đang họp, tôi đã viết một cái tin về cuộc họp này để sau đó, lập tức đọc qua điện thoại để Đài Tiếng nói VN ở Hà Nội phát ngay cái tin đó vào buổi thời sự 12 giờ trưa. Đây là thế mạnh tuyệt đối của đài phát thanh, hơn hẳn báo viết và truyền hình, vì thế các cuộc đảo chính, người ta chỉ chăm chăm chiếm đài phát thanh quốc gia. Tôi đang hý hoáy viết: “Thừa lệnh của Thủ tướng Phan Văn Khải, phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hội nghị, có cố vấn…”, thì từ phía sau, một bàn tay đập mạnh vào vai tôi nói: Nhà báo không thuộc bài à? Không có chuyện Thường vụ Bộ Chính trị lại thừa lệnh của Ủy viên Bộ Chính trị cả! Tôi quay lại, thì ra Vũ Đức Đam, lúc đó là trợ lý của cố vấn Võ Văn Kiệt. Tôi điên quá, trừng mắt nhìn anh chàng thư sinh này, thì ông Nguyễn Tấn Thịnh, phó ban kinh tế Trung Ương Đảng đã vội ngăn tôi lại, không để ra to tiếng. Than ôi!
Chính vì thế mà khi Thủ tướng Phan Văn Khải tiến cử ông Vũ Khoan thay mình thì trong cuộc họp đó, Nguyễn Tấn Dũng đã phản ứng mà có người nói lại với tôi là, thái độ rất du côn! Như hàng tôm hàng cá! Để “giữ ổn định”, người ta đã chọn Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng để tàn phá đất nước này 10 năm sau đó…
Trong đời tư, Thủ tướng Phan Văn Khải bị mang tiếng nhiều về thằng con Hoàng Ty “cậy thế bố làm lớn” phá phách. Nhưng thực ra không phải thế. Các cụ ta nói: Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Thằng Hoàng Ty nó là đứa trẻ ngỗ ngược, quậy phá từ lúc bố nó còn hàn vi ở ngoài Hà Nội, nhà nghèo (mà lúc đó ai chả nghèo). Khi bố là cán bộ Ủy ban Kế hoạch nhà nước đi duyệt kế hoạch cho các đơn vị, Hoàng Ty được bố cho đi để được “ăn theo” bố bữa trưa. Giống như đứa trẻ mẹ thiếu sữa phải đi bú ti nhờ bà hàng xóm, vì thế nó mới chết tên là Hoàng Ty. Vì thế có lúc ông Khải gửi Hoàng Ty đi học xa để nó bớt gây phiền phức cho ông. Điều này chỉ có ai biết mới thông cảm cho Thủ tướng Phan Văn Khải.
Nhiệm kỳ từ 1997 đến 2006, Thủ tướng Phan Văn Khải đã đưa VN vượt được cơn khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997-1998, giữ cho kinh tế VN tăng trưởng cao và ổn định. Cũng trong nhiệm kỳ của ông đã ra được Luật doanh nghiệp 1999, sửa đổi luật đất đai, luật tổ chức tán tụng và thuế. Nhiều chính sách của Chính phủ Phan Văn Khải đã giảm bớt được nhiều phiền hà như bỏ nhiều “giấy phép con” cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp thời kỳ này phát triển tốt. Thừa hưởng được đà phát triển của Chính phủ Võ Văn Kiệt trong việc gia nhập ASEAN, AFTA, Chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất Hợp đồng thương mại song phương với Mỹ. Nhiều chuyên gia kinh tế, trí thức ở Hà Nội đã ca ngợi Thủ tướng Phan Văn Khải là người lãnh đạo điềm đạm, dám nghe và lắng nghe những lời nói thật. Ông cũng là nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên đi thăm chính thức Hoa Kỳ năm 2005.
Trong việc giữ nước, ông với tư cách là Thủ tướng khi sang Trung Quốc đã kiên quyết không thỏa thuận về Biên giới 1999-2000, trong khi Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã “ok”! Chỉ còn chờ có Chính phủ. Đây là một dấu son trong cuộc đời và sự nghiệp chính trị của ông Phan Văn Khải với đất nước.
Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến một đoạn ca từ trong nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sỹ An Thuyên có tên là “Neo đậu bến quê”: “Lang thang đi bốn phương trời, nay về sông quê tắm mát; Sông Lam biết khi mô cho cạn, đục trong Vinh-Nhục hỡi người…”. Dấn thân vào chính trường, ông Phan Văn Khải có cả vinh lẫn nhục. Đó là lần ông Khải cầm giấy mà đọc có mấy câu trong cuộc tiếp xúc với tổng thống Bush năm 2005. Thiên hạ cho là ông đã làm nhục quốc thể VN khi không đủ bản lĩnh, phải cầm giấy mà đọc trước mắt cả trăm triệu người xem truyền hình. Nhưng đa số nhân dân, trong đó có tôi, thì cuộc đời chính trị của Phan Văn Khải vinh nhiều hơn nhục. Được thương nhiều hơn là ghét.
Vậy ông có thể mỉm cười nơi chín suối. Mẹ tôi đang chờ ông ở dưới đó, bà rất thương tính tiết kiệm của ông.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cần phải đúc tượng vàng cho những ai đem Intrernet về Việt Nam



Những tiếng lao xao của comments

Nguyễn Quang Lập

Cần phải đúc tượng vàng cho những ai đem Intrernet về Việt Nam. Đó là đề nghị rất nghiêm túc. Bởi vì không có Internet sẽ không có Việt Nam ngày hôm nay.
Ở đâu không biết chứ ở ta hầu hết những ai thực sự có công đều thuộc phe im lặng, tìm được họ thực chẳng dễ dàng gì. Wikipedia Tiếng Việt cho hay, giáo sư Rob Hurle là người đầu tiên đặt nền móng cho Internet tại Việt Nam. Dạy ở Đại học Quốc gia Austrailia (ANU), năm 1991 Rob Hurle có ý tưởng để cho các sinh viên Việt Nam mang cái moderm to bằng cục gạch về Việt Nam thử nghiệm. Sau đó Rob Hurle đã cùng tiến sĩ trần Bá Thái, Viên Công nghệ thông tin tại Hà Nội (IOIT), tiến hành thí nghiệm kết nối các máy tính ở Úc và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại . Lần đầu tiên Việt Nam có email với cái đuôi .au của Úc. Tới năm 1994 chính Rob Hurle đã đổi cái đuôi tên miền .vn thay cho tên miền.au.
Tới năm 1995 các từ meoemailthư điện tử bắt đầu len lỏi tới các nhà trí thức Việt Nam. Cũng cuối năm đó tôi ra Hà Nội, đến chơi nhà Bảo Ninh, ông là nhà văn có máy tính đầu tiên ở Hà Nội. Bảo Ninh nói, chờ tao chút. Tao đang viết thư điện tử cho ông Phan Huy Đường (nhà văn Việt ở Pháp). Anh chàng kĩ sư vô tuyến điện là tôi chỉ biết lơ mơ về máy tính điện tử, còn thư điện tử là cái... khỉ gì tôi chẳng biết. Tôi cứ tưởng thư điện tử là cái thư viết bằng máy tính điện tử. (Viết bằng máy tính thì đúng rồi, quan trọng nó được tải bằng Internet thì tôi hoàn toàn mù tịt). Sau khi Bảo Ninh nhấn nút send chừng ba phút, từ bên kia nước Pháp, ông Phan Huy Đường đã gửi thư về rồi. Bảo Ninh thân, tôi quá ngạc nhiên khi ba chữ của người từ nước Pháp hiện lên trước mắt mình.
Internet vĩ đại lắm máy ạ, cử nhân sinh học Bảo Ninh dạy cho kĩ sư vô tuyến điện Nguyễn Quang Lập thế nào là Internet và sự vĩ đại của nó. Khi đó tôi chỉ biết sự vĩ đại của Internet là quá rẻ và quá nhanh. Với ba chục ngàn đồng/tháng ta có thể chat với cả thế giới- Bảo Ninh nhấn mạnh -Rẻ kinh khủng và nhanh cũng kinh khủng, tin tức đi nhanh như ánh sáng!- Riêng điều này tôi phải giảng lại Bảo Ninh.
Sự vĩ đại Internet thoạt kì thủy là vậy. Nhưng ở Việt Nam sự vĩ đại ấy còn vĩ đại hơn. Kể từ năm 1994 Khoa sử Trường đại học tổng hợp nhận chiếc máy tính đầu tiên đến Việt Nam, sáu năm sau, chỉ sáu năm không hơn, ngày 17/10/2000, Chỉ thị số 58-CT/TW được phê duyệt bởi ông Phạm Thế Duyệt về việc "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Quả thật như một giấc mơ đẹp, chỉ có người Việt Nam mới thấy đó là một giấc mơ đẹp.
Các ông Mai Liêm Trực, Đỗ Trung Tá, Chu Hảo... và còn nhiều người nữa của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) và Viện Công nghệ thông tin Hà Nội (IOIT) đã thuyết phục các lãnh đạo cao nhất là các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt... về lợi ích to lớn của Intrernet. Để xóa đi nỗi lo lắng của lãnh đạo về sự xâm nhập các loại thông tin “phản động”, các chuyên gia tin học Việt Nam đã dựng nên một demo với “bức tường lửa” cháy rực như mặt trời cách mạng, thông tin “phản động của đế quốc thực dân” như đàn dơi hốt hoảng/ Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người”. Chúng- thông tin phản động của đế quốc thực dân- đều bị đốt thành tro than khi cố tình vượt qua “bức tường lửa”- mặt trời cách mạng. Demo với hình ảnh tuyệt vời ấy đáng lưu ngàn đời vào Bảo tàng tin học Việt Nam!
Nhờ đó ở Việt Nam Internet được mở cửa hoàn toàn, mở ra một tương lai cực tươi sáng cho đất nước. Như Thánh Gióng chống giặc Ân, truyền thông Việt Nam vụt lớn không ngờ, trong vài năm bỏ xa truyền thông Bắc Triều cả vạn dặm. Trước đó không một ai, không một bộ não thông minh nào có thể tiên đoán được.
Nhờ có Bảo Ninh và cái máy tính 368 ( hay 308?) cọc cạch của anh mà tôi biết tới Internet sớm hơn nhiều nhà văn cùng thời. Nhưng phải tới năm 2007 khi con gái tôi lập blog ở Yahoo 360 bắt tôi phải viết, sau entry đầu tiên tôi mấy thấy giá trị của Internet đối với nhà văn, ấy là hàng trăm hàng ngàn comments của bạn đọc lao xao bên tôi, sau mỗi bài viết của tôi. Trước đây hoàn toàn không, từ bạn đọc duy nhất là anh bạn hàng xóm, nếu may mắn được in ra, mỗi năm có được vài ba thư bạn đọc gửi cho là phúc đức lắm rồi, tôi tự chế tạo ra sự im lặng tự đắc từ sự im lặng vô vọng và sự im lặng đáng sợ, chẳng còn cách nào khác.
Tiếng lao xao của các comments bạn đọc với các nhà văn khác nào mấy anh đào vàng, tìm trầm vớ phải của quí. Với tôi, một nhà văn bán thân bất toại, ít khi đi đâu ra khỏi nhà mình, nó còn quí hơn cả vàng lẫn trầm. Không có internet tôi không sống được như ngày nay, vì bác sĩ bảo rằng tai nạn của tôi chỉ cho tôi sống giỏi lắm thêm ba năm nữa. Chính tiếng lao xao của comments đã giúp tôi sống tới tận giờ, cũng chính tiếng lao xao của comments đã giúp tôi trong 15 năm sống gắng có số trang viết gấp ba số trang viết cả cuộc đời, và sẽ nhiều hơn nữa, vì tôi đang sống và sẽ sống.
Ơn trời và ơn Internet, A men!
Bài viết cho báo Người Đô Thị
______________
 
Links liên quan:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài tư liệu:

Sau thế kỷ “đỏ” sẽ là thế kỷ “xám”?

Một câu hỏi trong khi nghĩ về
100 năm Cách mạng Tháng Mười
và đại hội 19 của ĐCSTQ vừa mới bế mạc


 Nguyễn Trung


I. Về ảnh hưởng của Cách Mạng Tháng Mười

Thừa nhận những ảnh hưởng sâu rộng toàn cầu của Cách mạng tháng Mười Nga, nhiều báo chí và học giả trên thế giới gọi 100 năm qua là thế kỷ “đỏ”. Đánh giá này trước hết dựa vào những tác động của Cách mạng Tháng 10 đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo thế giới và xu thế phát triển của nó với những dấu ấn khác nhau suốt 100 năm qua, mặc dù nước Nga của tổng thống Putin không có lễ kỷ niệm sự kiện này.  

Sự thật là: 

- CMTM đã diễn ra như một tất yếu lịch sử của sự phát triển ở nước Nga đã đi tới bước khốn cùng và trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang ở đỉnh cao trong cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột tàn tệ của chủ nghĩa tư bản tại thời kỳ này. Cuộc cách mang này mang trong nó những lý tưởng cao đẹp về giải phóng con người, hứa hẹn khả năng mở ra một con đường phát phát triển mới đầy hy vọng, vì lẽ này nó được coi như mùa xuân của nhân loại, đã cổ vũ nức lòng trào lưu tiến bộ trên thế giới. Những người chống lại quan điểm này gọi CMTM là một cuộc đảo chính bôn-xê-vich!
- Xuất hiện cường quốc XHCN Liên Xô với tính cách là một trong những yếu tố quyết định cùng với các lực lượng đồng minh đánh bại các thế lực phát xít trong chiến tranh thế giới II.
- Tạo ra sự hình thành hệ thống thế giới XHCN - trong đó có sự ra đời của CHND Trung Hoa - đối kháng với hệ thống của chủ nghĩa đế quốc, làm xuất hiện cục diện chiến tranh lạnh I với nội dung “2 phe 4 mâu thuẫn”.
- Thúc đẩy và hậu thuẫn mạnh mẽ phong trào giành độc lập dân tộc của các nước thế giới thứ ba - qua đó góp phần quan trọng vào việc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thuộc địa. Trong quá trình phát triển này chủ nghĩa đế quốc với nội hàm cổ điển coi như đã cáo chung,
- vân vân...

Cùng với những thay đổi tự thân tất yếu trong quá trình phát triển cũng như trong quá trình tham gia toàn cầu hóa của các nước phương tây - đứng đầu là Mỹ, sự xuất hiện hệ thống thế giới XHCN đã góp phần nhất định vào những thay đổi ở các nước phương Tây với những nội dung như: khắc phục ở mức có thể những khuyết tật của hệ thống tư bản chủ nghĩa, chuyển sang giương cao ngọn cờ tự do - dân chủ - nhân quyền và ngọn cờ toàn cầu hóa, tham gia vào và đẩy mạnh cuộc đấu tranh “ai thắng ai?” do phe XHCN đề xướng giữa hai con đường XHCN và TBCN trong chiến tranh lạnh...

Có thể sẽ không phải là quá lời nếu nói rằng: Trong suốt thời kỳ này các nước phương Tây đã có những thay đổi theo hướng tự hoàn thiện và nâng cao khả năng cạnh tranh của chính mình để thích nghi với cục diện quốc tế ở thời kỳ này. Một phần đáng kể những thay đổi này đã chịu những tác động nhất định trực tiếp hoặc gián tiếp từ hệ thống thế giới XHCN - rõ nét nhất là những diễn biến trong khoảng thời gian này đã làm xuất hiện và cuối cùng là đã làm mất đi chủ nghĩa thực dân mới của các nước phương Tây, vì phương thức này đã trở thành “đồ cổ” trong cục diện mới của thế giới đương thời. Có lẽ cũng không sai nếu cho rằng CNTB đã học được nhiều điều và khai thác được đáng kể những khuyết tật của hệ thống thế giới XHCN; đến lượt nó - chủ nghĩa tư bản, đã tích cực tham gia hoặc tạo ra được những ảnh hưởng / tác động vào quá trình làm sụp đổ hệ thống thế giới XHCN. Tuy nhiên trước sau vẫn phải nhấn mạnh: Sự sụp đổ của các nước Liên Xô - Đông Âu trước hết và chủ yếu là do các nguyên nhân tự thân bên trong của những quốc gia này.

            Như một quy luât khách quan, sau khi tận dụng hết khả năng trong nước phát triển theo chiều rộng, hệ thống chính trị của các nước LXĐÂ đứng trước hai thách thức cơ bản không vượt qua nổi:

(a) Hệ thống chính trị ra đời từ bạo lực cách mạng và chiến tranh, nhưng trong quá trình phát triển sau đó của đất nước trong thời bình dần dần hệ thống này đã bộc lộ nguyên hình và hoành hành trọn vẹn với tính cách là chế độ toàn trị với nhiều hệ quả rất nghiêm trọng - bao gồm cả những tội ác khủng khiếp - cho chính những quốc gia này cũng như cho thế giới còn lại;
(b) Sự phát triển theo chiều rộng của nền kinh tế kế hoạch hóa và bao cấp đã đi tới ngưỡng ách tắc và tất yếu đổ vỡ.

Ngoài ra còn phải kể đến một loạt những nguyên nhân lịch sử và chính trị sâu xa không thể hàn gắn được trong các mối quan hệ giữa một bên là Liên Xô và một bên là các nước XHCN đông Âu, và sức ép cạnh tranh giữa 2 hệ thống thế giới đã tới mức không chịu đựng nổi. Trong khi đó ngay từ rất sớm CHNDTH đã tách ra tranh giành ngọn cờ lãnh đạo của Liên Xô.

Tất cả những lý do nêu trên giải thích sự sụp đổ tất yếu của các nước LXĐÂ.

Thừa nhận như trên, còn phải thừa nhận những diễn tiến khác của thế kỷ “đỏ”:

            - Cách mạng Tháng 10 đã phá bỏ được chế độ Nga hoàng, nhưng  không thể thực hiện được những lý tưởng và giá trị cao đep mang tính xã hội chủ nghĩa đã tạo ra chính cuộc cách mạng này. Bởi vì bạo lực cách mạng chỉ có thể xóa bỏ được chế độ sa hoàng thối nát không còn lý do để tồn tại. Nhưng bạo lực cách mạng không thể mang lại cho Liên Xô chủ nghĩa xã hội theo những lý tưởng đã viết trên lá cờ cách mạng của nó, cho dù nước Nga trong giai đoạn ban đầu này đã tạo ra được những “thần kỳ” (miracles) nào đó - bao gồm cả sức mạnh đánh bại phát xít Đức và Nhật trong chiến tranh thế giới II - và với những cái giá đã phải trả đắt như thế nào! Sau khi khai thác hết những nguồn lực có thể huy động được của thời kỳ đầu, chế độ toàn trị của Liên Xô - ra đời tư bạo lực của Cách mạng Tháng 10 và chiến tranh - cuối cùng đã không thể mang lại cho Liên Xô sự phát triển mới lẽ ra phải có. Cách mạng Tháng 10 với sự sụp đổ sau này của Liên Xô nói riêng và của các nước XHCN Đông Âu nói chung cho thấy xây dựng một xã hội mới với những giá trị mới phải là kết quả và thành quả của phát triển, chứ không thể đơn thuần là làm cách mạng và dựa vào bạo lực của quyền lực mà có thể tạo ra được. Thực ra trước đó Cách mạng tư sản Pháp (1789) đã chứng mình thực tế quyết liệt này như một quy luật tất yếu, (tìm hiểu thêm vấn đề: “cách mạng ăn thịt những đứa con của mình” của cuộc Cách mạng này).

            - Hoàn toàn không thể có chuyện sự sụp đổ của Liên Xô chỉ là thất bại của chủ nghĩa xã hội mô hình xô viết. Bởi vì kết luận như thế, ắt dẫn tới những câu hỏi: Vậy mô hình đúng của chủ nghĩa xã hội là gì? Mô hình này đã có ở đâu trên trái đất này?.. Ai trả lời được?.. Thậm chí còn phải quay lại những câu hỏi kinh điển cũ không dễ gì trả lời, ví dụ: Thế nào là chủ nghĩa xã hội? theo định nghĩa nào? chủ nghĩa hay và ý thức hệ nào?.. CNXH nên được hiểu là mục tiêu, là những giá trị cần đạt được do những thành quả của phát triển đem lại, hay là phương tiện? là con đường?.. Có hay không một CNXH như một thể chế chính trị gắn với ý thức hệ Mác - Lênin như thế?..

Sự phát triển của các nước Bắc Âu đang được cọi là “CNXH hiện thực” hiện nay của trào lưu dân chủ xã hội, nhưng chủ nghĩa dân chủ xã hội đã bị chính Quốc tế III (Comintern, 1919...) và CNML lúc đương thời bác bỏ, không thể coi nó cũng là một sản phẩm của thế kỷ “đỏ”, nên xin dành cho một dịp bàn luận khác.

- Vân vân...

Song sự sụp đổ của các nước LXĐÂ đã cho phép kết luận: CNXH được xây dựng theo ý tưởng và phương thức ra đời từ CMTM trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin (như đang định hình là nền tảng tư duy của ĐCSVN) đã tự chứng mình là ảo tưởng, tất yếu thất bại. Nên coi thất bại này - cũng là một sản phẩm rất quan trọng của thế kỷ “đỏ, vì đấy là bài học nhiều quốc gia đã phải trả giá đắt, ngay nay rất cần biết tới trong tư duy và trong những quyết định mới cho hiện tại và tương lai. Trước hết đấy cũng là bài học lớn và đã phải trả giá đắt của chính nước ta trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc suốt 42 năm độc lập - thống nhất vừa qua. Cuộc sống trên thế giới trong suốt thời gian 100 năm sau CMTM đã khẳng định: Để giành được những tiến bộ xã hội đáng mong muốn, nhất thiết phải thông qua con đường tạo ra phát triển mà văn minh nhân loại đã tổng kết.

            Thuộc về thế kỷ “đỏ” này, còn phải kể đến những tàn dư nó để lại  với không ít hệ lụy cho đến hôm nay trong nhiều nước thuộc thế giới thứ ba đã từng có các phong trào “cánh tả”, cho dù những phong trào này mang tên gọi là gì và nhuốm mầu sắc chính trị nào, nhất là các phong trào cánh tả “mao-ít”.

Song trong khoảng gần ba thập niên cuối cùng của thế kỷ “đỏ” này - nghĩa là sau khi các nước LXĐÂ sụp đổ, không hề có một biểu hiện nào xảy ra trên thế giới cho phép kết luận tiến lên CNXH (như đang được hiểu theo ý thức hệ của CNML) là xu thế tất yếu của xã hội loài người. Trong khi đó lại đang diễn ra một xu thế khác rất đặm nét của tính “chế độ toàn trị”, đang chi phối sâu sắc sự phát triển của thế giới hiện tại, đó là:

-     Từ sự sụp đổ của Liên Xô XHCN - cái nôi của CMTM - đang dần dần trỗi dậy trở lại đế chế Nga vóc dáng kiểu sa hoàng dưới thời Putin hiện nay;
-     và từ CHNDTH xã hội chủ nghĩa đặc sắc TQ, một đế chế Trung Hoa đang trên đường phục hưng với giấc mộng Trung Hoa.  


II. Chẳng lẽ sau thế kỷ “đỏ” sẽ là thế kỷ “xám”?

            Vâng, sau thế kỷ “đỏ” có thể sẽ là thế kỷ “xám”!?..

Đấy là ý nghĩ ngay tức khắc của tôi, sau khi thấy thiên hạ đưa ra khái niệm thế kỷ “đỏ” trong bàn luận về 100 năm Cách mạng Tháng Mười. Nhất là ít lâu nay đó đây trên thế giới đã có ý kiến coi thế kỷ 21 là của Trung Quốc. 
Sự thật suy nghĩ trên là một phản sạ tự nhiên rất tiêu cực trong tôi, trước hết[1] xuất phát từ những kinh nghiệm cay đắng trong quan hệ của nước ta với TQ trên chặng đường kể từ hội nghị Geneva 1954 về Đông Dương cho đến hôm nay. Chặng đường này có nhiều cột mốc đau khổ, thậm chí không hiếm những chặng đường vô cùng đẫm máu cho nước ta, rồi còn biết bao nhiêu sự can thiệp khác nữa vào nước ta của quyền lực rắn và quyền lực mềm “made in China”... Rồi còn biên giới / biển đảo của nước ta bị xâm phạm, đất nước đang bị uy hiếp, trên thực tế đang bị bao vây chiến lược, sự lệ thuộc nguy hiểm chưa có lối ra...

Chặng đường đau khổ này tất cả mọi người đều biết, xin miễn kể lại tại đây... Người Việt nào có thể nhắm mắt trước sự thật nghiêm trọng này? Tôi cũng vậy, mặc dù không lúc nào tôi ngừng suy nghĩ, gạn đục khơi trong, cố níu kéo những điều tốt đẹp đã có, ngày đêm hì hục đi tìm con đường xây dựng mối quan hệ hữu nghị thật, hợp tác thật không thể thiếu giữa nước ta và nước láng giềng khổng lồ này.

            Đại hội 19 của ĐCSTQ không làm cho cảm nghĩ tiêu cực nêu trên của tôi mất đi. Thật lòng thì phải nói: Đại hội 19 của ĐCSTQ với kết cục như chúng ta đã biết, đang tăng thêm sự lo lắng trong tôi, vì hai lẽ:

1.       TQ kể từ thời Đặng Tiểu Bình đã và đang trở thành vấn đề của cả thế giới chưa có lời giải; sau đại hội 19 thách thức này đối với cả thế giới càng gia tăng, trước hết là cho các nước láng giềng, trong đó có nước ta.
2.       Không thể nói đất nước ta đã được chuẩn bị sẵn sàng cho đối mặt với mọi vấn đề của cục diện thế giới đã sang trang hôm nay đang thách thức nước ta, trong đó trước hết là những vấn đề xuất phát từ đế chế Trung Hoa trên đường phục hưng đang trực tiếp đặt ra cho nước ta.


III. Về cái thế kỷ “xám”

            Có thể nói lịch sử đế chế Trung Hoa với bản sắc văn hóa và chính trị đã kiến tạo ra nó là liên tục cho đến hôm nay, ngoại trừ khoảng một thế kỷ gián đoạn kể từ khi xảy ra chiến tranh nha phiến lần thứ nhất (1839 - 1842). Nguyên do của sự gián đoạn này là thế giới từ lâu đã chuyển sang thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong khi đế chế trung tâm này (Trung Quốc) vẫn còn đang ngủ. Khi CHNDTH ra đời năm 1949, đế chế này đã tức khắc thức dậy, cho dù nó khoác trên mình chiếc áo cộng sản.

Ngay từ lúc còn thân cô thế cô trong thời Mao, đế chế thức dậy này đã ấp ủ khát vọng “gió Đông thổi bạt gió Tây”, thực hiện những chiến dịch phát triển cuồng vỹ với nhiều tội ác đẫm máu cho theo đuổi khát vọng bá vương, xử sự với thế giới bên ngoài theo phương châm “thiên hạ đại loạn, Trung quốc đại trị!”, “mục tiêu biện minh cho biện pháp”...

Mao thất bại vì quá vỹ cuồng, song đế chế thức dậy này kể từ thời Đặng Tiểu bình cho đến hôm nay đã tìm ra được con đường phục hưng của nó: Nương vào sự vận động của thế giới, đem toàn lực và lợi thế nước đông dân số 1 thế giới để trở thành công xưởng của thế giới, khai thác như vơ vét triệt để quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới đang ở thời kỳ cao trào theo cách có lợi nhất cho Trung Quốc.

Quá trình phát triển nêu trên khởi đầu từ quan điểm chiến lược “dò đá qua sông”, “giấu mình chờ thời” trong thời Đặng, rồi đến chặng đường “trỗi dậy hòa bình”... Với nền kinh tế có quy mô lớn thứ 2 thế giới và là một thị trường mà kinh tế thế giới không thể bỏ qua, quyền lực mềm của Trung quốc đã luồn sâu đáng kể tại không ít quốc gia trên thế giới, đồng thời chủ nghĩa thực dân mới của Trung Quốc đã bỏ xa chủ nghĩa thực dân mới của các nước tư bản thời sau chiến tranh thế giới II... Ngoài những căn cứ quân sự xây trên các đảo Trung quốc lấn chiếm trên Biển Đông, thiết lập vùng cấm bay trên biển Hoa Đông, Trung Quốc đã thuê được căn cứ quân sự ở Djibouti (châu Phi), sẽ mở tiếp ở Pakistan, đã tăng cường ảnh hưởng ở nhiều nước châu Phi, là nhân vật số 1 của diễn đàn BRICS (khối các nước nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới).., v... v... Hơn nữa nhiều thể chế và định chế là rường cột làm nên trật tự kinh tế và chính trị hiện hành của thế giới đã và đang bị Trung Quốc và phương thức phát triển của nó làm méo mó hoặc bị lũng đoạn đáng kể.

 Trong khi đó việc các cường quốc phương tây xây dựng “luật chơi” mới nhằm thay đổi xu thế vận động này của Trung Quốc không thành  công. Mọi nỗ lực của Mỹ và phương Tây muốn lôi kéo Trung quốc cùng đi với mình để trở thành một cường quốc có trách nhiệm đối với thế giới, hoặc muốn kiềm chế Trung Quốc, đều thất bại.

 Bằng những chiến lược thực dụng khác nhau qua từng thời kỳ phát triển, GDP per capita của Trung quốc năm 1978 (khi bắt đầu đổi mới theo quan điểm “mèo trắng, mèo đen...”) là 200 USD, hiện nay đạt khoảng 8000 USD, tăng gấp 40 lần, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 sau Mỹ, không xa sẽ vượt qua quy mô của Mỹ. Hiển nhiên khó tìm ra được một nước nào trong một khoảng thời gian ngắn lịch sử khoảng 4 thập kỷ đã có thể làm được như vậy để so sánh.

Không thể nói khác: Đế chế thức dậy này của nước 1,3 tỷ dân đã đi được một chặng đường dài trên con đường phục hưng của nó, đang trở thành một nhân tố chi phối theo cách của nó sự phát triển của thế giới. Nói thế giới hôm nay chưa có giải pháp nào hữu hiệu cho “Frankenstein Trung Quốc” chính là vì những lẽ này.

Hôm nay, với tiềm lực kinh tế và quân sự đã đạt được trong tay, đế chế này qua diễn văn khai mạc đại hội 19 của Tập Cận Bình (18-10-2017), đã trân trọng tuyên ngôn trước toàn thế giới mục tiêu sẽ trở thành lãnh đạo thế giới, bằng nền kinh tế sẽ đứng đầu thế giới, với lực lượng quân sự sẽ vượt lên hàng đầu thế giới, với chiến lược “một vành đai, một con đường” là công cụ kinh tế và chính trị hỗ trợ sự thực thi... Tất cả được gói ghém trong “giấc mộng Trung Hoa”, trên nền tảng tư tưởng Tập cận bình đã được đưa vào Điều lệ ĐCSTQ, với sự xác lập đảng là số một quân đội là số hai dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của một lãnh tụ duy nhất được xếp ngang với Mao hoặc thậm chí vượt Mao, được dẫn dắt dưới lá cờ của CNXH đặc sắc Trung Quốc thời đại mới.

Tôi nghĩ, nên vượt lên trên mọi suy nghĩ cảm tính để nhìn thẳng vào sự thật: Trong trò chơi tranh giành quyền lực (games of power), tuyên ngôn này là sự lựa chọn có lý và cần thiết ở thời điểm này  cho Trung Quốc trên con đường phục hưng vai trò đế chế của nó. Điều này còn hàm nghĩa với những rối loạn hiện thời, cục diện thế giới đã sang trang hôm nay đang mang lại cơ hội nhất định cho sự lựa chọn như vậy. Thậm chí đây còn là sự lựa chọn duy nhất có thể để Trung Quốc thoát khỏi nguy cơ tan rã trong thế giới toàn cầu hóa hôm nay và nhất quyết không bỏ lỡ cơ hội phục hưng đế chế sờ thấy được trong cục diện quốc tế hiện đang rối loạn này. Nghĩa là một sự lựa chọn chớp thời cơ, vượt nguy cơ ách tắc và tan rã bên trong, tập trung quyền lực cao nhất, quyết đẩy Trung quốc lên phía trước, tất cả thể hiện không thể hiểu nhầm trong khẩu khí vừa hoành tráng vừa đe dọa trong suốt toàn bài diễn văn hơn 3 tiếng đồng hồ!.. Đấy là sự lựa chọn rất quyết liệt chưa từng có của trí tuệ và ý chí của giới tinh hoa trong truyền thống đế chế Trung quốc cho Trung Quốc, nó khác hẳn với những gì rối bời đang diễn ra trong giới cầm quyền ở Mỹ! Sức nặng của mọi vấn đề mà thế giới nói chung và nước ta nói riêng sẽ phải chịu đựng trong đối mặt với đế chế Trung Quốc trên đường phục hưng nằm trọn vẹn trong sự lựa chọn này và khả năng thực thi nhất định của nó.

Đương nhiên, giữa khát vọng giấc mộng Trung Hoa dù được thiết kế tinh khôn như thế nào và thực tế của đời sống thế giới luôn luôn có khoảng cách, rộng hẹp ra sao còn tùy diễn biến của thời cuộc quốc tế. Điều chắc chắn “giấc mộng Trung Hoa” vừa là khát vọng phục hưng đế chế, vừa là một dilemma đời đời của Trung Quốc. Bởi chưng không tập quyền cao độ thì tan rã, đổ vỡ và không phát triển, không đẩy Trung Quốc lên được. Nhưng càng tập quyền nguy cơ đổ vỡ càng gia tăng. Đổ vỡ thời Mao đã minh chứng điều này. Những giá trị cơ bản của truyền thống văn hóa Trung Quốc và sự hình thành cùng với lẽ tồn tại của quốc gia đế chế này tạo ra cái dilemma cố hữu này, có thể nói cố hữu tới mức như là trời buộc, ngoại trừ cho đến khi có sự thay đổi đột biến nào đó! Đây là nhược điểm, đồng thời cũng là chỗ yếu căn bản của đế chế Trung Hoa. Đặc tính này có thể gây khó / dễ cho thế giới, nhiều hay ít tùy diễn biến và phản ứng của thế giới. Chính đặc tính này khiến nó không có khả năng, không có lợi ích trở thành một cường quốc có trách nhiệm với cộng đồng thế giới. Do đó khát vọng vai trò lãnh đạo thế giới sẽ chỉ là một loại thuốc không thể thiếu cho kích thích tinh thần người dân Trung Quốc nhiều hơn là một khả năng hiện thực. Chưa nói đến sự phát triển trên thế giới ngày nay đã đi rất xa không còn chỗ cho một sự lãnh đạo như thế.

Song mối nguy hiểm lớn nhất của “giấc mộng Trung Hoa” đối với thế giới bên ngoài nằm ở chỗ tính mỵ dân của nó kích thích chủ nghĩa dân tộc nước lớn trong tâm lý nhân dân Trung Quốc ở tầm ảnh hưởng và sự tác động lớn chưa từng có, nhất là tại quốc gia này vốn dĩ có truyền thống lịch sử và văn hóa từ ngàn xưa nuôi dưỡng tâm lý dân tộc nước lớn, trước hết là trong đối xử với các nước láng giềng nhỏ yếu hơn... Xin đừng quên nhân dân hai nước Đức và Nhật đã bị đẩy vào chiến tranh thế giới II như thế nào!

Cục diện thế giới hôm nay còn đậm lên một vấn đề thời sự mới khác trước: Trong mối quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ, Trung, Nga với tính cách là những diễn viên chính trên sân khấu tranh giành quyền lực thế giới, dù xảy ra xung đột cục bộ ở bất kỳ đâu, hoặc đạt được thỏa hiệp nào với nhau cho bất kỳ vấn đề gì trên thế giới này, đều có thể làm cho một khoảng trống quyền lực nào đó dưới một dạng nào đó còn đang tồn tại ở khu vực Biển đông càng trở nên “trống rỗng” thêm (more emptier), các nước trong khu vực sẽ lĩnh đủ.

            Nhân đây cũng xin lưu ý, trong diễn văn tại đại hội 19, tư tưởng Tập Cận Bình có một nội dung chủ ý nhấn mạnh đến chủ nghĩa Mác đã được Trung Quốc hóa và CNXH đặc sắc Trung Quốc thời đại mới như một phát kiến mới về lý luận và ý thức hệ để tiếp tục dẫn dắt Trung Quốc trên con đường thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Đây là một món ăn tinh thần mới, không thể thiếu trong thực đơn của giới tinh hoa trong truyền thống đế chế Trung Quốc chuẩn bi cho nhân dân Trung Quốc, để giữ mộng và xây mộng. Người nước ngoài như chúng ta không có phần trong bữa tiệc này. Nếu tham ăn cố tình dự tiệc, sẽ có thể bị ngộ độc thực phẩm. Chỉ có 6 âm tiết thôi “trung, quốc, hóa, thời, đại, mới”, nhưng đủ nói lên tất cả, không thể “trệch hướng” vào đâu được, và đủ để cho lãnh đạo Trung Quốc tùy nghi vận dụng, cho đối nội cũng như cho đối ngoại. Thực là tài quá! Giỏi quá!.. Là người có khuyết tật hay viết dài, tôi bái phục thừa nhận đây là bậc thầy của sử dụng ngôn từ. Lại tự nhủ mình phải đọc hay nghe những âm tiết này bằng kinh nghiệm.

            Tôi nghĩ, không nên võ đoán hoặc suy nghĩ theo thành kiến về hiện tại hay tương lai, để không một giây phút rời tai rời mắt đối với mọi diễn biến tốt / xấu của hiện tại và tương lai. Càng không nên để cho thần hồn nát thần tính. Nhưng cũng xin đừng bao giờ xem thường kinh nghiệm đã tích lũy được. Nhìn lại 40 năm qua, thú thực nhiều lúc tôi có cảm nghĩ sự lớn mạnh của một Trung Quốc bá vương cho đến nay cứ ngày một ngày hai liên tục lừng lững như một con lũ không gì cản được, nhất là tại khu vực Đông Nam Á này, và ảnh hưởng của nó, nhất là sự tham gia của quyền lực mềm Trung Quốc theo kiểu mỗi tình huống đều là một cơ hội “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, đã gây ra nhiều điều xám xịt trên thế giới những thập kỷ vừa qua, và ngay cả trên nước ta, với nhiều hệ quả lâu dài trùng điệp thiên la địa võng.., trong đó có sự lệ thuộc đang rất khó gỡ của nước ta. Cái cảm giác thế kỷ “xám” của tôi bắt nguồn từ đây.

Không thể không suy nghĩ về cái thế kỷ “xám” có thể này, trước mắt là cho những năm tới, cho một vài thập kỷ tới.


IV.  Lời kết

            Mối nguy lớn nhất đối với một quốc gia cũng như một con người không phải là chính bản thân mối nguy ấy - dù là nội dung hay kích cỡ mối nguy ấy như thế nào, mà là sự nhắm mắt trước mối nguy ấy vì bất kỳ lý do nào. Nếu đấy là sự nhắm mắt do khiếp đảm, hoặc do lẩn tránh sự thật, cũng đều đồng nghĩa với tự nộp mạng cho mối nguy ấy.

            Như đã nhận đinh bên trên: Không thể nói đất nước ta đã được chuẩn bị sẵn sàng cho đối mặt với mọi vấn đề của cục diện thế giới đã sang trang hôm nay đang thách thức nước ta, trong đó trước hết là những vấn đề xuất phát từ đế chế Trung Hoa trên đường phục hưng đang trực tiếp đặt ra cho nước ta.

            Từ chỗ đất nước ta không được chuẩn bị sẵn sàng như vậy đến chỗ “nhắm mắt” cách nhau bao xa? Hay là sự không sẵn sàng này chính là hiện tượng đang nhắm mắt?..

            Xin coi hỏi như thế là nhiệm vụ vô cùng nghiêm trọng cho từng người dân Việt Nam, song trước hết là cho ĐCSVN và đội ngũ lãnh đạo của nó, để quyết định thái độ và hành động.

Với quyền lực nắm trọn vẹn vận mệnh đất nước trong tay, trách nhiệm chuẩn bị mọi mặt cho đất nước sẵn sàng với cái thế kỷ “xám” này duy nhất đặt lên vai ĐCSVN và đội ngũ lãnh đạo của nó. Đảng sẽ có công hay tội đối với đất nước hoàn toàn tùy thuộc vào thực thi thành công hay thất bại, hay lẩn tránh trách nhiệm ràng buộc này. Ngay bây giờ Đảng phải tự hỏi mình: Hiện nay Đảng không sẵn sàng, hay chưa đủ sẵn sàng, hay đang nhắm mắt?!

Mở mắt nhìn thẳng vào sự thật, khó khăn nào cũng có lối ra, trước hết để xác lập nhận thức và ý chí phải có, tạo ra sức mạnh đồng thuận của cả nước đưa đất nước ra khỏi những khó khăn hiện nay, có thực lực và bản lĩnh đối mặt với cái thế kỷ “xám”. Đây còn là con đường giành lấy và xây dựng hữu nghị thật, hợp tác thật nước ta không thể thiếu trong quan hệ với Trung Quốc, phải cùng đi với cả thế giới mà giành lấy. Mọi liều thuốc giả đều là tự sát, dù tên gọi của nó là gì, “đại cục”, “tương giao”, “tương đồng”.., dù bằng các liệu pháp trấn áp, cấm đoán, dùng đội ngũ dư luận viên, phát triển hội cờ đỏ...

Cũng xin nhắc lại một lần nữa: ĐCSVN không phải là hay giống như ĐCSTQ, nhiệm vụ chính trị của nó đối với quốc gia Việt Nam hoàn toàn khác với nhiệm vụ này của ĐCSTQ đối với Trung Quốc, như nước khác với lửa, như ngày khác với đêm. Một bên là làm cho đất nước có thực lực, ý chí và bản lĩnh trở thành láng giềng được tôn trọng, một bên là phục hưng đế chế trung tâm thiên hạ. Trong cái thế kỷ “xám” này Việt Nam trước sau vẫn là cái đích của đế chế Trung Hoa trên đường phục hưng./.


Nguyễn Trung
Hà Nội, Võng Thị, ngày 06 tháng 11 - 2017


[1] Xin nhấn mạnh như thế để tập trung chỉ nói về quan hệ VN-TQ, những vấn đề quan hệ quốc tế khác của Việt Nam không bàn trong bài này.


Tác giả gủi cho viet-studies ngày 6-11-17


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và hành động của Việt Nam


TT Trump và CT Tập. Ảnh Internet
Về địa chính trị, Mỹ – Trung luôn tranh ngôi bá chủ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác như lịch sử mấy trăm năm. Thỉnh thoảng gầm gừ về thương mại. Nhưng thương mại là chuyện nhỏ, lớn hơn là vai trò toàn cầu.

Chiến tranh thương mại
Ông Tập Cận Bình vừa được tái bầu làm chủ tịch nước một vị trí mà theo hiến pháp vừa thay đổi có thể giúp ông “ôm ghế” đến lúc tạ thế.
Không hiểu ông Trump có gửi điện chúc mừng vụ này, nhưng chỉ vài ngày sau (22-3), TT Mỹ đã “chào mừng kiểu cao bồi” ông Tập bằng tuyên bố kế hoạch áp đặt mức thuế lên đến 50 tỷ đô la đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và hạn chế đầu tư của nước này vào Mỹ.
TT Trump cho rằng, Trung Quốc đã ăn cắp sở hữu trí tuệ của Mỹ có giá lên tới hàng trăm tỷ đô.
Đây là cú nắn gân vai trò toàn cầu của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ đáp trả bằng đòn tương tự với khoảng 3 tỷ đô la, nhắm vào hàng nhập từ Mỹ.
Bộ Thương mại Trung Quốc đang có kế hoạch áp thuế 25% đối với thịt lợn nhập khẩu của Mỹ và nhôm tái chế, và 15% đối với ống thép, trái cây và rượu vang.
Con số 3 tỷ chưa là gì nếu biết thêm thông tin Mỹ xuất sang Trung Quốc một lượng hàng đậu nành với giá trị 40 tỷ đô la, nông dân  Mỹ nhất là vùng New Mexico sẽ điêu đứng.
Thêm vào đó, trừng phạt Trung Quốc, Trump chỉ nghĩ rằng, số hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ nhiều hơn là ngược lại. Ông từng hứa sẽ làm việc này và ông làm thật.
Theo tờ Economist, việc nhập hàng giá rẻ từ Trung Quốc mang lại lợi nhuận cho Mỹ. Nâng giá 10% thuế vào hàng TQ sẽ làm người Mỹ tới shopping mall ít đi.
Trước trừng phạt giá đôi giầy là 100$ nếu tăng thuế thì người nhập khẩu cũng phải tăng cỡ 10$ để đảm bảo có lời. Thua thiệt là người dân.
Ngay cả nhóm think-tank về ICT (CNTT) của Hoa Kỳ cũng phản đối trừng phạt. Bởi hàng ICT giá thấp từ TQ đang giúp ngành ICT của Hoa Kỳ. Nếu trừng phạt sẽ làm mất công ăn việc làm hơn là tạo như Trump hứa khi tranh cử.
Mỹ sẽ hạn chế làm ăn với các nước theo chân Trung Quốc và ngược lại Trung Quốc sẽ có hành động tương tự đối với các quốc gia theo chân Mỹ. Công ăn việc làm toàn cầu sẽ bị tổn hại.
Hôm nay cả thế giới nín thở trước cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Chỉ số chứng khoán đỏ loẹt từ Đông sang Tây, náo loạn thương mại toàn cầu là hiện hữu.
Hành động của Việt Nam
Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết. Nhưng cánh “ruồi muỗi giỏi” sẽ bay càng xa sới đấu càng tốt và tranh thủ quan sát đâu là miếng mồi ngon.
Đối với Việt Nam, như người ta nói “ở đâu có than phiền ở đó có cơ hội”, thì đây là lúc phải làm gì đó.
Hàng hóa của Trung Quốc sẽ không đi thẳng sang Mỹ mà sẽ “quá cảnh” tại một số nước. Ghi là “Made in XXX” nhưng gốc từ China. Làm ăn kiểu này sẽ bị Mỹ trừng phạt nặng hơn.
Tốt nhất là tranh thủ nâng cao chất lượng kiểu Mỹ và xuất vào Mỹ một cách tín nhiệm. Biến nguy của người khác thành cơ của mình.
Hoa Kỳ không khoan nhượng các sản phẩm được nhà nước bảo trợ vì đó là cạnh tranh không lành mạnh. Cá basa Made in Vietnam bị áp thuế cao do bị nghi ngờ có bàn tay nhà nước.
Khu vực kinh tế tư nhân đầy tiềm năng chưa được các nhà chính sách mở đường rộng cho phát triển, thì đây là cơ hội cho thay đổi.
Nhân chuyện AVG và Mobifone đang lùm sùm, có thể rút ra bài học. Nhà nước chỉ nên làm về chính sách, tạo môi trường thông thoáng để tư nhân phát triển, đó mới là kế lâu dài.
Còn chuyện nhà nước bán tài sản nhà nước rẻ cho tư nhân và tư nhân bán cho nhà nước với giá trên trời thì khó mà hết chuyện tham nhũng hối lộ.
Hãy để cho tư nhân tự thỏa thuận với nhau về giá cả, nhà nước đừng thò bàn tay lông lá vào các vụ thương thảo thì chắc không đến nỗi các VIP phải lo sốt vó.
Khi có môi trường kinh doanh tốt rồi, mọi nguồn lực, tài trí và sáng tạo sẽ được phát huy. Một phần hàng hóa Made in Vietnam có thể thay thế hàng Trung Quốc đưa vào Mỹ.
Lời kết
Về lâu dài trong địa chính trị, hai quốc gia này tiếp tục tranh ngôi bá chủ, cứ chục năm lại choảng nhau bằng thuế thương mại.
Tuy nhiên, thương mại chỉ là chuyện nhỏ, chuyện lớn hơn là vai trò toàn cầu mà Tập và Trump đang tranh giành ngôi thứ.
Mỹ không thể ngồi yên xem Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” và Tập muốn chức chủ tịch suốt đời không chỉ đả hổ diệt ruồi mà định chơi luôn con “hổ giấy” Hoa Kỳ bằng thòng lọng “một vành đai một con đường” bóp nghẹt giá trị “America First” của Trump.
Chém gió chút cho vui.
Have a good weekend. Chúc các bạn vui cuối tuần.
HM. 23-3-2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang