Một tu sĩ đồng môn với tôi dạy thiền nhiều tuần ở một nhà tù có mức an ninh tối đa gần Perth. Nhóm nhỏ tù nhân mới học rất tôn trọng tu sĩ. Vào cuối một buổi học, họ bắt đầu hỏi ông về thông lệ hàng ngày ở một tu viện Phật giáo.
“Chúng tôi phải dậy lúc 4 giờ sáng”, ông bắt đầu. “Nhiều lúc rất lạnh vì căn phòng nhỏ của chúng tôi không có sưởi. Chúng tôi chỉ ăn một bữa mỗi ngày, tất cả đồ ăn trộn vào nhau trong một cái tô. Vào buổi chiều và buổi tốt, chúng tôi không được ăn. Quan hệ tình dục hay rượu dĩ nhiên là không có. Chúng tôi cũng không có tivi, radio, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc miệt mài, dành thời gian rảnh ngồi tréo chân quan sát hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn.”
Các phạm nhân kinh ngạc với sự khắc khổ tột độ của đời sống tu sĩ. Nó khiến nhà tù của họ như một khách sạn năm sao. Một trong các tù nhân đã xúc động vì đồng cảm với hoàn cảnh của người bạn tu sĩ đến nỗi anh ta quên mất mình đang ở đâu. Anh bảo: “Sống ở tu viện của thầy như thế thật khủng khiếp. Sao thầy không đến đây ở với chúng tôi?”
Tu sĩ kể rằng trong phòng đã cười rũ rượi. Tôi cũng thế khi nghe ông kể lại. Rồi tôi bắt đầu suy ngẫm sâu sắc về điều đó.
Đúng là tu viện tôi còn khổ hạnh hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất cho các tội phạm, nhưng nhiều người tự nguyện đến tu viện, và họ hạnh phúc ở đây. Trong khi đó, nhiều người muốn thoát khỏi nhà tù, và họ không hạnh phúc ở đó. Vì sao?
Là vì ở tu viện của tôi, người ở đó muốn ở đó; trong tù, người ở đó không muốn ở đó. Khác biệt chỉ có vậy.
Bất kỳ nơi nào bạn không muốn ở dù thoải mái ra sao, đó là một nhà tù đối với bạn. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “nhà tù”. Nếu bạn ở trong một công việc không mong muốn, bạn ở tù. Nếu bạn ở trong một mối quan hệ không mong muốn, bạn ở tù. Nếu bạn ở trong một cơ thể ốm yếu và đau đớn mà mình không muốn, đó cũng là một nhà tù đối với bạn. Một nhà tù là bất kỳ hoàn cảnh nào mà bạn không muốn rơi vào.
Vậy làm sao bạn thoát khỏi nhiều nhà tù của cuộc sống?
Dễ thôi. Chỉ cần thay đổi cảm nhận của bạn về hoàn cảnh thành “muốn ở đó”. Ngay ở nhà tù hay tu viện của tôi, nếu bạn muốn ở đó, nó không còn là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi cảm nhận về công việc, mối quan hệ hay cơ thể của mình, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không muốn nó, nó không còn có cảm giác như một nhà tù đối với bạn. Khi bạn hài lòng ở đó, bạn được tự do.
Tự do là hài lòng với hoàn cảnh hiện tại. Nhà tù là muốn ở một nơi khác. Thế giới tự do là thế giới của người cảm thấy hài lòng. Tự do thực sự không bao giờ là tự do ham muốn, mà là tự do vì thoát khỏi ham muốn.
Trích dẫn từ cuốn Ai đổ đống rác ở đây? của Sư Ajahn Brahm
Tên sách: Một vành đai, một con đường (OBOR) – Chiến lược của Trung Quốc và Hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
Tác giả: Phạm Sĩ Thành.
Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế Giới.
Ngôn ngữ: Tiếng Việt.
Lời giới thiệu:
Là ý tưởng do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất vào mùa Thu năm 2013, sáng kiến về Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI và Hành lang kinh tế con đường tơ lụa (gọi tắt là Một vành đai, Một con đường – One Belt, One Road – OBOR) đã nhanh chóng trở thành một quyết sách kinh tế chính trị và đối ngoại quan trọng của Trung Quốc trong nhiệm kỳ lãnh đạo của thế hệ lãnh đạo thứ năm. Sáng kiến này sau đó được nâng tầm trở thành một chiến lược và nhận được sự chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới. OBOR không chỉ là chiến lược có tác động trực tiếp đến sự phát triển của Trung Quốc mà còn có thể tạo ra những thay đổi quan trọng về tình hình phát triển kinh tế của các châu lục và tái định dạng cấu trúc địa – kinh tế, địa – chính trị, địa – chiến lược hiện thời.
Trong lộ trình triển khai OBOR từ sáng kiến thành chiến lược quốc gia, Trung Quốc xác định năm 2013 là năm đề xuất ý tưởng, năm 2014 là năm phổ biến đến các cấp trong nước, năm 2015 là năm lên kế hoạch hành động và năm 2016 là năm thực thi chính sách. Đến tháng 3/2016, Trung Quốc đã cùng 35 quốc gia và vùng lãnh thổ ký biên bản ghi nhớ hợp tác hoặc thoả thuận hợp tác về OBOR với hơn 20 quốc gia đưa ra bản tuyên bố chung có nhắc đến hợp tác chiến lược OBOR.
Để có sự chuẩn bị cho những đề xuất hợp tác OBOR từ phía Trung Quốc, cuốn sách tập trung nghiên cứu các vấn đề cốt lõi của chiến lược này nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về OBOR. Những nội dung chính bao gồm tổng quan về OBOR từ khi là một sáng kiến đến khi trở thành chiến lược; các cơ chế triển khai OBOR; tác động đối với các quốc gia, những thuận lợi và thách thức đi kèm khi triển khai các sự án trong khung khổ hợp tác này; cuối cùng, cuốn sách đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam nhằm hợp tác và tận dụng được các lợi ích từ OBOR cũng như lưu ý đến các rủi ro tiềm tàng đối với kinh tế và môi trường trong nước.
Mục lục cuốn sách:
Lời giới thiệu
Giới thiệu về tổ chức nghiên cứu
Lời cảm ơn
Tóm tắt nội dung
CHƯƠNG 1. Một vành đai, Một con đường: Từ sáng kiến đến chiến lược.
CHƯƠNG 2. Cơ chế triển khai chiến lược Một vành đai, Một con đường (OBOR).
CHƯƠNG 3. Thực tiễn triển khai chiến lược OBOR và phản ứng của các quốc gia.
CHƯƠNG 4. Tác động của chiến lược OBOR đối với các quốc gia bên ngoài.
CHƯƠNG 5. Hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
Nơi lưu trữ: Sách được bán trực tiếp bởi tác giả Phạm Sỹ Thành.
Sau khi Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng vũ lực, vào năm 1975, Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà đã công bố một bạch thư với tựa đề “White paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands”, tạm dịch là “Bạch thư về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Như lời giới thiệu trong cuốn bạch thư dày 105 trang, cuốn bạch thư ra đời nhằm “làm sáng tỏ giá trị của việc tuyên bố chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.” Cũng theo lời giới thiệu, cuốn bạch thư “cũng là lời kêu gọi cho công lý đến lương tâm của tất cả các quốc gia tôn trọng luật pháp và yêu chuộng hòa bình trên thếgiới.”
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông xin trân trọng giới thiệu một bản chụp giấy của bản gốc cuốn bạch thư do nhà nghiên cứu độc lập Trần Thị Vĩnh Tường ở Mỹ gửi cho dự án. Và được sự cho phép của chị Vĩnh Tường, xin được dùng ngay chính lá thư của chị thay cho lời giới thiệu về một tư liệu có nhiều giá trị cả về mặt nghiên cứu cũng như lịch sử. Chúng tôi xin cảm ơn chị Vĩnh Tường đã gửi gắm tài liệu cho dự án.
Lá thư của nhà nghiên cứu Trần Thị Vĩnh Tường gửi kèm với cuốn bạch thư cho một thành viên BBT dự án.Trang đầu tiên trong bản chụp bản gốc cuốn Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa do Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hoà công bố năm 1975.
Cuốn tư liệu này, có lẽ do thời gian lưu trữ đã rất lâu, đã bị thiếu mất 2 trang chữ là các trang 16 và 78, cùng 5 trang hình tư liệu là các trang 6, 61, 62, 90, 101.
Trong quá trình số hoá, chúng tôi đã bổ sung 2 trang chữ dựa trên bản đánh máy của trang Nghiên cứu Biển Đông và Viện Việt học. Phần chữ của cuốn Bạch thư hiện giờ đã đầy đủ sau khi rà soát từng trang và đối chiếu với hai bản đánh máy nói trên.
Hiện giờ ấn phẩm chỉ còn thiếu 5 trang hình tư liệu. Với mong muốn có thể cung cấp một cuốn tư liệu trọn vẹn, chúng tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ từ cộng đồng. Nếu quý vị cũng đang có bản gốc/bản chụp từ bản in giấy do Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hoà ấn hành, xin vui lòng gửi cho chúng tôi những trang hình còn đang bị thiếu. Chúng tôi xin cảm ơn.
Ngay cả khi lịch sử Trung Quốc thời hiện đại đã có thêm những thành tố cải cách, nhưng bao giờ nó cũng bị vặn vẹo thành chế độ độc tài. Vì vậy, trong khi cuộc cải cách trong thời đại dường như là độc đoán của Tập Cận Bình có thể là một bước thụt lùi, không nên bỏ qua biểu hiện của nó.
Bây giờ, khi Quốc hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thông qua với số phiếu 2.958/2 – về việc bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ Chủ tịch nước, Tập Cận Bình có thể cai trị Trung Quốc vô thời hạn, chứ không chấm dứt giai đoạn nắm quyền kéo dài hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kì 5 năm, vào năm 2023. Tập [Cận Bình] có thể trở thành người nắm tất cả quyền lực như nhiều nhà quan sát dự đoán hay không?
Các nhà theo dõi Trung Quốc đã và đang tranh luận về tính chất và mức độ quyền lực của Tập [Cận Bình] sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIX vào năm ngoái. Một trong những chỉ số là thánh hóa tư tưởng của ông ta: “Tư tưởng của Tập [Cận Bình] về chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc cho kỷ nguyên mới” được đưa vào hiến pháp Trung Quốc. Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo Trung Quốc duy nhất trước đây đã đưa được “Tư tưởng” của mình vào hiến pháp, một số người cho rằng Tập [Cận Bình] hiện là nhà lãnh đạo quyền lực nhất, kể từ thời Mao.
Tất nhiên, Đặng Tiểu Bình - người lãnh đạo thời kì “cải cách và mở cửa” của Trung Quốc trong hai thập niên, bắt đầu từ năm 1978 - cũng được thần thánh hóa, với “Lý thuyết Đặng Tiểu Bình". Và “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc" là chính sách do Đặng Tiểu Bình đề xướng. Nhưng việc Tập [Cận Bình] nói thẳng về “Kỷ nguyên Mới” khởi đầu từ Đặng Tiểu Bình, cho thấy rằng thời kỳ cải cách đã chấm dứt.
Khác hẳn với nước Cộng hòa Nhân dân cách đây 40 năm – đất nước nông nghiệp đang vươn lên từ Cách mạng Văn hoá - Trung Quốc hiện nay là siêu cường kinh tế và chính trị với một xã hội tiên tiến về công nghệ và đang đô thị hóa rất nhanh. Thời đại Mới của Tập [Cận Bình] là cột mốc quan trọng trong quá trình tìm kiếm lâu dài “của cải và quyền lực” của Trung Quốc. Thay cho “mở cửa”, Trung Quốc của Tập [Cận Bình] sẽ “bước ra” thế giới.
Nhưng giai đoạn mới này sẽ hiện ra thế nào trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc hiện đại, và nó sẽ cho ta biết những gì về bản chất quyền lực Tập [Cận Bình]?
Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã trải qua ba chế độ: Triều đại nhà Thanh, tiếp theo là thành lập nước Cộng hòa Trung Quốc năm 1912, và từ năm 1949, là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lịch sử của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được chia thành hai giai đoạn: thời Mao (1949-1976) và thời cải cách.
Người ta thấy lịch sử nước này thay đổi theo thời gian như thế nào. Dưới thời Mao, thời kỳ Cộng hòa - với chính sách “Mặt trận thống nhất” và sự phát triển của xã hội dân sự - chỉ là một khoảng nghỉ ngắn giữa những giai đoạn chuyên quyền. Tuy nhiên, trong giai đoạn cải cách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, người ta lại coi sự hỗn loạn thời Mao chỉ là sai lầm, thậm chi Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tìm cách tách mình ra khỏi cái mà họ gọi là “những sai lầm tả khuynh”. Với sự thành công của “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”, phép lạ kinh tế của Trung Quốc dường như khẳng định rằng đất nước này đã vững bước trên con đường hướng tới phát triển và hiện đại hóa.
Nhận thức đang thay đổi về đường đi của Trung Quốc được thể hiện trong quan hệ của Mỹ với nước này. Trong Thế chiến II, Trung Quốc là đồng minh của Mỹ. Thật vậy, năm 1943, phu nhân của lãnh đạo Quốc dân Đảng Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch, đã làm chứng trước Quốc hội Hoa Kỳ về biện pháp áp dụng “bốn quyền tự do” của Tổng thống Hoa Kỳ, Franklin D. Roosevelt, đối với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh chống Nhật.
Nhưng niềm tin cho rằng quan hệ Mỹ-Trung dựa trên các giá trị mà hai bên cùng chia sẻ đã bị chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đập tan vào năm 1949, dẫn đến ý kiến nói rằng Hoa Kỳ đã “đánh mất Trung Quốc”. Với việc tái thiết lập quan hệ ngoại giao và sau đó là thời kì cải cách, hy vọng đã được phục hồi, ở mức độ nào đó. Tin rằng phát triển kinh tế và tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng sẽ dẫn đến tự do hóa về chính trị, Mỹ lại “chơi” với Trung Quốc.
Hy vọng được củng cố thêm trong suốt những năm 1990 và 2000, khi các quan chức bắt đầu thử nghiệm với những cuộc bầu cử ở cấp làng xã, và ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đã thay đổi thường xuyên, sau hai nhiệm kỳ. Trung Quốc đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và đã tổ chức Thế vận hội 2008 tại Bắc Kinh. Như nhà báo Jim Mann từng khẳng định, kỳ vọng về cải cách chính trị là chỗ dựa cho quan hệ giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc, thậm chí ngay cả sau cuộc tàn sát ở Quảng trường Thiên An Môn, năm 1989.
Tuy nhiên, trong thập niên vừa qua, người ta đã đặt dấu hỏi về kỳ vọng này. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc đã gia tăng, tầng lớp trung lưu cũng ngày càng đông thêm, nhưng dân chủ đã không tới. Các nhà nghiên cứu chính trị đã thôi dự đoán sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và bắt đầu hỏi lý do vì sao nhà nước độc-tài- độc-đảng lại dẻo dai đến như thế và liệu thời kỳ cải cách và mở cửa có sắp chấm dứt hay không. Như “Thời đại mới” của Tập [Cận Bình] cho thấy, câu trả lời là “Có”.
Xin xem xét quá trình vươn lên của công nghệ số. Không những không để cho Internet mang lại nhiều tự do hơn, mà chính phủ Trung Quốc còn lập ra Vạn Lý Hỏa Thành. Đồng thời, nước này còn phát triển cái mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là “chủ nghĩa Lenin kỹ thuật số”, trong đó, những công nghệ mới nhất còn tạo điều kiện cho nhà nước giám sát dân chúng với mức độ sát sao và rộng lớn chưa từng có.
Tương tự như thế, nền kinh tế thị trường của Trung Quốc đã phát triển, nhưng tư nhân hóa thì không gia tăng. Không những thế, chính phủ còn giữ quyền kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất, còn các doanh nghiệp tư nhân thì được hướng dẫn nhằm phục vụ các ưu tiên của nhà nước. Trong lĩnh vực chính trị, thử nghiệm dân chủ chỉ được tiến hành ở cấp địa phương, và được phép khi nó giúp tăng cường được quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ví dụ, nhiều người nghĩ về thời kỳ cải cách, đặc biệt là những năm 1980, như là giai đoạn của diễn ngôn chính trị đa nguyên và xã hội dân sự ngày càng sôi động. Nhưng giai đoạn này cũng cũng có đặc điểm là bám sát vào “bốn nguyên tắc trọng yếu” của Đặng Tiểu Bình: Con đường xã hội chủ nghĩa; chế độ chuyên chính dân chủ của nhân dân; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ nghĩa Marx, Chủ nghĩa Lenin và Tư tưởng Mao Trạch Đông.
Đặng [Tiểu Bình] lãnh đạo cuộc cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc, ông ta cũng là người lãnh đạo vụ tàn sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Tương tự như vậy, trong khi thời kỳ Cộng hòa, nước này đã xây dựng những trường đại học mới và có những nghề nghiệp mới (trong đó có cả nghề luật sư), nhưng nước này cũng có “Khủng bố Trắng” do Tưởng Giới Thạch tiến hành và phong trào “Đời sống mới” theo xu hướng bảo thủ.
Ngay cả khi lịch sử Trung Quốc thời hiện đại đã có thêm những thành tố cải cách, nhưng bao giờ nó cũng bị vặn vẹo thành chế độ độc tài. Trong “Thời đại Mới” của Tập [Cận Bình] xu hướng độc đoán đang giữ thế thượng phong. Lịch sử sẽ cho biết liệu xu hướng mở cửa có tồn tại được hay không.
Denise Y. Ho là giáo sư sử học tại Đại học Yale và là tác giả của cuốn: Curating Revolution: Politics on Display in Mao's China.
Nếu bạn là người có tố chất quyền anh và được đích thân vô địch quyền anh thế giới Mike Tyson huấn luyện từ nhỏ liệu bạn có thể trở thành vô địch thế giới giống như Mike không?
Câu trả lời của tôi là không.
Trên thực tế, những HLV đào tạo ra những nhà vô địch quyền anh thế giới lại chả có danh tiếng mẹ gì trong vòng dây võ đài.
Những võ sĩ huyền thoại như Mohamad Ali, Mike Tyson, không bao giờ huấn luyện bất cứ ai bởi họ hiểu rằng là võ sĩ cực giỏi đồng nghĩa với việc là một huấn huyện viên tồi. Điều này không chỉ đúng trong quyền anh mà còn đúng trong rất nhiều môn thể thao khác.
Tyson được huấn luyện từ nhỏ bởi Cus D’amato, một tay Mỹ gốc Ý. Tay này thời trẻ có theo đuổi quyền anh nghiệp dư một thời gian ngắn,Thành tích thi đấu lìu tìu vài giải địa phương. Về sau hắn giải nghệ do bị chấn thương ở mắt trong một cuộc ẩu đả ngoài phố. Chả nghề ngỗng mẹ gì ngoài nghề đeo găng thọi thùm thụp, Cus D’amato góp vốn với ông bạn mở một phòng tập đấm bốc tại newyork.
và từ đây Cus D’amato đào tạo lên một loạt các nhà vô địch thế giới như Floyd Patterson, José Torres, và Mike Tyson. Chính những đệ tử xuất sắc này đã đưa tên tuổi D’amato trở thành một huấn luyện viên huyền thoại.
Tất cả những huấn luyện viên danh tiếng nhất trên thế giới như:
Cus D’amato
Enzo Calzaghe
Evangelista Cotto
Emanuel Steward
Naazim Richardson
Đều là những tay đấm nghiệp dư và thành tích bản thân là đánh đâu thua đó. Tại sao ho lại có thể đào tạo được những nhà vô địch thế giới? Hãi xem tiếp phần 2
Phần 2
Bạn là võ sĩ vô địch và bạn nghĩ rằng bạn có thể trở thành sư phụ tạo nên những nhà vô địch giống bạn? Nếu bạn nghĩ như vậy là bạn đang sai lầm vì bạn chả có khái niệm đéo gì về nghề Huấn luyện. Trên thực tế, vận động viên và huấn luyện viên là hai công việc hoàn toàn khác nhau và đòi hỏi những tố chát khác nhau.
HLV là nghề đòi hỏi những hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực liên quan như giải phẫu, sinh cơ, sinh lý, tâm lý học thể thao,vv..
HLV giỏi rất hiếm, HLV huyền thoại thì càng hiếm hơn và những người này luôn là những người có tố chất đặc biệt và tầm hiểu biết sâu rộng (They had a high level of self-knowledge)
Trên thực tế, để trơ thành một người giảng dạy xuất sắc không hề đơn giản. Những kỹ năng đưa bạn trở thành nhà vô địch hầu như không giúp gì cho bạn trong việc trở thành huấn luyện viên. Thậm chí chúng còn cản trở công việc đó. Hãy phân tích vài điểm nhỏ:
Trong huấn luyện có một nguyên tắc quan trọng đó là nguyên tắc phân biệt đối xử. Với mỗi cá nhân khác nhau sẽ có một phương pháp huấn luyện khác nhau. Một HLV giỏi là người có khả năng sáng tạo, phát triển các phương pháp tùy chỉnh riêng trong huấn luyện để phù hợp với đối tượng mà họ huấn luyện.( Creative, innovative learner and developer of custom coaching methodologies). Tuy nhiên, nhà vô địch lại luôn có xu hướng tạo ra bản sao của chính họ. Để làm rõ điều này, hãy xem xét trường hợp của Mike Tyson:
Khi ngài Cus D’Amato phát hiện và huấn luyện Mike Tyson, ngài đã nghĩ ra một lối đánh mới phù hợp với Mike và xây dựng nó thành một trường phái với cái tên peek a boo. Sau Mike, có lẽ trường phái này sẽ không còn tồn tại nữa. Mặc dù rất nhiều võ sĩ cố gắng bắt chước phong cách này nhưng không ai trong số họ thành công như Mike Tyson bởi vì Mike là độc nhất vô nhị. Chúng ta cũng vậy, mỗi người chúng ta cũng là sản phẩm độc nhất trên thế giới.
Nhà vô địch luôn là người rất nhanh nhạy trong việc bắt chước những kỹ thuật. Họ có khả năng trời phú trong việc đó. Điều này làm họ luôn ngạc nhiên khi học trò của họ vất vả với những động tác mà họ cho là đơn giản. Và họ luôn mất kiên nhẫn. Nhưng HLV tài ba thì ngược lại. Họ luôn kiên nhẫn và xem công việc truyền thụ đó như là một nghệ thuật.(View coaching as a calling, an art and a discipline).
Những nhà vô địch luôn nhìn thấy điểm yếu lộ ra của học trò nhưng những HLV vĩ đại luôn nhìn thấy điểm mạnh còn tiềm ẩn của đối tượng mà họ huấn luyện.
Những nhà vô địch luôn tin tưởng vào những kỹ thuật đã đưa họ đến vinh quang và cố gắng truyền dạy những kỹ thuật đó, nhưng những HLV vĩ đại luôn rộng mở với ý tưởng mới và triết lý mới (open to new ideas and philosophies and Quick study with capacity for deep and wide learning)
Và do vậy
Đừng khoe sư phụ tao là cựu vô địch, hãy khoe sư phụ tao đã từng đưa nhiều người đến chức vô địch.
Mới đây, trả lời chuyên mục Quốc phòng của Đài phát thanh tiếng nói Trung Quốc (CNR) ngày 16/3. Thiếu tướng Kim Nhất Nam, một giáo sư chuyên nghiên cứu chiến lược quốc tế của quân đội Trung Quốc đã đưa ra lời kêu gọi Chính phủ Trung Quốc dùng tiền để “mua lại” quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) của Việt Nam.
(Ảnh: Bảo tàng Hải quân, Hải Phòng)
Giải thích về lời kêu gọi này, Thiếu tướng Kim cho rằng việc Hải quân Trung Quốc hiện nay đang nắm giữ hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa về phương diện quân sự và địa lý. Nhưng khó khăn lớn nhất của Trung Quốc chính là việc các tranh cãi về chủ quyền khiến việc nắm giữ quần đảo giàu tài nguyên này trên Biển Đông gặp nhiều trở ngại. Đặc biệt là liên tục vấp phải các ý kiến phản đối từ cộng đồng quốc tế. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Trung Quốc trong việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trên quần đảo rộng lớn này.
Theo đó, Thiếu tướng Kim Nhất Nam đề nghị Quân đội Trung Quốc nên tham vấn cho Chính phủ nước này việc bỏ ra một số tiền lớn, thông qua các khoản viện trợ và tài trợ cho Việt Nam, để đổi lại quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo này trong tương lai. Cũng theo ông Kim, số tiền 200 tỷ USD là hoàn toàn phù hợp đối với tiền năng kinh tế của Trung Quốc hiện tại cũng như giá trị cốt lõi của quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, Hải quân Trung Quốc cũng sẽ giảm được sự hiện diện lớn trên quần đảo này mà thay vào đó có thể tiến vào các vùng nước xa hơn ở Thái Bình Dương trong vài năm nữa.
Ông Kim Nhất Nam, Ảnh: Thời báo Hoàn Cầu.
Đây không phải là lần đầu tiên các học giả Trung Quốc đưa ra đề nghị việc Trung Quốc dùng tiền để mua sự im lặng của Việt Nam. Thế nhưng, việc Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là điều không thể chối cãi.
Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào?
Cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Tây Sa thực chất là những cuộc xâm lăng lãnh thổ bằng vũ lực.
Điều này hoàn toàn không được công nhận và vi phạm nghiêm trọng điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Có thể thấy rằng, Trung Quốc chỉ bắt đầu “nhòm ngó” quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, tổ chức tấn công xâm lược vào những năm 1946, 1956, 1974 và chiếm giữ trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đến ngày nay.
Toàn cảnh cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa. Ảnh: tư liệu (nguồn VNN)
Những luận điệu mà phía Trung Quốc đưa ra đều hoàn toàn phí lý và xuyên tạc.
Luận điệu thứ nhất của Trung Quốc cho rằng: “Trong chiến tranh thế giới thứ 2, phát xít Nhật chiếm đóng quần đảo Tây Sa. Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, theo hàng loạt các văn kiện quốc tế, tháng 11/1946, Chính phủ Trung Quốc cử quan chức cấp cao đi tàu đến Tây Sa tiếp nhận”.
Phân tích điều này sẽ thấy rõ:
Thứ nhất, Phát xít Nhật không xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa mà là từ tay người Pháp đang bảo hộ cho Việt Nam. Trung Quốc không có chủ quyền ở Hoàng Sa nên luận điệu “tiếp quản” là hoàn toàn vô lý.
Thứ 2, tại hội nghị Potsdam ngày 26/7/1945 các nhà lãnh đạo Tam cường khi đó là Hoa Kỳ, Anh, Trung Hoa dân quốc đã quyết định chia Đông Dương làm hai khu vực để tiện cho việc giải giới quân đội Nhật Bản đóng tại đây.
Vĩ tuyến thứ 16 được chọn làm ranh giới: việc giải giới ở khu vực Bắc vĩ tuyến ủy thác cho quân đội Trung Hoa (quân Tưởng Giới Thạch) và ở khu vực phía Nam do liên quân Anh – Ấn đảm nhận. Vì quần đảo Hoàng Sa nằm ở giữa hai vĩ tuyến thứ 15 và 17 nên việc giải giới quân đội Nhật trú đóng ở đây thuộc thẩm quyền của quân Tưởng.
Tuyên ngôn Potsdam chỉ cho phép Trung Hoa dân quốc giải giới quân đội Nhật Bản ở quần đảo Hoàng Sa, chứ không cho phép Trung Hoa dân quốc thu hồi quần đảo này. Theo đó, Trung Hoa dân quốc, sau khi giải giáp quân đội Nhật và ổn định tình hình cần phải trao trả Hoàng Sa cho quốc gia có chủ quyền là Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Mở thành phố HCM- người có nhiều công trình nghiên cứu khoa học giai đoạn lịch sử đặc biệt này cho biết: “Vốn đã nhòm ngó Hoàng Sa của Việt Nam từ lâu nên Trung Hoa dân quốc sau khi giải giáp quân đội Nhật Bản, họ đã không trao Hoàng Sa cho Việt Nam mà thừa cơ chiếm đoạt. Việc làm đó đã vi phạm Tuyên ngôn Potsdam và luật pháp quốc tế.”
“Việc chiếm đóng và thu hồi hai quần đảo này của Trung Hoa dân quốc là bất hợp pháp và vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế vì làm trái với quyết định của Tuyên ngôn Potsdam. Trung Hoa dân quốc cần giải giáp quân đội Nhật sau đó trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam mới đúng nội dung của Tuyên ngôn Potsdam.”- TS Phúc khẳng định.
Tất nhiên với Hiệp định Sơ bộ Hồ Chủ tịch ký với Cộng hòa Pháp ngày 6/3/1946, Việt Nam vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
Với những phản ứng mạnh mẽ của Pháp trước sự chiếm đóng trái phép của quân đội Tưởng Giới Thạch ở Hoàng Sa và sự suy yếu trước các cuộc tấn công như vũ bão của quân đội Mao Trạch Đông ở trong nước, quân Trung Hoa dân quốc buộc phải rút khỏi đảo Phú Lâm, kết thúc khoảng thời gian ngắn chiếm đóng trái phép ở quần đảo này. Đến ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ Hoàng Sa.
Tàu chiến của Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa Việt Nam tháng 1/1974. Ảnh: tư liệu
Luận điệu thứ 2 Trung Quốc đưa ra: “Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã đánh đuổi quân đội Sài Gòn Việt Nam khi đó đang chiếm đóng một số đảo trong quần đảo Tây Sa”.
Sự thực vấn đề này như thế nào?
Lợi dụng thời khắc lịch sử rối ren của Việt Nam khi quân viễn chinh Pháp buộc phải rút khỏi lãnh thổ của Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ, quân đội Việt Nam Cộng Hòa chưa kịp tiếp quản Hoàng Sa, Trung Quốc đã “lén lút” đưa quân chiếm đóng nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956.
Ngày 21/2/1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm đảo còn lại của quần đảo Hoàng Sa nhưng đã bị lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa phát hiện. 82 binh lính Trung Quốc đóng giả ngư dân cùng với 5 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc đã bị bắt giữ và áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả lại cho Trung Quốc.
Năm 1970, thời điểm cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam vào giai đoạn cao điểm, Hải quân của quân giải phóng nhân dân Trung Hoa đã tiến hành một số hoạt động ít kín đáo trên nhóm đảo An Vĩnh, bộ phận phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Các cơ sở hạ tầng quân sự đã được xây dựng vào năm 1971. Từ ngày 17 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc mở cuộc tấn công vào lực lượng hải quân của Việt Nam Cộng Hòa với lực lượng hùng hậu: một hạm đội gồm 8 tàu chiến, lục quân và không quân. Dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sĩ đã hy sinh nhưng đến ngày 20 tháng 1 năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã thất thủ, Trung Quốc đã chiếm nốt nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Hành động đánh chiếm các đảo, quần đảo ở Biển Đông bằng vũ lực là một sự vi phạm nghiêm trọng Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc. Trong đó nêu rõ: “lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.
Nguyên tắc này được phát triển và cụ thể hóa trong Nghị quyết 2526 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong đó tuyên bố: “Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng sử dụng vũ lực đều không được thừa nhận là hợp pháp”.
Bà Monique Chemillier Gendreau, Giáo sư Công pháp và Khoa học Chính trị của Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu nhấn mạnh rằng, việc chiếm đóng bằng các cuộc xăm lăng vũ lực là vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, tất cả những hoạt động của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa không được thừa nhận là hợp pháp.
“Trung Quốc không hề có giấy tờ chứng thực lịch sử với quần đảo Hoàng Sa, chính quyền nước này cũng không có quyền gì mà chỉ chiếm bằng vũ lực. Điều này không thể được xem là một quyền theo luật pháp quốc tế.” – Bà Monique Chemillier Gendreau khẳng định.
Như vậy, đã quá rõ ràng về cái mà Trung Quốc gọi là sự tiếp quản chủ quyền của Trung Quốc ở Tây Sa (tức Hoàng Sa), càng rõ ràng hơn cái mà Trung Quốc nói là đánh đuổi quân đội của VNCH trên quần đảo này vào tháng 1 năm 1974. Đó thực chất chỉ là những hoạt động “trộm cướp” trong những hoàn cảnh đặc thù mà luật pháp quốc tế đã và đang nghiêm cấm những hành vi như vậy.
Luận điệu nữa, Trung Quốc đưa ra những dẫn chứng là lời nói vào năm 1956 của ông Ung Văn Khiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH, nội dung công thư 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo Tây Sa. Trung Quốc cho rằng: “Chính phủ VN hiện nay đã quên ngay những thừa nhận trước kia, vi phạm nghiêm trọng quy định quốc tế và chuẩn tắc trong quan hệ quốc tế là không được phản ngôn”.
Như đã phân tích trong nhiều bài viết trước về vấn đề này, theo Hiệp định Giơnevơ năm 1974, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Nam Việt Nam nên chỉ có chính quyền Nam Việt Nam mới được phát biểu về Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi đó không phải là chính chủ về mặt lãnh thổ nên không có quyền, những lời phát biểu hoặc sự thừa nhận của chính phủ Việt Nam DCCH về chủ quyền của Trung Quốc ở Tây Sa đều không mang ý nghĩa pháp lý.
Thêm nữa, người Việt Nam không hề “phản ngôn” mà trái lại, việc thực thi và tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa luôn được các cơ quan đại diện hợp pháp duy trì một cách liên tục, không gián đoạn. Trong đó, có thể kể đến thông cáo ngày 24/5/1956, Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh: “Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa luôn là một phần lãnh thổ thuộc Việt Nam”. Trước đó, trước việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh cướp nhóm đảo phía Tây, quan sát viên của Việt Nam DCCH tại Liên hợp quốc khi đó đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp Quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.
Tóm lại, tất cả những tài liệu mà Trung Quốc đưa ra nhằm chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa (tức Hoàng Sa của VN) đều là ngụy biện và giải thích một cách gượng ép. Người Trung Quốc chỉ thực sự nhòm ngó quần đảo Hoàng Sa của VN từ đầu thế kỷ XX và tổ chức đánh cướp quần đảo này từ người Việt Nam bằng hành động lén lút năm 1956 và tấn công quân sự năm 1974.
Hành động đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực của Trung Quốc không những vi phạm nghiêm trọng nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế mà còn là những hành vi trái ngược với vị thế của Trung quốc trên trường quốc tế.Nhưng chính quyền Trung Quốc không chịu tỉnh ngộ mà tiếp tục ngang ngược khi cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam cùng với sự hộ tống của đội tàu vũ trang đông đảo.
Nhưng dường như, tiến thêm 1 bước, Trung Quốc đang “giương đông, kích tây” khi hạ đặt giàn khoan trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã cấp tập tiến hành xây dựng nhưng căn cứ tại bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa – nơi mà Trung Quốc cũng dùng vũ lực để tấn công chiếm đoạt vào ngày 14/3/1988 từ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hòng thâu tóm Trường Sa và Biển Đông.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, trong một thế giới văn minh, những hành động trái ngược với pháp lý và đạo lý mà Trung Quốc đã thực hiện trong thời gian qua sẽ không thể có chỗ đứng trong lòng dư luận và cộng đồng quốc tế.
người ta đã phát hiện một trại heo đã tiêm thuốc an thần cho mấy ngàn con heo mà chẳng phát hiện những người đã bị tiêm thuốc an thần từ lâu
sinh kế
chúng ta kiếm ăn như con gà chúng ta chết như con gà hôm qua có thằng buôn thuốc giả ra tòa khóc như mưa bấc kể lể đủ thứ con gà trước khi chết không khóc
25.10.2017
tưởng thiệt
giả cầy giả nghĩa giả nhân giả danh giả thánh giả thần giả sư giả người giả thuốc ung thư giả tranh giả tượng giả từ trong nôi
28.08.2017
đốt vàng mã
thánh gióng thế kỷ hai mươi phi bằng ngựa giấy lên chơi thiên đàng lật qua cả mấy chục trang những con ngựa đó thành hàng mã thôi