Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2018

Cần lắm một người bạn tri kỷ trong cuộc đời


Tác giả: Ths Vũ Thị Minh Huyền
1173-love-friendship-800x600
     Cuộc sống thì muôn hình vạn trạng, vậy nên cảm xúc của con người cũng biến đổi muôn vàn. Ngoài tình yêu, tình bạn và tình thân chúng ta vẫn còn một thứ tình cảm là kết tinh của cả ba tạo thành đó gọi là: tri kỷ. Trong cuộc sống, tìm được người mình yêu thương, tâm đầu ý hợp đã khó, tìm được một người bạn tri kỷ còn khó hơn gấp nghìn lần. Mất người yêu, mất chồng hay mất vợ, ta buồn… buồn lắm, nhưng rồi sau này ta vẫn còn có thể có cơ hội gặp gỡ và tìm được một người yêu mới, chồng mới hay vợ mới… còn bạn tri kỷ một khi mất đi, ta sẽ đau hơn gấp nghìn lần và sẽ buồn… buồn cả một đời.
Bạn tri kỷ, đó là một thứ tình tâm giao vừa ấm áp như tình yêu, lại vừa nâng giữ như tình thân. Ranh giới khiến người ta đôi khi có thể ngộ nhận tri kỷ và người yêu thành ra mong manh tới mức không phải người nào trong cuộc cũng có thể tỉnh táo mà tránh né. Quá một chút thôi có thể là sẽ mất.
Bạn tri kỷ luôn là người hiểu ta nhất. Chỉ có người ấy mới biết được ta nghĩ gì , buồn gì, vui gì, thích gì, ghét gì… dù ta không cần nói gì hết.
Bạn tri kỷ là người ta mong tìm đến nhất mỗi khi gặp chuyện khó khăn, đau khổ, bất hạnh… Và sau khi được tâm sự, được dựa vào vai bạn để khóc, những muộn phiền ưu tư sẽ nguôi ngoai… ta bỗng thấy nhẹ lòng hơn.
          Bạn tri kỷ là người ta có thể nói thật nhất mọi ý nghĩ của mình ngay cả những chuyện thầm kín không bao giờ có thể chia sẻ cùng ai… kể cả vợ hoặc chồng.
          Bạn tri kỷ là người dám phê bình những khuyết điểm của ta, những sai lầm của ta mà chẳng sợ ta khó chịu hay giận dỗi…Và bao giờ sau đó cũng cho ta những lời khuyên rất chân thành, có lợi nhất cho ta.
Bạn tri kỷ là người luôn kiên nhẫn lắng nghe ta kể lể đủ điều, nhất là về những điều phiền muộn, khó chịu, những ước mơ hoài bão tưởng chừng như viển vông, hão huyền của ta mà chẳng bao giờ chế giễu, nhạo báng ta hay thấy sốt ruột vì mất thời gian của họ.
Bạn tri kỷ là người âm thầm lặng lẽ mang đến cho ta những hạnh phúc giản dị nhưng chẳng bao giờ kể công.
          Tất cả những người yêu ta đều có thể rời bỏ ta ra đi, chỉ có bạn tri kỷ vẫn luôn ở bên ta, họ cho ta mượn một bờ vai ấm áp để tựa, lẳng lặng nghe ta tâm sự cho vơi nỗi buồn, động viên, dỗ dành ta… Dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bạn tri kỷ cũng luôn ở bên ta, giúp ta vượt qua mọi khó khăn, sóng gió trong cuộc sống.
          Nhiều người cứ lầm tưởng rằng đã là bạn tri kỷ thì phải cùng đồng hành trên tất cả những chặng đường đời, phải thường xuyên hẹn hò với nhau như hình với bóng, hay phải buôn chuyện điện thoại với nhau mấy tiếng đồng hồ…Thực ra không phải như vậy. Có khi cả năm chẳng có cơ hội gặp nhau lần nào, cả năm chẳng đi chơi riêng với nhau bao giờ, thi thoảng có gọi điện thoại cũng chỉ nói ngắn gọn vài câu. Ấy nhưng mà mỗi lúc ở cạnh nhau, không cần ai phải nói nhiều, cả hai đều đọc được suy nghĩ của người kia và hiểu hết mọi tính cách của nhau. Đôi khi chỉ là bạn thấy có bài hát, bản nhạc không lời nào hay và gửi cho ta để cùng thưởng thức. Khi nghe những bài hát ấy, bản nhạc ấy, ta cũng dường như cảm nhận được tình cảm của bạn mình gửi gắm ở trong đó.Đôi khi, bạn đi chơi xa, chỉ mua về tặng ta một chiếc vòng đeo tay rất bình thường, không có giá trị về kinh tế nhưng ta lại luôn trân trọng, yêu quý món quà đó hơn cả những chiếc vòng vàng đắt tiền, luôn đeo chiếc vòng đó bên tay cho đến khi chẳng may nó bị vỡ mới thôi. Đôi khi, chỉ cần nghe bạn nói cần tìm mua một giỏ hoa Phong Lan rừng tặng bạn thân, ta sẵn sàng lấy ngay giỏ hoa Phong Lan rừng mà mình yêu thích nhất để mang cho bạn đi tặng người khác. Không phải là chỉ là giúp đỡ chính bạn tri kỷ của mình mà ta còn sẵn sàng giúp đỡ hay làm vui lòng cả những người bạn thân của họ, làm không vì mục đích gì hết, đơn giản là lòng ta cảm thấy vui. Đôi khi, ta được bạn tri kỷ tặng cho một giỏ hoa Phong Lan rừng-Loài hoa mà ta yêu thích nhất. Bạn thì cất công tìm bằng được đúng loài hoa ta yêu thích dù có khó tìm đến mấy, còn ta sẽ cố gắng chăm sóc giỏ hoa đó hằng ngày để đền đáp tấm lòng của bạn. Dường như tình cảm tốt đẹp giữa hai người bạn đều đã được gửi gắm qua  giỏ hoa ấy. Đôi khi, bạn đi công tác xa về, mua cho ta một ít hải sản, một hộp bánh Bía, một chai mật ong, một ít khoai lang hay một túi long nhãn… Những món quà đơn giản nhưng chứa chan tình cảm và cả tấm lòng của bạn dành cho ta. Đôi khi, mấy tháng không gặp nhau, không điện thoại, không thư từ liên lạc nhưng chỉ cần nhận được một tấm ảnh chụp chung giữa hai người nhân một dịp nào đó do bạn gửi cho ta, ta cũng cảm thấy ấm áp vô cùng và cảm nhận rằng bạn cũng đang nhớ đến ta chứ không hề lãng quên ta. Đôi khi, ta có bài viết được đăng báo, chỉ đơn giản là gửi tặng bạn một tờ báo có đăng bài viết của ta, ta cũng muốn bạn đọc bài của ta, bạn cũng thích được đọc báo có bài của ta, trân trọng từng tờ báo của ta tặng. Một tờ báo không có gì quý giá nhưng đều thể hiện tình cảm quý mến giữa hai người. Đôi khi, ta có dịp lên vùng biên giới- nơi bạn sống và làm việc để đi công tác. Khi về, ta bị cơn đau dạ dầy hành hạ, bạn không yên tâm để ta đi xe khách một mình nên đã tự lái xe đi cả đoạn đường dài mấy trăm cây số trong đêm đông giá rét, đầy sương mù để đưa ta về Hà Nội. Trời mưa, không nhìn thấy kính, đi đêm buồn ngủ đến mức hai mắt cứ trùng xuống nhưng bạn vẫn phải cố gắng thức để lái xe. Trời gần sáng đưa ta về đến Hà Nội xong thì bạn lại vội vàng lái xe quay về cửa khẩu ngay. Dù sau này, có thể mãi mãi không còn có cơ hội gặp lại nhau nữa, không còn có kỷ niệm nào như thế nữa, một người ở tận biên giới xa xôi, một người ở mãi Hà Nội, nhưng hai người bạn vẫn luôn nhớ về nhau, tình cảm trong nhau vẫn luôn còn nguyên vẹn. Cả hai đều đã có gia đình, dù không thể cùng đồng hành trên mỗi chặng đường đời nhưng họ vẫn luôn nhớ về nhau. Có những ngày mưa, có một người ở tận biên giới, sương lạnh trắng xóa, không ai nhắn tin, gọi điện cho ai nhưng cả hai đều biết rằng người kia cũng đang ngồi ngắm mưa rơi và nhớ tới một người bạn ở phương xa giống như mình. Có lẽ, giữa những người có tình cảm thực sự với nhau thì dù ít có cơ hội gặp nhau, dù ít có thời gian gắn bó bên nhau, dù khoảng cách địa lý có xa xôi đến mấy nhưng trong lòng họ luôn dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho nhau, luôn nhớ đến nhau với những điều thiêng liêng nhất, luôn đặt nhau ở vị trí trang trọng nhất trong trái tim mình.
          Theo lý thuyết, người hạnh phúc thì không cần có tình nhân nhưng con người muốn hưởng hạnh phúc trọn vẹn thì vẫn cần có thêm một người bạn tri kỷ.
          Vợ hoặc chồng có chung với ta nhiều thứ: chung nhà, chung giường, chung con, chung cả đường đi lối về…Nhưng có khi ta vẫn cảm thấy mình cô đơn với trái tim lạnh ngắt trong chính ngôi nhà của mình. Còn bạn tri kỷ chẳng có gì chung với ta, ngoài kỷ niệm chung, sở thích chung. Nhưng ta luôn cảm thấy ấm áp khi nghĩ về họ.
          Ta thường tự tay nấu món ăn ngon chồng thích ăn, mất bao nhiêu công sức và tâm huyết để nấu xong bữa cơm nhưng khi ăn, chồng chẳng bao giờ nói được một câu khen nào dễ nghe, hoặc là không khen hoặc là chê hết cái này đến cái kia.Trong khi, ta chẳng bao giờ nấu ăn cho bạn tri kỷ. Giỏi lắm mới hẹn đi ăn ngoài cùng nhau được một bữa. Nhưng bạn luôn chủ động gọi đủ các món ta thích ăn nhất và hỏi xem ta ăn món này có ngon không, có thích gọi thêm món khác nữa hay không?
          Vợ hoặc chồng có thể bỏ ra nhiều tiền để mua những món quà có giá trị tặng ta nhưng ngày lễ tình yêu, ngày quốc tế phụ nữ, ngày sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới…có khi lại không nhớ. Còn bạn tri kỷ chẳng bao giờ mua tặng ta những món quà đắt tiền. Nhưng đi đâu cũng nhớ mua một món quà nhỏ tặng ta làm kỷ niệm, nhân dịp lễ nào cũng gửi tin nhắn hay gọi điện chúc mừng ta đầu tiên trong ngày.
          Rõ ràng là bạn tri kỷ luôn hiểu ta nhất, luôn ở bên cạnh ta, luôn giúp ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, luôn có ý nghĩa quan trọng trong trái tim ta nhưng tại sao ta lại không chọn họ làm người yêu hay cùng họ nên duyên vợ chồng?Có lẽ vì vợ chồng là nợ nhưng bạn tri kỷ là duyên. Vợ chồng là định mệnh mà định mệnh thường mù quáng bởi định mệnh chọn người theo thời điểm. Bạn tri kỷ là bí mật trong tim, dịu dàng và đẹp đẽ như ánh sáng có khả năng chữa lành mọi vết thương.
Bạn tri kỷ là người mà chúng ta có thể làm đủ trò với họ như một người bạn, có thể lãng mạn như một người yêu và lại là nơi tìm về sau những vấp ngã như một người thân. Cái tình cảm ấy vô cùng thiêng liêng khi vượt trên tình bạn và cũng không cần tính đến cái giới hạn của tình yêu. Bởi giữa tri kỷ với nhau, một cái ôm chân thành, hai bàn tay siết chặt và cùng làm những điều nhỏ nhặt cũng đã đủ thấy vui. Chẳng cần nói, cũng chẳng cần cười, chỉ cần nhìn vào mắt nhau và cảm nhận cũng đủ để hiểu được suy nghĩ của đối phương. Bạn tri kỷ là một người mà không phải ai cũng có thể tìm được, họ ẩn rất sâu như chính bí mật của riêng mỗi người. Vậy nên khi có một ai đó cầm được chìa khóa, mở được chiếc hộp bí ẩn kia để chạm sâu vào từng ngóc ngách của tâm hồn, thì hẳn đó là bạn tri kỷ. Bởi đôi khi giữa những người yêu nhau vẫn còn có sự riêng tư cần phải giữ, nhưng với bạn tri kỷ thì nắm rõ từng suy nghĩ dành cho nhau.
Nếu như bạn đang có một người tri kỷ như thế, hẳn là bạn rất may mắn trong cuộc đời này. Bởi vì tri kỷ là thứ tình cảm vô định hình… Cái mà ta gọi là trên tình bạn nhưng lại thi vị hơn cả tình yêu.
Ai từng nghe qua tích Bá Nha Tử Kì, hẳn sẽ biết câu: “Cao sơn lưu thủy, tri kỷ khó tìm”. Đối với một kiếp nhân sinh, trong đời chỉ cần có được một người tri kỷ cũng là hạnh phúc lắm rồi. Chúc tất cả mọi người sẽ tìm thấy cho riêng mình một người bạn tri kỷ và sống một cuộc sống hạnh phúc viên mãn trọn vẹn.
————


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thắp lên sự tử tế, nhưng ai sẽ là người 'giữ lửa'?



Thủy Nguyệt

















VNN - Khi một ngọn lửa của sự tử tế được thắp lên, nó sẽ trở thành "trái tim Đan-kô" dẫn lối trong đêm thẳm hay lụi tắt dần, trách nhiệm thuộc về chúng ta - những người còn lại.

Những ngày tháng Giêng, tháng khởi đầu của một năm mới, giữa ồn ào bao tin tức, nào Hà Nội tắc đường mùng 1, nào biển người ùn ùn đông nghẹt kéo đến khắp các đền chùa lớn, nào chen chúc mua vàng ngày Thần Tài, nào xô lấn giành giật lộc chùa..., lòng người chợt lặng xuống, vừa thảng thốt, trĩu nặng, vừa cảm phục, yêu thương trước một câu chuyện.

Một cô bé vì bạo bệnh đã phải vĩnh viễn rời xa cuộc đời mà em chỉ mới viết những trang đầu dang dở. Nhưng mẹ em và em đã chọn cho em một cách ra đi không thể đẹp đẽ hơn: tặng lại một phần thân thể của em cho những người cũng không may bệnh tật, thiệt thòi.

"Con tặng lại ánh sáng cho bạn khác nhé". Người mẹ trẻ nhủ cùng con khi em đã "yên giấc". Và giác mạc của em đã đem lại cơ hội nhìn thấy ánh sáng cho hai người bệnh.

Bảy tuổi ba tháng, cái tuổi mà bạn bè em đều đang thơ ngây tươi vui trong ngập tràn hạnh phúc, thì em đã phải chiến đấu với sự hành hạ của căn bệnh u não, để rồi âm dương chia lìa, bị dứt ra một cách tàn nhẫn khỏi vòng tay cha mẹ. Bất cứ ai trong chúng ta nếu bị đặt trong hoàn cảnh của em, của bố mẹ em chắc đều có thể tức giận vì sự bất công của cuộc đời, số phận. Điều đó là hoàn toàn hiểu được.

Vậy mà không một lời ai oán, món quà em để lại cho đời đâu chỉ là phần thân thể em, đó còn là như cách ai đó đã gọi em - "ngọn lửa Hải An". Ngọn lửa thắp lên niềm tin vào tình yêu thương, sự tử tế vẹn nguyên vượt lên trên nghịch cảnh.

Không ít người từng nói rằng sự tử tế phải được vun đắp từ mỗi con người, bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất. Thực vậy. Nhưng khi một ngọn lửa của sự tử tế được thắp lên, nó sẽ trở thành "trái tim Đan-kô" dẫn lối trong đêm thẳm hay lụi tắt dần, trách nhiệm thuộc về chúng ta - những người còn lại.

Từ hơn 30 năm trước, khi xã hội còn chưa ngổn ngang, phức tạp như bây giờ, đạo diễn Trần Văn Thủy đã gửi gắm vào phim của mình nỗi day dứt: “Tử tế vốn có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức sự tử tế, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang, hoặc siêu phàm...”

Vị đạo diễn nhiều trăn trở ấy đã lường trước những gì khi ông viết về sự "bền bỉ": một hành trình "đánh thức" đầy gian khó, thử thách, không có chỗ cho sự dễ dãi, thỏa hiệp? Và mấy chục năm qua, trước những gì đã chứng kiến, liệu có lúc nào ông thấy ngã lòng?

Hãy nhìn vào những gì chúng ta đang ngưỡng vọng, thờ kính. Con cá, con rắn, cái cây "lạ"..., bất cứ cái gì là lạ cũng có thể hút về những dòng người đông đỏ, sì sụp khấn vái. Đầu năm đền chùa miếu mạo đâu đâu cũng chật cứng người. Cầu tiền tài, cầu danh vọng, cầu bổng lộc đủ thứ, liệu có ai "đặt lên bàn thờ" sự tử tế để mà cầu khấn.

Đền chùa mọc lên ngày càng nhiều, ngày càng hoành tráng, và nhìn vào mức độ hăm hở, rình rang của người Việt đi lễ chùa, thì hẳn rằng xã hội, con người phải an ổn, tươi vui lắm chứ. Vậy mà sao chưa bao giờ sự bất an, hoài nghi giữa người với người lại phủ bóng nặng nề đến thế?

Nhìn xung quanh, biết bao sự "bất tử tế" đang bủa vây, từ những hành động nhỏ nhất như chen lấn, xô đẩy..., đến sự tham lam, bất chấp thủ đoạn để tranh quyền đoạt vị, giành giật lợi ích, tiền bạc... cho đến những hành vi tội ác. Có những kẻ sẵn sàng đoạt mạng người khác chỉ vì đôi chút mâu thuẫn, cãi cọ. Có những tên sát nhân chỉ mới vừa 18 tuổi đã ra tay giết chết 5 người trong một gia đình để cướp tài sản, trả thù. Không bàng hoàng, kinh sợ sao được.

Dường như đang có một sự đổ vỡ nghiêm trọng trong nền móng tạo dựng nhân cách người Việt. Trong một bài viết đầu xuân này, một đại biểu Quốc hội nhắn gửi: "Phải chăng, sự tử tế chưa bao giờ thiếu vắng đến thế trên đất Việt, trong người Việt? Như những đàn chim thiên di, sự tử tế cứ lần lượt bay đi, ngày càng nhiều hơn, và không biết bao giờ trở lại. Và càng thiếu vắng thì người ta càng hoảng hốt, càng báo động, càng khao khát."[1]

"Ngọn lửa Hải An" đã được thắp, khơi gợi rất nhiều nước mắt, nỗi xúc động, cảm phục. Và còn rất nhiều ngọn lửa khác nữa. Nhưng sau đó bao nhiêu người sẽ chọn đáp đền, tiếp nối bằng cách sống tốt đẹp hơn? Hay rồi lại quyết liệt lao vào sân si với đời. Khi chúng ta cuống cuồng cầu khấn các đấng bậc, xô lấn giành giật, bỏ rơi chính cái Tâm của mình, thì chẳng có sự tử tế nào được đánh thức, chỉ có những sự tử tế "ngủ quên", hoặc mải miết "bay đi" trong sự vô tri của chúng ta.
-------

[1] Tử tế à, tử tế ơi, hãy quay lại với người Việt!, Người đô thị, 23/02/2018.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 18): Vũ Thư Hiên


VTHVũ Thư Hiên sinh ngày 18 tháng 10 năm 1933 tại Hà Nội, hai cụ thân sinh Vũ Ðình Huỳnh và Phạm Thị Tề đều là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân của Ðảng Cộng sản Ðông Dương ngay từ khi tổ chức này được thành lập (1925).
Năm 1946 còn là một thiếu niên ông đã tham gia Đội Tuyên truyền Xung phong Nam Định, 1949 đi bộ đội Việt Minh. Sau 1953, làm việc trong ngành điện ảnh, 1955 học ở học viện Điện ảnh (VGIK) Moskva, từ 1958 biên tập viên báo Ảnh Việt Nam.
Từ năm 1967 đến 1976, trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, ông bị chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bí mật bắt và giam giữ sau khi đã bắt cha ông (Vũ Ðình Huỳnh) 2 tháng trước đó.
Ra tù năm 1976, ông sống bằng nhiều nghề: công nhân cao su, sản xuất hóa chất, kinh doanh…
Năm 1993, ông qua Nga với tư cách phiên dịch cho công ty xuất nhập khẩu Vũng Tàu-Côn Đảo VIECO (hợp tác với tổ hợp Minh Phụng) rồi ở lại làm đại diện cho công ty ở Moskva. Tại đây ông bắt đầu viết cuốn hồi ký Đêm giữa ban ngày về chín năm bị giam cầm, trong đó ông muốn chia sẻ với người đọc những điều suy ngẫm về mô hình nhà nước chuyên chính vô sản.
Cuối năm 1994, sau một vụ tấn công của mật vụ Hà Nội, ông thấy không thể ở Moskva lâu hơn nữa, nên tìm cách qua Ba Lan. Rồi thấy ở đó cũng không yên, ông đi qua Pháp tị nạn chính trị. Tại đây, ông hoàn thành tập hồi kýĐêm giữa ban ngày.
Những tác phẩm của ông đã xuất bản khi còn ở Việt Nam:
Lối thoát (kịch, 1950)
Bông hồng vàng (dịch, Paustovsky, 1960)
Truyện ngắn Paustovsky (dịch, 1962)
Cái Xích (dịch, 1964)
Khúc quân hành lặng lẽ (truyện nhiều tập, 1985-1989)
Luật rừng (kịch bản, 1988)
Miền thơ ấu (tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh 1988)
Sau khi tị nạn ở Pháp, ông được hai tổ chức International Parliament of Writers và International PEN mời tới ở mấy thành phố Strassbourg (Pháp), Bern (Thuỵ Sĩ) và Nuremberg (Đức) để nghỉ ngơi và sáng tác. Trong thời gian này ông dịch cuốn tiểu thuyết được giải thưởng lớn của văn học Nga “Trắng Trên Đen” (của Ruben Gonzales Gallego) và viết nhiều tạp văn cho các trang web hải ngoại. Một số truyện ngắn viết trong thời gian được in trong tập “Truyện Ở Tỉnh Lỵ” (Viet Tide, California), và gần đây hầu hết các truyện ngắn của ông được gộp lại trong Tuyển tập Truyện ngắn Vũ Thư Hiên (VietBooks, California).
Trả lời về “Đêm giữa ban ngày”
Tuệ Nguyễn Văn Có một câu hỏi vẫn luôn ám ảnh trong đầu cháu, rất mong bác Vũ Thư Hiên có thể trả lời giúp cháu đó là: Sau tất cả những điều kinh khủng mà bác phải qua trong suốt 9 năm trời như vậy, mà sao bác không có chút hận thù, căm ghét gì với những kẻ đã hành hạ bác trong suốt những ngày tháng tù đày dã man đến vậy ạ? Đọc "Đêm giữa ban ngày" cháu có cảm tưởng như bác đang nói về chuyện của ai đó chứ không phải của mình vậy. Rất mong bác có thể trả lời giúp cháu ạ.
Gửi bạn Nguyễn Văn Tuệ, và các bạn: Chau Nhi, Kiều Mỵ, Phan Thuý Hà, Hong Ngoc Trinh, Vương Quốc Toàn, Tran Thang, Hoài Thu Nguyễn...
Nhân dịp bạn Nguyễn Văn Tuệ nêu câu hỏi, lần này tôi sẽ kể dài dòng một chút để bạn và các bạn khác cũng từng đặt câu hỏi tương tự biết thêm về chuyện cuốn Đêm Giữa Ban Ngày đã hình thành như thế nào. Trong câu chuyện kể này, biết đâu đấy, các bạn lại tìm thấy câu trả lời.
1.
Năm 1994, tôi ở Moskva (Liên Xô cũ).
Việc khởi đầu cuốn sách liên quan tới một hiện tượng mà tôi không thể giải thích.
Một buổi sáng, vừa mắt nhắm mắt mở vừa bước vào phòng tắm, tôi đứng sững – trước mặt tôi, trong tấm gương lớn tôi thấy không phải tôi mà cha tôi. Ông bất động, nhìn tôi bằng cặp mắt nghiêm khắc, có phần giận dữ. Hình ảnh ấy chỉ xuất hiện trong một thoáng, rất nhanh, rồi tôi lại nhìn thấy tôi trong gương như bình thường. Cảnh tượng cha tôi thoáng hiện ấy đưa tôi về một thời gian đã xa:
“- Bố thấy trong người yếu lắm - cha tôi thở dài - Chà, nếu bố còn khỏe! Có nhiều điều bố thấy cần phải viết ra cho đồng bào biết. Nhưng không còn sức nữa rồi. Bố kỳ vọng ở con. Con phải viết. Đó là trách nhiệm, con ạ, là trách nhiệm.
Ông gắng gượng ngồi dậy, đặt tay lên vai tôi, nhìn vào mắt tôi:
- Không phải vì mục đích vạch tội ai mà con làm việc này, không phải vì mục đích ấy. Mục đích lớn hơn: qua vụ án này con phải để nói lên điều khác, điều rất quan trọng đối với dân tộc ta. Nhân dân ta cần phải hiểu để tránh xa vết xe đổ. Nước mà không có dân chủ, không có luật pháp, hoặc luật pháp chỉ là xảo ngôn, là mảnh đất màu mỡ cho thể chế độc tài, cho sự lộng hành tùy tiện của những tên độc tài...
Tôi hiểu tâm trạng cha tôi.
Ông đã khoan thứ cho kẻ thù. Nhưng ông không ngơi lo lắng cho đất nước trước viễn cảnh xám xịt của nền chuyên chế”. (Trích Đêm Giữa Ban Ngày).
Tôi quyết định bỏ mọi việc để thực hiện lời cha tôi dặn trước khi qua đời.
Ngay hôm ấy tôi đến công ty, nói lời từ biệt.
Mọi người bàng hoàng vì sự bỏ đi đột ngột của tôi. Trong công ty thuần Nga tôi là người Việt duy nhất, nhưng lại là bộ óc điều khiển hoạt động của nó. Cả chục năm ở Sài Gòn để kiếm sống tôi đã học được ít nhiều cách điều hành một công ty, trong khi đó thì những người bạn Nga vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hoá lại rất bỡ ngỡ. Chẳng cứ dân thường, ngay chính quyền mới cũng rất vụng về trong việc chuyển sang kinh tế thị trường. Một thí dụ: công ty chúng tôi gửi ngân hàng tiền dollar Mỹ và Deutch Mark thì lập tức được ngân hàng tính thành rúp, coi như gửi rúp chứ không phải ngoại tệ. Ít lâu sau lấy ra thì tỷ suất hối đoái đã khác do lạm phát phi mã. Số tiền tính bằng rúp tăng lên chóng mặt, khoản chênh lệch giữa hai thời điểm bị coi như lãi và công ty phải nộp thuế cho số tiền mà người ta gọi là “lãi bất ngờ”. Kỳ quặc thế đấy, vừa buồn cười vừa xót ruột, nhưng là sự thật. Những chuyện tương tự thời chuyển đổi chế độ ở Liên Xô kể không hết.
2.
Những trang đầu tiên của Đêm Giữa Ban Ngày được bắt đầu như thế nào?
Cái sườn đầu tiên cho cuốn sách chỉ là mấy trang phác thảo nằm lại ở Sài Gòn, được cất giấu ở nhà bè bạn. Tôi không cần đến chúng nữa vì đã thuộc nằm lòng. Tôi gặp may -vào thời gian đó tôi có nhu liệu Vietbit viết tiếng Việt rất tiện lợi của tác giả Bùi Quang Minh hồi ấy cũng ở Moskva. Cái Amstrad cổ lỗ không có ổ cứng, cứ viết thẳng vào đĩa mềm, không có cách trình bày như mình muốn. Tôi mổ cò từng chữ, ngày nối ngày, miễn sao nói được điều cần nói. Như tôi viết trong phần Tự Bạch “Văn học không có cũ nơi đây”, tôi tránh hết sức thói quen viết văn để cuốn sách chỉ chứa đựng những gì cần phải nói, nên nói. Chậm chạp, từng dòng một, ngày lại ngày kỳ cạch nối tiếp, những trang bản thảo theo nhau làm đầy dần từng đĩa. Những cái đĩa mềm ngày ấy đúng như tên gọi – chúng mềm thật và to thật, đựng trong những bao giấy có thể chứa cả kí lô usb ngày nay.
Tai họa đến bất ngờ.
Nghĩ mình giờ đã ở Moskva, một nơi an toàn cách xa Việt Nam nhiều ngàn cây số, tôi hoàn toàn yên tâm, không chút cảnh giác. Một người nào đó trong số khách đến thăm tôi tình cờ đọc được vài dòng trên màn hình Amstrad đã biết tôi đang viết gì.
Tin bay về Hà Nội. Một toán đặc nhiệm được cử sang. Lợi dụng một hôm tôi về nhà một mình, những tên đột nhập tấn công tôi ngay khi tôi vừa bước vào thang máy. Một tên trẻ măng theo chân tôi xông vào lấy tay bịt miệng tôi, đâm tôi một nhát, rồi khi thang máy lên đến tầng, những tên khác chờ sẵn xô tới, nhanh nhẹn lục túi tôi lấy chìa khoá, đưa tôi vào phòng. Ở đó chúng không nói một lời vật tôi xuống sàn, trói nghiến, bịt mắt bịt miệng tôi bằng băng dính. Sau đó, không vội vã chúng lục lọi cả giờ mọi xó xỉnh, lấy đi tất cả những gì tôi có – tiền nong, vật dụng, không từ thứ gì, kể cả quần áo. Nằm trên sàn, tôi bất lực, chú ý nghe từng câu cụt lủn chúng trao đổi với nhau,tôi hiểu – mục đích của cuộc đột nhập theo cách của kẻ cướp là bản thảo cuốn sách
Tin nội bộ từ Hà Nội cho tôi biết không đầy nửa tháng sau vụ đột nhập, việc tôi viết Đêm Giữa Ban Ngày đã được thông báo ngắn gọn với những trích dẫn trong một cuộc họp trung ương đảng (cộng sản). Điều này cho tôi thêm chứng cớ để khẳng định tác giả của vụ tấn công. Và hiểu thêm rằng vì sao những tên đột nhập chỉ đâm tôi một nhát cảnh cáo vào đùi chứ không định đâm chết. Có thể hiểu được chúng chỉ làm thế do có chỉ đạo. Ở Moskva tôi có quan hệ rộng với nhiều nhà văn nhà báo Liên Xô, kể cả với giới quan chức, tất yếu sẽ gây ra một sự ồn ào không cần thiết và không có lợi nếu bị phanh phui. Vết đâm vào phần mềm không nặng, máu chảy ra nhiều làm ướt sũng quần và lõng bõng trong giày. Điện thoại bị chúng lấy mất, tôi phải nhờ điện thoại của hàng xóm gọi cho bạn bè và họ lập tức phóng tới để đưa tôi đi bệnh viện.
Mấy hôm sau, một trong những tên đột nhập gọi điện cho tôi vào nửa đêm, thì thào bằng giọng hấp tấp: “Hay, chú ạ, cháu đọc rồi, chú viết tiếp đi nhé!”. Rồi không thì thào nữa mà cho tôi biết tôi có thể nhận lại những vật bị mất ở đâu – số điện thoại mà tên cướp cung cấp không khó khăn để tra ra là số nhà riêng của một nhân viên lãnh sự quán Việt Nam. Câu sau là quan trọng, nhưng chúng mới ngây thơ làm sao – đời nào tôi dại dột đâm đầu vào rọ.
Về chuyện này tôi đã kể lại với đầy đủ chi tiết trong một bài báo “Những tên cướp dễ mến” được đăng trên tờ Việt Nam Dân chủ ở Paris. Nhiều bạn đã đọc hỏi tôi có giữ lại được bài báo đó không, nhưng mặc dầu cố gắng nhiều tôi không sao tìm ra. Tôi không có thói quen cất giữ những gì mình viết, cho rằng nếu chúng có giá trị thì chúng sẽ tồn tại không cần đến mình.
Một tuần sau, tôi được mời tới ngôi nhà rất lớn chạy dài cả một phố Lubianka nổi tiếng mà người dân Liên Xô nào cũng biết – trụ sở của KGB (Komitet Gosudarstvennoy Bezopasnosti – Bộ An ninh). Lúc ấy cơ quan quyền lực khủng khiếp một thời đã đổi tên là FSK (Federalnaya Sluzhba Kontrrazvedki – Cục Phản gián Liên bang). Viên đại tá tầm thước, với gương mặt thật thà của người nông dân vùng Trung Nga, tiếp tôi trong căn phòng hẹp của ông ta dưới tầng hầm. Lấy ra chai vodka và con cá khô vobla đặt lên bàn, ông ta và tôi bắt đầu câu chuyện không vui. Chúng tôi vừa trò chuyện vừa uống rượu và nhai cá khô. Cuối cùng, trước khi chia tay viên đại tá buồn rầu bảo: “Ông thừa biết ai làm vụ này. Tôi xấu hổ phải nói với ông rằng FSK không thể bảo vệ ông khi người ta chỉ cần bỏ ra vài ngàn dollars là đã thuê được lũ mafia đang đói rạc giết ông. Tôi khuyên ông hãy chạy sang phương Tây, ở đó ông mới có thể giữ được tính mạng”.
Tôi không chạy sang phương Tây mà bỏ sang Warszawa, thủ đô của Ba Lan. Ở đó tôi cặm cụi viết lại những chương bị lấy mất (khoảng một phần ba cuốn sách) và vài chương tiếp theo. Công việc rồi cũng lại bị bỏ dở vì tôi được mật báo công an từ Hà Nội đã sang Warszawa để lùng tôi, và không biết lần này họ sẽ làm gì. Tôi đi Paris tị nạn và viết nốt những chương cuối cùng ở đó. Một cuốn sách được viết ra với rất nhiều vất vả. Nếu nói nó được viết cả bằng máu cũng không ngoa.
3
Tính từ khởi đầu cuộc trấn áp cái gọi là "nhóm xét lại chống Đảng" (1967) cho tới khi tôi đặt bút viết Đêm Giữa Ban Ngày thì đã qua gần 30 năm. Khoảng cách về thời gian ấy là một độ lùi cần thiết cho người viết hồi ký. Những trang viết sẽ tách khỏi những cảm xúc tại chỗ, nóng hổi, nhất thời, gắn với những sự việc đang hoặc vừa xảy ra. Độ lùi này làm cho sự nhìn lại và miêu tả những sự kiện xảy ra trong quá khứ khách quan hơn.
Đêm Giữa Ban Ngày đã được thực hiện đúng như ý cha tôi muốn. Nó không phải là cuốn sách về một vụ án. Tôi không có định viết về vụ "nhóm xét lại chống Đảng" như một bản buộc tội những kẻ gây ra nó, cũng là thủ phạm của vô vàn oan trái khác tràn lan trong xã hội thời ấy, hay như sự chiêu tuyết cho những nạn nhân. Vụ án chỉ là cái nền cho sự miêu tả một xã hội, trong đó tôi đã sống, với đầy đủ trải nghiệm của một thành viên bất đắc dĩ. Tôi vui khi thấy nhiều bạn đọc hiểu đúng mục đích của cuốn sách. Không có gì vô duyên hơn những hồi ký kể lể danh vị của cha ông hoặc sự khoe khoang những thành đạt trong cuộc đời tác giả. Người ta đọc hồi ký là để biết một cái gì lớn hơn cuộc đời của một cá nhân – ấy là diện mạo của một xã hội trong đó tác giả nằm khuất dưới những hàng chữ với tư cách nhân chứng.
Khi viết Đêm Giữa Ban Ngày tôi không hề muốn nói về “cái tôi” trong sự kiện, mà dùng sự kiện (vụ án) như cái nền trên đó hình ảnh của một xã hội mà tôi coi là không xứng đáng với con người được lộ ra nhiều nhất có thể. Chính vì thế mà bạn đọc mới được biết về những số phận người như ông già ba chục năm tù “Jean Valjean gọi bằng Cụ”, thằng bé Hán Còi, ông nông dân hiền lành Nguyễn Thái Bút hoặc tên “gián điệp quốc tế” Dịp Pún Mằn… Nếu tôi có đưa vào cuốn sách những văn nghệ sĩ như nhà văn Nguyễn Tuân, hoạ sĩ Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái… thì đó là để nói về cách đối xử của chính quyền cộng sản với lớp công dân ưu tú mà chính quyền ở các quốc gia bình thường coi trọng.
Chính vì để miêu tả những số phận bị chà đạp, bị giày xéo ấy mà bạn thấy tôi không nói gì nhiều về thân phận tôi trong chín năm qua nhiều trại giam và những gì tôi đã nếm trải, như thể tôi “đang nói về chuyện của ai đó chứ không phải của mình vậy”. Những nhà tù (được gọi là “trại cải tạo”) có rất nhiều chuyện đáng được nói đến, được kể ra, nhưng những cái đó nằm ngoài mục đích của cuốn Đêm Giữa Ban Ngày. Chỉ tính những gì được nói đến đã làm cho nó dày cộp rồi. Hơn nữa, tôi không có ý định viết một cuốn sách thuộc dòng văn học “tố khổ”. Những tác phẩm loại này đã có nhiều đến nỗi sự thêm vào một cuốn nữa là thừa.
Jean Fréville (Eugène Schklaff, 1895-1971) có một lời khuyên rất đáng giá cho người cầm bút bất kể anh ta dùng thể loại văn học nào: “Hãy để sự vật nói lên”. Sức mạnh của sự vật, cũng là sức mạnh của sự thật, lớn hơn mọi thủ pháp văn chương. Tôi đã cố gắng theo đúng lời khuyên này, nhưng không chắc mình đã làm được.
Bạn hỏi: “Sau tất cả những điều kinh khủng mà bác phải qua trong suốt 9 năm trời như vậy, mà sao bác không có chút hận thù, căm ghét gì với những kẻ đã hành hạ bác trong suốt những ngày tháng tù đày dã man đến vậy ạ?”. Bảo rằng tôi không có chút hận thù hay căm ghét nào với những kẻ hành hạ tôi thì tôi nghĩ không được đúng lắm đâu. Có đấy, nó nằm trong sự thật mà bạn thấy qua những dữ kiện được trình bày bằng cái nhìn lạnh lùng. Sự thật đã được phơi bày thì mọi bình luận về nó là thừa, làm hỏng điều mình muốn nói.
Khi nhìn lại sự việc trong quá khứ cái nhìn nào cũng chứa đựng sự bao dung trong vô thức, không nhiều thì ít, với người nào cũng vậy. Không ai có thể mãi mãi khư khư ôm thù hận trong lòng trong suốt cuộc đời. Tôi nhớ có đọc đâu đó một nghiên cứu khoa học về một đặc tính của não bộ con người – nó bao giờ cũng giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp và quên đi những việc xấu.
Tôi hiển nhiên là nạn nhân của hai tên độc tài Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, như nhiều bạn cùng thời tôi biết rõ, hay ít ra thì cũng biết nhiều hơn những người chỉ đọc những bài tụng ca các lãnh tụ anh minh. Nhưng khi đã lùi xa khỏi sự kiện, tôi mới thấy cả hai người (hay quỷ) này xét cho cùng cũng là một thứ nạn nhân – nạn nhân của sự ham hố quyền lực và danh vọng, chúng chỉ không hiểu rằng chúng là nô lệ của sự ham hố ấy. Vô vàn tội ác của chúng cũng từ sự ham hố ấy mà ra. Chửi bới những tên nô lệ tự nguyện ấy là hạ mình xuống chỗ đứng của chúng.
Khi “quân dữ” (tôi mượn từ Thiên Chúa giáo) hùng hổ xông vào tôi khi tôi đang đi giữa đường, quẳng tôi lên xe, đưa tôi vào thẳng Hoả Lò, nhà tù nằm giữa lòng thành phố, rồi tiếp tục cuộc hành hạ tôi chín năm, tôi thấy lòng mình hoàn toàn yên tĩnh nhờ sự biết trước rằng chúng không thể hành xử theo cách nào khác với bản chất của chúng.
Khi ấy, tôi chợt nhớ tới mấy vần thơ của Pushkin:
Đừng cười nhé nỗi buồn anh thấy trước
Anh biết đòn số mệnh chẳng buông tha
Mái đầu xanh em vẫn hằng ve vuốt
Từ ngực em sẽ tới pháp trường xa…
(A.S. Pushkin)
Tôi không phải người biết làm thơ, nhưng trong những ngày tù đằng đẵng của mình, tức cảnh sinh tình, tôi cũng ghi lại mấy dòng giống như thơ sau đây:
Kiệt lực qua thập điện khổ đau
Tôi lử lả tiến công vào cái Ác
Trong đêm giữa ban ngày
Với vũ khí trong tay
Chỉ một ngọn bút cùn thay lưỡi mác
Tôi ngã xuống trong lốc bụi chiến trường,
Phút hấp hối còn mang mang nghe tiếng nhạc.
Thì ra máu của tim mình
nhỏ xuống
đất cằn
Và đất lên giọng hát
Bài hát của niềm tin
Từ trái tim tôi rách nát.
2.3.2018


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Vụ “Mobilfone mua AVG” vào lò của bác Trọng


Mobifone mua AVG với giá khủng. Ảnh: VNE
SOHA. Chiều 8/3, Văn phòng Trung ương Đảng cho biết, vừa qua, Ban Bí thư (BBT) đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để nghe Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ báo cáo kết quả việc thanh tra Dự án Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của AVG.

BBT cho rằng, đây là một vụ việc rất nghiêm trọng, phức tạp, nhạy cảm, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Thanh tra Chính phủ đã có nhiều cố gắng tiến hành thanh tra toàn diện, kết luận và báo cáo với Ban Bí thư.
BBT đề nghị Thường trực Chính phủ, Thanh tra Chính phủ chỉ đạo và chịu trách nhiệm về Kết luận thanh tra, sớm công bố Kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan có trách nhiệm khẩn trương xem xét, xử lý vụ việc bảo đảm khách quan, chính xác theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước với tinh thần kiên quyết, chặt chẽ, làm rõ đến đâu xử lý đến đó, đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật và thu hồi tài sản Nhà nước bị thất thoát.
Trước đó tháng 9/2017, Thanh tra Chính phủ cho biết cơ quan này đã tổ chức công bố quyết định thanh tra tại Tổng công ty Viễn thông Mobifone, với nội dung thanh tra toàn diện dự án Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu (AVG).
Thời hạn thanh tra là 50 ngày làm việc thực tế tại đơn vị kể từ ngày công bố quyết định.
Tin từ năm 2016 cho hay, MobiFone đã chi gần 400 triệu USD mua cổ phần AVG tương đương với 8.890 tỷ đồng.
Muốn hỏi các cụ chút, Cua Times đưa tin vụ AVG và Mobilfone có nhậy cảm không?
Giả sử hang Cua có giá là 300 tỷ nhưng lão Dove, VA, Trương Tuần, HCN và lão Cua đã thông đồng đẩy giá lên thành 9000 tỷ có đáng lo ngại hay không?

Tin từ SOHA và VNE


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bị đe dọa tính mạng, Đảng viên Cộng sản trốn sang Úc trồng cần sa










VOA - Một Đảng viên Cộng sản Việt Nam đã buộc phải tham gia trồng cần sa trong một ngôi nhà ở thị trấn Ballan, bang Victoria, Úc, trong lúc đang chạy trốn vì bị đe dọa trong Đảng, theo tuyên bố của tòa án Úc được tờ Courier trích dẫn vào ngày 6/3.


Tin cho hay Hung Phan, một Đảng viên Cộng sản Việt Nam, 34 tuổi, vì lo sợ cho tính mạng nên đã trốn sang Úc và cư ngụ tại đây bất hợp pháp trong hai năm qua.

Hung Phan bị bắt tại một ngôi nhà trồng cần sa ở thị trấn Balland vào tháng 7/2017.

Theo lời luật sư bào chữa Adrian Paull, Hung vốn là một người “có học thức, có bằng cử nhân về Luật kinh tế và có chứng chỉ về phát thanh truyền hình”.

Hung trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2009. Sau đó, cấp trên nói với Hung rằng anh ta sẽ được thăng chức nếu chịu chi ra 18.000 đôla.

Lo sợ việc nhận hối lộ đổ bể, cấp trên này đã đe dọa Hung.

Vẫn theo lời luật sư bào chữa, Hung đã tìm cách từ bỏ Đảng nhưng không thành. Sau đó, đảng viên này tìm cách trốn khỏi Việt Nam và sang Úc, nơi anh ta có thân nhân sinh sống tại đây. Tuy nhiên, trong 2 năm ở Úc, Hung không hề tiếp xúc và cho thân nhân biết anh ta đã sang Úc cho tới ngày bị bắt.

“Anh ta lo sợ cho tính mạng của mình”, Luật sư Paull giải thích.

Trong thời gian ở Úc, Hung đã đi làm cho một nhà hàng Tàu ở Melbourne và đi hát tại một phòng trà. Tại đây, Hung gặp và làm bạn với một tài chủ. Người này sau khi biết những khó khăn của Hung đã ép anh ta phải đi làm công việc mà người này đưa ra, theo lời của luật sư bào chữa cho Hung tại tòa.

Cảnh sát Úc đã phát hiện Hung khi đột nhập vào một căn nhà ở Ballan, nơi 5 căn phòng đã được cải tạo thành vườn trồng cần sa với 237 cây lớn nhỏ, lên tới 108.93 kg.

Luật sư bào chữa cho Hung nói anh ta chỉ đến căn nhà này vào ngày bị bắt để tưới cây mà thôi và không có bằng chứng cho thấy Hung là người trồng và hưởng lợi từ việc trồng cần sa.

“Anh ta nhận được điện thoại và được chở đến đó bởi người tòng phạm”, Luật sư Paull nói.

Thẩm phán Liz Gaynor kết luận hành vi phạm tội của Hung ở mức thấp, cộng với việc giúp cho cảnh sát điều tra, nên Hung chỉ bị phạt án tù 10 tháng. Đảng viên này được trừ 222 ngày tạm giam vào án tù trên.

Thời gian gần đây, cảnh sát Úc đẩy mạnh chiến dịch phá bỏ các trại trồng cần sa tại nhà ở nước này. Bang Victoria được xem là điểm nóng của các đường dây mua bán, trồng cần sa của các đường dây ma túy người Việt và người Albani. Ước tính có đến 1.500 ngôi nhà trồng cần sa tại bang này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tranh nhau mua quà lưu niệm USS Carl Vinson, bán lại kiếm lời


(NV) – Ngay trong ngày 5 Tháng Ba, toàn bộ 1,000 chiếc hộp quẹt Zippo in hình USS Carl Vinson bán trên hàng không mẫu hạm đã được các “đại biểu” phía Việt Nam lên thăm và mua sạch, mà hầu hết trong số đó được ghi nhận là “bán lại kiếm lời gần khu vực đón chiến hạm Mỹ.”

Điều này được người sử dụng mạng xã hội gọi là “chuyện cười ra nước mắt.”

Tin cho hay, ngay sau đợt khách lên thăm hôm đầu tiên mà trong đó đa số là phóng viên và giới chức quân sự Việt Nam, gian hàng lưu niệm trên USS Carl Vinson được ghi nhận là “chỉ còn lèo tèo mấy món như áo, bình đựng nước, ly…”

Báo Dân Việt ghi lại lời của một “đại biểu” tên Nguyễn Dũng lên thăm hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson sáng 7 Tháng Ba: “Có mấy người bạn gửi mua bật lửa Zippo dùm nhưng sáng nay đã hết hàng, không còn cái nào. Do muốn lưu chút kỷ niệm từ chuyến thăm lịch sử của hàng không mẫu hạm Mỹ nên tôi đành mua chiếc mũ và bình nước. Các món quà nhỏ trên tàu có giá cả phù hợp nên ai lên đây cũng muốn chọn mua một món mang về.”

Báo điện tử VietNamNet cũng tường thuật: “Đoàn khách Việt Nam hào hứng với các món đồ lưu niệm trên tàu. Những món hàng lưu niệm được các thủy thủ niêm yết giá rất rõ ràng. Các thủy thủ trên tàu rất gần gũi, họ cẩn thận cho xem giá và trả tiền thừa cho khách rất thân thiện.”

Một phóng viên Việt Nam có mặt trên hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson hôm 5 Tháng Ba nói với nhật báo Người Việt với điều kiện ẩn danh: “Đúng là có chuyện các đại biểu đầu tiên được lên hàng không mẫu hạm tranh mua đồ lưu niệm, nhiều nhất là bật lửa Zippo. Hàng này đúng chuẩn Mỹ và có khắc hình và chữ USS Carl Vinson mà người Việt nào chẳng muốn sưu tầm nên người ta gom là đúng rồi.”

Người này nói thêm: “Nhiều phóng viên tiếc hùi hụi vì không có tiền đô la sẵn trong túi nhưng cũng có người dường như đã chuẩn bị sẵn để hốt thật nhiều Zippo và mũ sau đó thấy bán lại kiếm lời gần đó. Giá mua thì chỉ $12 nhưng thấy bán lại giá thấp nhất là 800,000 đồng [$35]. Đúng là cơ hội làm ăn ngàn năm có một. Chắc là các thủy thủ của USS Carl Vinson cũng choáng vì sự cuồng nhiệt của dân Việt Nam qua vụ này.”

Trên mạng xã hội, nhiều cư dân mạng tán đồng với ý kiến bình luận của một blogger: “Kinh doanh chín phương chừa phương quốc thể. Xấu hổ thật…” Nhưng cũng có ý kiến cho rằng: “Họ thích thì họ mua chứ phải họ lấy trộm đâu? Người bán được hàng nhiều chắc cũng thích thôi! Đó là quy luật mà. Có quan hệ cung cầu diễn ra là hợp lý. Chỉ xấu hổ khi chen nhau giành giựt thôi.”

Hiện tại, nhiều facebooker tại Việt Nam đang rao bán: “Bán mũ và Zippo USS Carl Vinson. Hàng độc quyền. Có hai mũ và 5 zippo. Ai có nhu cầu inbox nhé. Số lượng có hạn…”

Một facebooker còn đăng ảnh chụp một xấp đô la và tiền đồng Việt Nam và khoe: “Doanh thu hai ngày của em – vừa chạy xe vừa buôn bán Zippo Mỹ mang tên USS CARL VINSON, ai muốn sở hữu em này làm kỷ niệm thì inbox nhé! Cháy hàng.”
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (kỳ 2)


Inrasara
B. Mở…
1. Từ tư thế ngoại vi
Đại đa số nhà thơ hậu hiện đại thuộc thời hậu đổi mới. Họ là nhà thơ ngoại vi. Ngoại vi bởi hoàn cảnh buộc họ lưu vong, bên cạnh do họ chọn lựa thế đứng ngoại vi khi sáng tác. Cả khi họ làm việc trong các cơ quan công quyền, họ vẫn ngoại vi. Có thể xem đó là tình trạng lưu vong chung của nhà văn trong thời hiện đại. Nedim Gursel: “Lưu vong theo nghĩa rộng, là một trong những định mệnh khả hữu cho nhà văn thời chúng ta”(9). Có kẻ lưu vong ngay trên đất nước mình như Lý Đợi, Khúc Duy; người hai lần lưu vong như Nguyễn Hoàng Tranh, lưu vong tâm linh như Chân Phương, lưu vong ngôn ngữ như Đinh Linh, ngay cả kẻ tự nhận sống ở đường biên như Inrasara cũng là một dạng lưu vong, cuối cùng là thức nhận sâu thẳm tình trạng lưu vong để làm cuộc giải lưu vong lẫm liệt như Đỗ Kh.
Ngoại vi, ngoại trừ vài tên tuổi nhất định, còn lại hầu hết tác phẩm của họ không được lưu hành chính thống, bị các phương tiện thông tin đại chúng trong nước từ chối, đại học dị nghị, nhà nước cấm đoán, nhiều nhà phê bình xa lánh hoặc làm như không hay không biết có thơ họ ở trên đời. Các giải thưởng văn học nhà nước không quan tâm đến họ đã đành, ngay các giải do tư nhân tổ chức cũng đánh trống lãng.
Thơ hậu hiện đại là thơ phản tỉnh mang tính phê phán hiện thực đất nước và thực trạng văn chương. Nhà thơ hậu hiện đại chối bỏ mọi dạng đại tự sự grand narratives làm ngu muội đầu óc và làm u mê tinh thần. Chối bỏ đại tự sự không gì hiệu quả hơn thái độ giải thiêng sự thể. Giải thiêng hình chữ S của đất nước (Nguyễn Hoàng Tranh), giải thiêng ảo tưởng bốn ngàn năm văn hiến (Đinh Linh) hay niềm tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc (Nguyễn Đăng Thường), giải thiêng huyền thoại Việt Nam là nước thơ (Lý Đợi) và giải thiêng chính bản thân thơ ca (Bùi Chát): Thơ ca chỉ là món hàng như mọi món hàng, nó không đứng cao hay thấp hơn các hàng hóa khác.
Giải thiêng để cơ hội nhìn thực tại bằng cảm thức khác. Mang tư tưởng tự do, nhà thơ hậu hiện đại luôn có tiếng nói phản biện xã hội đương thời. Dân chủ giả tạo bàng bạc hay lồ lộ khắp nơi, họ chỉ nó ra. Lòng yêu nước chân chính bị đè bẹp để thứ yêu nước giả tạo lên ngôi, họ nói về nó. Bầu cử giả vờ, tổ chức lễ hội giả tạo, văn chương thiến hoạn hay theo đuôi, phép lịch sự với lối sống văn minh giả tạo và, khi báo chí sợ nói thật về mọi điều giả tạo, họ lên tiếng về chúng.
Thơ hậu hiện đại quyết bóc trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng các loại muốn tác động vào xã hội, hướng ý thức quần chúng theo chiều nhìn có lợi cho đại diện quyền lực hiện thời. Nhìn từ khía cạnh này, ở cấp độ nào đó, không ít thơ hậu hiện đại là thơ phản kháng. Thế nhưng phản kháng mang tính xã hội và chính trị chỉ là sự va quẹt nhất thời trong một môi trường xã hội và khí hậu văn học tù túng, chật hẹp.
Thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa. Không phân biệt thơ của người làm thơ cư trú tại các trung tâm văn hóa lớn hay tỉnh lẻ, xóa bỏ mọi đường biên phân cách thơ của người dân tộc thiểu số/ đa số, thơ trong nước/ hải ngoại, thơ của nhà thơ đã hay chưa là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chính thống hay phi chính thống. Nhà thơ hậu hiện đại quyết đánh tan mặc cảm phân biệt giới trong sáng tác văn học.
Giải tán phân cách giới là cách thể giải trung tâm quan trọng. Vài chục năm qua, các tên tuổi: Trịnh T. Minh-hà, Phạm Thị Hoài, Lê Thị Huệ, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Hương, Đỗ Lê Anh Đào,… đã đi được những bước dài. Ở trong nước, sau phong trào nữ quyền luận sơ khai qua sáng tác của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư là nhóm Ngựa Trời với “cuộc cách mạng thơ dang dở” của họ. Không cần tuyên bố to chuyện mà, chỉ bằng một nhát dao, Nguyễn Thị Hoàng Bắc đã cắt đứt cái đuôi hậu tố “nữ”, rất tuyệt.
tiếng nước đái
             nhỏ giọt
trong bồn cầu tí tách
thứ nước ấm sóng sánh vàng
                 hổ phách
trong người tôi tuôn ra
phải rồi
tôi là đàn bà
hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ
bây giờ
được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ
tương lai không chừng tôi sẽ
to con mập phệ
tí tách như mưa
ngọn cỏ gió đùa
(10)
Khởi đầu, hơi thơ “Ngọn cỏ” đi mạnh mẽ và trang trọng như bao bài thơ hiện đại khác. Người đọc đinh ninh sẽ bắt gặp nỗi gồng mình [phê phán hay tuyên bố gì đó đại loại] ở câu tiếp theo, như đã từng thấy nó biểu hiện ở thơ nữ trẻ mấy năm qua. Nhưng không, bài thơ bỗng chuyển hướng qua giọng phớt đời, khinh bạc rồi bất ngờ bẻ ngoặt sang đùa cợt đầy khiếm nhã!
Ví vắng bóng “ngọn cỏ gió đùa”, bài thơ chỉ dừng lại ở ngưỡng nữ quyền luận hiện đại: nghiêm trọng và quyết liệt. Nhưng chỉ cần một làn gió, tất cả đã lột xác, bài thơ làm cú nhảy ngoạn mục sang bờ bên kia của mĩ học hậu hiện đại. Tính chất nghiêm cẩn của giọng thơ đã được tháo gỡ. “Ngọn cỏ” thời lãng mạn được Nguyễn Thị Hoàng Bắc giải phóng. Hãy để cho ngọn cỏ tự do đùa với gió mà không buộc nó phải chịu phận so đo trong tinh thần phân biệt đối xử với sự đái. Cả sự đái của đàn bà cũng được cởi trói, qua đó thân phận tòng thuộc của chị em được giải phóng(11).
Giải trung tâm đầu tiên và cuối cùng của thơ hậu hiện đại thể hiện ngay trong cách ứng xử với ngôn ngữ. Lợi thế đa vùng địa lí, đa sắc tộc, trải qua nhiều thể chế chính trị với nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, tiếp nhận nhiều nguồn ngôn ngữ khác nhau, tiếng Việt hiện đại đã sinh sôi nảy nở đến không kịp ghi nhận. Rồi tiếng Việt của người Việt di cư sang Đức, Đài Loan, Canada; tiếng Việt của châu Úc, châu Âu, châu Phi lai ghép với tiếng bản địa nhập cảng trở lại càng làm cho kho tàng tiếng Việt thêm phong phú, đa sắc thái, tạp nham nhưng không kém lí thú. Chúng được đẻ ra và sống đời sống ngày thường, làm thành hơi thở không thể thiếu của cuộc sống người Việt hiện đại. Nhưng tiếng Việt ấy hiếm khi có mặt trong sáng tác văn chương. Chúng luôn bị văn chương nhìn bằng con mắt nghi kị, trịch thượng. Mãi khi thế hệ thi sĩ hậu hiện đại xuất hiện, chúng mới hết bị phân biệt đối xử. Tất cả chúng đều được đối xử công bằng, sòng phẳng. Chúng đi vào tác phẩm văn chương như từng hiện diện trong đời sống. Nguyễn Hoàng Nam và Đỗ Kh, Vương Ngọc Minh hay Lý Đợi, Bùi Chát với Đặng Thân, Đinh Linh hay Nguyễn Đăng Thường,... đã làm cuộc giải trung tâm đó, đầy ngoạn mục.
2. Hậu hiện đại vào Việt Nam
Gần mươi năm qua, từ khi “chủ nghĩa hậu hiện đại” postmodernism xuất hiện trong thế giới chữ nghĩa Việt Nam, nó đã gây dị ứng không ít từ nhiều phía. Dị ứng đầu tiên phát sinh từ não trạng sợ hãi cái mới, là điều khó tránh; tiếp, từ nỗi lo sợ bị mất giá (hư danh) hay mất ghế. Từ đó, ta thấy có những phản ứng tiêu cực đến phản [chuyển] động. Đã đành! Nhưng ngay những người có xu hướng ủng hộ cái mới cũng mang mặc cảm dị ứng lây. Nỗi này xuất phát từ bản thân người đọc không nắm được tinh thần hậu hiện đại, nhất là khi một số nhà phê bình vẫn còn chưa thật tự tin khi bàn về hậu hiện đại, khiến dư luận cứ lưỡng lự, muốn xa lánh trào lưu văn chương này.
Phía người viết, bởi mới tiếp nhận sơ sài hậu hiện đại [và cả bất tài nữa], đã vội [học đòi] sáng tạo rồi vội vã ném ra ngoài mưa gió cuộc đời “đứa con tinh thần” èo uột của mình. Thế là vài nhà phê bình [cũng vội vàng không kém chộp lấy và] trưng ra mấy bài thơ “hậu hiện đại” nhem nhuốc kia rồi kêu đích thị hậu hiện đại nó là như thế, càng gây hồ nghi cho công chúng độc giả hơn.
Nếu chủ nghĩa hiện đại modernism xuất hiện ở thời điểm cuối của thời kì hiện đại mà cao điểm của nó kéo dài từ cuối thế kỉ mười chín đến đầu thập niên bốn mươi và kết thúc vào đầu thập niên sáu mươi, thì chủ nghĩa hậu hiện đại gần như có mặt cùng lúc với thời kì hậu hiện đại postmodernity: đầu thập niên bảy mươi của thế kỉ trước. Từ đó, hậu hiện đại trở thành một trào lưu văn hóa rộng lớn tác động rộng rãi đến nhiều lãnh vực: văn học - nghệ thuật, chính trị - xã hội,… Nó nhanh chóng bắt tay với người anh em như hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận và đặc biệt, hậu thực dân luận, lan truyền ra khắp thế giới. Từ châu Âu, châu Úc cho đến châu Mĩ Latin và cả châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc,…
Đứng trước trào lưu như là một xu thế chung mang tính toàn cầu ấy, Việt Nam không thể đứng ngoài. Dù chậm, nhưng ngay từ đầu thế kỉ XXI, các nhà phê bình và dịch thuật ta cũng kịp đã giới thiệu lí thuyết văn nghệ này đến với người đọc. Vài tên tuổi như Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Minh Quân, Phương Lựu, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phan Tấn Hải, Ngân Xuyên, Nguyễn Ước,…
Người sáng tác cũng đã có mặt. Họ sáng tác có ít/ nhiều yếu tố hậu hiện đại trong cảm thức/ thủ pháp: Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Trần Tiến Dũng, Như Huy, Khúc Duy, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Thúy Hằng, Lynh Bacardi, Lê Vĩnh Tài, Inrasara, Đặng Thân, Nguyễn Viện, Lê Anh Hoài, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phạm Lưu Vũ, Nhật Chiêu, Hoàng Long, Thanh Xuân, Vũ Thành Sơn, Trần Wũ Khang, Khương Hà, Phương Lan, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phạm Tường Vân, Khánh Phương, Lê Hải, Jalau Anưk...
Hậu hiện đại đang xảy ra tại Việt Nam, đó là thực tế. Lực lượng chưa nhiều. Không ít của chưa nhiều này không tự nhận sáng tác theo hậu hiện đại; còn lại cũng chưa áp dụng đầy đủ thủ pháp hậu hiện đại. Hơn nữa - ngoài nhóm Mở Miệng - mỗi nhà thơ đều sáng tác đơn độc, nên hậu hiện đại Việt chưa thể hình thành một trào lưu rộng lớn, tác động nhiều chiều đến văn học và xã hội nói chung.
Nhưng tất cả gặp nhau ở cảm thức hậu hiện đại.
Cảm thức hậu hiện đại postmodern sensibility
Cảm thức hậu hiện đại là một lối cảm nhận về thế giới như là một hỗn độn, vô nghĩa, bất khả nhận thức; nơi mọi bảng giá trị đều đổ vỡ, mọi định hướng ý nghĩa đều vô ích. Con người không còn manh niềm tin vào những gì lâu nay họ từng tin: Thượng đế hay Nhà nước, Tổ quốc hay Con người, Chân lí hay Lịch sử,.... Mọi “nỗ lực khôi phục trật tự đẳng cấp, hoặc những hệ thống ưu tiên nào đó trong cuộc sống, đều vô ích và không thể thực hiện được” (I.P. Ilin). Nhận thức thế giới của con người luôn là nhận thức đầy thiếu khuyết. Nói cách khác, tri thức chỉ là một hiện tượng, được diễn dịch một cách chủ quan bằng giải trình ngôn ngữ discourse, hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân. Nó không gì hơn một trò chơi ngôn ngữ. Trong lúc ngôn ngữ như một phương tiện đạt đến “chân lí” cũng không đáng tin cậy nữa.
Cảm thức thế giới là hỗn độn chaos, “khi mọi trung tâm không chắc chắn, các nhà hậu hiện đại chấp nhận sự hỗn độn như là một sự kiện và sống một cách thực tế, xâm nhập vào nó bằng “tình cảm mật thiết” (I.P. Ilin)(12). Thâm nhập thực tại, các nhà hậu hiện đại vượt bỏ niềm tin vào các đại tự sự grand narratives [hay siêu tự sựmetanarrative], nói như Lyotard, chỉ là “các hệ thống giải thích”, những thứ chính thống hóa, toàn trị hóa quan niệm về thời đại vừa phiến diện vừa mang ở tự thân tính chất bạo động.
Phi đại tự sự xem trọng yếu tố cá nhân, là đặc điểm nhân văn của hậu hiện đại. Phi trung tâm hóa khẳng định vai trò ngoại vi là đặc điểm dân chủ mới của hậu hiện đại. Nó tôn trọng sự đa dạng, các giá trị trái nhau, những phi chuẩn, ngoại vi, dân tộc thiểu số, nữ, da màu, phi Tây phương, ngôn ngữ nhược tiểu, nền văn học “ngoại vi”,...
Nên có thể nói, hậu hiện đại là chủ nghĩa đa nguyên văn hóa. Thật sai lầm tai hại khi kết án hậu hiện đại chống lại truyền thống. John Barth: “Một nhà văn [hậu] hiện đại… có một nửa đầu của thế kỉ ở dưới nịt, nhưng không phải ở trên lưng”. Nghĩa là hậu hiện đại chấp nhận truyền thống (không chấp nhận truyền thống mới là phi-hậu hiện đại), nhưng không biến truyền thống thành gánh nặng.
Chú thích
(9) Nedim Gursel, “Chữ nghĩa của lưu đày, lưu đày của chữ nghĩa” – Talawas.org, 2003.
(10) Nguyễn Thị Hoàng Bắc, 26 nhà thơ Việt Nam đương đại, Tân Thư xuất bản, Hoa Kì, 2002.
(11) Inrasara, “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố ‘nữ’”, Song thoại với cái mới, NXB Hội Nhà văn, H., 2008, tr. 92-120.
(12) Phần này được tổng hợp từ các tác phẩm:
- Hoàng Ngọc-Tuấn, Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lí thuyết, Văn Nghệ, Califonia, Hoa Kì, 2002; Nguyễn Hưng quốc, Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại, Văn nghệ, Hoa Kì, 2000; Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2003.
- J-F. Lyotard, La Condition postmoderne: Rapport sur le savoir, Editions de Minuit, Paris, 1979; Fredric Jameson,Postmodernism or, the Cultural Logic of Late Capitalism, Durham: Duke University Press, 1993; Richard Appignanesi - Chris Gattat, Introducing Postmodernism, Icon Books UK - Totem Books USA, 2006; Jeff Collins - Bill Mayblin, Introducing Derrida, Icon Books UK - Totem Books USA, 2005 và các tác phẩm cùng loại về lí thuyết gia hậu hiện đại.

Phần nhận xét hiển thị trên trang