Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Ông Trump nhận lời gặp ông Kim Jong Un


VOA - Tin cập nhật:

Tổng thống Mỹ Donald Trump sẵn sàng gặp lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un trước tháng 5 năm nay, đáp lời mời của ông Kim về việc tổ chức thượng đỉnh Mỹ-Triều lần đầu tiên từ trước tới nay, theo loan báo của đặc sứ Hàn Quốc.

Ông Kim cam kết ‘phi hạt nhân hóa’ và đình chỉ các cuộc thử nghiệm hạt nhân và phi đạn, người đứng đầu Văn phòng An ninh Quốc gia Hàn Quốc, Chung Eui-yong cho báo giới biết tại Tòa Bạch Ốc lúc 7 giờ tối (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ngày 8/3/18 sau khi trình bày với Tổng thống Trump về cuộc họp của phái đoàn Hàn Quốc với lãnh tụ Triều Tiên đầu tuần này.

Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders cho biết Tổng thống Trump sẽ nhận lời mời họp với ông Kim Jong Un tại một địa điểm và thời điểm quyết định sau.

Bà Sanders cho biết: “Chúng tôi trông chờ phi hạt nhân hóa Triều Tiên. Trong khi chờ đợi, tất cả mọi chế tài và áp lực tối đa vẫn duy trì.”

*************

Một phái đoàn cao cấp của Hàn Quốc ngày 8/3 trao tay Tòa Bạch Ốc lá thư của lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump, Reuters thuật lại tin của CNN trích dẫn một nguồn tin ngoại giao nước ngoài không nêu danh.

Tin này chưa thể kiểm chứng độc lập.

Cố vấn an ninh quốc gia Hàn Quốc, Chung Eui-yong, sẽ loan báo về vấn đề Triều Tiên tại phòng họp báo của Tòa Bạch Ốc vào lúc 7 giờ tối (giờ miền Đông Hoa Kỳ), theo thông báo của phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

TIN MỚI NHẤT VỀ SỐ PHẬN BIỆT THỰ 34 HOÀNG DIỆU, HN


Một góc biệt thự số 34 Hoàng Diệu. Ảnh: Diệu Bình

5/7 con cụ Trịnh Văn Bô muốn bán biệt thự 34 Hoàng Diệu

VietNamnet
09/03/2018 10:06 GMT+7

Ông Trịnh Lương - con trai cả của nhà tư sản Trịnh Văn Bô cho biết, 5 thành viên trong gia đình muốn bán căn biệt thự rộng 3.000m2 ở 34 Hoàng Diệu cho nhà nước để lấy tiền làm từ thiện.

Ngày 5/11/2017, cụ Hoàng Thị Minh Hồ - vợ nhà tư sản Trịnh Văn Bô (người hiến 5.000 lượng vàng cho nhà nước) đã qua đời tại nhà riêng ở số 34 Hoàng Diệu.

Ông Trịnh Lương, con trai cả của các cụ cho biết, sau khi mẹ ông qua đời, 4 người em đã cử ông làm đại diện đặt vấn đề để lại nhà 34 Hoàng Diệu cho TP Hà Nội.Theo ông Lương, căn nhà 34 Hoàng Diệu nằm ở vị trí chỉ phù hợp với công trình kiến trúc nhà nước, còn tư nhân không nên ở. Vì vậy, 5 thành viên trong gia đình muốn nhượng lại căn biệt thự này cho TP Hà Nội với giá hợp lý.

“Tôi mong muốn bán nhà 34 Hoàng Diệu, một phần tiền để làm quỹ từ thiện Trịnh Văn Bô, Hoàng Thị Minh Hồ. Phần còn lại, chúng tôi sẽ chia cho con cháu”, ông Lương nói.

Ông Trịnh Lương cũng cho biết, kế hoạch trên mới được sự đồng thuận của 5 trong số 7 anh em. Sau khi có sự đồng ý của 4 người em, ông Trịnh Lương đã trao đổi kế hoạch với lãnh đạo TP Hà Nội.

Một lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, đã nhận được chỉ đạo của TP Hà Nội xem xét những vấn đề liên quan đến căn nhà 34 Hoàng Diệu.

Cụ Trịnh Văn Bô là thương nhân theo chủ nghĩa dân tộc, nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Trong Tuần lễ Vàng năm 1945, ông ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam 5.147 lượng vàng. Số vàng này gấp đôi ngân khố Chính phủ thời bấy giờ.

Gia đình cụ Trịnh Văn Bô sở hữu ngôi nhà tại 48 Hàng Ngang. Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, vợ chồng cụ dành ngôi nhà 48 Hàng Ngang để cán bộ cách mạng làm việc.

Ngôi nhà 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Sau đó gia đình cụ cũng hiến căn nhà này cho Nhà nước để làm di tích cách mạng.
Hương Quỳnh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trong chủ nghĩa xã hội, đạo đức còn khan hiếm hơn cả bánh mì


Marian L. Tupy 
Phạm Nguyên Trường dịch

Chủ nghĩa xã hội không chỉ được chống đỡ bằng bạo lực, nó còn làm cho người ta thoái hóa về mặt đạo đức. 


Cách đây vài tuần, tôi đã đến thăm New Orleans, tôi có buổi nói chuyện về sự tiến bộ của con người. Buổi nói chuyện của tôi tập trung vào việc cải thiện mức sống trên toàn thế giới trong 200 năm qua - giai đoạn tăng trưởng chưa từng thấy trong lịch sử mà cuộc cách mạng công nghiệp và thương mại toàn cầu đã tạo ra.

Một trong những câu hỏi của khán giả liên quan đến đạo đức của chủ nghĩa tư bản. “Ông đã chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản tạo nhiều của cải hơn là chủ nghĩa xã hội”, một chàng trai trẻ thừa nhận. “Nhưng nó có đạo đức không?”, anh ta hỏi.

Đạo đức của chủ nghĩa tư bản 

Đáp lại, tôi nói tới những khía cạnh tự nguyện và ích lợi mang tính xã hội của chủ nghĩa tư bản.

Để kiếm tiền, các nhà tư bản cần phải làm những việc hoặc sản xuất các món hàng hoá mà người khác muốn. (Có, có ngoại lệ. Ví dụ, các nhà tư bản được các quan chức tham nhũng bảo vệ, không phải đối mặt với các lực lượng thị trường, thu được lợi tức độc quyền mà họ không có quyền hưởng. Đó là ý nghĩa của cụm từ “chủ nghĩa tư bản thân hữu”).

Tương tự như thế, những vụ giao dịch giữa các nhà tư bản và người tiêu dùng thường là tự nguyện. Các nhà tư bản không thể ép khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ của khu vực tư nhân. (Một lần nữa, có ngoại lệ. Ví dụ, theo chương trình bảo hiểm y tế của Obama (Obamacare), chính phủ Mỹ có thể buộc người dân mua bảo hiểm y tế của các cơ sở tư nhân.)

Bảo vệ chủ nghĩa tư bản như một hệ thống kinh tế vững mạnh về đạo đức là rất quan trọng, vì, như tôi đã nói trước đây: “Cho đến nay, chủ nghĩa tư bản chỉ là định nghĩa gần đây nhất về nền kinh tế dựa trên trao đổi, tài sản cá nhân và tìm kiếm lợi nhuận, bao giờ cũng có những người cho rằng ba cái đó là không thể chấp nhận được [về mặt đạo đức]”.

Những lời hứa hão của chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội, như người hỏi tôi ở New Orleans ngụ ý, thường được giả định là đạo đức. Giả định này có hợp lý không?

Chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng không tưởng nhằm giải quyết tất cả các vấn đề của con người, trong đó có nghèo đói và bất bình đẳng. Nhưng than ôi, lý thuyết và thực hành lại mâu thuẫn với nhau.

Karl Marx vẽ ra lợi ích trong tương lai của xã hội xã hội chủ nghĩa như sau:

“Nếu chúng ta chọn vị trí trong cuộc đời, để có thể làm hầu hết mọi việc vì nhân quần thì không có gánh nặng nào có thể làm chúng khom lưng, vì đấy là sự hi sinh vì lợi ích của tất cả mọi người; lúc đó chúng ta sẽ không còn niềm vui ích kỉ, nhỏ nhen và giới hạn, mà hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, việc làm của chúng ta sẽ sống lặng lẽ nhưng mãi mãi hữu ích và những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quý sẽ rơi trên tro cốt của chúng ta”.

Leon Trotsky, nhà cách mạng Liên Xô, viết rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa:

“Con người sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, khôn khéo hơn và tinh tế hơn gấp nhiều lần; cơ thể sẽ trở nên hài hòa hơn, đi lại nhịp nhàng hơn, giọng nói du dương hơn. Cuộc sống sẽ trở nên ấn tượng hơn. Người trung bình cũng sẽ vươn lên đỉnh cao của Aristotle, Goethe, hay Marx. Và trên những đỉnh cao này, sẽ xuất hiện những đỉnh cao mới”.

Fidel Castro tuyên bố rằng cuộc Cách mạng ở Cuba là “cuộc cách mạng của những người khiêm nhường, cùng với những người khiêm nhường và vì những người khiêm nhường” và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội của ông ta là “cuộc đấu tranh vì cuộc sống của tất cả trẻ em trên toàn thế giới”.

Che Guevara, nhân vật số hai sau Castro, thì nói rằng, “Có nguy cơ dường như vô lý, tôi xin nói rằng cuộc cách mạng chân chính được hướng dẫn bởi cảm giác tuyệt vời của tình yêu. Nghĩ tới cuộc cách mạng thực sự mà không có phẩm chất này là điều bất khả thi”.
Điều đó, đối với nhiều người là tình cảm cao quý, vẫn được ghi trong cương lĩnh của Đảng Xã hội Mỹ, với khẳng định rằng “Chúng tôi cam kết chuyển hóa chủ nghĩa tư bản thông qua quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa dân chủ dựa trên lòng từ bi, thông cảm và tôn trọng ...”

Chủ nghĩa tập thể tạo ra chế độ chuyên chế 

Đưa các tư tưởng của chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn tạo ra nhiều vấn đề hơn hẳn. Một trong những khuyết tật rõ ràng nhất của chủ nghĩa xã hội khi áp dụng vào cuộc sống thực là khuynh hướng dẫn tới chế độ độc tài. Hiện nay, quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và độc tài thể hiện rõ nhất là ở Venezuela. Nhà kinh tế học Friedrich Hayek, Nobel kinh tế, là người đầu tiên viết về hiện tượng này trong tác phẩm Đường Về Nô Lệ.

Năm 1944, khi chấp bút tác phẩm này, Hayek nhận xét rằng những tội ác của những người xã hội chủ nghĩa quốc gia Đức và tội ác của những người cộng sản Liên Xô phần lớn là kết quả của sự kiểm soát ngày càng gia tăng của nhà nước đối với nền kinh tế.

Ông giải thích rằng, sự can thiệp ngày càng gia tăng của nhà nước vào kinh tế dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trên diện rộng và những hàng người dài dằng dặc bên ngoài những cửa hàng trống rỗng. Tình trạng khủng hoảng kinh tế thường trực như thế sẽ dẫn đến những lời kêu gọi kế hoạch hóa nhiều hơn nữa.

Nhưng kế hoạch hóa kinh tế thù địch với tự do. Vì trong xã hội tự do, người ta không thể đồng ý với nhau về một kế hoạch duy nhất, việc tập trung hoá quá trình ra quyết định về kinh tế phải song hành với tập trung hóa quyền lực chính trị vào tay một nhóm nhỏ. Cuối cùng, thất bại của kế hoạch hóa tập trung trở thành hiện tượng không thể nào phủ nhận được, các chế độ toàn trị thường bịt miệng những người bất đồng chính kiến - đôi khi bằng những vụ giết người hàng loạt.

Bất đồng chính kiến trong chủ nghĩa xã hội là việc khó khăn, vì nhà nước là người sử dụng lao động duy nhất. Xin trích dẫn Trotsky một lần nữa: “Ở đất nước mà nhà nước là người sử dụng lao động duy nhất thì đối lập nghĩa là chết đói một cách từ từ. Nguyên tắc cũ: Không làm việc thì không được ăn, đã được thay bằng nguyên tắc mới: Không vâng lời thì không được ăn”. Nói cách khác, kinh tế tự do là điều kiện cần, mặc dù chưa đủ, cho tự do chính trị.

Rõ ràng là, không phải mọi người đều nghĩ rằng chế độ độc tài và những vụ giết người hàng loạt là cái giá quá cao, nếu có được bình đẳng. Ví dụ, có người hỏi Eric Hobsbawm, nhà sử học theo trường phái Marxist ở Anh, rằng nếu chủ nghĩa cộng sản đạt được mục đích của mình, nhưng chỉ có 15 đến 20 triệu người bị giết chứ không phải là 100 triệu người như từng xảy ra Nga và Trung Quốc thì ông có ủng hộ hay không? Câu trả lời của ông là một từ duy nhất: Có. Ngay cả hôm nay, nhiều người, trong đó có Thủ tướng Canada, Justin Trudeau, còn xun xoe trước chế độ độc tài ở Cuba, vì nước này có nền giáo dục và chữa bệnh được cho là miễn phí.

Tôi viết “được cho là”, vì trong chủ nghĩa xã hội, hối lộ (ví dụ, trả ngay bằng tiền mặt hay móc ngoặc) là hiện tượng phổ biến. Bác sĩ cảm thấy rằng nhà nước trả lương quá thấp, đòi phải hối lộ thì mới chăm sóc bệnh nhân. Các giáo viên cũng như vậy, họ ưu ái con của bác sĩ để được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Quá trình này kéo dài tới cửa hàng bán thực phẩm.

Hối lộ và trộm cắp thường song hành với nhau. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước nắm tất cả các cơ sở sản xuất, như nhà máy, cửa hàng và trang trại. Để có cái gì đó trao đổi với nhau, đầu tiên là phải “ăn cắp” của nhà nước. Ví dụ, người bán thịt ăn cắp thịt để đổi lấy rau mà người bán rau ăn cắp được..v.v…

Trong chủ nghĩa xã hội, móc ngoặc có thể xảy ra được theo những cách khác. Ví dụ, ở Đông Đức, người ta thường theo dõi những người hàng xóm, thậm chí theo dõi cả vợ/chồng mình.

Tổng số cảnh sát mật và các cộng tác viên không chính thức chiếm khoảng 2% dân số.

Nếu tính cả những chỉ điểm không thường xuyên, thì cứ sáu người Đông Đức có một người, lúc này hay lúc khác, đã từng theo dõi những người đồng bào của mình.

Nói cách khác, chủ nghĩa xã hội không chỉ được chống đỡ bằng bạo lực, nó còn làm người ta thoái hóa về mặt đạo đức. Nói dối, ăn cắp và chỉ điểm là hiện tượng phổ biến và niềm tin giữa người với người đã không còn. Không những không khuyến khích tình huynh đệ giữa người với người, chủ nghĩa xã hội làm cho mọi người đều trở thành đáng ngờ và đầy sân hận.

Tôi đã khẳng định từ lâu rằng, thiệt hại lớn nhất mà chủ nghĩa xã hội gây ra không phải là kinh tế. Mà là tinh thần. Nhiều nước vứt bỏ chủ nghĩa xã hội đã xây dựng lại nền kinh tế của mình và trở nên thịnh vượng. Nhưng không thể nói như thế các thiết chế của họ, ví dụ, thượng tôn pháp luật, cách hành xử của công dân và nạn tham nhũng.

Thịnh vượng là kết quả của việc dỡ bỏ những rào cản đối với việc trao đổi giữa những con người tự do. Nhưng làm thế sao để có xã hội ít tham nhũng hơn và tuân thủ pháp luật hơn?

Nói cách khác, di sản thực sự của chủ nghĩa xã hội không phải là bình đẳng, mà là vô đạo đức.

Marian L. Tupy là biên tập viên trang HumanProgress.org và là nhà phân tích chính sách cao cấp tại Center for Global Liberty and Prosperity.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổng quan về Lễ hội Hà Nội


Ngày thường, đạo lý Nho giáo gò bó người dân, quy định nghiệt ngã các thân phận. Nhưng trong những ngày hội thì các chuẩn mực hàng ngày được tạm gác lại, như trai gái tha hồ đùa rỡn trước mặt thần thánh và mọi người ai ai cũng có thể bình đẳng trước thần thánh, thoải mái cầu cúng, tự do tranh giành những vật thiêng (nếu có) như tranh nõ nường, tranh mo nang… hay giàu nghèo cũng đều tham dự với những điều kiện giống nhau vào các trò chơi, bơi, vật, đánh đu, kéo co…
Kết quả hình ảnh cho Tổng quan về Lễ hội Hà Nội
Thực ra lễ hội Hà Nội, không nằm ngoài hệ thống lễ hội Việt Nam, tính cách của lễ hội Việt Nam, chủ yếu là lễ hội vùng đồng bằng Sông Hồng. Cũng như các lễ hội tại đây, lễ hội nông thôn – nông dân. Tuy công cuộc đô thị hoá đã diễn ra trên một trăm năm nay, mà ở ngay nội thành, khá nhiều khu phố vẫn còn giữ cái cốt làng xưa, không chỉ với các thiết chế văn hoá cổ: đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ… mà cả những hoạt động họ hàng, phe giáp. 

Như ở ngôi làng cổ Thịnh Yên với (khu vực Chợ Trời) với miếu thờ thần, chùa Vua, đền họ Lê, nhà thờ họ Lê, họ Nguyễn với những cư dân kì cựu cư trú hàng chục thế hệ. Cho nên ở Hà Nội, lễ hội dân gian cổ truyền vẫn là hội làng, do một làng đứng ra tổ chức. 

Là hội làng, tức là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng gắn liền với đời sống tinh thần của những người làm nghề nông nên lễ hội Hà Nội là lễ hội của nền văn minh nông nghiệp, của những tín ngưỡng nông nghiệp. Cũng chưa nói tới các vùng ngoại thành, mà ở ngay bốn quận nội thành là đất kinh đô cũ, các lễ hội cổ truyền vẫn mang sắc thái cư dân nông thôn: ở quận Tây Hồ, hội Hồ Khẩu ven Hồ Tây có trò “Bắt chạch trong chum” là tín ngưỡng phồn thực; ở quận Đống Đa, hội Láng có mảng đốt pháo “đấu thần” đã tích hợp ít ra hai lễ tiết cổ: dùng tiếng động để nhận sự cảm ứng của tự nhiên nhằm tác động đến mùa màng và sự lưỡng hợp giữa những làng chạ cần liên minh, ở quận Hai Bà Trưng thì lễ rước nước ở đền Đồng Nhân có gốc rễ là tục thờ nước của cư dân trồng lúa nước. Và ngay giữa quận Hoàn Kiếm, hội tế trâu mùa xuân ở cửa Đông Hà (phố Hàng Chiếu) và rước mô hình trâu đi từ Hàng Buồm sang Hàng Gai, tuy có sự tổ chức của chính quyền cũng vẫn là lễ thức nông nghiệp đích thực rồi.

Song một điều cũng cần chú ý tới lễ hội Hà Nội cổ truyền không chỉ mang sắc thái văn hoá nông nghiệp mà còn tích hợp nhiều lớp tín ngưỡng, từ những tín ngưỡng tôn giáo nguyên thuỷ – ẩn tàng sâu xa – đến những tín ngưỡng tôn thờ danh nhân, tín ngưỡng tôn giáo ngoại lai du nhập không mấy cổ sơ, lại được phong kiến hoá, lịch sử hoá nhiều khi đi quá xa ý nghĩa khởi nguyên.

Như hội Gióng, bằng vào sự biểu hiện ngày nay thì là lễ hội tái hiện sự kiện lịch sử, suy tôn anh hùng chống ngoại xâm Thánh Gióng. Nhưng đó chỉ là chủ đề được lắp vào, phủ lên một nhân lối cổ sơ hơn là nghi thức lấy nước, rước nước cử hành trang trọng ngay ngày mở đầu hội đã chỉ ra các ý nghĩa khởi nguyên là tục thờ nước. Và trong một lần đi tìm hiểu hội này, chúng tôi còn được nghe một vị cố lão cho biết là “các cụ ngày xưa” có kể rằng đêm hội chính, trai gái được tự do hát đối đáp và cả đùa cợt trên bãi Sông Đuống mênh mang, cha mẹ không hề quở mắng. Như vậy thì lùi xa hơn tín ngưỡng thờ nước ở hội Gióng cổ, lại có một lớp tín ngưỡng phồn thực nữa. Hay ở hội Láng, ý nghĩa Phật giáo và Đạo giáo chỉ được lồng vào ở thời muộn, còn cái gốc của nó vẫn là phản ánh tục cầu mưa. Người ta đốt pháo để gọi sấm sét, cầu có sấm sét dẫn tới mưa rào. Cho nên hội mở ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch tương truyền là ngày mất của thánh Từ Đạo Hạnh nhưng thực tế chính sử lại ghi rằng ông mất vào mùa hạ tháng 6. Như vậy là có thể hội Láng có trước đời Từ Đạo Hạnh nhiều. Đến khi có Từ thì dân bản địa mới khoác chủ đề tôn thờ ông ra ngoài cái chủ đề khởi nguyên là tục cầu mưa.

Ở hội Đồng Nhân cũng vậy, tục thờ Hai Bà Trưng chỉ mới bắt đầu có từ đời Lý Anh Tông (thế kỷ XII) và lễ rước nước tất phải có trước thời điểm đó. Còn có thể nêu nhiều dẫn chứng khác, như tục thổi cơm thi ở các hội Nghĩa Đô, Thị Cấm, hội đua thuyền ở Yên Sở, Tây Tựu có căn cốt là nghi thức thờ nước, thờ lúa.

Điều đáng chú ý nữa ở lễ hội Hà Nội là – ở đây không có sự phân định rạch ròi giữa hai phần lễ thức và hội hè. Tín ngưỡng và thế tục đan xen vào nhau. Giữa khi lễ thức đang tiến hành trang nghiêm thì đèn vụt tắt trai gái mặc sức đùa bỡn nhau. Đó là lễ hội làng La Khê cách trung tâm Hà Nội 13km (nhưng nay thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây). Còn thuộc địa bàn Hà Nội thì làng Thuỵ Lôi (làng Nhội) ở bên huyện Đông Anh thì giữa lúc kiệu “vua” (tức hình ảnh An Dương Vương) – sau khi bái vọng thánh Trấn Võ – quay về đình thì cuộc đối đáp giữa vua và ông xã diễn ra chẳng khác gì một lớp chèo, một hoạt cảnh chèo. Ngược lại giữa không khí vui vẻ nhộn nhạo của phần hội hè đôi khi đan xen vào những lễ thức trang nghiêm. Như ở làng Đông Đồ (huyện Đông Anh) có trò chơi hất phết. Sau một khoảng thời gian đua tài, người trước tiên nhặt được quả phết lại phải chạy vào đình, vào tận hậu cung đặt quả phết lên bàn thờ, khấn vái “đức thánh”.

Lễ hội Hà Nội còn thấy khớp với một nhận định chung về lễ hội của nhà y học và triết học phương Tây Sigmund Freud. Sách bách khoa toàn thư Encyclopedia Universalis in ở Paris – 1930 trong mục từ Fêta, có dẫn một nhận định của Freud – viết trong sách Totem et tabou in năm 1914: “Lễ hội là một sự thái quá được phép, thậm chí được sắp đặt, và là một sự vi phạm trịnh trọng nhiều điều cấm kị”.

Quả có sự thể này trong lễ hội Hà Nội. Ngày thường, đạo lý Nho giáo gò bó người dân, quy định nghiệt ngã các thân phận. Nhưng trong những ngày hội thì các chuẩn mực hàng ngày được tạm gác lại, như trai gái tha hồ đùa rỡn trước mặt thần thánh và mọi người ai ai cũng có thể bình đẳng trước thần thánh, thoải mái cầu cúng, tự do tranh giành những vật thiêng (nếu có) như tranh nõ nường, tranh mo nang… hay giàu nghèo cũng đều tham dự với những điều kiện giống nhau vào các trò chơi, bơi, vật, đánh đu, kéo co…

Lễ hội ở Hà Nội kể ra tháng nào cũng có song chủ yếu là hội mùa xuân – hè. Hai hội mở muộn nhất là hội Gióng mùng 9 tháng 4 và hội Chèm 15 tháng 5. Các lễ hội đó, đa dạng trong sắc thái biểu hiện, trong đối tượng thờ cúng, trong nghi thức lễ tiết, trong không gian văn hoá, trong diễn xướng… nhưng vẫn có điểm chung là cầu nước, mừng mưa, cầu được mùa, mừng được mùa, dâng lễ vật tạ ơn trời đất, tổ tiên.

Ngoài ra, hội xuân – hè còn ấp ủ cả triết lý phồn thực, biểu dương sự ghép đôi, giao duyên, giao phối trai gái. Hội Hà Nội không có nõ nường, không có múa mo, nhưng có bắt chạch trong chum ở hội Hồ Khẩu, có rước dò hoa tre ở hội Sóc Sơn… Tại hội Sóc Sơn, chủ đề tôn vinh Thánh Gióng đến sau chủ đề phồn thực. Cái dò hoa tre của hàng chục làng ở quanh núi Sóc là những que tre được vót xơ một đầu (hoặc tết bằng nan tre) được rước từ các làng đến đền Sóc, chỉ để một dò ở đền để thờ, còn thì tung ra cho dân chúng cướp cầu may. Nay, dò hoa tre được giải thích một cách hữu thức là roi ngựa của Thánh Gióng, song vì cách nhìn dân tộc học – như khi nhìn chiếc đũa vót sơ cắm ở bát cơm đặt trên quan tài cúng người vừa chết – là biểu tượng của linga.

Tuy nhiên, trước sau Hà Nội vẫn là một đô thị hàng đầu của cả nước. “Thứ nhất Kinh Kỳ” vì Kinh Kỳ hội tụ tài hoa của bốn phương, nên Hà Nội có đủ điều kiện để vượt các trấn ngoại vi, để chắt lọc ra tinh tuý của bốn phương mà tạo ra bản sắc riêng mình. Cho nên ở Hà Nội xưa các chất “nhất thanh nhị lịch” là có thật. Với văn hoá đô thị – dù không lớn – cũng đã làm mềm mại đi, duyên dáng lên, bay bổng hơn những yếu tố thô phác ở hội làng các vùng quê khác, để đảm bảo tính thanh lịch, cho phù hợp với thẩm mỹ của dân đô thị có thể nêu hai dẫn chứng.

a) Mảng hội “bắt chạch trong chum” ở làng Hồ Khẩu có các điều kiện chơi giống như nhiều nơi khác có nghĩa là vẫn một dãy chum đặt trước sân đình, trong chum có nước, có thả một con chạch. Người chơi – một đôi nam nữ – phải vừa bắt chạch, vừa quàng vai nhau và bóp ngực ngay. Song ở Hồ Khẩu có khác. Dự thi vẫn là đôi nam nữ nhưng chỉ có nam là phải bắt chạch. Nữ chỉ đứng bên cạnh. Nam, một tay khoắng vào chum (để bắt chạch), một tay nắm cổ tay của nữ. Bên nữ phải vùng vẫy để tuột ra khỏi tay bên nam. Do đó nam phải nắm sao cho nữ không tuột khỏi tay mình, tuy nhiên lệ làng lại quy định là hễ cổ tay cô gái có lằn đỏ – tức bị nắm chặt quá thì nam coi như mất điểm, dù bắt được chạch. Như vậy trò chơi “bắt chạch” ở Hồ Khẩu được cách điệu hoá, tượng trưng bằng hình thức nam chỉ nắm tay nữ, gượng nhẹ nhưng cũng thật là gắn bó, đồng cảm.

b) Có thể nêu một dẫn chứng nữa: hội Chùa Vua ở quận Hai Bà Trưng. Đây là ngôi chùa duy nhất ở Hà Nội riêng thờ Đế Thích. Gần đây, các phật tử làng này mới rước thêm một số tượng Thích Ca, A di đà về thờ. Chứ trước đây trên bệ thờ chỉ có mỗi một pho tượng Đế Thích (ở Việt Nam, chỉ ở tỉnh Hải Dương là có thêm hai ngôi chùa thờ Đế Thích riêng rẽ). 

Xin nói qua một ít về Đế Thích. Đế Thích là cách dịch chữ Inđra. Đây nguyên là một vị thần (deva) trong tín ngưỡng Ấn Độ cổ thuộc về thời kỳ Vêda tượng trưng cho sức mạnh và là vua của sấm sét. Sau đó, khi có Phật giáo thì tôn giáo này đưa Inđra vào thần điện của mình, cũng như đã hoà nhập Brahma vị thần tối cao của đạo Bàlamôn vào. Và cả hai được coi như hai vị thần bảo vệ Phật pháp tích cực nhất. Khi đạo Phật sang Việt Nam thì Inđra được coi là Đế Thích và Brahma là Đại Phạm Thiên hoặc Phạm Vương. Tượng của họ được tạo theo kiểu hoàng đế, đội mũ miện, mặc áo cốn, ngồi trên ngai, đặt hai bên tượng Thích Ca sơ sinh (Cửu Long). Nhưng có chùa chỉ thờ riêng Đế Thích. 

Ở Nhật Bản cũng vậy, có những chùa chỉ thờ có Đế Thích gọi là Taishakuji (Đế Thích tự). Chùa của làng Thịnh Yên cũng chỉ thờ có Đế Thích, song vị thần này ở Việt Nam được đắp thêm cho một quyền năng nữa là rất cao cờ, coi như vua cờ. Cũng ở Việt Nam có cả một truyền thuyết “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” để khẳng định quyền uy của vua cờ Đế Thích. Và hàng năm, tại chùa vua làng Thịnh Yên, dân mở hội thi cờ. Các kỳ thủ của nhiều nơi đổ về đây đua tài, khiến ngay hội mùng 9 tháng Giêng trở thành một sinh hoạt, một hoạt động văn hoá lớn của vùng đông nam Kinh thành Thăng Long. Đó cũng là một bằng chứng của sắc thái thanh lịch của người Kẻ Chợ.

Cuối cùng có thể nêu một đặc điểm nữa của lễ hội Hà Nội là tính đồ sộ. Có những hội có quy mô lớn, ban đầu do một làng tổ chức, sau thu hút nhiều làng lân cận, trở thành hội của một vùng. Như vậy, là do đã khai thác, thu hút về lễ hội những điều kiện vật chất và tinh thần của đô thị Kinh Thành. Hội Gióng biểu tượng là cánh đồng và bãi sông, có tới hàng vạn mét vuông trở thành sân khấu của lễ hội. Và số người tham dự “coi như diễn viên” có vai trò trong hội, có tới hàng vài ba trăm người. Hội bơi thuyền làng Đăm cũng vậy, sân khấu là cả một khúc Sông Nhuệ cũ dài hàng ngàn thước và người tham dự cũng không kém con số một vài trăm. Ở hội rước vua sống làng Nhội thì núi đồi, đồng ruộng đều thành diễn trường và hành động hội có lớp lang bài trí như một vở diễn hẳn hoi.

Không chỉ đồ sộ về quy mô mà cả chủ đề cũng có nội hàm khá lớn rộng. Lấy ví dụ là hội Láng (quận Đống Đa). Ngoài làng Láng, còn có làng Mọc, làng Nhược Công, làng Cót, làng Vòng ở hai bờ sông Tô Lịch tham gia vào hội này. Như trên đã nêu, hội Láng tích hợp nhiều lớp tín ngưỡng. Trước hết, rõ rệt nhất là lớp huyền thoại Từ Đạo Hạnh – Đại Điên. Nổi bật ở đây là đám rước Thánh Từ. Ngoài những chi tiết ứng vào hoàn cảnh của nhân vật (như lên chùa Nền cáo yết với cha mẹ, xuống chùa Tam Huyền để mời cha lên thăm mẹ…) thì nghi thức của đám rước không khác gì một cuộc tuần du của vua chúa. Có thể nói rằng các “lớp lang”, “đạo cụ”, “diễn viên”, của đám rước này đầy đủ nhất so với rước ở các hội làng đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng cái phần chủ yếu của đám rước chính là thời điểm đấu thần. Lúc kiệu Thánh Từ đi tới trước cửa chùa Thánh Tổ – thờ Đại Điên, là kẻ đã giết hại người cha của Từ Đạo Hạnh – thì đám rước làng Láng bắn hàng loạt pháo (thăng thiên, pháo chuột…) vào chùa này. Pháo to, nổ mạnh có lần làm sạt cả ngôi chùa. Trong khi đó ở chùa Thánh Tổ, dân làng Dịch Vọng Tiền cùng đốt pháo bắn trả lại. Pháo đi, pháo lại ồn ã cả không gian, tiếng người reo hò vang dội. Cuộc đấu thần diễn ra khoảng nửa giờ giữa sự huyên náo. Sau đó, đám rước làng Láng lên chùa Hoa Lăng.

Ở đây có hai mảng chủ đề: mảng thứ nhất, như đã nêu trên, đám rước với một nghi lễ và “đạo cụ” đầy đủ nhất, mang tính chất đám rước vùng đô thị phong kiến, mang hình ảnh hồi quang một nghi thức triều đình, vì vùng Láng – Cót ở cửa tây thành Thăng Long không ít lần qua lại các đoàn vua quan quân sĩ đi tuần du, hành hương, chinh chiến…

Mảng thứ hai, nội dung chủ yếu làm nên vẻ riêng tư độc đáo của hội Láng là hệ thống trình diễn “đấu thần”. Ngoài việc lập lại quan hệ thù hận giữa Từ Đạo Hạnh và Đại Điên, còn tích hợp những lễ tiết cổ truyền với 2 yếu tố xứng hợp: tiếng động ồn ào và cuộc đánh nhau để giao hiếu. Yếu tố thứ nhất là một tiết mục trong loại hình tín ngưỡng nguyên sơ không chỉ ở Việt Nam mà có ở nhiều nước: dùng tiếng động để nhại lại và nhân sự cảm ứng của tự nhiên nhằm tác động đến mùa màng. Đó là việc dùng trống, mõ, chày, cối, rồi thuốc nổ để tượng trưng và hoà vào tiếng sấm, tín hiệu của mưa và thời vụ.

Yếu tố thứ hai nằm trong quan niệm kết cấu xã hội cũng rất cổ sơ ở Việt Nam: sự lưỡng hợp giữa những làng chạ cần liên minh kết ngãi được giải quyết và củng cố bằng những cuộc đấu tượng trưng giữa hai hay nhiều làng.

Như vậy, con đường hình thành tổng thể cũng như quy mô hội Láng là từ nghi lễ cổ sơ của tín ngưỡng nguyên thuỷ đã du nhập thêm nhiều huyền thoại, đã được phong kiến hoá – tức đã được lịch sử hoá – rồi lại được củng cố và làm phong phú bằng các hình thức sinh hoạt văn hoá vùng ven kinh đô.

Cũng để chứng minh thêm cho tính đồ sộ của lễ hội Hà Nội, cần kể ra ở đây nhận xét của một học giả Pháp từng chứng kiến hội Gióng vào những năm cuối thế kỷ XIX và đã viết một bài khảo cứu công phu in trên Tạp chí Lịch sử và tôn giáo (Revue de l’histoire des religions) xuất bản ở Paris năm 1883; bài khảo cứu đó có nhan đề Một lễ hội tôn giáo của nước Nam (Une fête relieuse annamite à Phu Đông) và tác giả là G. Dumoutier:

“Cái cảnh chứng tôi đã được chứng kiến sẽ còn mãi mãi trong tâm trí chúng tôi như một trong những cảnh đáng kinh ngạc nhất được thấy ở xứ Bắc Kỳ này. Tại châu Âu cổ kính của chúng ta có dân tộc nào có thế tự hào là hàng năm đã kỷ niệm một sự kiện anh hùng trong lịch sử của mình xảy ra cách đây hai nghìn ba trăm năm như thế”.

https://myhanoi.com.vn/elibrary/blog/2016/04/07/tong-quan-ve-le-hoi-ha-noi/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sau Mỹ, tàu sân bay Trung Quốc thăm Việt Nam?


09/03/2018

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc.
Hàng không mẫu hạm đầu tiên của hải quân Trung Quốc “nhiều khả năng sẽ tới Việt Nam” sau khi USS Carl Vinson về nước, theo giới quan sát, giữa lúc có tin nói rằng Bắc Kinh “không vui” khi tàu sân bay Mỹ cập cảng ở Đà Nẵng tại vùng biển hướng ra Biển Đông.
Tiến sĩ Phan Kim Nga, nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói với VOA tiếng Việt rằng bà “không ngạc nhiên” nếu Liêu Ninh cập bến ở Việt Nam vì theo bà, Hà Nội “luôn cố gắng cân bằng các lực lượng lớn trên thế giới”, nhất là với Bắc Kinh và Washington.
“Kinh nhiệm cho thấy, trong lĩnh vực an ninh và quân sự, Việt Nam đồng thời thúc đẩy hợp tác với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ”, bà nói thêm.
Những năm vừa qua, Việt Nam dường như có các động thái cân bằng quan hệ và các hoạt động ngoại giao cũng như quân sự với Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Cuối năm ngoái, Việt Nam trải thảm đỏ đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm chính thức Hà Nội, ít giờ sau khi đón Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Nhiều khả năng sau khi Hoa Kỳ gửi một tàu sân bay đến thăm cảng Việt Nam, rất có thể tàu sân bay Trung Quốc cũng đến trong thời gian tới.
Bà Phan Kim Hoa nói.
Trước đó, tàu chiến của nước láng giềng phương bắc và quốc gia cựu thù cũng “nối đuôi nhau” tới Việt Nam.
Tháng Mười năm 2016, ít ngày sau khi hai tàu chiến Hoa Kỳ lần đầu trở lại Cam Ranh sau nhiều thập kỷ, hai chiến hạm hộ vệ tên lửa cùng tàu hộ tống của hải quân Trung Quốc cũng tới cảng chiến lược của Việt Nam.
“Vì vậy, theo logic này, nhiều khả năng sau khi Hoa Kỳ gửi một tàu sân bay đến thăm cảng Việt Nam, rất có thể tàu sân bay Trung Quốc cũng đến trong thời gian tới”, bà Phan trả lời bằng tiếng Việt.
USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng.
USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng.
Trong khi đó, trả lời An Tôn của VOA tiếng Việt về khả năng này, tiến sĩ Lê Hồng Hiệp từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore nói rằng ông có “cảm giác hai bên vẫn chưa sẵn sàng”.
“Ít nhất từ phía Việt Nam, tàu sân bay là biểu tượng của sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nhưng từ góc nhìn của Việt Nam, sức mạnh của Trung Quốc lại là một mối đe dọa, đặc biệt là trong bối cảnh hai bên đang có các tranh chấp, các căng thẳng trên Biển Đông”, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế nói.
Chuẩn Đô đốc John Fuller, Tư lệnh nhóm tàu tác chiến sân bay của Hải quân Mỹ.
Chuẩn Đô đốc John Fuller, Tư lệnh nhóm tàu tác chiến sân bay của Hải quân Mỹ.
Trong cuộc họp báo sau khi USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, liên quan tới câu hỏi về hàng không mẫu hạm của Trung Quốc, Chuẩn Đô đốc John Fuller, Tư lệnh nhóm tàu tác chiến sân bay của Hải quân Mỹ, nói: “Chúng tôi có cảm thấy bị đe dọa không? Hoàn toàn không”.
Tàu Liêu Ninh, vốn được Trung Quốc mua của Ukraine và tân trang lại, thực hiện chuyến huấn luyện đầu tiên ở Tây Thái Bình Dương tháng 12 năm 2016, trong một phần nỗ lực mở rộng phạm vi hoạt động của hải quân quốc gia đông dân nhất thế giới.
USS Carl Vinson cùng các tàu hộ tống ngày 9/3 sẽ rời Đà Nẵng, kết thúc chuyến thăm kéo dài 4 ngày mà đôi bên coi là “cột mốc” và “lịch sử”.
Ông Donald Trump và Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang trong chuyến thăm Việt Nam cuối năm 2017.
Ông Donald Trump và Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang trong chuyến thăm Việt Nam cuối năm 2017.
Về thông điệp gửi tới Trung Quốc, tiến sĩ Phan Kim Nga cho rằng Việt Nam “cũng muốn qua việc này để gây ảnh hưởng tới Trung Quốc, vì hai nước có tranh chấp chủ quyền trên biển”, nhưng bà “không cho rằng việc này là nhằm mục đích trực tiếp vào Trung Quốc”.
Nhà nghiên cứu của Trung Quốc nhận định rằng “phía Mỹ cũng có một số mục đích riêng của mình” như “phát triển quan hệ nhằm bán vũ khí cho Việt Nam”.
...Việt Nam sẽ không nhập cuộc do Mỹ cầm đầu để ngăn chặn Trung Quốc hoặc trở thành liên minh của Mỹ. Hai nên sẽ phát triển quan hệ kinh tế mật thiết hơn nhưng không thể vượt quan hệ với Trung Quốc.
Bà Phan Kim Hoa nói.
“Tàu sân bay hiện diện tại Biển Đông để chứng tỏ sự tồn tại quân sự của Mỹ trong khu vực này, đồng thời chứng tỏ yêu cầu tự do hàng hải của Mỹ, cũng như cảnh cáo Trung Quốc về những hoạt động xây dựng biển đảo tại khu vực này”, bà Phan nói tiếp.
Liên quan tới các nhận định cho rằng Việt Nam “đu dây” trong mối quan hệ với Bắc Kinh và Washington, nhà nghiên cứu từ Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho rằng “Việt Nam là nước nhỏ, khó có thể chủ động trong quan hệ” và “thường là con cờ của các nước lớn” nên “khi xử lý quan hệ với các nước lớn, Việt Nam phải làm rất khéo léo”.
“Nhìn chung, vì Việt Nam có một chính sách 'ba không', tức không để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, không tham gia các liên minh quân sự và không dựa vào một bên để chống lại bên khác, cho nên Việt Nam sẽ không nhập cuộc do Mỹ cầm đầu để ngăn chặn Trung Quốc hoặc trở thành liên minh của Mỹ. Hai nên sẽ phát triển quan hệ kinh tế mật thiết hơn nhưng không thể vượt quan hệ với Trung Quốc”, bà Phan nói thêm.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm Việt Nam cuối năm ngoái.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm Việt Nam cuối năm ngoái.
Trả lời câu hỏi của VOA tiếng Việt về việc tờ Hoàn cầu Thời báo gần đây nói rằng “sự hiện diện thường xuyên của các hàng không mẫu hạm Mỹ ở Biển Đông trong năm nay có thể làm trầm trọng căng thẳng khu vực và dẫn tới sóng gió trong quan hệ Trung – Mỹ”, Thiếu tá Tim Hawkins, quân nhân phụ trách truyền thông trên tàu USS Carl Vinson, nói rằng “hải quân Mỹ đã thường xuyên hoạt động ở khu vực Thái Bình Dương, giúp duy trì hòa bình trong hơn 70 năm qua”.
Chúng tôi hoạt động trong khu vực để trấn an các đồng minh và đối tác của chúng tôi, duy trì ổn định khu vực và duy trì sự rộng mở của các tuyến hàng hải quan trọng cho sự thịnh vượng toàn cầu.
Thiếu tá Tim Hawkins, quân nhân phụ trách truyền thông trên tàu USS Carl Vinson, nói.
“Chúng tôi hoạt động trong khu vực để trấn an các đồng minh và đối tác của chúng tôi, duy trì ổn định khu vực và duy trì sự rộng mở của các tuyến hàng hải quan trọng cho sự thịnh vượng toàn cầu”, ông nói thêm.
Mới nhất, hôm 7/3, ấn phẩm của tờ Nhân dân Nhật Báo thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn nhiều lần chỉ trích quan hệ Việt – Mỹ, viết rằng “việc Trung Quốc cảnh giác và không vui là điều không thể tránh khỏi, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng chuyến thăm Việt Nam của USS Carl Vinson có thể khuấy động bất ổn ở Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]” cũng như “sẽ không tạo ra bất kỳ công cụ đặc biệt nào để gây áp lực với Trung Quốc".


- Thông điệp “nối vòng tay lớn”

Trương Nhân Tuấn 



Các thủy thủ USS Carl Vinson trình diễn tại Làng trẻ em SOS ngày 06/03/2018.

Bắc Kinh tỏ vẻ “không vui” khi Hải quân Mỹ “đổ bộ” vô Đà Nẵng. Mặc dầu lính Mỹ chỉ đến với dân chúng Đà Nẵng bằng điệu nhạc lời ca nhưng rõ ràng nó không“vô hại” chút nào. Bài “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn mang “thông điệp” mạnh mẽ.

Phải thú thật lần đầu tiên tôi ứa nước mắt khi nghe lại bản nhạc này. Nó thuộc danh sách các bản nhạc cấm phổ biến của chế độ Việt Nam hiện hành. Nước mắt đổ xuống không phải vì “xúc động” kiểu “tình cảm yếu đuối”. Mà vì tiếc nuối thời gian 64 năm (1954-2018) .... “Rừng núi Việt Nam” đang nối lại với “biển xa Mỹ”, hai bên gặp nhau “mừng như bão cát”, để“dựng tình người, trong ngày mới”... không lời lẽ nào mạnh mẽ hơn. 

Sáu mươi bốn năm “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.Thề “còn cái lai quần” cũng đánh Mỹ, rốt cục phải trở lại thời điểm ban đầu. Hai nước hai bờ đông tây Thái Bình Dương, định mạng sắp đặt người Mỹ phải là bạn của dân tộc Việt Nam. 

Tất cả những nước Châu Á có quan hệ “đồng minh” với Mỹ, không ngoại lệ, nếu không là những nước phát triển ở tầm cao, thì cũng là những “cường quốc”. Đặc biệt các quốc gia Nam Hàn, Nhật… là những nước “có lính Mỹ” hiện diện thường trực.

Lịch sử thế giới cho thấy có nhiều bài học về sự thành côngcủa “hội nhập - intégration”. Đầu tiên có thể nói là nước Nhật dưới triều Minh Trị. Việc “hội nhập” thời đó bằng “cưỡng bức”.Trước “những chiếc tàu nhả khói đen, đi ngược gió, với những họng súng đen ngòm chĩa vào bờ” đầy đe dọa, vua quan nước Nhật quyết định “mở cửa” để học hỏi văn minh Tây phương. Những chiếc tàu “đen” đó thuộc Hải quân Mỹ. 

Cùng thời kỳ Trung Hoa và Việt Nam cương quyết “bế quan tỏa cảng”. Rốt cục Việt Nam bị rơi vào ách thuộc địa, Trung Quốc bị “liệt cường phân xé”. 

Nhờ “hội nhập”, từ một quốc gia tương đương với Việt Nam thời Tự Đức, nước Nhật đã học hỏi những kiến thức tổng quát của Tây phương, như về khoa học, triết học. Không bao lâu nước Nhật được “kỹ nghệ hóa”, sau đó khẳng định vị thế“đại cường” qua các chiến thắng (thắng hải quân Trung Hoa 1895 và Nga 1905). Sự phát triển (do hội nhập) của Nhật đến mức “thần kỳ”, nước này nảy sinh tham vọng “bá chủ Á Châu”. Đế quốc Nhật bị “sụp đổ” qua sự thất bại trong Thế chiến thứ II.

Nước Nhật cũng là một thí dụ điển hình khác về sự thành công trong “hội nhập”, sau khi thua trận. Đất nước kiệt quệ vì nỗ lực cho chiến tranh, hai thành phố lớn Nagasaki và Hiroshima tan nát vì bom nguyên tử. Nhưng cũng nhờ “hội nhập”, dưới “cây dù” kinh tế và quốc phòng của Mỹ mà chỉ 25 năm sau, nước Nhật trở lại sân khấu quốc tế với tư cách“cường quốc kinh tế”.
 
Bài học “hội nhập” thành công khác là Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình. Cũng nhờ “đi” với nước Mỹ, Trung Quốc vừa được tư bản Mỹ đầu tư, vừa học hỏi được những “kiến thức” về khoa học kỹ thuật, Trung Quốc trong ba thập niên đã khẳng định vị thế “đại cường”. 

Ta còn có nhiều thí dụ về “hội nhập” thành công, như Ba Lan vào khối Châu Âu sau khi khối cộng sản sụp đổ. 

Nhưng Việt Nam là một trường hợp điển hình cho sự thất bại của “hội nhập”. 

Việt Nam “đổi mới”, cách nói khác của “hội nhập” vào “thế giới tư bản”, nhưng với tư thế “chân trong chân ngoài”.
 
Việt Nam “đổi mới” trong tư thế “kẻ thù cũ” của Mỹ và Trung Quốc.

Đối với Trung Quốc, Việt Nam phải quan hệ trong tư thế“khúm núm” vì đã mang tiếng phản bội, “ăn cháo đá bát”. Để được “bình thường hóa bang giao” với Trung Quốc, Việt Nam đã nhượng bộ nhiều thứ, đến đỗi ông Nguyễn Cơ Thạch, nguyên bộ trưởng bộ Ngoại giao cùng thời, đã than rằng “thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu”.
 
Với một “tư thế” ngoại giao hèn kém như vậy, lại còn bị thế“địa chiến lược” áp đặt, Trung Quốc không bao giờ cho phép một quốc gia Việt Nam giàu mạnh, có thể cạnh tranh, hay cản trở, với bất kỳ ý đồ nào đó của Trung Quốc. 

Đối với Mỹ, rõ ràng Việt Nam “hội nhập” chân trong chân ngoài. Biết bao đời tổng thống Mỹ, từ Clinton đến Obama, phía Mỹ đã “lẫy Kiều” không biết bao nhiêu lần để cho biết Mỹ đã không còn gì khúc mắc (hay cay cú) với Việt Nam nữa (mặc dầu Mỹ thua trận chiến tranh Việt Nam). Nhưng Việt Nam đối với Mỹ vẫn còn nguyên tấm lòng “nghi kỵ”, vừa do khác biệt về “thể chế chính trị”, cho tới việc không chia sẻ các giá trị phổ cập về tự do cá nhân (tức về nhân quyền). 

Biết bao nhiêu quốc gia “hội nhập” đều thành công. Ngoại lệ Việt Nam. Việt Nam “dò đá qua sông” nhưng nguyên nhân không thể chối cãi là do các yếu tố “nội tại”, từ “chính trị” cho tới “chế độ”, chớ không phải là các vấn đề ngoại tại (như do các thế lực thù địch v.v…). Đến bây giờ nhìn lại, Việt Nam vẫn đang ở giữa giòng sông, không biết là phải qua sông hay trở lại cố thủ trong “thành trì xã hội chủ nghĩa do Trung Quốc lãnh đạo”. 

Nếu tính từ sau chiến tranh với Pháp, 1954, đến nay 64 năm. Đảng CSVN đã làm tổn hao của đất nước số vốn thời gian là 64 năm. Chưa kể vốn liếng do máu xương 4 triệu con người. Chưa kể vốn liếng là tài nguyên quốc gia, là lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo...
Thông điệp của bản nhạc “Nối vòng tay lớn” thật là mạnh mẽ, lãnh đạo CSVN không thể không biết. 

Việt Nam không có cách nào khác là phải “hội nhập” thực sự,bước vào “sân chơi quốc tế” bằng “hai chân” (chớ không có chân trong chân ngoài hay kiểu dò đá qua sông). Thời gian là vốn liếng quý giá nhứt.

“Đi” với Mỹ Việt Nam được nhiều cái lợi. Hãy nhìn Nam Hàn, Nhật...để có nhận định đúng đắn.

Từ lâu tôi có nói rằng việc “quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông” sẽ chỉ thất bại, vì mấu chốt của tranh chấp là “chủ quyền”.
 
Các yêu sách vùng biển của các bên (như đường chữ U - còn gọi là đường lưỡi bò - của Trung Quốc) phát sinh từ tranh chấp chủ quyền. Giải quyết các yêu sách đối kháng về biển bằng cách “quốc tế hóa” là sai vấn đề. 

(Cần lưu ý với bạn đọc ý nghĩa của từ “quốc tế hóa”. Ý nghĩa này tôi đã đề cập nhiều lần. Nhiều người lẫn lộn giữa “quốc tế hóa - internationalisation” với việc “hội nhập - intégration”). 

Việt Nam phải “khẳng định chủ quyền” trước, thuyết phục được dư luận quốc tế chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó mới có thể “quốc tế hóa tranh chấp”bằng cách đưa ra một trọng tài quốc tế để phân xử. 

Việt Nam hôm nay vừa “tiếp nối” Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, lại vừa (tự nhận) là “kế thừa” di sản của Việt Nam Cộng Hòa. Ngay cả khi việc “kế thừa” Việt Nam Cộng Hòa được nhìn nhận thì Việt Nam không thể cùng lúc “kế thừa” hai lập trường “đối nghịch” về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Tức là, trên phương diện chủ quyền lãnh thổ ở Hoàng Sa và Trường Sa, vấn đề “hòa giải quốc gia” là việc đầu tiên phải làm. Sau đó là “nối vòng tay lớn” với Mỹ.

Nếu cứ theo đà “dò đá qua sông” như hiện nay, hội nhập với tư thế “chân trong chân ngoài”, kiểu “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu trong nghèo đói. 

Lúc đó độc lập, tự chủ không còn, nói gì tới chủ quyền biển đảo.

FB TRƯƠNG NHÂN TUẤN 08.03.2018


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời báo Hoàn Cầu: USS Carl Vinson thăm VN ‘chẳng tác dụng gì’

Nguồn: USS Carl Vinson’s Vietnam visit will be to little avail”, Global Times,06/03/2018


Biên dịch: Phan Nguyên
Tối ngày 6/3/2018, trang tiếng Anh của Thời báo Hoàn Cầu đăng xã luận về chuyến thăm Việt Nam của tàu sân bay Hoa Kỳ USS Carl Vinson với tựa đề “USS Carl Vinson’s Vietnam visit will be to little avail” (Chuyến thăm Việt Nam của tàu USS Carl Vinson chẳng tác dụng gì). Nội dung bài viết như sau:
Tàu sân bay USS Carl Vinson đã tới Đà Nẵng vào hôm thứ Hai. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tàu sân bay Hoa Kỳ đến Việt Nam kể từ sau Chiến tranh Việt Nam, tượng trưng cho sự nâng cấp trong hợp tác quân sự giữa Washington và Hà Nội. Các phương tiện truyền thông phương Tây đang suy đoán rằng chuyến thăm này là nhằm thúc đẩy việc ngăn chặn Trung Quốc.
Hà Nội đã cố gắng để ngăn công chúng suy diễn chuyến viếng thăm này là nhằm gửi một tín hiệu cho Trung Quốc, và hy vọng Bắc Kinh có thể coi đây là một hoạt động trao đổi bình thường giữa hai nước.
Sự cảnh giác và không hài lòng của Trung Quốc là không thể tránh khỏi, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson tới Việt Nam có thể khuấy động rắc rối ở Biển Đông.
Biển Đông có thể là nơi thích hợp cho (Mỹ) dương oai diễu võ, nhưng chính sức mạnh tổng hợp mới là điều định hình nên bối cảnh địa chính trị ở đó.
Chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson sẽ không làm thay đổi tầm nhìn chiến lược của Hà Nội trong việc phát triển đồng thời quan hệ với Bắc Kinh và Washington. Dù hợp tác quân sự Mỹ-Việt được nâng cấp đến đâu đi nữa, nó cũng sẽ không khuyến khích Hà Nội đóng vai trò như một tiền đồn của Hoa Kỳ để đối đầu với Bắc Kinh. Hà Nội có thể cân nhắc việc sử dụng hợp tác với Washington làm đòn bẩy để gây sức ép lên chính sách Biển Đông của Trung Quốc, nhưng Hà Nội vẫn thận trọng khi theo đuổi biện pháp này.
Tăng cường trao đổi quân sự giữa Washington và Hà Nội sẽ không tạo ra bất kỳ công cụ đặc biệt nào để gây áp lực cho Trung Quốc.
Sức ép chủ yếu diễn ra trên khía cạnh tâm lý nhưng sẽ không có tác dụng nếu Trung Quốc làm ngơ nó.
Trung Quốc đã trở nên mạnh hơn trong việc gây ảnh hưởng lên tình hình chung ở Biển Đông. Nếu cần thiết, Bắc Kinh có khả năng quân sự hóa quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa – NBT) nhanh chóng và có nhiều khả năng hơn trước trong việc triển khai các tàu chiến, không quân và tên lửa nhằm răn đe các hoạt động của Washington ở Biển Đông.
Biển Đông cũng là một đấu trường cho trao đổi kinh tế. Hoa Kỳ ngày càng trở nên bất lợi trong vấn đề này. Trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và các nước trong khu vực, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố trước đó đưa Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Phát triển hòa bình là mục đích chung của các quốc gia trong khu vực. Không một quốc gia nào muốn bất ổn về địa chính trị, và khu vực đã dần định hình các ý tưởng của mình trong việc giải quyết tranh chấp sau phán quyết của tòa trọng tài Biển Đông.
Hoa Kỳ được tự do gửi các tàu chiến tới Biển Đông, nhưng điều này sẽ chỉ gây lãng phí tiền bạc. Trung Quốc ít quan tâm đến chuyến thăm Việt Nam của tàu USS Carl Vinson hơn nhiều so với những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Mỹ và Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang