Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Cảnh báo cho ngày sắp tới:

Chết cười nhìn cách chống nóng của người Việt ngày nay
FB Nguyễn Thông - Mùa hạ, năm thứ 69 triều CHXHCN Việt Nam, năm thứ 3 niên hiệu Đại Quang, kinh thành trải qua trận nóng khủng khiếp, có nơi giữa phố đo được hơn 40 độ nhiệt, dân tình nháo nhào nhảy xuống hồ Tây, Gươm, Trúc Bạch... tắm. Hai hôm nay mặt trời trông như cục tiết đỏ, buổi chiều có người nhìn thấy nó sa lên sa xuống phía tây sông Nhị. Mấy nhà nuôi chó cảnh không dám cho chúng ra ngoài, phải nhốt trong phòng lạnh, sợ ra ngoài nó thè lưỡi thở, mất nước rồi chết. Có người bảo từ đận loạn Đặng Mậu Lân vua Lê chúa Trịnh tới giờ, kinh thành lại mới nóng như vậy.



Các giải pháp chống nắng của giới sinh viên và bà con lao động:











Ảnh: Sưu tầm từ internet


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi cái ác lên ngôi


Nền giáo dục VN không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu… Thay vào đó đã chỉ cho trẻ con ngay từ tấm bé  thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, làm gì cũng chỉ hướng tới tiền.
ĐỐI THOẠI VỚI GS. TSKH NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

Khi thiện và ác đổi ngôi - Xã hội VN kết thúc là thảm họa? GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nói có ngoa đâu. Ba tôi, những người cùng thời với ông cả đời đi theo cách mạng. Trên đôi vai của họ là những vì sao, là khát vọng về một xã hội công bằng, là dân tộc độc lập, tự do và hạnh phúc. Lý tưởng sống ngày đó là tổ quốc trên hết, mình vì mọi người mọi người vì mình. Còn bây giờ mọi thứ lại dường như đi ngược lại hết. Ai có nhiều quyền người ấy có nhiều lợi ích nhất. Chứ người dân chân lấm tay bùn thì chẳng có gì để tham nhũng.
GS. Nguyễn Đăng Hưng
GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng
Phóng Viên: Thưa ông, điều gì khiến ông cho rằng xã hội hiện nay biến loạn đến mức trầm trọng?
GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Hằng ngày trên các trang thông tin đại chúng, đâu đâu cũng có những chuyện cướp của, giết người, vô nhân tính. Cái ác hoành hành khắp nơi, khắp chốn một cách ngang nhiên.Điều đó cho thấy kháng thể của xã hội trong cuộc chiến chống cái xấu cái ác đang bị xuống cấp trầm trọng. Chính bản thân tôi cũng có kinh nghiệm chẳng lành. 

Một lần khi đi rút tiền từ ngân hàng, trên đường về bằng xe gắn máy có người cố tình ép sát tôi làm tôi té ngả. Họ là một đám chuyên trấn lột người đi đường gồm 4 thành viên. Người thứ tư thừa lúc tôi đôi co với kẻ gây tai nạn lặng lẽ làm động tác móc ví. Những kẻ côn đồ này đã hành động nhanh chóng trên một đoạn đường đông đúc người đi qua lại. Đó là đoạn đường giữa ngã tư Nguyễn Đình Chiểu và Cách mạng tháng 8 vào lúc hơn 2 giờ chiều chứ không phải đêm hôm khuya khoắt. 

Rất nhiều bạn bè tôi cũng từng bị như vậy. Một vị giáo sư Bỉ qua đây dạy, ngày nghỉ ông tranh thủ đi chụp hình kỷ niệm tại sân Tao Đàn. Khi chiếc để camera vừa đặt xuống để mở túi, ông bị giật luôn. Kẻ cướp hành xử ngay chốn đông người, còn vị giáo sự nọ cũng không kịp than vãn và phỉ bác. Ông tự an ủi với tôi rằng “thôi thì cái máy của tôi cũ quá rồi, đây là dịp để mua cái mới”. Một người bạn khác, ra chợ Bến Thành bị móc ví. Ông ấy hới ha hớt hải vì mất hộ chiếu và giấy tờ tùy thân. Được một lúc sau có người vỗ vai nói nhỏ bằng tiếng Anh hẳn hoi, rằng ví của ông đang ở góc bên kia đường. Ông đi đến và thấy ví của mình đó, tiền mất nhưng may mắn là còn giấy tờ. Ông ấy hài hước: “đám ăn cướp Việt Nam văn minh đấy”.

Phóng Viên: Nhưng ở đất nước nào cũng có những chuyện tương tự như vậy thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Ở Châu Âu những năm 1960, 1970 dường như rất ít tệ nạn. Cho tới khi bức tường Berlinsụp đổ, dân Đông Ấu có thể tràn qua các nước Châu Âu và từ đó tệ nạn xuất hiện nhiều hơn. Bởi tệ nạn xã hội thường xuất phát nhiều ở các nước Đông Âu. Các quốc gia ở Đông Âu kinh tế kém phát triển, nền giáo dục cũng chưa cao. Khi sang Tây Âu họ thấy ở đây giàu quá, dân hiền quá, xe đạp để ngoài đường không cần khóa nên họ lấy. Nhưng vấn đề của chúng ta lại khác, tình trạng đến mức trầm trọng khi người ta sẵn sàng giết cha mẹ vì vài trăm ngàn. Hay những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối… đó là sự băng hoại về đạo đức.

Phóng Viên: Vậy thưa ông, cái ác bắt đầu đến từ đâu?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Trộm, cướp… đến từ cuộc sống khó khăn nhưng sự chiếm đoạt của các ác lại nằm ở giáo dục và khi giá trị đạo đức bị hủy hoại, tha hóa rõ ràng. Bởi kinh tế khó khăn thì sau thời gian suy thoái sẽ vực dậy. Địa ốc đóng băng thì có ngày phục hồi. Đồng tiền mất già và từ giá mới sẽ vươn lên. Nhưng nền giáo dục của Việt Nam đang lầm đường lạc lối. Nền giáo dục không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu… Thay vào đó là từ ngay tấm bé trẻ con đã thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, chỉ thấy tiền là chính.

Một chuyện nhỏ thế này, cô bạn tôi kể rằng, con gái mình về nhà bảo mẹ sao không mua quà bánh trung thu đến tặng cô giáo. Nếu cô giáo không tìm cách để hối thúc học sinh phụ huynh phải cung phụng mình thì tại sao đứa trẻ lại lại hỏi mẹ như vậy. Thay vì chúng ta đem ánh trăng vàng, là câu chuyện về chị Hằng nga, chú Cuội để con nít biết mơ mộng sáng tạo thì lại dạy cho chúng về lòng tham muốn vật chất. Đứa trẻ sẽ nghĩ gì về cô của nó và trong tương lai chắc chắn nếu có điều kiện đứa trẻ đó sẽ móc tiền, của bằng địa vị và chỗ đứng của mình. Đây là những chuyện mà khi chúng tôi còn học phổ thông không hề có. Và chính cô giáo kia vì hoàn cảnh xã hội, vì điều kiện kinh tế đã vô tình tiếp tay phá hoại nền giáo dục quốc dân. Đây là không còn là câu chuyện nhỏ mà là một vấn đề trầm trọng. Các em lớn lên trong một môi trường giáo dục như thế, xã hội biến chất, đảo điên như thế. Bởi vậy nên mới có chuyện con giết cha mẹ để có tiền chơi game. Đây là đỉnh điểm của sự bấn loạn rất khó tưởng tượng là có thể đi đến điểm nào tệ hơn nữa.
Khi con người không được bảo vệ

Phóng Viên: Vậy ông có nhận xét gì khi gần đây trên nhiều tờ báo có viết về những hành động “tự xử” của người dân thay vì báo công an?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Đó là hậu quả phải chờ đợi. Tội phạm không sợ bị trừng trị, không sợ bị lên án, Họ đánh mất lòng tự trọng nên thay vì xấu hổ và lo sợ chúng lại quay ra thách thức xã hội, hành hung những người dám ngăn cản mình. 
Từ năm 2007 khi ấy tôi tham gia giảng dạy cho lớp cao học khoa quốc tế của Trường đại học Bách Khoa. Trong số đó có một sinh viên luận văn yếu quá nên không đạt điểm. Bởi vậy tôi đề nghị ra các em làm lại để chấm lại. Tuy nhiên trong số đó có một học sinh không chịu làm mà muốn qua môn. Phụ huynh đã đến gặp nhưng tôi từ chối. Tôi bảo tôi chỉ có thể tiếp khi đã thi xong. Nhưng cũng từ đó ngày nào tôi cũng bị mấy cuộc điện thoại dọa giết, dọa đâm xe… Sau một thời gian không chịu nổi tôi báo công an, kèm với các đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện dọa nạt để công an làm rõ. Nhưng kết cục công an có làm hay không tôi không biết nhưng mặc tôi cứ giải trình vụ việc vẫn không dừng lại và ngày càng nhiều cuộc điện thoại hơn.

Sau mấy tháng như vậy tôi cảm thấy rất mệt mỏi và đành tự giải quyết. Hôm ấy có vị giáo sư bạn từ Hà Nội vào tôi đã kể về chuyện này. Sau đó tôi nhờ ông nếu có cuộc điện thoại dọa nạt đến, ông hãy nghe dùm tôi. Ông hãy nói mình là công an từ Hà Nội vào giúp tôi giải quyết sự việc. Và xác định với đầu giây bên kia rằng ông đã ghi lại tất cả các cuộc điện thoại dọa nạt và biết tác giả là ai, địa chỉ ở đâu. Cho nên sắp tới sẽ có những cuộc thăm hỏi từ phía công an. Sau đó bên kia cúp máy và từ đó không bao giờ tôi còn bị làm phiền và dọa giết nữa. Tuy nhiên, cũng mất ròng rã 4 tháng trời. Câu chuyện của tôi tương tự như sự việc vừa qua, người dân Nghệ An đã đốt xe tên trộm chó. Qua những điều này cho thấy công an dần dần xa rời nhiệm vụ chính của mình là bảo vệ người dân lương thiện. Hiện trạng này ngày càng nguy ngập…

Phóng Viên: Nghĩa là lòng tin từ dân bị mất mát thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Đúng vậy, chưa bao giờ lòng tin của người dân mất mát ghê gớm đến thế. Từ anh lái taxi, đến anh đi xe ôm hay người thợ xắt tóc… đều mang tâm trạng lo âu về cuộc sống. Người ta lo không biết mình sẽ sống thế nào đây, thu nhập thế này có đủ sống không. Họ cũng theo dõi báo đài, họ cũng đặt niềm tin vào việc chống tham nhũng của Chính Phủ. Nhưng mọi chuyện dường như lại đâu vào đó. Điều đó cho thấy họ chờ đợi sự thay đổi mà sự thay đổi ở đây không phải thay đổi căn cơ chế độ mà ít ra thay đổi nhân sự. Những người không kiềm chế được tham nhũng không làm được gì với tham nhũng phải được thay thế, nhường chỗ cho những người giỏi hơn với quyết tâm cao hơn, với tinh thần vì dân tỏ rõ nét hơn…

Phóng Viên: Nhưng không phải tất cả mọi câu chuyện đều giống nhau thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Thời điểm Pháp thuộc, đất nước ta bị bóc lột, dân Việt bị bần cùng hóa. Đây là lý do chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Hiện thực xã hội lúc đó cũng có thể là thời điểm đen tối nhưng cũng có nhà văn phản tỉnh, trí thức tả chân. Cụ thể như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố trong tác phẩm của họ tố cáo trước dư luận những tội ác của thực dân và sự cùng cực của dân tộc bị trị . Nhưng những cuốn sách ấy được xuất bản, và truyền lại cho hậu thế. Còn bây giờ tôi không thấy những cuốn sách như vậy. Không phải không có những người tài mà những cuốn sách đó khó được in ấn xuất bản một cách chính diện. Người tốt giờ đây phải co cụm lại, im lặng…

Phóng Viên: Nghĩa giá trị và quy luật thiện thắng ác đang bị đảo ngược thưa ông? .

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Đúng, nhưng cái ác hành hoành, người tốt, người có đạo đức, vốn là rường cột của xã hội họ lại phải lui về thúc thủ, bàn quan. Bởi vì nếu can thiệp họ sẽ gặp tai họa, gặp rắc rối. Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên. .

Phóng Viên: Nhưng tại sao nhiều người nước ngoài tới Việt Nam lại bảo an ninh ở đây tốt thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Ở một số nước như Philippin, Indonesia, Pakistan, Thái Lan… thường hay có các phe quá khích hồi giáo, chống phương Tây. Người có đạo Hồi giáo theo phe quá khích oán hận các nước phương Tây vì nhiều lý do lịch sử. Họ tổ chức khủng bố trên bình diện quốc tế, nhất là trong thế giới Hồi giáo. Còn ở Việt Nam chính trị ổn định, Phật giáo hiền hòa, Công giáo cũng vậy nên người nước ngoài tới đây yên tâm là không bị khủng bố. Nhưng chuyện cướp, giật đường phố, bạo lực học đường thì ngày càng trầm trọng.

Nền giáo dục tự hoại

Phóng Viên: Nhưng chúng ta không thể đổ hoàn toàn cho giáo dục. Bởi trong ca dao vẫn dạy “anh em như thể chân tay, thương người như thể thương thân…” Và vẫn còn nhiều tấm gương tốt trong xã hội?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Hồi cách mạng năm 1789 ở bên Pháp, giáo dục nằm trong tay nhà thờ. Cách mạng thành công, trường học được giải phóng, việc giáo dục trở thành lĩnh vực của thế nhân, chính quyền dân sự. Tuy nhiên, người Công giáo vẫn có có quyền mở lớp riêng cho họ… Những người theo đạo có quyền đi học ở mọi trường lớp và đức tin của những con chiên được nhà nước đảm bảo và tôn trọng. Xin kể một kinh nhgiệm cá nhân mà tôi đã thâu thập tại Bỉ. Tôi là người theo đạo Phật, vợ tôi là người Công Giáo. Các con tôi theo đạo bố nhưng vì trường công giáo rất nghiêm, tôi ghi tên các con theo học tiểu và trung học tại đây. Nhưng không vì thế mà chúng bị phân biệt. Ở trường con tôi đứng đầu lớp về môn học giáo lý công giáo, tuy chúng nó thưa với thầy cô là chúng nó theo đạo Phật. Những nhưng thầy cô ở đây nói rằng: Con tin vào điều gì hãy giữ vừng niềm tin đó. Đằng này chúng ta đưa chính trị vào trường học, nhồi nhét quan điểm một chiều trong trường học. Thay vì khuyến khích yêu thương nâng đỡ nhau để giải quyết các vấn đề thì có một thời ta lại khuyến khích đấu tranh để sống còn. Mà đấu tranh giai cấp là tiêu diệt kẻ thù, tiêu diệt thế lực thù địch… Thói ghen ghét, đố kỵ ở đâu cũng có, nhưng tôi có cảm nhận tại ViệtNamngày nay, những tật xấu này có phần gay gắt một cách không bình thường.

Phóng Viên: Nghĩa là dù thế nào con người cũng phải sống với một niềm tin thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Vâng tôi có cảm tưởng niềm tin ở con người, ở tổ chức xã hội bị đánh mất. Khoảng trống không có gì bồi đắp nhất là khi lòng tin ở tâm linh bị phá vỡ hay không được vun xén nữa. Hậu quả nhãn tiền là người ta ngày càng coi trọng vật chất hơn là những giá trị tinh thần. Đã có một thời, không xa lắm, những giá trị tâm linh, tôn giáo bất cứ từ xu hướng nào bị bài bác. Thái độ vị kỹ, thực dụng trở thành bao trùm. Phạm trù thần linh phai mờ trong tâm thức con người và dần dần lòng tham lam của thân xác, của dục vọng sẽ không có gì ngăn cản nữa. Lương tâm con người chìm xuống, cái ác lên ngôi. Chẳng những kỷ cương xã hội bị phá vỡ mà luân thường đạo lý gia đình tan biến. Đây chính là hậu quả phải chờ đợi của việc đánh mất niềm tin, xoá bỏ đức tin…

Phóng Viên: Nghĩa vấn đề nằm từ gốc chứ không phải ngọn thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Đúng thế. Một một lớp học tiểu học, sự giàu nghèo thể hiện ngay trong ăn mặc, trong những tiệc sinh nhật của từng đứa trẻ. Những đứa trẻ con nhà giàu có nếu không được dạy phải thương bạn, tôn trọng bạn, chúng sẽ ra sao khi trưởng thành. Những đứa trẻ nghèo khó luôn tự hỏi tại mẹ sao không mua cho con áo đẹp, tại sao mẹ không mua cho con cặp đẹp. Tất cả những cái đó nếu không được giải tỏa bằng các bài học thường trực hàng ngày thì lâu dần sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của một đời người. Giáo dục thường thức, giáo dục công dân đang có vấn đề. Tuổi trẻ xao nhãn học văn, ngán gẫm học sử vì bài học, vì sách giaó khoa quá ư cứng nhắc, một chiều, không hấp dẫn, không sinh động. Giới trẻ ngày nay không biết sử ta, nhưng khi mở ti vi lên, khắp mọi kênh chiếu toàn phim Trung Quốc. Tình trạng này đang dẫn đến tai hoạ trước mắt là tuổi trẻ ta hiểu biết lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử ViệtNam. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Phóng Viên: Bởi vậy ông cho rằng xã hội hiện nay giống một câu chuyện cổ tích mà kết thúc là thảm họa?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nói có ngoa đâu. Ba tôi, những người cùng thời với ông cả đời đi theo cách mạng. Trên đôi vai của họ là những vì sao, là khát vọng về một xã hội công bằng, là dân tộc độc lập, tự do và hạnh phúc. Lý tưởng sống ngày đó là tổ quốc trên hết, mình vì mọi người mọi người vì mình. Còn bây giờ mọi thứ lại dường như đi ngược lại hết. Ai có nhiều quyền người ấy có nhiều lợi ích nhất. Chứ người dân chân lấm tay bùn thì chẳng có gì để tham nhũng.

Phóng Viên: Vậy theo ông, bài học trường trực trong nhà trường phải nói về yêu thương?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Đúng vậy, ở trường hiện nay tôi thấy ít có chủ trương dạy con thương yêu cha mẹ. Chỉ thấy dạy yêu tổ quốc nhưng người ViệtNam cũng như các dân tộc khác, căn bản là gia đình. Trẻ con phải được dạy yêu thương cái nôi là yêu cha mẹ, yêu anh em, yêu ông bà rồi mới yêu cái cây đa, yêu cái đình làng, cánh đồng lúa chin, con sông nho nhỏ uốn quanh làng quê, con đường phố rợp bóng mát cây xanh, rồi mới đến yêu tổ quốc với tất cả những yếu tố văn hoá, lịch sử đi theo: Tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du…. Vì với trẻ con tổ quốc là điều gì rất mông lung. 5, 6 tuổi biết thế nào là tình yêu tổ quốc. Tuổi này nó cần bàn tay ấm áp của mẹ, sự vuốt ve của cha, sự nâng đỡ của anh và bài học giáo dục mỗi ngày ở nhà, ở trường cũng phải thường xuyên như vậy. Nhưng dường như bài học thương yêu, đề cao những tâm hồn cao thượng, tình tương thân tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương, thương người như thể thương thân, đã bị làm cho mờ nhạt từ lâu. Một môi trường như vậy mà bạo lực không xuất hiện mới là điều lạ.

Yên Trang (thực hiện)
Blog Nguyễn Đăng Hưng
 

(Tân Sơn Nhất ngày 13/11/2012)
Nguồn:Blog Nguyễn Đăng Hưng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Năm mươi năm sống trong giới văn chương



Lời dẫn 
 
 Mấy năm  1965-67, đang làm giáo viên văn hóa ở một đơn vị quanh Hà Nội , tôi đã có một vài bài viết in trên báo Văn nghệ, Tạp chí Văn Nghệ quân đội,  nên  từ tháng 3 1968,  được chuyển về công tác tại nhà số 4 Lý Nam Đế.
    Từ đấy tôi đã  sống cả cuộc đời công chức ( == cán bộ nhà nước) trong  nghề,  bao gồm hơn chục năm làm báo và gần ba chục năm  chuyển sang Hội nhà văn làm xuất bản.
Tuy tới 2007, tôi đã nghỉ hưu, nhưng hơn chục năm nay vẫn viết đều trên báo và trên mạng, nên có lý do  để nói rằng tôi đã sống trong giới văn chương được năm mươi năm.
Việc không bao giờ nhận lương nhà nước chỉ để viết ra những gì mà người trả lương  cho mình yêu cầu khiến tôi hành nghề như một thứ nghiệp dư nghĩa là thích cái gì thì viết, không thích cái gì thì không nhận.  Tùy sức khỏe. Tùy ham thích. Hoàn toàn tùy nghi, tùy tiện.
 Loại công chức như tôi lương đã không mấy, viết lách lại chẳng thêm được bao nhiêu, có lúc tôi đã tự hỏi  cái gì buộc mình phải lẽo đẽo theo nghề như vậy.  Hóa ra  tôi yên tâm để đổi lấy một chút tự do trong hành nghề và cảm thấy mình sòng phẳng với đời.   
Ví dụ, tôi biết nhiều đồng nghiệp của tôi được đọc được ca tụng chỉ vì họ đi dạy, những điều họ viết ra trở thành khuôn vàng thước ngọc cho người khác sử dụng.
Tôi thì không, người ta đọc tôi chỉ vì người ta muốn đọc thế thôi và tôi cảm thấy thích thú với mối quan hệ sòng phẳng đó. 
Cái chất “lông bông “ đó của tôi đã được một bạn đọc cảm nhận rất rõ. Ông viết trên một com-men rằng cứ tưởng tôi là một nhà văn tiền chiến.
Thú thực là tôi quá sung sướng khi nghe nhận xét đó, vâng không phải là một nhà văn tài năng, một cây bút “ có hạng “ gì cả mà chỉ là một thứ nhà văn biết sống trong nghề, coi việc viết là một nghề vừa  thực hiện ước mơ vừa kiếm sống cụ thể.
 Mà ở xứ ta thì chẳng cứ nghề văn nghề gì cũng khó sống lắm, người ta đua nhau  chuyển sang quan chức, kể cả quan chức trong văn chương.
Biết rằng như thế, nhưng lại biết mình không có năng lực quản lý nên khi “cờ đã đến tay” tôi vẫn từ chối. Khoảng những năm tám mươi, anh Bằng Việt khi đó mới chuyển sang Hội văn nghệ Hà Nội , có rủ tôi sang  bên đó, hứa sẽ cho tôi làm  phó Tổng biên tập tờ “Người Hà Nội”, tôi đã từ chối. 
Rồi cuối  những năm chín mươi, tôi cũng không dám nhận chân Phó Tổng biên tập nhà xuất bản Hội nhà văn —lần này do anh Nguyễn Kiên bảo.
Khi nghĩ về năm chục năm qua, tôi cảm thấy không có gì phải hối hận.  Không bao giờ tôi viết  vì  muốn đạt được những mục đích ngoài văn học.  Tôi săn sàng chấp nhận những thất bại khi lang thang sang những khu vực mới.  Thường xuyên tôi cảm thấy mình không bằng anh A ở điểm nay, anh B ở điểm kia, nhưng tôi tự an ủi rằng tôi đã tìm thấy mình và đã cố gắng thế là được rồi.

 Năm mươi năm qua nghĩ lại, tôi còn vui vì thật ra tôi được mọi người hiểu đúng. Các bài báo viết về tôi thường đã được tôi lại và  đăng rải rác  trên blog này nên  có lẽ không cần đưa lại. Hôm nay , tôi chỉ chọn ra hai bài, 
một của một nhà nghiên cứu có theo dõi về các nhà phê bình 
và hai là một bài phỏng vấn của một nhà báo tôi không quen và  chỉ gặp tôi một lần, tuy qua chín năm trời nhiều điều liên quan đến kế hoạch viết của tôi nay không  đúng nữa nhưng vào thời điểm năm 2009 thì cũng đã là một bài giới thiệu tạm đầy đủ.
Nhân đây xin gửi tới anh Thiện và anh Quân lời biết ơn của tôi.


I/
Nguyễn Ngọc Thiện
VÀI NÉT VỀ VƯƠNG TRÍ NHÀN    http://edu.go.vn
 Thứ tư 07/12/2011

Vương Trí Nhàn là nhà lý luận phê bình có đầu óc thực tế tôn trọng hiệu quả hữu dụng, thực dụng của bất cứ một hoạt động nào, cả sáng tác cũng như nghiên cứu, lý luận phê bình văn học.
Ông quê gốc xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 15/11/1942. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, vào học trường Đại học Sư phạm Hà Nội khoa Ngữ văn, khóa 1961-1964. Ra trường, trong hoàn cảnh chiến tranh, ông vào quân đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự và tại ngũ ngót 15 năm cho tới đầu 1979 mới chuyển ngành. Trong quân đội, lúc đầu ông dạy học sau làm báo, làm biên tập viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1968. Từ năm 1979 đến khi nghỉ hưu, hơn 20 năm ròng ông làm công tác biên tập sách lý luận phê bình ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Những công trình đã xuất bản của ông có thể xếp vào hai khu vực:

a- Sách khảo cứu biên soạn gồm: Sổ tay người viết truyện ngắn(1980); Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (1986);Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (2000)…

Các cuốn sách này cho thấy ông triển khai việc giới thiệu, nghiên cứu về các thể loại sáng tác văn học và chân dung nhà văn một cách có bài bản. Đặc biệt các lời dẫn hoặc nghiên cứu tổng quan về thể loại truyên ngắn, tiểu thuyết đi sâu vào các phương diện bếp núc của nghề viết, về diện mạo, đội ngũ các nhà văn sáng tác về Hà Nội hôm nay... được viết một cách nhuần nhuyễn, sinh động và sáng rõ, là minh chứng về bản lĩnh tư duy học thuật của ông, sự quan tâm thường trực của ông đối với nghề viết và đội ngũ viết văn.

b- Mảng sách thứ hai, có năm quyển đưa ông vào hàng những nhà phê bình ăn khách. Đó là:

Bước đầu đến với văn học (Phê bình - tiểu luận, 1986); Những kiếp hoa dại (Chân dung và phiếm luận văn học, 1993); Cánh bướm và đóa hoa hướng dương (Tiểu luận - phê bình,1999);Buồn vui đời viết (Sổ tay văn học, 2000); Ngoài trời lại có trời(Tiểu luận phê bình về tác gia, tác phẩm văn học nước ngoài, 2003).

Các tập sách thuộc mảng này cho thấy cách nhìn riêng của ông đối với công việc viết văn, đời sống văn học, nhà văn trong và ngoài nước. Ông dường như xa lạ với lối lý tưởng hóa nghề văn, người viết văn. Với ông, viết văn chỉ là một nghề, bên cạnh những mục đích cao cả, đáp ứng nhu cầu xã hội hướng về Chân - Thiện - Mỹ, nâng cao nhận thức và làm giàu cho tâm hồn con người. Văn học cũng là một nghề như bao nghề khác, nó thỏa mãn nhu cầu tự biểu hiện của con người, nhằm mục đích thực tế về mưu sinh, tồn tại. Nhà văn tất nhiên là người có tài năng đặc biệt, xuất chúng trong sáng tạo những văn bản nghệ thuật bằng ngôn từ, nhưng mặt khác trong đời thường họ cũng có thân phận buồn vui, ứng xử hay dở như bao người. Với lối viết nhiều khi như tọc mạch, soi mói vào những mặt còn khuất lấp của toàn bộ quá trình văn học: đời sống xã hội - nhà văn - tác phẩm - công chúng... ông đưa ra những nhận xét hóm hỉnh, thông minh, bề ngoài như là nói chuyện phiếm, nhưng trong sâu xa của các ý kiến ấy, người đọc buộc phải đối mặt kể cả đối với những thực tế không thuận chiều, trái khoáy, nghịch cảnh... Nghĩa là văn chương cũng như đời thường thật là muôn mặt, phồn tạp, phiền phức, khôn dại , hay dở, thật khó lường.

Về phương diện lý luận, Vương Trí Nhàn xa lạ với lối trình bày lý luận chay. Từ sự quan sát tinh tường các hiện tượng lớn nhỏ thậm chí tế vi, khó nói, ông dần dần dẫn dắt người đọc cùng suy nghĩ với mình về những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lý luận đặt ra, nảy sinh từ đó. Lý luận với Vương Trí Nhàn phải được bật ra, chưng cất từ thực tiễn, từ Cây đời xanh tươi của đời sống văn chương, học thuật, từ lao động viết văn và niềm thích thú hay xa lạ với tác phẩm văn chương của công chúng.

Ghi chú của VTN  (25-7-2013)

Xin bổ sung vào bài viết trên:
1/ Một số cuốn sách của tôi sau khi in lần đầu từng được in lại:
--Sổ tay truyện ngắn in lại 2 lần
--Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 in lại 1 lần; và đây là tên in lần thứ hai, còn lần đầu có tên là Khảo về tiểu thuyết
--Những kiếp hoa dại in lại 3 lần
--Cánh bướm và đóa hoa hướng dương in lại 2 lần trong đó có một lần lấy tên là Nghiệp văn
-- Buồn vui đời viết in lại một lần
--Ngoài trời lại có trời , một lần

2/Ngoài ra còn bốn cuốn khác,thuộc loại quan trọng nhất với tôi
--Chuyện cũ văn chương(2001),
-- Cây bút đời người(2002), in lại một lần và được giải thưởng của cả Hội nhà văn Hà Nội và Hội nhà văn Việt Nam
-- Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX tới 1945 (2006).
-- Phê bình & tiểu luận gồm những bài lẻ,chưa đưa vào các tập nói trên

3/ Sau hết, tính đến 2013, tôi có hai tập phiếm luận Nhân nào quả ấy,2002 in lại 1 lần, và Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009

II/
 Nguyễn Văn Quân (thực hiện)Nguồn: CAND, 06/03/2009

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn: 
Tôi chỉ sợ mình nhìn sai...

Chính thức thì ông làm biên tập ở NXB Hội Nhà văn, nhưng độc giả lại biết đến Vương Trí Nhàn với tư cách là một nhà nghiên cứu phê bình nhiều hơn. Đặc biệt, vài năm trở lại đây, một loạt bài viết về "thói hư tật xấu", về văn hóa ứng xử của người Việt được ông cho đăng trên các báo, ít nhiều gây sự chú ý của dư luận. Ông từng bày tỏ quan điểm: "Tôi chỉ sợ mình nhìn sai chứ không sợ mình nhìn vào cái xấu"...

-Được biết, ban đầu ông cũng ôm mộng sáng tác, nhưng sau một thời gian, ông lại chuyển sang nghiên cứu và viết phê bình?

+ Đầu tiên tôi cũng thích sáng tác. Đặc biệt khi vào bộ đội, nhu cầu viết lách là rất lớn. Các cuộc thi thơ hay ca dao do các Sở Văn hóa tổ chức, tôi đều nhiệt tình tham gia, nhưng đến một thời điểm mới nhận ra rằng, về sáng tác, mình không thể nào bằng Nguyễn Khoa Điềm, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật... được. Trong một dịp, được cầm trên tay tập thơ "Sức mới", đọc thấy rất nhiều nhà thơ tên tuổi là bạn bè mình và đặc biệt, những cảm xúc của bạn trong tập thơ, mình đồng cảm được. Vậy là cầm bút bình một vài bài thơ trong đó. Bài viết được đăng trên báo Văn Nghệ năm 1965. Đó là bài viết phê bình đầu tiên của tôi.

- Nói như vậy nghĩa là ông đã may mắn, bởi, chỉ một thời gian ngắn, ông đã nhận ra mình, biết được thế mạnh và con đường đi của mình…

+ Đúng như anh nói. Tôi không mất quá nhiều thời gian để tìm đường đi. Đó cũng có thể gọi là may mắn được nhỉ. Vì đến giờ mình cũng đã có hơn 40 năm làm phê bình rồi.

- Hơn bốn mươi năm "làm dâu trăm họ", làm cách nào mà ông có thể theo nghề một cách bền bỉ và trường kỳ đến như vậy?

+ Ở dơn vị  về VNQĐ năm 1968, mặc dù cũng có một số bài viết được đăng báo nhưng tôi chưa có ý nghĩ theo nghiệp phê bình lý luận. Thậm chí, nhà thơ Vũ Cao, khi đó là Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội bảo tôi: "Nhàn về đây làm phê bình được thì làm, không thì làm... kế toán".
Về Văn nghệ Quân đội tôi mới thực sự xác lập cho mình một ý thức viết chuyên nghiệp. Đầu tiên phải yêu công việc của mình. Tức là anh phải có "lửa" với nghề. Tôi nghĩ để có thể trường kỳ được là tôi đã "phả" được vào trong các bài phê bình chất văn học. Khi viết, tôi cảm tưởng như mình đang sáng tạo chứ không phải nghiên cứu dưới góc độ hàn lâm như nhiều nhà phê bình khác. Đó cũng là nét riêng của tôi. Nhưng nói thật là nhiều khi cũng buồn, bởi trong đời sống văn học, những nhà phê bình luôn bị coi như phận làm "lẽ", phận "ăn theo" nhà văn.

- Tôi lại nghĩ phê bình và các tác phẩm luôn luôn có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Nhưng nhìn vào đời sống văn nghệ thì thấy mối quan hệ này chưa thật tương xứng. Các nhà phê bình tên tuổi thì hình như ngày một ngại viết. Đa phần chỉ còn những cây bút không chuyên. Mà phần nhiều mới "bình", chứ chưa "phê"?

+ Ý kiến của anh không sai nhưng nếu nói sâu xa thì điều ấy chỉ đúng với thời đại ngày nay, tức là các sản phẩm văn học đã thành hàng hóa và ít nhiều cũng phải được các nhà phê bình gợi mở, mổ xẻ giúp người đọc. Trong lịch sử, văn học ra đời khi chưa có phê bình. Ví như Trung Quốc, có hàng nghìn nhà văn tên tuổi nhưng các nhà phê bình chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nước ta cũng vậy. Nên hiện vẫn tồn tại một nền phê bình chậm và chưa tương xứng.

- Vậy có một hướng giải quyết nào để gần hơn, tương xứng hơn giữa phê bình và sáng tác không, thưa ông?

+ Văn học phải phát triển hơn nữa. Báo chí và các ngành xã hội phải phát triển hơn nữa. Vừa làm vừa phải ngoái lại nhìn. Từ trước đến nay mình chỉ quen làm mà chưa quen nhìn.

- Vậy dưới con mắt của một nhà phê bình, ông nhận xét như thế nào về vị trí của văn chương Việt Nam so với thế giới?

+ Tôi xin khất câu trả lời này. Có một thực tế ở Việt Nam, học sinh phổ thông khi học văn, chỉ được nhà trường giảng dạy rất sâu về từng tác giả và tác phẩm nhưng ít khi có được một cái nhìn tổng thể. Chưa một ai khái quát được nền văn học nước nhà mà chỉ nói chung chung. Kiểu như, chúng ta có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc... Đây là một vấn đề tôi cũng rất muốn tìm hiểu nên chưa thể trả lời bạn được. Tuy nhiên, việc làm này là công phu và không thể một sớm một chiều có lời giải.

- Khi đã có một cái tên, thậm chí giải thưởng Hội Nhà văn của ông cũng là một cuốn sách phê bình văn học (Cây bút đời người) nhưng rồi ông lại chuyển sang nghiên cứu văn hóa?

+ Văn học là một bộ phận của văn hóa. Hai phạm trù này rất gần nhau. Năm 1989 tôi đã có những bài viết về văn hóa và xem nó như một nhu cầu tự thân. Vừa rồi, Hội Nhà văn đặt tôi viết một cuốn sách "Nhìn văn học dưới góc độ văn hóa" qua đó mình càng có điều kiện để bước chân vào nghiên cứu văn hóa. Tất nhiên, thành công đến đâu thì tôi chưa dám khẳng định.

- Được biết, trước đây Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có ý định làm cuốn sách "Thói hư tật xấu" nhưng rồi chưa kịp. Có phải ông muốn kế tiếp công việc còn dang dở của GS Vượng?

+ Việc này có lần tôi nói rồi. Từ khi cầm bút viết phê bình văn học, tôi phần lớn tập trung vào cái dở, cái chưa được của nhà văn cũng như tác phẩm. Có người bảo tôi là tà tâm, tầm thường nhưng tôi không sợ. Tôi chỉ sợ mình nhìn sai chứ không sợ mình nhìn vào cái xấu. Mà nhà văn, đầu tiên phải là một con người bình thường. Từ đó tôi mới có ý định đi tìm những "thói hư tật xấu" của người Việt.

- Nhưng nói chung, tâm lý người đời từ trước đến nay chỉ thích khen, chê là khó chịu, cho dù anh chê đúng. Với việc làm này của ông ít nhiều sẽ gây ra tranh luận?

+ Nhiều chứ. Sự phản ứng ấy là hoàn toàn hiểu được. Tôi nhớ có lần Nguyễn Minh Châu viết một truyện ngắn đưa cho Triệu Bôn xem, xem xong Triệu Bôn nói đại ý truyện không mới, chỉ ở mức thường. Vậy mà Nguyễn Minh Châu giận mãi. Đến một hôm hai người tắm chung một buồng, Triệu Bôn mới dám khẽ khàng hỏi: "Chẳng nhẽ tôi nói không đúng sao?". Lúc này Nguyễn Minh Châu mới nhăn mặt bảo: "Đúng nhưng mà vẫn...tức". Nói vậy để thấy rằng, một tên tuổi như anh Châu mà vẫn có những cảm giác ấy.

- Thì đến thi sĩ Tản Đà đầu thế kỷ 20 cũng bảo: "Dân hai lăm triệu ai người lớn/Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con..."…

+ Đấy, các cụ ngày trước rất tinh đấy nhé. Họ nhận thức được cả nhưng thay đổi thì chưa tìm được cách đi đúng hướng.

- Nhưng tôi được biết trong bài trả lời phỏng vấn một tờ báo điện tử cũng về chủ đề này, đến phút 24 ông đã nổi giận bỏ về và thề không bao giờ gặp người phóng viên kia nữa?

+ Giờ thì tôi không giận họ nữa. Tôi hiểu, nhiều khi họ cũng muốn có những cách làm, cách "gài" phát ngôn của nhân vật để bán được báo, được nhiều người đọc. Tôi bảo tôi không giận nữa vì chuyện cũng đã qua và... cũng chẳng biết giận ai. Khi phỏng vấn, phóng viên đó đã không dám xưng tên họ và khi đăng bài lại ký là "nhóm phóng viên". Thật lòng qua dịp đó cũng là cơ hội cho tôi học thêm về sự tha thứ

- Ở Trung Quốc cũng đã có hai cuốn sách rất nổi tiếng là "Người Trung Quốc xấu xí" và "Người Trung Quốc tự trào" họ lên án những tính xấu của dân tộc họ rất nặng nề và gay gắt, nhưng đó lại là những cuốc sách rất được đón nhận. Mà đúng ra, thấy được cái xấu, cái yếu của mình để rồi khắc chế nó mới thực sự là kẻ mạnh?

+ Thì rõ là thế. Ngày trước chúng ta phải có những sách lược và cách nhìn nhận mình cho phù hợp với nhiệm vụ thời đó nhưng giờ thì nên thay đổi. Xưa nay kẻ tự biết cười mình, biết tự trào mới là người giỏi.

- Vậy để có cơ hội "nhận ra mình", cơ bản chúng ta phải làm gì thưa ông?

+ Tôi cho rằng khả năng tự nhận thức của mỗi người là quan trọng nhất.

- Đọc Vương Trí Nhàn, tôi thấy cách làm của ông là phê bình văn học dưới góc nhìn văn hóa. Qua văn hóa để thấy văn học. Điều này không  giống như nhiều người khác?

+ Các nhà phê bình phần lớn là làm tự phát. Có nhà giáo viết sách là để học trò học và nể, có nhà nghiên cứu viết là để lấy học hàm học vị. Còn tôi, tôi mong muốn có dịp đi được đến tận cùng vấn đề một cách sâu, rộng. Các bài viết của tôi không dành cho học sinh đang theo học những giáo trình hiện nay. Nó dành cho người nào có thể chia sẻ ít nhiều trong đó…

- Và trong một số những bài viết, ông đã gợi mở được nhiều điều, hữu ích cho việc xây dựng và quy chuẩn những nét văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử. Nhưng cũng mạn phép để nói, sự nhìn nhận của ông có vẻ... tiêu cực và thiếu lạc quan quá. Kiểu như, bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng vậy. Có phải ông nghĩ: "Yêu nên cho roi cho vọt..."?

+ Không phải thế. Tôi chỉ muốn nói rằng, dù gì con người cũng phải tự nhận thức được mình và phải biết ước mơ. Nếu tôi không làm thì thể nào cũng có người khác làm. Nó là nhu cầu thực của cuộc sống…

- Dạo này ông đang viết gì?

+ Tôi dành thời gian tổ chức lại bản thảo "Văn học Việt Nam thế kỷ XX dưới góc nhìn văn hóa"... Mong muốn, còn làm được đến đâu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố.


- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện cởi mở này



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đảng viên đi trước, làng nước theo sau










Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trai gái ôm, sờ lên linh vật trong lễ hội ‘rước của quý’ lớn nhất Việt Nam


02/03/2018 - Trong lễ “rước của quý” dài 1m, nặng 60kg lớn nhất Việt Nam tại Lễ hội Ná Nhèm nhiều người dân, nhất là chị em phụ nữ tỏ ra thích thú. Ai ai cũng quan niệm chạm vào linh vật này sẽ mang lại may may mắn, cháu con đầy đàn.

Cô gái xinh đẹp ngượng ngùng sờ lên linh vật.
Sáng 2/3 (15 tháng Giêng), hàng nghìn người dân và du khách thập phương đã đến dự Lễ hội Ná Nhèm diễn ra tại xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội Ná Nhèm trong tiếng Tày có nghĩa là “mặt nhọ”, được phục dựng từ năm 2012 đến nay.




Điểm đặc sắc nhất của lễ hội Ná Nhèm là màn rước sinh thực khí nam (Tàng thinh) và sinh thực khí nữ (Mặt nguyệt). Ý nghĩa của việc này là ước mong sinh sôi nảy nở, con cháu đầy đàn.


Những thanh niên trai tráng trong làng kiệu Ngài từ đình làng Mỏ ra miếu Xa Vùn (thờ Đức Thánh Cao Sơn Quý Minh) để cùng vui hội.



Vào khoảng 9h sáng, các thanh niên trai tráng ở trong làng đã khiêng đồ cúng lễ ra khu vực làm lễ và cung tiến đến đức Vua ở miếu Xa Vùn. Điểm đặc biệt của Tàng thinh năm nay là sơn màu gụ giống màu đất.



Sau khi Tàng thinh được đưa ra khu vực làm lễ, nhiều du khách vui vẻ chụp ảnh lưu niệm. Ai cũng phấn khích sờ vào linh vật để cầu mong may mắn trong năm mới.




Tàng thinh năm nay được làm bằng gỗ dổi, có đường kính khoảng 22cm, chiều dài 1m30, trọng lượng 60kg. Nhiều chàng trai đội linh vật lên đầu mình, chụp ảnh kỷ niệm.




Người dân nơi đây quan niệm đầu năm đi xem hội rước, sờ vào linh vật sẽ may mắn trong năm mới, con cái sinh sôi nảy nở.



Ngoài nam giới thì các chị em phụ nữ rất “phấn khích” khi đi xem hội.

Khải Phong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tủi hổ một dân tộc!


Mấy nghìn năm dựng nước giữ nước, trong bất cứ thời đại nào, vương triều nào. Trong bất cứ thời cuộc nào, thế nước nào. Thịnh suy có thể khác nhau, minh quân hôn vương có thể riêng biệt. Nhưng từ ông thầy đồ là anh sĩ tử hỏng khoa thi về làng gõ đầu trẻ cho đến bậc mũ cao áo dài cáo lão từ quan điền viên đọc sách dạy chữ đều luôn được kính trọng, đều luôn có một chỗ đứng đặc biệt trong lòng người dân nước Việt, từ dân cho đến quan, từ quan cho đến vua.

Vậy mà, ở thời điểm này, nhà giáo hốt nhiên biến thành một lớp người yếm thế.
Yếm thế đến độ lặng im chứng kiến một bà Hiệu trưởng nói dối khi ngồi xe taxi vào tận sân trường để tài xế taxi gây tai nạn khiến một học sinh tiểu học gẫy chân.
Yếm thế đến độ bị điều đi rót rượu bưng bia đón chào quan khách.

Yếm thế đến độ dạy thêm bị bắt quả tang cay đắng nhìn mặt mình trên trang báo không khác cảnh rượu lậu thuốc phiện năm nào.

Yếm thế đến độ đổi tình lấy biên chế, đổi tiền lấy suất dạy gần nhà.

Yếm thế đến độ người làm quản lý giáo dục phút chốc trở thành quan, người trực tiếp đứng lớp thành con dân.

Và hôm nay, người ta chứng kiến một cô giáo phải quỳ để cầu xin sự thứ tha của phụ huynh học sinh, ngay tại lớp học, ngay tại ngôi trường ngày ngày cô truyền thụ kiến thức cho các em.

Người đưa đò đã thật sự chết chìm vì đò đắm.

Khi mà lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn loay hoay trong mớ bòng bong danh hiệu Phó Giáo sư – Giáo sư, thì ngay lúc này, tinh thần tôn sư trọng đạo của một dân tộc đang bị chà đạp đến tận cùng.

Lỗi này do ai, do các anh chị, do tôi. Chúng ta lâu dần cũng đã phai nhạt nhiều sự kính trọng dành cho các thầy cô giáo. Chúng ta khoác cho họ cái áo sứ mệnh ép họ mặc lấy, bất chấp cái họ cần là một cuộc sống mưu sinh không quá nhọc nhằn. Chúng ta ca ngợi họ để họ cạn nước mắt ở đỉnh núi cao gieo chữ, con dốc sâu ươm mầm non với mờ mịt tương lai.

Là lỗi do chúng ta, bấy lâu nay trơ mắt nhìn rường cột của quốc gia lung lay mà câm lặng.

Thưa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ,

Đến nước này thì ông có thấy đau lòng chưa, và nếu đau lòng thì ông sẽ làm gì để lấy lại sự tôn nghiêm cho các thầy cô giáo?

Việc ấy, chắc chắn quan trọng hơn những chuyến tàu vét danh hiệu. Mặc cho, những chuyến tàu vét ấy luôn ăm ắp hiện kim.
Theo Ngô Nguyệt Hữu
http://autoxe.net/doi-song/tui-ho-mot-dan-toc.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÀ ĐANH LÀ AI?

 


THƯ MỜI
 
Anh/chị và các bạn thân mến!

Vào lúc 14h30 chiều thứ bảy, 10/03/2018  tại Salon Văn hóa quán CÀ PHÊ THỨ BẢY, số 3A Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Cà phê với PGS. TS ĐINH HỒNG HẢI



Chủ đề: “BÀ ĐANH LÀ AI? ”

(TÌM HIỂU THẦN LỰC NỮ TÍNH (SHAKTI) QUA BIỂU TƯỢNG LAJJA GAURI 
TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ VÀ BÀ ĐANH TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM)
 
Chủ trì: PGS. TS DƯƠNG TUẤN ANH

Rất mong các bạn đến tham dự. Hân hạnh được đón tiếp!
Giám đốc: Nhạc sĩ Dương Thụ


Phần nhận xét hiển thị trên trang