Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Một bài viết về Nguyễn Trãi mới đưa trên mạng "Nghiên cứu lịch sử"

VTN


Lời dẫn
Làm sao để kiểm chứng các thông tin lịch sử?
Một cháu gái  vừa về quê Hải Dương ăn tết kể với tôi,  thời nay ở  quê cháu trong năm qua nhiều người chết trẻ, mà toàn ung thư, lý do là vì các xí nghiệp địa phương ô nhiễm lắm, xem cá ngoài sông nhiều đợt xả  chất thải cũng nổi lềnh bềnh trên mặt nước, đủ hiểu những tác động của môi trường tới con người.
 Mặc dầu biết cháu ở Hà Nội là chính, chỉ về quê mấy ngày tết, song tôi nghe tin ngay.
 Vì bao nhiêu tin tức tương tự  được lan truyền trong cộng đồng, “ở ngay đây”, “trong lúc này”.
Nhưng  có những loại thông tin khác, chẳng hạn như các chi tiết dưới đây, đưa ra trong một bài viết về Nguyễn Trãi
Nó khác với loại tin trên vì mấy lẽ:
-- nó  nói chuyện, từ khoảng năm sáu trăm năm trước
-- nó thông báo những sự kiện lớn liên quan đến cả cộng đồng
-- nó nói một sự thực có khác hẳn đi  so với  các thông tin chính thống -- ở đây là sách lịch sử.
 Vậy phải kiểm chứng ra sao? tại sao tin? tại sao không?

  Không bị ràng buộc bởi những quan niệm cũ
 Duyên do là  nhân mò mẫm trên trên  trang mạng  Nghiên cứu lịch sử, tôi  chú ý  tới bài viết mang tên “Nguyễn Trãi: bề tôi của bốn dòng vua”  của Lê Tư
https://nghiencuulichsu.com/2018/01/18/nguyen-trai-be-toi-cua-bon-dong-vua/

  Bài viết cho biết Nguyễn Trãi và cả cha ông nữa  đã từng làm quan cho nhà Minh. Bị ép chăng? Không, ông hoàn toàn tự nguyện.  Chúng ta chỉ có thể hiểu  việc đó, nếu biết tình hình hỗn hào trước khi quân Minh kéo sang. Nội bộ Việt nam phân hóa. Lọai những người như Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Trãi bị những người cùng hàng ngũ của mình xua đuổi hãm hại.  Nhưng điều quan trọng là ông đã tìm được đủ lý lẽ biện minh cho cái hành động  thường bị coi là trái chiều này, ông tìm thấy ở đó con đường của người trí thức chân chính.  Rồi mười năm sau, kinh nghiệm trong những năm làm quan và học hỏi dưới thời Minh  là cách tốt nhất để ông chuẩn bị cho việc giúp  Lê Lợi .
Đại khái như thế.Vì bài viết quá dài, tôi hiểu nhiều bạn đọc sẽ rất khó khăn để đọc hết.
Tôi những muốn làm công việc tóm tắt lại bài này, như tôi đã làm với bài viết cũng của tác giả Lê Tư về Trần Nguyên Đán mà tôi đã đưa trên blog này :
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2018/01/nha-tran-thoi-hau-chien-bai-tiep.html

   Nhưng hiện tôi không đủ sức như mấy tháng trước, đành chỉ ghi lại tóm tắt như trên và chỉ muốn nhân đây thông báo với các bạn về công việc âm thầm của một số nhà nghiên cứu lịch sử mà chúng ta nên biết và nên tin.
Nếu công nhận những thông tin loại này tức là tôi phải xét lại nhiều điều cơ bản mà các bạn chắc  cũng như tôi được dạy dỗ từ nhỏ, và  do đó gây ra những đảo lộn kèm theo những hệ lụy  phải chịu. Trong phạm vi nghề văn, tôi nhớ tới trường hợp vở kịchNguyễn Trãi ở Đông Quan viết hồi 1986  nó là niềm tự hào của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Khi đọc vở kịch, tôi không bao giờ nghi ngờ cái sườn chính là các chi tiết làm nên sự vận động tư tưởng của nhân vật chính Nguyễn Trãi. Nay theo Lê Tư thì  vở kịch từng được ca tụng của ông Thi hoàn toàn vô nghĩa. Thế tại sao vẫn có một thứ ma quỷ xui khiến, tôi  bị các lý lẽ của Lê Tư lôi cuốn, và tôi muốn mọi người cũng đọc bài viết ấy và cũng tin như tôi.
Cố nhiên bây giờ ai đó bác được những dẫn chứng của Lê Tư và chứng minh một cách thuyết phục ông Lê Tư này chỉ nói sàm thì tôi lại tin theo người đó ngay.
Nhưng bây giờ hãy nói về các tài liệu của Lê Tư cái đã.
Trong quá khứ, sử Việt quá yếu, những cuốn như Toàn thư  Thực lục mặc dầu vượt xa các bộ  sử  VN từ sau 1945  cả một cái đầu, song khó đọc lại quá ít.
 Khi khai thác mấy bộ ấy, cũng như khai thác các tài liệu  sử Việt  của các tác giả nước ngoài, người viết sử ở Hà Nội sau 1945  có lối  chỉ chọn lấy những gì hợp với tình hình đương thời và gạt bỏ hẳn những chi tiết  thấy không có lợi.
 Nói chung chúng ta có lối nghĩ rất đơn giản.
 Ta bảo nhau, giặc Minh sang trước sau thất bại, làm gì có chuyện “kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản” như  Toàn thư viết và Lê Tư trích lại trong bài viết cũng mới đầu đưa trên Da màu, rồi đưa lại trênNghiên cứu lịch sử.
Cụ thể hơn, ta thường  bảo nhau dạy nhau rằng  một người như Nguyễn Trãi thuộc loại đệ nhất công thần của nhà Lê tác giả bản thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo không thể có thời gian chấp nhận  chính quyền nhà Minh,  không thể có lúc phục vụ cho chính quyền thuộc địa.
Trên nguyên tắc chúng ta  chỉ chấp nhận thứ lịch sử nghiêm chỉnh đến cứng đờ và nghèo nàn đến công thức.
Chúng ta hay chế giễu những người đưa ra những phát hiện mới ngược với quan niệm tổng quát mà ta theo đuổi.
Chúng ta thường căm ghét những người muốn viết lại lịch  sử.
Nhưng trong lịch sử sử học, những người phiêu lưu được đánh giá cao. Họ thất bại thì họ chịu có làm phiền ai đâu. Họ thắng thì cả xã hội cả cộng đồng được nhờ.
Tác giả Lê Tư đã đi theo hướng đó.

Từ những tài liệu mới, đi tới kết luận mới
hay là 
Một cách làm việc đáng tin cậy
 Một điều khiến tôi thích thú với bài báo của Lê Tư là ở tính cách  hồn nhiên của ngòi bút tác giả. Tôi chưa bao giờ  bắt gặp  tên tuổi này trên báo chí. Dựa vào cách viết của ông, qua thơ để hiểu người, tôi đoán ông đã có tuổi (?). Ông cũng không để lộ dấu tích rằng mình là một nhà nghiên cứu "nghiệp dư" nhưng vượt xa các nhà nghiên cứu ăn lương để làm nghề này ở trong nước – tạm gọi là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.
  Để đi tới bài này, trước đó ông đã viết về  Trần Nguyên Đán Nguyễn Phi Khanh. Nhưng bài này làm tôi ngạc nhiên hơn cả. Ông đã đọc  những tài liệu chữ Hán cần thiết bao gồm:
a/ tài liệu Việt Nam.
Về sách cổ, tôi đoán nhiều nhà  nghiên cứu lịch sử hiện nay không đọc kỹ Toàn thư và có đọc thì chỉ đọc bản dịch chứ không nghiền ngẫm trên từng câu trong nguyên văn như Lê Tư.
 Về sách kim, tuy đang ở hải ngoại nhưng Lê Tư đọc hết những cuốn liên quan đến Nguyễn Trãi, đã được làm ở Hà Nội từ nửa sau của thế kỷ trước, cho tới các bộ mới in ở tủ sách Quốc học  do Mai Quốc Liên chủ trì.
b/ tài liệu nước ngoài.
Lâu nay người mình không có thói quen cho dịch in các sách viết về lịch sử các nước khác.
Cuốn Minh thực lục là một ngoại lệ. Nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long 2010, bộ sách chữ Hán này đã được trích in một phần, chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam.  Vậy mà đã lên tới gần ba ngàn trang khổ 16.24.
Trong hoàn cảnh học thuật hiện nay, tôi đoán người đọc nó không bao nhiêu.
 Lê Tư thì coi đây là điểm tựa  chính.
Từ các trích đoạn trong  Minh thực lục, Lê Tư đã dẫn ra những “chi tiết chết người” như
--  cuối đời Trần xã hội rơi vào một cuộc náo loạn, các phe phái tiêu diệt nhau.
-- Do sự hư hỏng của giới chính trị chóp bu, giới trí thức trở thành nạn nhân. Khi nhà Minh sang, hàng loạt trí thức lớn đương thời đều theo về triều đình  phương Bắc  và có người được bổ  nhiệm những chức khá to như thị lang.
--  Trong cái mạch ấy,  chúng ta không lạ khi bắt gặp  những  sự kiện mà trước kia không ai nói tới quanh cách xử thế của cha con  Nguyễn Phi Khanh - Nguyễn Trãi.
 Đối với các học sinh sinh viên thời nay, cả ở Hà Nội  cũng như ở Sài Gòn trước 1975,  ta  đinh ninh tin rằng Phi Khanh bị bắt giải về nước, Nguyễn Trãi đi theo, rồi  nghe lời  người cha dặn dò rằng “ hãy trả thù cho cha” , Nguyễn Trãi mới quay về sống lẩn quất mười năm ở Đông Đô.
Ngược với điều đó, Lê Tư cho biết, trong thực tế,  Nguyễn Phi Khanh đã từng làm  quan chức kha khá khi theo  nhà Minh, còn Nguyễn Trãi sau khi theo nhà Minh  làm một chức quan nhỏ (1410),  lại  đã quay về làm quan ở Đông Đô (1417-1422)  tức là cộng tác với bộ máy quản lý thuộc địa – hai chữ thuộc địa là trong nguyên bản của Lê Tư .
  Trong  chứng minh cho việc Nguyễn Trãi có sang Trung quốc rồi nhận một chức quan nhỏ của nhà Minh, Lê Tư đã làm cái việc mà  các nhà nghiên cứu  trước đây dừng lại.
  Ta biết rằng những bài thơ chữ Hán Nguyễn Trãi đã viết mà có liên quan với  các địa điểm Trung Quốc  từ lâu đã được nhà sưu tầm đầu tiên về Nguyễn Trãi là  Dương Bá Cung công nhận. Đến  các nhà nghiên cứu nhóm Phan Võ-Lê Thước-Đào Phương Bình ở Hà Nội 1962, mảng thơ này thì lại xếp vào mục tồn nghi ( nghĩa là cho rằng có thể không phải của Nguyễn Trãi).  Đào Duy Anh khi làm Nguyễn Trãi toàn tập tuy  cũng nhận rằng Nguyễn Trãi có xuất ngoại, nhưng cũng chỉ  xếp các bài thơ này vào mục  riêng.
Về phần mình,  vẫn trên con đường là dùng thơ để hiểu tiểu sử, nhưng Lê Tư không bị một thành kiến nào ràng buộc. Hơn nữa, “nhà nghiên cứu nghiệp dư” của chúng ta  có một công cụ hiện đại là các trang mạng, các loại bản đồ được đưa trên internet. Với công cụ tìm kiếm hiện đại và khả năng bao quát như thế,  những điều Lê Tư nói ra rất khó bác lại.

 Một  điều nữa khiến tôi bị hấp dẫn bởi ngòi bút Lê Tư  là ông  giữ được sự mực thước và dung dị  thản nhiên trong giọng điệu. Một nhà sử học như Tạ Chí Đại Trường mới mất năm trước quan tâm tới những vấn đề rất lớn trong sử Việt,  ông viết nhiều, lúc nào cũng độc đáo và  đầy thách thức với sử học cũ,  mà phần lớn là thuyết phục. Chỉ tội một nỗi là ông mang những tình cảm bản thân vào trang viết khiến người đọc nhiều khi quá mệt.  Nói như một người  bạn tôi là Nguyễn Bá Dũng, lối  viết ấy  khiến cho những trang sử của Tạ Chí Đại Trường khó  dịch ra tiếng nước ngoài.  Lê Tư thì khác, ông viết dung dị đơn giản, do đó lại dễ đọc.

 Tóm lại, sở dĩ tôi tin Lê Tư vì hai lẽ. Một là khả năng bao quát tài liệu. Hai là ngòi bút nghiên cứu khách quan và chừng mực, không bị những ràng buộc và những thành kiến ngoài khoa học chi phối. Tôi cho đây là hai tiêu chuẩn để kiểm chứng các thông tin lịch sử. Bài viết  của ông còn tiến khá xa trên con đường khái quát bước đi của người trí thức trong hoàn cảnh đất nước lạc hậu trì trệ, cái nhìn của ông về Nguyễn Trãi là gợi ý để chúng ta đi vào các trường hợp khác như Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản...

Phụ lục
Hai  đoạn ngắn trích từ bài Lê Tư

1/
Về việc nội bộ giới cầm quyền Hậu Trần  chia rẽ khiến cho Nguyễn Trãi  cộng tác với nhà Minh.  Theo Lê Tư,  Nguyễn Trãi đã suy nghĩ nhiều và học vấn của ông đủ sức biện minh hành động của mình.

 “Ông phải tìm lối đi khác bởi nhà Hồ thờ ơ với dân mà đánh mất “thiên mệnh”. Ai cấm nhà nho từ bỏ một triều đại như thế?
Trình diện người Minh, Nguyễn Trãi hội nhập trở lại với cộng đồng ưu tú tại Đông Quan.
Có lẽ nhờ tận mắt chứng kiến cảnh gần như toàn bộ nho sĩ An Nam hợp tác với chính quyền mới, Nguyễn đã nhận thức lại hoạt động của họ Hồ. Cải cách cấp tốc thiếu cơ sở ủng hộ từ các tầng lớp xã hội, đặc biệt từ địa chủ hào trưởng và trí thức, khiến Đại Ngu đổ vỡ nhanh chóng dưới áp lực bên ngoài lẫn bên trong. Sau chiến bại, dân trại chỉ nhớ nhà Trần, dân kinh lộ ngả theo Hoàng Phúc. Lòng trung từng giữ với họ Hồ dần biến thành hoài niệm. Chính Phi Khanh đã quay lưng với chủ trong giờ phút nguy cấp nhất, hành động của phụ thân ít nhiều tác động đến tinh thần người con hiếu thảo. Dùng danh hiệu “anh hùng” tôn vinh Hồ Quý Ly, trong thực chất Nguyễn xác định chúa cũ chưa xứng bậc vương giả. Nhà nho giữ lòng trung với một hoàng đế thụ mệnh trời, ai lại trung với vị anh hùng trơ vơ trên đầu dân chúng?"

2/
Các suy nghĩ của Nguyễn Trãi là vượt lên trên số phận cá nhân để nhìn ra hướng đi của lịch sử
[Nguyễn Trãi nghĩ] Nước đổ rồi, vét làm sao? Ngó sen dù đứt tơ nào còn vương! Nhóm Hậu Trần ở Thanh Nghệ làm được gì? Họ chưa giết hết người Minh đã quay sang giết người Việt. Nhóm tinh hoa đồng bằng làm được gì? Họ lũ lượt kéo sang Kim Lăng khiến cả nước hầu như trống rỗng. Bản thân Nguyễn làm được gì? Lặng lẽ lên thuyền đến Trung Hoa như nhiều trí thức khác! Người Nam còn cơ may nào khẳng định vận mệnh riêng của mình? Nguyễn không diễn tả bằng lời, nhưng hành động phát đi tín hiệu rằng: theo ông, lịch sử đã sang trang.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lời thẳng về 2 dự án bauxite: Nỗi lo sự cố


Ngọc Hà
Viêc mở dự khai thác bauxite trên đất Tây Nguyên nước ta cách đây đã hơn hai chục năm. Ngay từ thời đó, sự việc đã gây ra bất đồng lớn trong dư luận, nảy sinh nhiều ý kiến phản bác, nói rõ nhiều tác hại đối với chủ quyền đất nước, với môi trường, với quân sự - quốc phòng và còn tác hại cả về kinh tế… Nhưng vì dự án là một “chủ trương lớn của Đảng” (như lời TBT Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định) nên nó vẫn được triển khai một cách quyết liệt. Còn bao nhiêu ý kiến phản biện, và kiến nghị gửi các cấp có thâm quyền thì đều bị bỏ ngoài ta, không ai đếm xỉa. Vì vậy các ý kiến, kiến nghị - kể cả của các bậc công thần khai quốc- cũng không hề được đăng trên báo chí chính thống. Đến nay, qua thời gian khá dài hoạt động, dự án bauxite Tây Nguyên đã bục ra nhiều vấn đề nghiêm trọng không thể làn ngơ được nữa, thì mới bắt gặp được một loạt bài báo của “quốc doanh” nhắc đến những bất cập của hai dự án “ đầu tư thí điểm” Tân Rai và Nhân Cơ. Các báo cũng đã đăng công khai một số phản hồi của bạn đọc. Có người đã bày tỏ rằng: Nhôm thời hiện tại không phải mặt hàng đắt đỏ hiếm hoi gì trên thị trường toàn cầu, quặng nhôm thì giá còn bèo nữa. Trong khi đó việc khai thác lại có quá nhiều vấn đề, cho nên cái “Chủ trương lớn” giờ nên chấm dứt đi, càng theo càng chết dở. Lấp đất lại, làm việc khác, nhôm để đấy cho hậu thế quyết định…
Theo thông tin trên báo chí, mới đây Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có báo cáo tổng kết, đánh giá hiệu quả đầu tư thí điểm 2 dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ gửi Bộ Công Thương tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Báo cáo nêu rõ, trong quá trình sản xuất, dự án đã xảy ra sự cố 3 lần nhưng được khắc phục kịp thời. Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng ''trong tương lai, dự án vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về ô nhiễm và sự cố môi trường có thể xảy ra''.
Trao đổi với Đất Việt về thông tin trên, TS. Nguyễn Văn Ban nguyên Trưởng ban Nhôm - Titan Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam (cũ) cho rằng, lời cảnh báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường là điều không phải bàn cãi. Từ trước tới nay, những dự án này luôn tiềm ẩn nguy cơ về ô nhiễm và sự cố môi trường có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
''Không phải đến bây giờ mới xuất hiện nguy cơ ấy. Riêng về hồ bùn đỏ, trước đó đích thân những vị lãnh đạo cấp cao đã căn dặn phải luôn lưu tâm.
Nguyên lý cơ bản thì ai cũng có thể nói được, nhưng quan trọng hơn đi vào cụ thể để đưa ra lời cảnh báo rõ ràng. Từ đó cùng nhau tìm ra giải pháp cho vấn đề, tránh các nguy cơ có thể xảy ra.
Đối với 2 dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ, phải xem xét rất kỹ tình hình vận hành bấy lâu nay, kiểm tra lại thiết kế. Có những vấn đề cố hữu và có cả những vấn đề mới nảy sinh.
Phải nắm rõ được hết những vấn đề đó thì mới có thể đánh giá sát được nguy cơ về ô nhiễm và sự cố môi trường có thể xảy ra tại các dự án này'', ông Ban nêu quan điểm.


Tổ hợp bauxite Tân Rai tại Tây Nguyên
Theo TS. Nguyễn Văn Ban, nguy cơ tiềm ẩn rõ ràng nhất là ở hồ chứa bùn đỏ. Bùn đỏ khác bùn thải, bùn đỏ được thải ra trong quá trình xử lý Alumin, có hàm lượng kiềm cao. Còn bùn thải được thải ra trong quá trình khai thác quặng cũng có màu đỏ. Tính chất và mức độ nguy hại của 2 loại bùn này cũng khác nhau.
Ở Hungary đã từng xảy ra sự cố vỡ hồ chứa bùn đỏ và nó trở thành một trong những thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử của nước này. Do đó, ông Ban cho rằng, cần phải tiến hành khảo sát cụ thể các đập hồ chứa bùn đỏ tại 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ, từ đó đưa ra đánh giá và các giải pháp cụ thể.
''Tiềm ẩn thì rõ ràng là tiềm ẩn rồi, nhưng cái tiềm ẩn ấy có hiện hữu và đe dọa đến môi trường hay không, đe dọa ở khu vực nào, đe dọa như thế nào? Đó mới là điều cần phải bàn tới một cách cụ thể về mặt kỹ thuật'', vị chuyên gia nhấn mạnh.
Trong báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường có yêu cầu các bộ: Xây dựng, Khoa học và Công nghệ xem xét, hướng dẫn chủ dự án xử lý khối lượng lớn bùn đỏ, tro xỉ thải để tái sử dụng các loại chất thải này nhằm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả kinh tế cho dự án.
Về vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Ban cho biết, trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về xử lý bùn đỏ. Phải thừa nhận rằng ý tưởng này rất hữu ích nhưng tính hiện thực của nó là không có..
''Nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu về phương án xử lý bùn đỏ nhưng không thành công. Không thành công không phải là về mặt khoa học - kỹ thuật mà là về mặt kinh tế.
Với một loại nguyên liệu chứa chỉ khoảng 30% sắt thì đứng về mặt sản xuất gang thép thì nó là nguyên liệu thứ cấp. Ngay cả quặng có hàm lượng sắt cao hơn, khi sản xuất cũng còn gặp khó khăn nếu xét về mặt kinh tế.
Các chuyên gia đã nhìn nhận được vấn đề này từ rất lâu rồi, nhất là những người sản xuất gang, thép. Họ phải công nhận rằng, việc tận dụng bùn đỏ là không có hiệu quả kinh tế, không làm được'', ông Ban phân tích.
N. H. https://baomoi.com/loi-thang-ve-2-du-an-bauxite-noi-lo-su-co/c/24998204.epi


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bến… không chồng


28/02/2018 - Định kiến 'không chồng mà chửa' vẫn còn khá khắc nghiệt ở một số địa phương, buộc nhiều cô gái phải trốn gia đình tìm đến các nhà tạm lánh. Nhiều năm qua, nơi đây như bến đỗ an toàn của họ.

Chuẩn bị bữa cơm chiều ở nhà tạm lánh Mai Tiến, ẢNH: LAM NGỌC
Chiều tàn, con hẻm nhỏ bên hông giáo xứ Tây Hải (KP.4, P.Hố Nai, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) vắng tanh. Đi qua một khúc đường vắng, hai bên là những nấm mộ hài nhi bị bỏ rơi được người từ tâm nhặt về chôn cất, chúng tôi mới tới được nhà tạm lánh Mai Tiến. Khu nhà đơn sơ khoảng hơn chục phòng, có bếp chung, khu sinh hoạt cá nhân, ít tiếng chuyện trò. Đây là bến tạm của gần 30 phụ nữ “không chồng mà chửa”. Ở đây, họ cùng chia sẻ nỗi đau, giúp nhau vượt qua tủi hờn. Không ít cô gái đã mạnh mẽ vươn lên làm lại cuộc đời ngay bến tạm đó.
Làm mẹ từ thuở… 13

Nghe tiếng người lạ, nhiều phụ nữ ôm bụng bầu vượt mặt tìm chỗ núp. Sau một hồi ngấp nghé, chắc chắn những người đến không có ai quen, họ mới trở lại công việc dang dở là bọc vỏ kẹo lấy tiền nuôi thân. Một số khác lặt rau, chuẩn bị bữa cơm chiều. 

Nguyễn Thị Xuân (17 tuổi, ngụ Bình Chánh, TP.HCM) là người trẻ nhất ở đây. Xuân có bạn trai 16 tuổi. Vì không có kiến thức tránh thai nên đôi trẻ đã để có bầu, khi vỡ lở cái thai trong bụng em đã ở tháng thứ 6. Nếu phá sẽ ảnh hưởng đến tính mạng nên cô bé được gia đình gửi vào nhà tạm lánh Mai Tiến để chờ sinh. Dù sắp làm mẹ nhưng gương mặt Xuân vẫn còn rất ngây thơ, em nói: “Mẹ con bảo sinh xong sẽ cho đứa bé vì không có ba, sau này nó cũng khổ; vả lại con còn phải lấy chồng. Nếu họ biết có con riêng thì cuộc sống sẽ rất khó khăn”.

Mới tới nhà tạm lánh hơn một tháng, cùng ăn, ở và chứng kiến nhiều bà mẹ khác dằn vặt, đau khổ Xuân thấy sợ. Em bảo, sau này có thế nào thì những ngày tháng sống ở đây cũng khó xóa được trong ký ức của mình.

Trước Xuân, nhà tạm lánh Mai Tiến từng tiếp nhận những bà mẹ ở tuổi 13 - 14. Ông Nguyễn Văn Tịch (Trưởng ban Bảo vệ sự sống giáo phận Xuân Lộc, Đồng Nai) vẫn nhớ như in câu chuyện của T. (13 tuổi). Em bị chú ruột và ông nội hiếp dâm dẫn đến có bầu. Khi xét nghiệm DNA, đứa bé được xác định là của ông chú nhưng cô bé lại nói là của ông nội. Trong khi những người lớn còn đang đùn đẩy tội lỗi cho nhau thì cái thai trong bụng cô bé ngày càng lớn. Không có ba mẹ bên cạnh bởi họ đã ly hôn và có tổ ấm mới, gia đình ông nội là nơi em ở đã chẳng còn an toàn. Giải pháp cuối cùng là T. phải vào nhà tạm lánh. Tại đây, dù được mọi người giúp đỡ cả về tâm lý và sức khỏe nhưng em hoàn toàn thiếu vắng sự săn sóc của những người thân.

Làm mẹ ở tuổi 13 nên T. chưa thể quyết định vận mệnh của đứa con do mình sinh ra bởi ngay chính bản thân em cũng chưa biết tương lai sẽ thế nào. Ông Nguyễn Văn Tịch cho biết: “Khi T. nhìn con rõ ràng đó là ánh mắt của một người mẹ, chan chứa tình thương và rất nhiều cảm xúc. Dù vậy cuối cùng vẫn phải cho đứa trẻ vì em không đủ điều kiện nuôi nó”.



Cuộc chạy trốn lúc 3 giờ sáng
Từ nhiều vùng miền đất nước, mỗi người một hoàn cảnh khác nhau nhưng họ có chung nguyện vọng là muốn giữ lại đứa con trong bụng.
Tối 15.12.2017, hàng chục người ở nhà tạm lánh Mai Tiến lặng lẽ thu xếp cho mẹ con chị Phan Thu Hà (21 tuổi, ngụ Đồng Nai)… đi trốn. Lý do là người nhà bắt chị bỏ thai và đã phát hiện ra nơi ở của chị. Họ đe dọa nếu chị không bỏ thai, họ sẽ lên tận nhà tạm lánh quậy phá. Vì muốn giữ lại đứa con nhưng sợ ảnh hưởng tới những thành viên khác nên chị và đứa con mới sinh chưa rụng rốn được đưa lên xe chạy về một địa chỉ khác lánh nạn. Chị Hà tâm sự: “Con tôi mới sinh vài ngày, lại sinh non nên rất yếu. Khi ôm con vào lòng tôi đã nghĩ không cần chồng, chỉ cần có nó tôi sẽ có đủ nghị lực sống tốt để bảo vệ con”.

Cũng trong ngày chúng tôi đến, chị Trần Thị Nguyệt vẫn còn vẻ mặt phờ phạc mệt mỏi đang đút cho con ăn. Chị là một trong những thành viên đặc biệt nhất nhà tạm lánh Mai Tiến bởi chị mắc chứng động kinh từ nhỏ, ngày nào cũng phải uống thuốc. Khi phát hiện có thai, bạn trai chị “quất ngựa truy phong” bỏ mặc chị với cái bụng bầu và những cơn động kinh hành hạ. Nhiều người khuyên chị bỏ thai, nhưng với chị đứa con là cả tình yêu và cũng là tài sản duy nhất chị có. Bởi thế, chị trốn vào nhà tạm lánh.

Cũng nhờ sự cương quyết đó mà giờ chị Nguyệt có một cậu con trai kháu khỉnh, trí não hoàn toàn bình thường. Trong hai năm ở lại nhà tạm lánh, mỗi ngày trôi qua với chị là cả một thử thách bởi khi phát bệnh chị không kiểm soát được bản thân. Hiện tại, mẹ chị đã lên ở cùng để đỡ đần chị nuôi con. Lúc tỉnh, chị nhìn con âu yếm: “Con là tương lai duy nhất mà tôi có”.
Mong được chấp nhận
Dù đã chuẩn bị sẵn tâm lý làm mẹ đơn thân nhưng nhiều cô gái vẫn nuôi hy vọng gia đình nghĩ lại, người yêu chấp nhận đón họ quay về. Gương mặt héo hon vì bầu bì ở tháng thứ 7, chị Võ Hồng Quỳnh (29 tuổi, quê Đắk Lắk) đượm buồn: “Chuyện sinh con một mình bây giờ cũng không hiếm nhưng ở quê tôi điều đó vẫn luôn là nỗi xấu hổ. Vì sợ ba mẹ không còn mặt mũi khi con gái “chửa hoang” nên tôi tới đây nương nhờ”. Dù vẫn luôn tỏ ra lạc quan nhưng thực tâm chị vẫn mong một ngày người từng yêu chị sẽ nghĩ lại: “Hôm trước anh ấy gọi điện bảo bỏ thai thì anh ấy sẽ xuống đón về nhưng tôi từ chối. Anh ấy bảo cho anh thời gian và tôi vẫn đang đợi”.

Trên thực tế, nhờ sự kiên trì, quyết tâm giữ lại đứa con là kết quả của tình yêu thật sự, nhiều cô gái đã hái được quả ngọt. Lê Thị Cúc (25 tuổi, quê Hà Tĩnh) phải chạy trốn để không bị ép bỏ thai. Trong thời gian đó cô vẫn liên lạc với ba của chàng trai đã làm cô mang bầu. Cuối cùng niềm vui đã đến, sau bốn tháng sống tạm bợ, cô được gia đình bạn trai lên tận nơi đón về và làm đám cưới. Cô nói: “Con tôi giờ đã hai tuổi. Bé là cháu đích tôn của gia đình chồng. Nếu ngày đó tôi yếu lòng nghe theo người yêu bỏ đi đứa con thì có lẽ bây giờ tôi và cả anh sẽ phải ân hận”.

Chữa lành vết thương lòng

Cùng cảnh ngộ, nên chị Nguyễn Mai Hoa (37 tuổi, quản lý nhà tạm lánh Mai Tiến) rất thông cảm và tận tình giúp đỡ chị em. Mỗi cô gái tới nhà tạm lánh đều được chị xoa dịu tư tưởng, giúp họ yêu bản thân và không tự trách mình.

Phương châm của nhà tạm lánh là bằng mọi cách vận động để mẹ giữ lại con. Đứng trước một cô gái trẻ muốn cho con, chị không cản mà chỉ nói: "Em hãy bế con, nếu không có tình cảm thì giao cho chị. Còn nếu có thì cứ ở với con vài ngày rồi suy nghĩ kỹ”. Sau vài ngày bén hơi, nhiều cô gái đã quyết định giữ lại con.

(Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi)

LAM NGỌC
BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ
Rong ruổi suốt đêm mang quà tết tặng người nghèo ở vỉa hè
Hốt bạc ngày Tết nhờ nhận nuôi chó ký gửi

Mẹ đơn thân có nên đi bước nữa?
Làng của những đứa trẻ không cha
Infographic Hơn trăm cụ bà 'một thân, một mình' nương nhờ cửa chùa ở TP.HCM
https://thanhnien.vn/doi-song/ben-khong-chong-936972.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đất đai mãi là vấn đề nhức nhối trong xã hội chủ nghĩa


RFA 2018-02-28 - "Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp "sân sau" lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân". Ông Đoàn Văn Vươn

Nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam biểu tình đòi 
đất vì không được bồi thường thỏa đáng. Reuters
Trong năm 2017 vừa qua, đất đai vẫn là một trong những vẫn đề nhạy cảm, chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa người dân với doanh nghiệp và chính quyền, dẫn đến nhiều sự việc đáng quan ngại điển hình như vụ ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Cho đến nay số lượng vụ việc khiếu nại về đất đai vẫn chiếm tỷ lệ cao và không ngừng tăng thêm.

Người dân khó khăn vì chính sách đất đai

Trước khi bị thu hồi 300 ha đất nông nghiệp vào năm 2010, người dân phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội  có cuộc sống ổn định, ấm no với nghề nông nghiệp truyền thống nhiều đời.
Theo ông Trịnh Bá Phương - một người kiên trì chống lại việc cưỡng chế đất đai tại Dương Nội, từ sau khi mất đất, những người nông dân này mất đi tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất, mà không có nghề nghiệp thay thế dẫn tới sinh kế bị đảo lộn, đời sống trở nên khó khăn và tệ nạn xã hội tăng lên.
Một số người nhận được một chút tiền đền bù đó thì quay sang làm ăn kinh tế, nhưng mà những người nông dân chỉ có trong tay cái cày, cái cuốc, không được tri thức hóa, cũng không có kinh nghiệm làm ăn, nên đa phần là thất bại.
- Anh Trịnh Bá Phương
"Thì độ tuổi lao động đó, đến nay chính quyền và doanh nghiệp chỉ bố trí công ăn việc làm được cho 26 người, còn lại là thất nghiệp hết. Một số người nhận được một chút tiền đền bù đó thì quay sang làm ăn kinh tế, nhưng mà những người nông dân chỉ có trong tay cái cày, cái cuốc, không được tri thức hóa, cũng không có kinh nghiệm làm ăn, nên đa phần là thất bại. Sau khi làm ăn thì thua lỗ. Đầu tư xe cộ cũng thua lỗ nặng nề. Còn một số nhà thì họ nhận một chút tiền đền bù thì họ chỉ xây nhà, mua được cái xe thì hết sạch. Đến nay họ rơi vào cảnh sống rất khó khăn."
Trong khi đó, từ năm 2010 đến nay, phần đất bị thu hồi đã được xây dựng thành nhà ở liền kề, chung cư, đường xá chiếm phần nhỏ, và phần lớn là bỏ hoang, không sử dụng đến. Đây là một nghịch lý: người cần đất sản xuất thì không có, người được giao đất thì để hoang hóa bởi không bán được bất động sản.
Trái lại, trường hợp ông Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng, Hải Phòng, kể từ sau vụ việc trấn động cả nước với tiếng súng hoa cải giữ đất tháng 1/2012, mảnh đất của ông nay đã được giao lại, không bị thu hồi, và được tiếp tục sử dụng từ đó đến nay. Sau khi mãn tù vào tháng 9/2015, gia đình ông Vươn đã tiếp tục triển khai những ý tưởng sản xuất, kinh doanh và quai đê lấn biển.
"Sau khi sự kiện năm 2012 xảy ra, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan, chính quyền địa phương đã giao lại toàn bộ đất cho gia đình tôi. Nhưng mà để làm thủ tục (sử dụng) ổn định, lâu dài thì đang vướng vấn đề quy hoạch của Sân bay quốc tế phía Bắc. Cho nên bây giờ, không những tôi và tất cả bà con ở cái vùng này, lên đến hàng ngàn hecta đất đều phải nằm trong tình trạng chung là quy hoạch. Không hiểu là quy hoạch sau này có được triển khai hay không thì chưa rõ. Trước mắt ở trong tình cảnh là treo. Rất là lãng phí cho đồng vốn, không những tôi mà bà con Tiên Lãng đã bỏ ra đầu tư."
Tác động nhãn tiền về kinh doanh mà ông Vươn đang hứng chịu là những quả trứng vịt biển của ông đang gặp khó khăn trong thủ tục hành chính vì đất đai bị quy hoạch treo, dẫn đến hệ quả không thể được cấp chứng nhận truy xuất nguồn gốc hàng hóa.
Chính dự án Cảng hàng không quốc tế phía Bắc được phê duyệt dưới thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đến sự việc gia đình ông Vươn bị cưỡng chế đất năm 2012. Hiện gia đình ông Vươn và người dân Tiên Lãng chưa biết tương lai mảnh đất họ đang sử dụng sẽ thế nào, khi thời hạn sử dụng đã hết và không được giao lại.

Sự phản kháng của người dân

Trường hợp ở Dương Nội từ năm 2010 đến nay và Tiên Lãng năm 2012 hay xã Đồng Tâm năm 2017 hoặc nhiều câu chuyện đất đai khác đều có điểm chung là người dân đã cương quyết phản kháng, chống lại việc chính quyền tổ chức cưỡng chế, thu hồi đất bằng bạo lực.
Không những tôi và tất cả bà con ở cái vùng này, lên đến hàng ngàn hecta đất đều phải nằm trong tình trạng chung là quy hoạch. Không hiểu là quy hoạch sau này có được triển khai hay không thì chưa rõ. Trước mắt ở trong tình cảnh là treo.
- Ông Đoàn Văn Vươn
Tháng 10/2016, 30 nhân viên Công ty Long Sơn đã mang máy móc, hung khí vào san ủi, phá hủy cây điều, cà phê của nhà ông Đặng Văn Hiến và hai hộ dân khác tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông, dẫn đến việc các hộ gia đình này phản kháng lại bằng súng, gây nên hậu quả 3 người chết và13 người bị thương - đều là nhân viên công ty Long Sơn. Đây có thể nói là vụ việc cưỡng chế gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất về nhân mạng.
Và sau đó chính người bị hại là ông Đặng Văn Hiến lại bị mức án tử hình với cùng tội danh "giết người". Về phía công ty Long Sơn một số nhân viên tham gia chỉ bị tù vài năm với cùng tội danh "hủy hoại tài sản".
Người dân tại Đắc Nông, những người cùng cảnh ngộ với gia đình ông Hiến, cũng như giới quan tâm trong cả nước đã có những tiếng nói thể hiện sự bất bình về bản án này, đặc biệt là mức án tử hình đối với ông Hiến là quá nặng và Tòa án đã không xem xét vụ việc một cách toàn diện hơn.
Sự việc tại Đắc Nông được ông Trịnh Bá Phương cho là có nhiều điểm tương đồng với sự việc tại Dương Nội, nhất là sự phản kháng của người dân để bảo vệ đất đai, tài sản mà họ đã dày công vất vả gây dựng.
"Theo tôi, đó là sự phản kháng chính đáng của người dân khi bị dồn đến đường cùng. Khi mà đơn từ, thậm chí vụ của Đặng Văn Hiến đã lên đến ông Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình có chỉ đạo giải quyết. Thế nhưng họ đã trì trệ, các cơ quan, doanh nghiệp - công ty Long Sơn và chính quyền địa phương cấu kết với nhau, cố tình cướp đoạt đất đai, không giải quyết khiếu nại của ông Đặng Văn Hiến, cũng như người dân tại Đắc Nông. Dẫn đến tình thế cuối cùng, ông Đặng Văn Hiến đã buộc phải nổ súng để bảo vệ cái mảnh đất của mình."
Ông Đoàn Văn Vươn đặt vấn đề về vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong sự việc của ông Đặng Văn Hiến.
"Nếu như mổ xẻ ra, chắc chắn phải có chính quyền đứng đằng sau. Bởi vì công ty này không thể nào có được những công cụ như khiên chống đạn - cái này chỉ được trang bị cho lực lượng Cảnh sát cơ động, chống bạo động. Thế mà tại sao công ty này lại có để mà sử dụng cho việc tự động cưỡng chế, hủy hoại, chiếm đất của người dân. Qua thông tin, để mà mổ xẻ thì tôi thấy nó rất có vấn đề."

Mong muốn của người dân về đất đai

Theo Hiến pháp Việt Nam, đất đai thuộc "sở hữu toàn dân", do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và khi cần sử dụng nhằm mục đích “phát triển kinh tế - xã hội” thì luật cho phép chính quyền được thu hồi để giao cho doanh nghiệp.

Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp "sân sau" lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân. - Ông Đoàn Văn Vươn
Theo ông Đoàn Văn Vươn, chế định về sở hữu đất đai như vậy chính là mầm mống dẫn đến hệ lụy tham nhũng, khiếu kiện kéo dài, bất công trong lĩnh vực đất đai, kéo theo sự kìm hãm phát triển xã hội.
"Vì đa sở hữu thì đất của tư nhân thuộc tư nhân, của nhà nước thuộc nhà nước, của ai thuộc người ấy, rất rõ ràng. Chứ không thể có một khái niệm mù mờ (sở hữu toàn dân) như thế này. Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp "sân sau" lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến hệ lụy, mâu thuẫn và đỉnh điểm đã xảy ra như vụ việc nhà tôi, hoặc Đắc Nông, hoặc Đồng Tâm, hoặc còn nhiều nơi khác. Một điều không đáng có."
Chung quan điểm với ông Vươn, ông Trịnh Bá Phương cũng mong mỏi quyền sở hữu đất đai của người dân phải được tôn trọng, khi doanh nghiệp hay chính quyền muốn lấy đất thì phải thương lượng giá cả với người dân theo cơ chế thị trường, chứ không thể là sự áp giá bất công như hiện nay.
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/land-will-always-a-painful-problem-in-socialism-02282018070112.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt chi cho đồ cúnggấp 8 lần sách cho trẻ em



Người Việt chi cho vàng mã, đồ cúng nhiều gấp 8 lần sách cho trẻ em
03/03/2018 Tính toán từ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê điều tra cho thấy người Việt Nam chi tiêu cho vàng mã, đồ cúng cao gấp gần 8 lần chi tiêu cho đồ chơi và sách truyện cho trẻ em. Tính toán trên vừa được tiến sĩ Nguyễn Việt Cường, giảng viên Trường đại học Kinh tế quốc dân và hiện là Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu cứu phát triển Mêkông, thực hiện.

Theo tiến sĩ Nguyễn Việt Cường, trong số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê có câu hỏi về số tiền mà hộ gia đình chi bình quân trong 30 ngày qua cho việc đồ cúng lễ. Số tiền này chỉ là tiền mua vàng mã, hương hoa và đồ cúng không phải thực phẩm (tức là không bao gồm bánh kẹo, quả hay thịt cá dùng để cúng lễ).
Từ đó, tiến sĩ Cường tính toán và thấy rằng vào năm 2012, bình quân mỗi hộ gia đình tại Việt Nam chi 575.000 đồng cho đồ cúng lễ. Con số này tăng lên tăng lên 654.000 đồng vào năm 2016 (đã loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát).


Nếu nhân con số này với tổng số hộ cả nước của từng năm thì tổng mức chi tiêu cho cúng lễ là khoảng 13.000 tỉ đồng năm 2012 và tăng lên khoảng 16.000 tỉ đồng năm 2016.
Tiến sĩ Cường cho biết, khảo sát của Tổng cục Thống kê được thực hiện vào tháng 5 và không bao gồm tháng tết nên không bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ. Bên cạnh đó, các hộ chi tiêu quá cao cho đồ cúng lễ (gọi là giá trị ngoại lai trong thống kê) cũng đã được ông loại bỏ ra khỏi tính toán.

Điểm đáng lưu ý, theo tiến sĩ Cường là khoản chi tiêu cho đồ cúng cao của người Việt gấp gần 8 lần chi tiêu cho đồ chơi và sách truyện cho trẻ em dưới 18 tuổi.
Số tiền mà người dân Việt Nam chi cho sách truyện và đồ chơi trẻ em bình quân trong năm 2012 và 2016 là hơn 1.600 tỉ và 2.100 tỉ đồng.
“Trong khi đó, sách truyện và đồ chơi được cho là đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ và là một trong những chỉ số đo lường nghèo đa chiều trẻ em của UNICEF. Theo báo cáo nghèo đa chiều trẻ em của UNICEF thì khoảng 20% trẻ em 0 - 4 tuổi không có đồ chơi vào năm 2014", tiến sĩ Cường nói.

"Tín ngưỡng là quan trọng nhưng chi tiêu ra sao cho hợp lý cũng quan trọng không kém. Thay vì lãng phí quá nhiều tiền vào vàng mã hay đồ cúng, chúng ta nên mua thêm sách truyện cho trẻ nhỏ", tiến sĩ Cường nói thêm.

https://thanhnien.vn/van-hoa/nguoi-viet-chi-cho-vang-ma-do-cung-nhieu-gap-8-lan-sach-cho-tre-em-938219.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

SỰ NGHIỆP CỦA ÔNG ĐINH THẾ HUYNH ĐÃ KẾT THÚC HOÀN TOÀN


Ông Trần Quốc Vượng giữ chức Thường trực Ban bí thư. Ảnh: P.V

Ông Trần Quốc Vượng 
giữ chức Thường trực Ban Bí thư 

VNE
Thứ hai, 5/3/2018 | 13:56 GMT+7
Bộ Chính trị vừa có quyết định về công tác cán bộ ở vị trí Thường trực Ban Bí thư và Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương.

Ông Trần Quốc Vượng: Ngăn chặn 'tay không bắt giặc' trong BOT

Trong cuộc họp ngày 2/3, Bộ Chính trị đã quyết định ông Đinh Thế Huynh - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016 - 2021 thôi giữ các chức vụ này để tiếp tục chữa bệnh dài hạn.

Đồng thời, Bộ Chính trị quyết định ông Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Thành viên Thường trực Ban Bí thư giữ chức Thường trực Ban Bí thư.

Ông Nguyễn Xuân Thắng - Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch phụ trách Hội đồng Lý luận Trung ương giữ chức Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Ông Trần Quốc Vượng sinh ngày 5/2/1953; quê quán: Xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Tháng 11/2006, khi đang giữ chức vụ Phó chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng, ông Vượng được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó viện trưởng thường trực Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Từ năm 2007 – 2011, ông giữ chức vụ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đến tháng 7/2011, ông được Bộ Chính trị phân công giữ chức vụ Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Tháng 5/2013, ông được bầu bổ sung vào Ban Bí thư tại Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI).

Tháng 1/2016, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng, ông Trần Quốc Vượng được bầu vào Trung ương Đảng và sau đó được bầu vào Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tại phiên họp ngày 28/7/2017, sau khi xem xét đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương về việc phân công Ủy viên Bộ Chính trị tham gia Thường trực Ban Bí thư, Bộ Chính trị đã quyết định: Trong thời gian ông Đinh Thế Huynh - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư điều trị bệnh, phân công ông Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương tham gia Thường trực Ban Bí thư từ ngày 1/8/2017.

Ông Nguyễn Xuân Thắng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương 
nhiệm kỳ 2016 - 2021. Ảnh: P.V

Ông Nguyễn Xuân Thắng sinh ngày 18/2/1957 tại Thanh Chương, Nghệ An; Giáo sư: Tiến sĩ kinh tế.

Ông Thắng làm nghiên cứu sinh tại Viện MEMO thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Về nước năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng, Phó tổng biên tập, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Từ 2007, ông được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), rồi làm Chủ tịch Viện này từ 2011

Tháng 4/2016, ông thôi giữ chức Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam để giữ chức Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Xuân Thắng là ủy viên Ban chấp hành Trung ương khóa XI, XII. Tại Hội nghị Trung ương 6 (10/2017), ông Nguyễn Xuân Thắng được bầu bổ sung vào Ban Bí thư.
Xuân Hoa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔNG PHÍ THÁI BÌNH ỐM SẮP CHẾT HAY TRỐN RA TÒA?


 
Ông Phí Thái Bình, nguyên Phó chủ tịch TP Hà Nội không đến toà vì bị bệnh 

Dân trí 
Thứ hai, 05/03/2018 - 13:33
 
Bị triệu tập, nhưng ông Phí Thái Bình, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã không có mặt tại toà vì lí do đang điều trị bệnh.

> 9 bị cáo hầu toà trong vụ 18 lần vỡ đường ống nước sông Đà
> Truy tố cựu Giám đốc dự án nước sạch Sông Đà về sự cố vỡ đường ống
> Khởi tố nguyên Phó Chủ tịch Hà Nội vụ vỡ đường ống nước Sông Đà

Sáng nay, 5/3, TAND TP Hà Nội đưa 9 bị cáo liên quan trong đến vụ vỡ đường ống nước sông Đà ra xét xử. Các bị cáo bị cáo buộc về tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.

Luật sư đề nghị HĐXX triệu tập 2 người có liên quan là ông Phí Thái Bình, nguyên Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, nguyên Chủ tịch HĐQT công ty Vinaconex, và ông Vũ Đình Chầm, nguyên thành viên HĐQT Vinaconex.

HĐXX khẳng định đã triệu tập ông Phí Thái Bình và Vũ Đình Chầm, tuy nhiên cả hai ông đều có đơn xin vắng mặt với lí do sức khoẻ. Ngoài đơn xin vắng mặt, 2 ông đã gửi kèm hồ sơ bệnh án của mình đến HĐXX.

Theo đó, ông Chầm nộp đơn xin xét xử vắng mặt kèm hồ sơ bệnh án về các bệnh viêm tụy, gan, mắt, nên không đủ sức khỏe tham dự phiên tòa.

Ông Phí Thái Bình, có đơn xin vắng mặt và kèm bệnh án khám bệnh tại Bệnh viện 103, trong đó, ông được chẩn đoán hội chứng não do tăng huyết áp, phải bất động trong thời gian dùng thuốc.

Một luật sư đề nghị hoãn phiên tòa vì cho rằng, những người vắng mặt có vai trò quyết định việc thực hiện dự án này. Hơn nữa, các bị cáo không thể đối chất được, dẫn đến việc không đủ tính minh bạch.

Đại diện VKS khẳng định, trong quá trình điều tra, ông Bình và ông Chầm đã có lời khai cụ thể và hiện 2 ông bị bệnh nặng, có sự xác nhận của bệnh viện nên sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án một cách khách quan.

Sáng nay, HĐXX công bố bản cáo trạng của cơ quan tố tụng cho thấy, Dự án cấp nước Sông Đà do Tổng Công ty Vinaconex làm chủ đầu tư theo hình thức BOO sử dụng vốn tự có, vốn huy động do doanh nghiệp tự thu xếp và vay của các tổ chức tín dụng, xây dựng từ năm 2004 đến tháng 4/2009 được nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Trong quá trình vận hành khai thác, tuyến ống liên tục xảy ra sự cố vỡ ống truyền tải nước. Từ ngày 4/2/2012 đến ngày 2/10/2016, tuyến ống đã 18 lần bị vỡ ống với số lượng 23 cây ống composite cốt sợi thủy tinh bị vỡ, doanh nghiệp khai thác đã phải chi phí hơn 16,6 tỷ đồng để khắc phục.

Bên cạnh đó, việc tuyến ống liên tục bị vỡ đã gây hậu quả buộc doanh nghiệp khai thác phải dừng cấp nước sạch sinh hoạt cho nhân dân trong thời gian 386 giờ, lượng nước ngừng cấp là 1.744.904 m3, làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của 177.000 hộ dân trên địa bàn Hà Nội.

Chiều nay, HĐXX tiếp tục làm việc.

Tuấn Hợp

Phần nhận xét hiển thị trên trang