Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018

Đủ điều kiện để tranh đấu ôn hòa thành công


Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi”
Nguyễn Ngọc Lanh - Thời cụ Phan sống ở Pháp, phái hữu chủ trương khai thác thuộc địa, nhưng không phải như sách Lịch Sử mô tả dưới dạng văn học (“một cổ hai tròng”, “bóc lột đến xương tủy”; kiếp ngựa trâu…). Nước Pháp cần tài nguyên, khoáng sản; thế thì chính quyền thuộc địa kêu gọi giới tư bản đầu tư vào hầm mỏ, kể cả đầu tư vào giao thông, thương mại, xuất nhập khẩu… Giống như ngày nay nước nghèo kêu gọi các nhà tư bản đầu tư để có ngân quỹ canh tân đất nước. Trong đó, tất cả các bên đều có lợi. Chớ nghĩ rằng cứ phái hữu là xấu.
Các phong trào bất bạo động có mức độ thành công (đạt được toàn bộ hay phần lớn các mục tiêu của phong trào) là 53% trong khi con số tương tự của các phong trào bạo động là 25%. Lẽ thường tình - Giặc đến nhà? Đánh! và đánh! Đó là lẽ thường tình. Xin nhớ: Ta đã từng đuổi Tống, quét Nguyên. Nhưng khi giặc đã chiếm nước ta? Càng phải đánh. Xin nhớ: Lê Lợi sau 10 năm đã tống khứ giặc Minh. Bởi vậy, chuyện tiếp tục phong trào Cần vương chỉ là theo lẽ thường tình của mọi người dân, huống hồ cụ Phan Bội Châu là một sĩ phu hừng hực lòng yêu nước?. Tâm thức “nơm nớp lo mất nước” từ ngàn xưa truyền đến lúc đó, âu cũng là chuyện thường tình.

Có hai đặc điểm về tâm lý: a) Sợ Tàu, vì dã tâm xâm lược muôn đời không đổi; b) Nhưng vẫn phục Tàu – nơi sáng tạo đạo Nho mà cha ông ta tôn thờ. Do vậy, nhiều phen chống Tàu, nhưng chưa bao giờ Ta dám gọi Tàu là Di, Mọi, Quỷ. Chỉ có chuyện Tàu gọi Ta là “man”. Mặc dù, nền văn minh phương Tây đã vượt cả Tàu lẫn ta, nhưng khi thấy Pháp có ý đồ xâm lược, Ta vẫn gọi Chúng là Di, Mọi, Quỷ. Tầm nhìn thiển cận như vậy làm sao giữ nổi nước?.

  
Khi còn ít tuổi, cụ Phan đã khâm phục phong trào Cần Vương nay cụ tiếp tục con đường này cũng là lẽ thường tình. Chính do vậy, cụ Nguyễn Hàm – một nhân vật cần vương đang “nằm im chờ cơ hội” – trở thành nhân vật số 2 trong Hội Duy TânChủ trương bạo động là tất nhiên và cũng rất “thường tình”. Đã Cần Vương, tất nhiên duy trì quân chủ. Đây là mâu thuẫn không thể hòa giải với cụ Phan Chu Trinh – chủ trương triệt để xóa bỏ quân chủ.
Cái nhìn thời đại
– Sáng suốt, khi cụ Phan Chu Trinh nhận ra rằng “ta không đủ sức đuổi Pháp” như ngày xưa Lê Lợi đuổi quân Minh. Thất bại suốt 30 năm của các lãnh tụ Cần Vương đã đủ rút ra bài học. Và chính cụ là người sớm nhất đã rút ra bài học.
 Nhưng sáng suốt gấp đôi, khi cụ còn nhìn ra: 1) Pháp không chỉ hơn ta về “kỹ xảo” (như thế hệ trước nhận định) mà là trình độ văn minh; 2) Mục đích xâm lược muôn thuở là nhằm khai thác; Pháp cũng vậy; nhưng rõ ràng khai thác đi kèm khai hóa. Và rõ ràng, Pháp không định ăn xổi. Khi thiết lập bộ máy cai trị, Pháp tiến hành canh tân mạnh mẽ, có hệ thống, thể hiện ý đồ trú ngụ lâu dài ở xứ này. Nói khác, cụ Phan Chu Trinh nhìn ra sự khác nhau giữa “quân xâm lược” và “bọn thực dân”. Đây là những từ ngữ phổ biến một thời, ý coi khinh, đưa vào sách giáo khoa mà nhiều khi cứ nhập nhằng hoặc đồng nhất hai khái niệm.
Sự lên tiếng đầu tiên: Mục tiêu quá to lớn
– Ngay lúc mới thành lập Hội Quang Phụccụ Phan Bội Châu đã có kế hoạch ám sát viên Toàn Quyền Albert SarautRốt cuộc chỉ giết được 2 sĩ quan cấp tá đã nghỉ hưu. Đã sắp tan rã, nhưng Hội vẫn tiến hành ám sát Toàn Quyền Merlin (hội viên Tam Điểm); nhưng… hụt. Tóm lại, từ đầu chí cuối, cụ Phan Bội Châu – vị đại diện cho phái bạo lực – vẫn coi bất cứ “thằng Tây” nào cũng là kẻ thù. Đứa nào chức càng cao, càng nguy hiểm. Nhãn quan này đến nay vẫn thấp thoáng tồn dư mỗi khi viết Sử.
– Trong khi đó, cụ Phan Chu Trinh dùng lời lẽ thẳng thắn, nhưng tôn trọng, gửi thư cho Toàn Quyền. Lạ, là thư ghi “gửi chính phủ Pháp“. Cụ không biết chữ Tây, nhưng “toàn quyền Đông Dương” là chức gì, cụ hiểu đầy đủ qua chữ Hán. Đó là Đông Dương tổng thống toàn quyền đại thần (東洋總統全權大臣). Vậy, đây là vị đại thần có toàn quyền ở xứ Đông Dương do Tổng Thống ủy nhiệm. Tóm lại, muốn phát biểu gì với chính phủ Pháp, cứ gửi văn bản cho ông này là đúng nơi. Trong thư, cụ thóa mạ và kết tội nặng nề Nam Triều (tham nhũng, thối nát), và chất vấn: Sao chính phủ bảo hộ vẫn duy trì và dung túng bọn này?. Đây chính là nguyên nhân để 2 năm sau cụ bị Nam Triều kết án tử hình cụ, sau được giảm án, đổi thành “khổ sai chung thân, vĩnh viễn không ân xá”.
– Tác dụng của bức thư này đến đâu? Thật sự, dường như nó chẳng đem lại hiệu quả gì. Làm sao đánh đổ được Nam Triều chỉ bằng một bức thư của cá nhân? Quả thật, mục tiêu này quá to lớn. Giá trị bức thư chỉ như một lời Tuyên Ngôn.
Người nhận thư là quan Toàn Quyền Beau – đảng viên Đảng Cấp Tiến, bản thân ông ta đã thực hiện nhiều cải cách cụ thể ở Đông Dương… Nhưng chuyện “phế bỏ Nam Triều” là việc nằm ngoài quyền hạn; hơn nữa, chính phủ Pháp không bao giờ chủ trương như vậy.
Dấn thân vào những mục tiêu cụ thể
Chỉ vài năm vận động, nhưng phong trào Duy Tân mà các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế gây dựng đã lan nhanh ra nhiều tỉnh miền Trung. Nay đọc lại, phong trào phát triển mạnh và toàn diện, tác động rất rõ tới dân trí, dân khí, dân sinh. Thành quả này, trước các cụ và sau các cụ chưa ai làm nổi – trừ năm 1945-46 với chủ trương “diệt giặc đói (sản xuất), diệt giặc dốt (xóa nạn mù chữ) và bài trừ hủ tục (vận động Đời Sống Mới)”.
Nhưng song song với phong trào Duy Tân còn có thêm phong trào “xin sưu, miễn thuế”lúc đầu cũng ôn hòa, nhưng càng về sau, càng bạo động. Thời nay, sử học gọi đây là cuộc “dân biến” – để so sánh với khái niệm “binh biến” (như các cuộc binh biến Đô Lương, Thái Nguyên). Chính vì vậy, phong trào bị đàn áp nặng nề và tai họa lan sang phong trào Duy Tân. Thiệt hại rất lớn, gồm cả nhân mạng.
Trích dẫnCuối tháng 5 năm 1908, phong trào chống sưu thuế ở miền Trung bị dập tắt. Sau đó, nhiều người bị kết án tử hình, trong đó có: Trần Quý CápLê KhiếtNguyễn Bá LoanÔng Ích ĐườngTrịnh Khắc LậpNguyễn Hàng Chi Hàng trăm người bị đày ra Côn Đảo, trong đó có: Phan Châu TrinhHuỳnh Thúc KhángPhan Thúc DuyệnTrần Cao VânĐặng Nguyên CẩnNgô Đức Kế Hàng trăm người khác bị đày đi Lao Bảo (Quảng Trị) – hết tríchNhờ có sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, Phan Châu Trinh được trả tự do trước thời hạn và đưa về Mỹ Tho để chịu sự quản thúc (1911). Cũng trong năm này, theo yêu cầu của cụ, cụ được nhà cầm quyền cho sang Pháp cùng với con trai là Phan Châu Dật. Đến nơi, việc đầu tiên của cụ là minh oan cho những người bị tù đầy. Cụ đưa cho Hội Nhân quyền Pháp bản điều trần, nhan đề Trung Kỳ dân biến thủy mạt ký (ghi lại đầu đuôi vụ dân biến ở Trung kỳ). Một ghi chép khác có tên là Trung Kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (Tập ký kêu oan kể đầu đuôi vụ dân biến Trung Kỳ), gửi cho bộ Thuộc địa và toàn quyền Đông Dương. Ngoài kêu oan, các bản điều trần còn mang tính phê phán, cáo trạng. Kết quả rất tích cực khiễn cụ càng tin cách đấu tranh ôn hòa.
Có hai loại bài học được rút ra
– Phái bạo động thấy rằng muốn gây một cuộc “nổi dậy”, cứ khơi lên những bức xúc của dân nghèo, khuyến khích họ hành động “để giành lại những lợi ích vật chất bị kẻ thù chiếm đoạt”. Phần lớn các cuộc bạo động về sau đều dùng mục tiêu này. Và đều thất bại (Khởi nghĩa Trần Cao Vân, Binh biến Thái Nguyên, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Khởi nghĩa Nam kỳ, Cải cách ruộng đất), nhưng được cắt nghĩa: đó là bài học cho lần nổi dậy tiếp theo; và là sự tập dượt của quần chúng…
– Cụ Phan Chu Trinh thấy bài học khác: Không thể bạo động mà không bị đàn áp; trong khi đó rất đủ cơ sở để tin rằng có thể đạt được các mục tiêu cụ thể, khả thi, bằng đấu tranh ôn hòa. Chỉ 2 năm, phong trào Duy Tân đã đưa lại những kết quả đáng khích lệ; các bản điều trần của cụ gửi chính phủ Pháp khiến nhiều nhân vật sớm thoát khỏi nhà tù…
Sốt ruột và kiên nhẫn
– Phái tả không thể kiên nhẫn trên con đường đi tới mục tiêu; do vậy đấu tranh bằng bạo lực là cách thích hợp. Phái “quá tả” và “cực tả” lại càng sốt ruột. Do vậy, cụ Phan Bội Châu thua xa cụ Lenin và cụ Stalin – hai nhà cách mạng mà trí thức yêu nước thế hệ 4 nước ta coi là các bậc thầy.
Chú thích. Cụ Phan Chu Trinh phê phán cụ Phan Bội Châu (đại ý)… dùng lời lẽ thống thiết kích động dân chúng lao vào máu lửa… Nhưng cần nói thêm rằng bản thân các lãnh tụ phái tả cũng sẵn sàng xông vào máu lửa. Họ không sợ hi sinh. Sự thành công của Lenin trong cách mạng tháng 10 Nga là nguồn cảm hứng bất tận để phái bạo lực trên thế giới tin tưởng vào cách đấu tranh của mình. Chính là do thắng lợi của cách mạng tháng 10 mà phái “sốt ruột” trong đảng Xã Hội Pháp quyết tách ra, thành lập đảng Cộng Sản Pháp. Một khi thành công, không phải các lãnh tụ phái tả không biết thương dân; ngược lại họ rất muốn kiến tạo thật nhanh (ngay trong đời họ) một xã hội tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc. Nhưng các vị thương dân theo kiểu các vị bạo chúa ban ơn, ban phúc cho ai tuân phục, lại ban cả uy và họa cho ai phản đối. Cũng do sốt ruột, họ xây dựng xã hội bằng các biện pháp quyết liệt, trái quy luật – mà người nhận ra sớm nhất là giới trí thức ôn hòa, sau đó là những dân thường có lương tri. Đây là những người ưu tú nhất bị đày đọa hoặc giết hại sớm nhất. Còn lại là đám người dân trí thấp, dân khí hèn. Thảm kịch ở Nga cho thấy quyền lực – dù ban đầu thiện chí đến đâu – nếu không được kiểm soát, sẽ tha hóa để thành độc tài. Theo cụ Phan, dân trí cao khi người dân giác ngộ các quyền chính đáng của mình (ví dụ ghi trong Hiến Pháp). Thực tế, trình độ học vấn của dân Liên Xô không thấp, nhưng họ không quan tâm tới những quyền của mình. Đó là biểu hiện dân trí thấp kém. Những người muốn sử dụng quyền thì tự thấy sợ hãi, không dám lên tiếng đòi hỏi. Đó là dân khí ươn hèn. Đủ thấy, cụ Phan Chu Trinh sáng suốt biết bao khi chủ trương khai dân trí, chấn dân khí…
– Còn cách đấu tranh của cụ Phan Chu Trinh đòi hỏi sự kiên nhẫn, có thể tốn 50 hoặc 70 năm, nhưng khi thành công thì mỗi người dân đủ trình độ thụ hưởng nền độc lập.  
Quan điểm của nước Pháp đối với các thuộc địa
Khi cụ Phan Chu Trinh sang Pháp, tận mắt thấy nền chính trị tiến bộ và dân chủ của nước này, cụ càng tin tưởng con đường đã chọn. Cách mạng Pháp thành công – tới lúc đó – đã được 120 năm, thể chế ngày càng hoàn thiện. Khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái ngày càng hiện thực; trở thành một giá trị cao cả, được nhân loại ngưỡng vọng.
Chú thích. Thời nay, đã là thế kỷ 21, vẫn ít người nhận xét rằng… hầu hết người Việt khi được hấp thu đầy đủ nền giáo dục tại nước Pháp, đều trở thành trí thức tiến bộ, yêu nước, muốn đấu tranh ôn hòa để đồng bào cũng dần dần được hưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái như người dân Pháp đang được hưởng. Dù quan điểm chính trị và cách làm khác nhau – có tranh luận hoặc bất đồng, nhưng giữa họ với nhau vẫn có thể hợp tác. Ngược lại, ở nhiều mức độ, họ bị phái bạo động đả kích. Nhẹ nhất là cụ Nguyễn Ái Quốc phê phán bậc cha-chú mình: “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương” (sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch). Nặng hơn, là những văn bản của đảng CS phê phán cụ Lê Quang Liêm, Bùi Quang Chiêu (đảng Lập Hiến) là tay sai của Pháp; tệ hơn nữa, gọi các cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là “việt gian”; nặng nhất là giết hại; ví dụ toàn bộ các cụ Troskists bị giết năm 1945.
– Thời cụ Phan sống ở Pháp, phái hữu chủ trương khai thác thuộc địa, nhưng không phải như sách Lịch Sử mô tả dưới dạng văn học (“một cổ hai tròng”, “bóc lột đến xương tủy”; kiếp ngựa trâu…). Nước Pháp cần tài nguyên, khoáng sản; thế thì chính quyền thuộc địa kêu gọi giới tư bản đầu tư vào hầm mỏ, kể cả đầu tư vào giao thông, thương mại, xuất nhập khẩu… Giống như ngày nay nước nghèo kêu gọi các nhà tư bản đầu tư để có ngân quỹ canh tân đất nước. Trong đó, tất cả các bên đều có lợi. Chớ nghĩ rằng cứ phái hữu là xấu.
Chú thích. Việc quy hoạch và xây dựng Hà Nội, làm cầu Long Biên, mở trường trung học và đại học, nhà Đấu Xảo… là trông vào khoản thu do đầu tư là chính. Cố nông nước ta (không ruộng) nếu dời quê, làm thuê cho chủ tư bản, thu nhập được cải thiện rõ rệt. Theo sách Kẻ Dòng của nhà văn Nguyễn Văn Toại, thì dân nghèo làng Dòng (Xuân Lũng, Lâm Thao, Phú Thọ) bị chức sắc trong làng ngăn cấm đi làm “phu” (khi tư bản Pháp thầu con đường sắt Hà Nội – Lào Cai; chạy qua làng này) vì các gia đình phú nông trong láng thiếu nhân công giá rẻ. Quan Công Sứ (người Pháp) tỉnh Phú Thọ lập tức gửi công văn về làng “khiển trách”: Không được cản trở mọi người đi kiếm việc làm. Nguyên tắc chung: Chế độ tư bản ngay thuở còn hoang dã cũng ít bất công và tàn bạo hơn – nếu so với chế độ phong kiến. Marx mô tả đời sống công nhân là “cực khổ”. Không sai. Chỉ có điều họ xuất thân nông dân, khi họ thành công nhân họ bớt “cực khổ” nhiều lắm. Khẩu khí của các nhà cách mạng hoặc yêu nước theo đường lối bạo động – dù nói năng cách gì – cũng không lẫn vào đâu được.  
Còn phái tả, thời gian này gồm hai trào lưu lớn: chủ nghĩa cấp tiến và chủ nghĩa xã hội. Từ 1920, chủ nghĩa xã hội tách ra nhánh cộng sản. Các ông Toàn Quyền được cử sang Đông Dương tất nhiên phải thực hiện một chính sách chung (xem ở dưới) do Bộ Thuộc Địa hoạch định. Tuy nhiên, đa số họ thuộc phái tả; do vậy – không nhiều thì ít – họ đều muốn để lại dấu ấn khai hóa. Đây là cơ sở để những người ôn hòa tìm cách tác động thích hợp.
Vai trò những hội viên Tam Điểm
Ít nhiều, cụ Phan biết tới Hội Tam Điểmvì những từng gần gũi với cụ là hội viên của hội này: Bùi Quang Chiêu, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền… Hai ông sau đã giới thiệu Nguyễn Ái Quốc vào hội. Nhưng cụ không biết rằng hội viên Tam Điểm có vai trò nòng cốt trong cách mạng 1789 – cách đó trên trăm năm. Khi thành công, cuộc cách mạng này đã chấp nhận lý tưởng của Hội Tam Điểm  (Tự do, Bình đẳng, Bác ái) và lấy đó làm tiêu đề cho mọi văn bản chính thức của Nhà Nước (giống như nước ta dùng Độc lập, Tự do, Hạnh Phúc trên các văn bản chính thức). Nhiều công chức cao cấp của Pháp ở Đông Dương là hội viên của hội này. Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho phái đấu tranh ôn hòa.
Chú thích. Đây là Hội được thành lập từ trước thời Phục Hưng (thế kỷ 14), điều lệ được sửa đổi nhiều lần để ngày càng nhân bản, tiến bộ. Hội kín, chỉ kết nạp những người có học thức và tôn trọng Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Chính do vậy, dần dần hội chấp nhận kết nạp dân da đen, dân thuộc địa, chấp nhận hôn nhân đồng tính… Ngay từ khi mới thành lập, hội này đã phản đối tình trạng chính quyền (phong kiến) kết hợp với Nhà Thờ đưa đến nền thống trị tàn bạo; phản đối đưa Kinh Thánh vào chương trình Giáo Dục… Như vậy, sớm nhất, đạo Công Giáo và Hội Tam Điểm coi nhau là kẻ thùĐến nay vẫn có những bài viết của phía Công Giáo, rất công phu. cảnh báo sự nguy hiểm của Tam ĐiểmSau đó là sự kỳ thị nhau giữa hội này với chủ nghĩa Cộng sản và cuối cùng là với chủ nghĩa Phát xít.– Nhiều danh nhân thế giới là hội viên Tam Điểm: tổng thống Mỹ Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, Trumann, Lyndon B. Johnson v.v…, thủ tướng Anh Winston Churchill, tổng thống Chili Allende, các nhân vật trọng yếu trong cuộc cách mạng Pháp 1789 (đại tướng La Fayette, Mirabeau, Sieyès, toàn thể gia đình hoàng đế Nappoléon đệ I) và những nhà lành đạo nước Pháp (Jules Ferry, Paul Doumer, Mendès France, Gambetta v.v…), những nhà bác học (Alexandre Flemming, người phát minh ra thuốc Pénicilline; Lumière, ông tổ điện ảnh, Laplace v.v…), những nhạc sĩ (Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Duke Ellington, Rouget de Lisle, tác giả bài quốc ca Pháp: La Marseillaise, Eugène Pottier, tác giả bài Quốc Tế Ca của các đảng Xã Hội và Cộng Sản v.v…), các văn sĩ và triết gia nổi tiếng (Montesquieu, Voltaire, Fichte, Rudyard Kipling, Mark Twain, Pouchkine, Stendhal v.v…) các phi hành gia lên cung trăng (Gordon, Cooper [1963], Aldrin, Gleen), các tài tử điện ảnh (Clark Gable, John Wayne v.v…)…– Nhiều (22/32) Toàn Quyền Đông Dương là hội viên Tam Điểm (ví dụ Paul Doumer, Merlin Varenne…), là điều kiện để phải ôn hòa đấu tranh có hiệu quả thực hiện “khai dân trí, chấn dân khí…” Cụ Hồ (sinh 1890) và cụ Varenne (sinh 1870) cùng là hội viên Tam Điểm và đảng viên Xã Hội. Sau khi rút khỏi hai tổ chức này, cụ Hồ viết bài phê phán cụ Varenne là phản bội.– Nhiều người Việt đã vào Hội Tam Điểm (Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, vua Duy Tân, Trần Trọng Kim, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Thinh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Huyến, Phạm Huy Lục, Trịnh Đình Thảo, Tạ Thu Thâu, Trần Quang Vinh, Nguyễn Hữu Thọ, Lê Văn Trung, Dương Văn Giáo, Lê Thước…); nay xem lại, các cụ đều có nhân cách cao cả, có “tâm” và có lòng yêu nước…
Hai loại chính sách lớn đối với thuộc địa
Chính giới Pháp cho rằng nước Pháp có sứ mệnh khai hóa thuộc địa. Phải tả và phái hữu đấu tranh để thúc đẩy hoặc làm chậm việc thực thi ý tưởng này. Một thắng lợi khi Hội Tam Điểm và đảng Xã Hội đề nghị – và được đa số chấp nhận –  chấm dứt sự tìm kiếm thêm thuộc địa mới và tiến tới trao trả “tự trị” cho các thuộc địa đang có; đặt các nước này trong “khối Liên Hiệp Pháp”.
Có hai khuynh hướng khác nhau: 1) Cần đồng hóa các dân tộc thuộc địa về văn hóa và các mặt khác, để đạt được sự tiến bộ ngang với chính quốc; 2) Cần liên hiệp với dân tộc thuộc địa để cùng tiến lên (“đề huề”).Như vậy, cả hai khuynh hường đều không xuất phát từ ý đồ xấu.
Thực tế, trong quá trình thực hiện, kết luận được rút ra: Với những dân tộc quá thiểu số, quá lạc hậu, thì đồng hóa là phù hợp. Với những dân tộc lớn, đã có một nên văn hóa lâu đời, chỉ có cách liên hiệp, cùng tiến bộ.
– Một mô hình đồng hóa là Tân Đảo. Tên gọi hiện nay là Nouvelle Calédonie. 
Chú Thích. Đây là một hòn đảo ở nam Thái Bình Dương, thuộc địa của Pháp từ thế kỷ 17.– Khi mới bị Pháp chiếm: Dân tộc bản địa là da đen, thưa thớt và hoang dã: chưa mặc quần áo, chưa có chữ viết, chưa có tôn giáo; kho từ vựng rất nghèo nàn; còn ăn thịt người… Đến nay, dân số cả bản địa và Âu cũng chỉ là 250.000 người.– Vài tư liệu hiện nay: Là “lãnh thổ hải ngoại” của nước Pháp. Chế độ: Tự trị (nhiều lần trưng cầu ý dân: chưa muốn độc lập). Dân bản địa chiếm 42%; người Âu 37%; người Việt 1,5%. Thế hệ lai rất đông đảo, nói lên sự bình đẳng… Tiếng nói chính thức: Pháp ngữ; Quốc ca: bài La Marseillaise (quốc ca Pháp); nhưng có cờ và huy hiệu riêng. Bình quân đất đai: 13 người/km2; GDP: 12.000 Đôla/ người… Mọi người dân đều có hộ chiếu Pháp (đi khắp thế giới).
– Với Việt Nam: Chính giới Pháp từng có ý kiến: Việt Nam chưa có chữ, phải mượn chữ Hán từ ngàn năm trước (lúc đó, chữ quốc ngữ chưa chính thức lưu hành). Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đã trở nên có hại (ý thức hệ phong kiến). Do vậy, nên dùng chữ Pháp làm ngôn ngữ chung, thay  hẳn chữ Hán… Đây chính là một trong những bước đầu của chủ trương đồng hóa.
Câu nói của cụ Phạm Quỳnh chính là trong hoàn cảnh này: “Tiếng ta còn, nước ta còn“. Và cụ là một trong 5 người có công lớn nhất “phổ biến chữ Quốc Ngữ”.
Toàn Quyền Varenne sang ta năm 1925 đã thấy chữ quốc ngữ xứng đáng có địa vị là một bản ngữ. Nhờ các hoạt động báo chí, nòng cốt là “bộ ngũ”, Varenne nhận ra: Việt Nam có một nền văn hóa rất lâu đời, có ý thức dân tộc rất cao. Ông nói: “Một người Việt dù ở Nam Kỳ hay ở Bắc Kỳ, cũng không bao giờ coi nước Pháp là quê hương của họ được”. Ông chủ trương dùng chính sách “hợp tác” và “khai phóng”. 
Bộ máy cai trị thực dân
Dù Hiến pháp nước Pháp tiến bộ, dù nhiều lần phải “tả” chiếm ưu thế trong chính phủ Pháp, dù nhiều ông Toàn Quyền là đảng viên phái tả, hoặc hội viên Tam Điểm… nhưng việc đấu tranh ôn hòa vẫn không dễ dàng, thậm chí rất khó khăn. Đó là do bộ máy cai trị thực dân ở ngay trên đất Việt Nam. Xa chính quốc (sự kiểm soát lỏng lẻo), không phải dân bầu lên, không thể bị lật đổ… Do vậy – theo quy luật – bộ máy này có xu hướng quan liêu hóa. Một ví dụ, tư bản Pháp muốn đầu tư khai thác thuộc địa (nhiều lợi nhuận) phải được bộ máy này cho phép (đặc quyền). Do vậy, các nhà tư bản buộc phải đưa lại nhiều đặc lợi cho các cá nhân có quyền thế trong bộ máy, khiến nó không cưỡng được sự tha hóa. Sự cấu kết của các nhóm lợi ích mạnh tới mức đủ sức tẩy chay các vị Toàn Quyền muốn cải cách, nhất là những cải cách mạnh bạo và sâu sắc; khiến lợi ích riêng của họ bị thu hẹp. Nhiều Toàn Quyền bị triệu hồi về Pháp trước thời hạn.
Có người ví, các quan Toàn Quyền như người lái xe, còn hệ thống chính quyền thuộc địa như cái xe… để các vị trổ tài quản lý. Điều này đúng “nếu” đây thật sự là cái xe tốt, tuyệt đối tuân theo sự điều khiển. Khốn nỗi, cái xe này có khả năng tẩy chay người lái.
Để đấu tranh với bộ máy này, cách hiệu quả nhất là dựa vào Luật mà chính bộ máy này phải thực hiện. Đây là cách các cụ ôn hòa vẫn làm và truyền đến nay. Các cụ có trình độ, hiểu luật, thấy rõ những luật nào bị giới cầm quyền lờ đi (không thực hiện) hoặc chần chừ, lần lữa; hoặc thực hiện cầm chừng… đều có thể lên tiếng.
Ôn hòa, phải kiên nhẫn
Cụ Phan Chu Trinh dù chưa thấy đầy đủ những cơ sở thuận lợi để đấu tranh ôn hòa, nhưng bằng trực giác của một con người sáng suốt, nhân ái, nhân bản, cụ tin tưởng rằng đây là cách làm đem lại kết quả sâu sắc nhất, bền vững nhất, lâu dài nhất.
Nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, như cụ Bùi Quang Chiêu (trưởng ban lễ quốc tang Phan Chu Trinh) đã hứa: “Tây Hồ anh ơi, tôi xin thề hy sanh cho chủ nghĩa Pháp Việt đề huề“. Và nhận định: Phải can đảm mới có thể kiên nhẫn theo đuổi lý tưởng đời mình.
https://nghiencuulichsu.com/2015/10/10/tu-nguyen-truong-to-toi-bo-ngu-vinh-quynh-ton-to-khoi-bai-8/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trí thức nước ta và việc chọn ý thức hệ


Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi” 
Trước năm 1906 kho từ vựng chưa có từ “trí thức”, nhưng đã có sẵn rất nhiều danh từ để chỉ “người có học” (ví dụ, nhà bác học, nhà khoa học, học giả, nhà văn, nghệ sĩ, tiến sĩ…). Dù sao, họ chưa phải là trí thức. Nhưng nếu một người “có học” – ngoài chuyện hành nghề theo chuyên môn – còn vạch ra những bất cập và bất công của xã hội, đề xuất các biện pháp giải quyết (nay gọi là phản biện), ông ta trở thành trí thức (trí tuệ và thức tỉnh). Hoạt động xã hội của trí thức, đều – gián tiếp hay trực tiếp – có tác dụng nâng cao dân trí. Trước Nguyễn Trường Tộ, chưa thể có trí thức ở nước ta. Dưới chế độ phong kiến, mục đích học hành là để làm quan. Còn thi cử là để chọn người làm quan (phải nhất nhất làm theo lệnh vua). Dũng cảm nhất của quan, chỉ là dám can vua và dám từ quan.

Quân Pháp xâm lược Bắc Kì, trận chiếm thành Hải Dương .
Nguyễn Ngọc Lanh - Năm 1906 lần đầu tiên trên tiêu đề của một bài báo (ở Pháp) xuất hiện từ mới toanh, trước đó chưa hề có: “trí thức”. Từ này dành cho nhà văn Zola vì hành động cao cả và dũng cảm của ông. Cụ thể, ông đã lên tiếng phản đối, và phản đối tới cùng, một bản án bất công do giới quyền lực áp đặt cho một nghi can là người Do Thái. Trớ trêu, dư luận xã hội – do kỳ thị chủng tộc – đã nhiệt liệt ủng hộ bản án phi nghĩa này. Nhà văn rất ý thức về sự nguy hiểm cho bản thân, nhưng ông trọng công lý và sự thật hơn lợi ích riêng.

Sau mấy năm chịu đựng sự đàn áp, Zola đã thắng và trở thành một biểu tượng của trí thức. Thế là, khái niệm trí thứcra đời. Tuy nhiên, dẫu trước năm 1906 kho từ vựng chưa có từ “trí thức”, nhưng đã có sẵn rất nhiều danh từ để chỉ “người có học” (ví dụ, nhà bác học, nhà khoa học, học giả, nhà văn, nghệ sĩ, tiến sĩ…). Dù sao, họ chưa phải là trí thức. Nhưng nếu một người “có học” – ngoài chuyện hành nghề theo chuyên môn – còn vạch ra những bất cập và bất công của xã hội, đề xuất các biện pháp giải quyết (nay gọi là phản biện), ông ta trở thành trí thức (trí tuệ và thức tỉnh). Hoạt động xã hội của trí thức, đều – gián tiếp hay trực tiếp – có tác dụng nâng cao dân trí. Đúng ra, trước 1906 đã có nhiều nhân vật mà phẩm chất cao đẹp không kém Zola. Có điều, thời xưa chưa có từ ngữ thích hợp để gọi họ mà thôi.
Một điều rút ra: Muốn hiểu nghĩa gốc của từ “trí thức” nhất thiết phải trở về hành vi chống bất công, bảo vệ công lý của nhà văn Zola. Nếu không, rất dễ vô tình (tùy tiện) hoặc cố ý làm sai lạc nghĩa ban đầu của từ ngữ. Quả vậy, gần đây, nghĩa của “trí thức” đã được đưa ra thảo luận, vì có trường hợp bị hiểu sai,  thậm chí bị lạm dụng, bóp méo, kể cả trong các văn bản chính thống. Một sai lầm là đặt trí thức vào “đội ngũ”, phải chăng xuất phát từ ý đồ muốn họ mặc đồng phục, xếp hàng nghiêm và sẵn sàng nghe những khẩu lệnh?.
Xã hội ta có trí thức từ khi nào? Chu Văn An có phải trí thức? Các vị trọng thần dưới triều Tự Đức khi có dịp ra nước ngoài (Pháp, Hồng Công…) đều khuyên vua thực hiện canh tân để tiến kịp thời đại. Ví dụ, Phan Thanh Giản, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ… Họ đã là trí thức chưa?
Thất thủ Kỳ Hòa
– Năm 1861, đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Không thiếu tư liệu tham khảo; trong đó một nguyên nhân khiến quân ta thua trận là do vũ khí quá cổ lỗ, mà lòng dũng cảm không thể bù đắp được. Và nếu cứ thua trận liên tiếp, lòng dũng cảm cũng chẳng còn. Trận này, quân ta nhiều gấp 8 lần quân Pháp, cầm cự được 40 giờ. Sau 12 năm (1873) khi Pháp đánh Hà Nội, quân giữ thành nhiều gấp 20 lần quân Pháp mà chỉ sau 1 giờ đã mất thành.
Triều đình Tự Đức rất ý thức trận Kỳ Hòa là cuộc đọ sức mang tính thắng-bại cho toàn cục trong tương lai; do vậy đã huy động tối đa mọi nguồn lực: Số quân tham gia; số danh tướng được cắt cử, số nhân công phục vụ và số tiền bạc đã bỏ ra… Đồn lũy Kỳ Hòa có từ lâu, nay được mở rộng, gia cố suốt 2 năm trời, được bảo vệ bằng 21 ngàn quân chính quy và 10 ngàn quân địa phương. Điều ngược đời là – dù phải đánh công kiên – nhưng phía Pháp chỉ cần 4 ngàn quân là đủ thắng. Càng ngược đời, dù có thành cao hào sâu bảo vệ mà quân ta vẫn thương vong nhiều gấp 3 lần quân địch. Hơn nữa, số quân đông hơn, lại có lợi thế về địa hình, mà chỉ cầm cự được 40 giờ là vỡ trận. Vũ khí quân ta tin tưởng và hy vọng là voi chiến, nay nghe mà nực cười.
Từ sau trận này, Pháp hết lưỡng lự, chỉ tìm mọi cớ để chiếm thêm đất, còn chuyện thương lượng – nếu có – chỉ là để tạm thời hòa hoãn.  
– Quả vậy, ngay năm sau (1862), Pháp chiếm 3 tỉnh Nam Bộ. Hai bên thương lượng đi tới một hòa ước, với các điều khoản hoàn toàn bất bình đẳng.
– Năm sau nữa (1863) Nguyễn Trường Tộ gửi vua các bản điều trần đầu tiên, nhưng chưa được chú ý.
– Trong khi đó, (cũng 1863), vua lại cử cụ Phan Thanh Giản sang Pháp xin “chuộc” lại 3 tỉnh nói trên. Qua đó, ta thấy triều đình chưa nhận ra ý đồ dứt khoát của Pháp: Chúng sẽ đánh rộng ra, và nếu thương lượng, phía Đại Nam chịu thiệt, cho tới khi bị thôn tính. Khi ba tỉnh phía đông đã mất, tự nhiên ba tỉnh phía tây thành cô lập. Quả nhiên, bốn năm sau mất nốt.
Chính hoàn cảnh lúng túng về đường lối – phân vân giữa chủ chiến và chủ hòa – đã cho phép xuất hiện một số nhân vật có viễn kiến, dám kiên nhẫn đề xuất và vận động nhiều người khác ủng hộ. Với thời đó, đáng gọi là trí thức.
Ba cụ trong sứ bộ Phan Thanh Giản có phải “trí thức”?
Năm 1863, khi đã 67 tuổi, cụ Phan đưa sứ bộ sang Pháp (trợ giúp, có phó sứ Phạm Phú Thứ, bồi sứ Ngụy Khắc Đản – đều đã vượt tuổi “tri thiên mệnh”) để xin “chuộc” lại ba tỉnh Nam Bộ. Ba cụ đã tận mắt thấy kỹ thuật mọi ngành (bách ban) của Pháp đã tinh xảo ở mức “tề thiên địa” (ngang Trời-Đất). Nếu vậy, quyền của Tạo Hóa chỉ còn duy nhất là quyết định sự sống-chết của con người mà thôi. Câu thơ trong lá sớ dâng vua đủ nói lên sự choáng ngợp của tác giả:
Bách ban tinh xảo: Tề thiên địa
Duy hữu tử sinh: Tạo hóa quyền
Cụ năn nỉ đồng bang (người cùng một nước) hãy thức tỉnh, tiến cho kịp thời đại, nhưng chẳng ai tin lời cụ.  
Từ ngày đi sứ đến Tây kinh,
Thấy việc Âu Châu phải giựt mình.
Kêu tỉnh đồng bang: “mau kịp bước”,
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin
Như vậy, các cụ đủ tiêu chuẩn 1 của trí thức (là người “có học”: tiến sĩ). Tiếp, khi nhận ra sự bất cập xã hội các cụ đã “năn nỉ” vua và mọi người “mau kịp bước”. Không ai thèm nghe, thì các cụ… đau khổ. Chỉ có thế. Do vậy, phải có thêm nhiều “giá mà”… (không tưởng) để các cụ đủ tiêu chuẩn trí thức. Ví dụ, giá mà các cụ kiên nhẫn vận động “tới cùng” để vua và các quan khác đồng lòng với kiến nghị của mình. Giá mà các cụ dám từ chức. Bởi vì, nếu vẫn cứ là viên chức (dù rất cao: thượng thư = bộ trưởng) làm sao dám phản biện cấp trên?. Giá mà các cụ trẻ lại… Trong khi đó, dù bị nghi kỵ (công giáo) cụ Nguyễn Trường Tộ đã kiên nhẫn vận động các vị trọng thần và liên tục gửi điều trần lên vua, kỳ tới khi vua cho gặp và cháp nhận những cải cách dễ nhất (mở trường kỹ thuật)…
Chủ chiến có sẵn trong tâm thức. Còn chủ hòa là từ suy xét, lý trí
– Chủ chiến. Giặc từ phương Tây xa lắc, tự tìm đến nước ta, gây sự, chiếm đất của ta. Bọn này được sự tiếp tay của đám thầy tu đang lén lút truyền đạo. Làm sao triều đình có thể chấp nhận cái thứ “đạo” trái với Nho Giáo (ví dụ, tín đồ không được thờ cúng tổ tiên)? Do vậy, đương nhiên, ta phải chống lại cả hai. Tư tưởng chủ chiến xuất phát từ tâm thức, được hình thành từ lịch sử ngàn năm chống xâm lược. Do vậy, dễ hiểu khi phe chủ chiến chiếm ưu thế – và ưu thế trong thời gian rất dài. Đã đành, phải chiến đấu khi chưa mất nước. Nhưng mất nước rồi vẫn hưởng ứng lệnh Cần Vương mà chiến đấu tiếp. Kể từ trận Kỳ Hòa cho tới khi triều đình phải ký hòa ước “mất nước” là 23 năm. Từ phong trào Cần Vương cho tới thất bại của cụ Phan Bội Châu là 38 năm. Cộng là 61 năm. Trong khi đó, thời gian bị thực dân đô hộ cũng 61 năm. Không thể sưng sưng nói rằng vua quan nhà Nguyễn sẵn sàng bán nước.
Kể cũng hơi lâu, khi cụ Phan hoàn toàn thất bại, giới có học nước ta mới nhận ra: Không thể giành độc lập bằng cách đem sức mạnh (bạo lực) của văn minh nông nghiệp chống lại sức mạnh của văn minh công nghiệp. Khoảng cách giữa hai nền văn minh này ít nhất là 500 năm nếu cứ tự tiến hóa. Nhưng nếu học hỏi, sẽ ngắn hơn nhiều – mà sự canh tân ở Nhật là một tấm gương: chỉ cần 50 năm. Tiếc thay, trước khi mất nước, ta chưa đủ điều kiện để làm theo Nhật. Nay đã mất nước, ta phải tự tìm ra con đường thích hợp mà đi.
Chú thích. Sau trận Kỳ Hòa, không còn trận nào quy mô lớn như vậy nữa, nhưng kết quả chung thì vẫn vậy. Quân ta đông hơn, tuy cố thủ, nhưng vẫn thương vong nhiều hơn, vẫn mất thành, mất đất. Ví dụ, khi đánh Bắc Kỳ lần 1 (1873) chỉ huy cao nhất của phía Pháp chỉ là cấp đại úy, trong tay chưa tới 1000 lính; vậy mà chỉ cần huy động 100 tên, chỉ tốn một giờ, viên đại úy đã chiếm được thành Hà Nội – có 2000 quân ta cố thủ – bắt sống chủ tướng Nguyễn Tri Phương. Tiếp đó, Pháp cũng chỉ cần vài giờ là chiếm xong Hải Dương và chỉ cần để lại 15 lính và một thiếu úy trấn giữ thành này. Thành Nam Định tuy đã được 10 – 20 ngàn dân phu sửa sang, củng cố, lực lượng cố thủ gồm 6500 lính, chưa kể sau đó còn có thêm viện binh; nhưng quân Pháp đã chiếm thành nhanh, gọn, mà cả thảy chỉ có … 4 tên lính bị thương (!). Bên ta, thiệt hại 200 người, có cả chỉ huy cao cấp.
Cũng có trận ta chủ động đánh Pháp nhưng thiệt hại càng lớn. Trong trận tấn công tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá (Huế) Pháp chỉ chết 16, bị thương 80, nhưng phía ta chết đến 1.200-1.500 (không đếm xuể). Quân Pháp phản kích chiếm được trong kho số vũ khí gồm  812 súng thần công, 16.000 súng hỏa mai; 2,6 tấn vàng, 30 tấn bạc…
Cũng có trận ta thắng, nếu phục kích. Nhưng chủ yếu thắng về ý nghĩa, hơn là gây thiệt hại đáng kể cho Pháp. Đó là trận Cầu Giấy, lần 1 và 2 (cách nhau 10 năm). Trong trận Cầu Giấy 1 (1873), 1000 quân Cờ Đen phục kích (nấp kín, đợi sẵn) nhờ bất ngờ mới thắng được 200 lính Pháp đi lùng sục, giết được vài chục lính và viên đại úy chỉ huy. Trận Cầu Giấy 2 (sau đó 10 năm) 3000 quân Cờ Đen phục  kích 550 quân Pháp, giết được 30 lính và viên đại tá chỉ huy. Điều bất thường là bên phục kích lại tử vong nhiều hơn. Tuy hai trận không lớn, vẫn mãi mãi ghi vào lịch sử. Điều thú vị là sử sách nước ta rất sẵn những thành ngữ, chỉ việc lắp vào câu văn để nói về vai trò tích cực của nhân dân hưởng ứng quan điểm chủ chiến. 
– Chủ hòa. Ngay khi cuộc chiến giữ nước mới bắt đầu, chưa ai đoán được những thiệt hại sẽ rất lớn về sinh lực, vật lực, tài lực, nhưng đã có người – sau khi thấy được “các thế lớn trong thiên hạ” – nhận định rằng với lực lượng đang cóta chưa thể thắng giặc. Cần hòa hoãn, kể cả chịu thiệt, chịu nhục, để có thời gian bảo toàn và phát triển lực lượng. Như vậy, chủ hòa ở đây khác với chủ hàng và chủ bại. Dù đã quá muộn, nhưng đây là vẫn là những viễn kiến sáng suốt. Trong khi phe chủ chiến rất thành kiến và kỳ thị với đồng bào công giáo – coi họ như thù địch, nhưng phe chủ hòa có thái độ khác vì thấy được nguyên nhân. Nếu cứ theo đuổi chủ trương này, những nhân vật như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… sẽ xuất hiện sớm hơn và đông đảo hơn.
Ý thức hệ
Di sản ngàn năm để lại, từ Nguyễn Trường Tộ (chủ hòa) tới Phan Bội Châu (chủ chiến) đều mang ý thức hệ “tôn quân”.
– Cụ Nguyễn, dù coi cách học cũ là vô tích sự, cần thay đổi triệt để; nhưng cụ vẫn viết (trong bản Điều Trần số 13)Ngôi vua là quýchức quan là trọng – để vua quan tự thấy có trách nhiệm chủ trì duy tân. Nhưng làm sao vua quan thời đó bỏ được Nho Giáo? Thực tế, phải 50 năm sau (1919) nền học cũ (cựu học) mới bị chấm dứt hẳn – mà lại do Pháp chủ trương. Thật nực cười.
– Còn cụ Phan? Cụ đã tiếp cận tân học, đã đọc Đại Thế Luận của Nguyễn Lộ Trạch, đã từng đàm đạo với Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn… nhưng cụ lại tôn một vị hoàng thân làm minh chủ (vua dự trữ – vua chống Pháp) để sau này thay “vua cũ” – vua theo Pháp. Đây là đại biểu cuối cùng của phe chủ chiến, nên cụ rất đơn độc. Sau cụ, tuy vẫn còn vài cuộc nổi dậy, nhưng chủ yếu là bột phát – như cuộc binh biến ở Thái Nguyên, Đô Lương… Chúng rất khác với các cuộc khởi nghĩa trước đó (có chuẩn bị, có kế hoạch, có xây dựng căn cứ địa và có gây cơ sở trong dân…).

Đại diện cuôi cùng và đầu tiên của 2 chủ trương, 2 ý thức hệ
Sống cùng thời, cùng là trí thức (viết hàng ngàn trang), cùng khâm phục và kế thừa  tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, cùng đọc “tân thư”, cùng  sang Nhật, và nhiều lần hai cụ đã đàm đạo với nhau, nhưng cụ Phan Chu Trinh lại khác hẳn cụ Phan Bội Châu, cả về chủ trương (chủ hòa, thậm chí hợp tác và học hỏi với Pháp) và cả về ý thức hệ (triệt để xóa bỏ nền quân chủ (quân trị) để kiến lập nền “dân trị”. Đây là đại biểu tiên phong của phải chủ hòa có ý thức hệ phù hợp với thời đại mới. Nối cụ, chính là nhóm trí thức Âu học (Quỳnh-Vĩnh-Tố-Tốn) và vị trí thức nho học đã “âu hóa”: Phan Khôi.
Bảng trên
– Cụ Nguyễn Trường Tộ chủ hòa để xây dựng lực lượng, khi đủ, mới chủ chiến. Trong các bản Điều Trần, cụ từng đưa ra những kế hoạch đánh Pháp để lấy lại các tỉnh đã mất ở Nam Kỳ. Nói khác, khi cần cụ vẫn chủ chiến. Do vậy, trong những người kế tiếp (lúc này đã mất nước) có cả chủ chiến và chủ hòa. Ví dụ, Cụ Nguyễn Lộ Trạch chủ trương bỏ kinh đô Huế, lập vùng kháng chiến ở Nghệ An. Cụ Trạch là cầu nối thế hệ 1 và 2, vì sống cùng thời với cả hai thế hệ này.
Chú thích. Trước Nguyễn Trường Tộ, chưa thể có trí thức ở nước ta. Dưới chế độ phong kiến, mục đích học hành là để làm quan. Còn thi cử là để chọn người làm quan (phải nhất nhất làm theo lệnh vua). Dũng cảm nhất của quan, chỉ là dám can vua và dám từ quan. Ngay thời nay, đã là quan chức thì quá khó để kiêm trí thức. Nếu trong quan chức có cái “mầm” trí thức, trong trường hợp can đảm nhất, có thể nó dám mọc khi đã về hưu.
– Thế hệ 2 là giao thời giữa hai đường lối và hai ý thức hệ. Từ giành độc lập bằng bạo động chuyển sang bằng đấu tranh ôn hòa; từ chấp nhận quân chủ sang đấu tranh cho dân chủ. Tiêu biểu là các cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Thuộc thế hệ này còn nhiều cụ khác, đều xuất thân Nho Học, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của “tân thư”: Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hải Thần… Như đã nói, cụ Phan Bội Châu là đại biểu cuối cùng của chủ trương bạo động và tôn vua. Do vậy, hầu hết các trí thức xuất thân nho học theo đường lối của cụ Phan Chu Trinh.
– Thế hệ 3 gồm 2 loại: những vị đấu tranh trong nước và những vị đấu tranh ở nước ngoài. Về sau, sớm hay muộn, các vị cũng về nước (muộn nhất là Nguyễn Tất Thành). Rõ ràng, các vị nhận ra chỉ có ở trong nước mới có thể đấu tranh thiết thực và hiệu quả, nhất là sứ mệnh nâng cao dân trí và giác ngộ quần chúng.   
        Nhóm trong nước gồm các trí thức “âu học”, ngay từ đầu đã được hưởng nền giáo dục mới. Tiêu biểu là các cụ Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố và nhiều vị khác. Ngoài ra, còn các vị có thời gian theo đuổi nho học, về sau chuyển sang âu học bằng tự học. Điển hình là cụ Phan Khôi (tú tài nho học).
       Nhóm ngoài nước, đấu tranh với thực dân ở ngay chính quốc (Pháp), đứng đầu là cụ Phan Văn Trường (tiến sĩ luật khoa) và các cụ khác trẻ hơn: Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh… Về sau các cụ cũng về nước đấu tranh với chính quyền thuộc địa.
Có 2 trường hợp riêng: 1) Cụ Phan Chu Trinh, thuộc thế hệ 2, sau khi thoát án tử hình, bị chính quyền thuộc địa đưa sang Pháp, cùng hoạt động với thế hệ 3 và do vậy đã xảy ra “mâu thuẫn thế hệ” (với Nguyễn Tất Thành – quá cấp tiến). Cuối đời, cụ mới về nước tiếp tục đấu tranh theo chủ trương nhất quán của mình. 2) Cụ Nguyễn Tất Thành, thuộc thế hệ 3 (theo tuổi) nhưng trong quá trình đấu tranh có sự thay đổi ý thức hệ, tuy chưa triệt để. Chính đây là nguyên nhân đưa đến mâu thuẫn với thế hệ 4, đại diện là cụ Trần Phú, cấp tiến (triệt để theo chủ nghĩa Mac-Lenin).
– Thế hệ 4. Chủ yếu sinh ở thế kỷ 20. Nhóm Nguyễn Thái Học theo chủ nghĩa Tam Dân và nhóm Trần Phú theo chủ nghĩa Mac-Lenin (thực chất là chủ nghĩa Stalin).
https://nghiencuulichsu.com/2015/08/24/tu-nguyen-truong-to-toi-bo-ngu-vinh-quynh-ton-to-khoi-bai-4/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Kẻ nào sẽ phải chịu ‘vận đen phá chùa’?


Phạm Chí Dũng
 - “Trong nhiều tội lỗi trên thế gian này, tội phá chùa là lớn lắm, những người đi phá chùa ắt phải nhận quả báo” - vị Hòa thượng trầm ngâm suy tư hồi lâu trước khi trả lời câu hỏi của tôi. Nhiều người nghiệm rằng vận đen của Đinh La Thăng không hẳn khởi sự từ những vụ việc ở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nơi ông ta là chủ tịch hội đồng thành viên trước năm 2011, mà thật ra đã bắt nguồn sâu xa từ vụ phá chùa chiền ấy. Vụ phá chùa Liên Trì không chỉ “đen” cho Đinh La Thăng, mà cả một số quan chức cấp dưới của Thăng ở Sài Gòn, cùng những bàn tay đen đúa bí mật của giới quan chức cao cấp và nhóm lợi ích đã đẩy đuổi dã man người dân khỏi khu đất vàng Thủ Thiêm và “ăn đất” tàn mạt đến thế nào, cũng sẽ dần bị “báo ứng”.

Bà con nghèo nhận quà từ thiện tại 
Chùa Liên Trì những ngày chùa còn nguyên vị.
Thế mà đã lạnh trôi hai cái tết kể từ khi chính quyền TP.HCM hùng hổ ra quân xóa sổ chùa Liên Trì của Giáo hội Phật giáo Việt NamThống Nhất…

Buổi sáng tháng Chín

“Trong nhiều tội lỗi trên thế gian này, tội phá chùa là lớn lắm, những người đi phá chùa ắt phải nhận quả báo” - vị Hòa thượng trầm ngâm suy tư hồi lâu trước khi trả lời câu hỏi của tôi.

Vị sư tu tập ấy vốn nổi tiếng về năng lực và nhãn quan nhìn vật lẫn nhìn người. Phật tử từ nhiều nơi kéo về ngôi chùa trông thẳng ra biển này để mong được Hòa thượng xem vận số của họ. Nhưng không phải ai cũng được Hòa thượng tiếp. Với nhà sư này, điều ông cần nhất là sự thành tâm của con người, dù người đó không theo Phật giáo. Ông tuyệt đối không dùng từ “xem bói”, mà chỉ nhìn người mà luận. Nhiều người được Hòa thượng luận về quá khứ của mình đã chỉ còn biết cúi đầu xác nhận.

Tôi không “xem” gì cho mình, mà chỉ thuật lại cho Hòa thượng nghe câu chuyện chính quyền TP.HCM đã ủi sập chùa Liên Trì ở quận 2 chỉ trong một buổi sáng.

Buổi sáng ấy, tháng Chín năm 2016. Một đạo quân đông tới 400 người gồm công an có sắc phục và thường phục, dân phòng cùng các hội đoàn nhà nước, được trang bị súng ống và xe đặc chủng, đã vây kín chùa Liên Trì từ tờ mờ sáng, sau đó xông vào cưỡng chế các sư sãi yếu ớt trong chùa. Cứ hai ba kẻ khiêng một thày rồi tống vào xe hơi, chở cùng tượng phật và đồ của chùa về thẳng “chùa Liên Trì mới” do chính quyền dựng lên tại một hóc bò tó ở khu vực Thạnh Mỹ Lợi cùng địa bàn quận 2. Đó là nơi mà chính quyền đã tính toán rất kỹ: vì khoảng cách đến đó quá xa nên phật tử sẽ ít lai vãng, còn các tổ chức xã hội dân sự độc lập - đã quen xem chùa Liên Trì cũ như một địa chỉ sinh hoạt thường xuyên - sẽ không còn chốn dung thân.

Ít ngày sau, Hòa thượng Thích Không Tánh - trụ trì chùa Liên Trì - rời bệnh viện nơi ông phải điều trị bệnh huyết áp cao do vụ phá chùa, để về nhìn lại ngôi chùa của mình. Ở đó, ông chỉ còn thấy một mảnh đất đã bị san phẳng mà không còn bất kỳ dấu tích gì của ngôi chùa thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã tồn tại hơn sáu chục năm giữa lòng Sài Gòn. Thày Không Tánh chỉ còn biết ôm mặt khóc tức tưởi. Nỗi phẫn uất của thày - một tù nhân ương tâm đã trầm mình đến hai chục năm trong nhà tù cộng sản - đã trở nên vô bờ bến…

Vụ phá chùa Liên Trì xảy ra dưới thời Đinh La Thăng.

Quả báo tội phá chùa
Năm 2016, Đinh La Thăng xông xênh “tiến về Sài Gòn” với khẩu hiệu “Vì dân và hành động”.

Nhưng trong lúc chỉ “hành động” một cách vặt vãnh, đưa đẩy chuyện làm đường hẻm và hứa hẹn bao tiêu sữa cho nông dân, tìm cách lấy lòng giới cán bộ lão thành, có công cách mạng, trí thức và cả những người dân thường, Đinh La Thăng lại tuyệt đối không nhân nhượng với giới hoạt động nhân quyền ở Sài Gòn trong suốt thời gian ông ta nhậm chức bí thư thành ủy.

Thậm chí thời Đinh La Thăng còn qua mặt và vượt hẳn cả bí thư thành ủy cũ là Lê Thanh Hải cùng đương kim bí thư thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải về “thành tích” ném mắm tôm, đánh đấm và bắt bớ nhân quyền vào các lễ tưởng niệm 74 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh để bảo vệ Trường Sa năm 1974, ngày 17/2/2016 tưởng niệm 6 vạn quân nhân và người dân Việt Nam đã hy sinh trong Chiến tranh vệ quốc 1979 chống Trung Quốc xâm lược, đàn áp dã man đến đổ máu số đông người biểu tình vì môi trường vào ngày 8/5/2016…

Cũng trong năm 2016, Đinh La Thăng đã lập “thành tích vô thần” chưa từng có khi quan chức này đã hạ lệnh cho công an ủi sập chùa Liên Trì.

Về sau này, nhiều người nghiệm rằng vận đen của Đinh La Thăng không hẳn khởi sự từ những vụ việc ở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nơi ông ta là chủ tịch hội đồng thành viên trước năm 2011, mà thật ra đã bắt nguồn sâu xa từ vụ phá chùa chiền ấy.

Gần cuối năm 2017, tôi bàng hoàng nhớ lại lời Hòa thượng của ngôi chùa sát biển “Đã là quả báo thì không có cách nào tránh được. Ông Thăng ra lệnh phá chùa thì ông ấy sẽ phải chịu quả báo khắc nghiệt lắm. Lâu thì vài năm, sớm thì một năm nữa, ông Thăng sẽ bị ai đó phá lại và ông ấy sẽ phải chịu cảnh mất tự do”.

Lời tiên tri của Hòa thượng nói ra vào cuối năm 2016. Thú thật là khi đó, tôi đã không thể tin được lời Hòa thượng.

“Bị mất tự do” - hiểu theo nghĩa thông thường nhất - nghĩa là bị sa vào vòng lao lý, để nhẹ nhất cũng bị quản thúc tại gia. Làm thế nào mà Đinh La Thăng lại bị mất tự do theo cách ấy? Chính thể độc đảng ở Việt Nam cho tới khi đó lại chưa từng có tiền lệ về bắt giam ủy viên bộ chính trị. Càng khó hình dung hơn việc Đinh La Thăng bị tống giam rồi bị đưa ra tòa xét xử…

Nhưng đến tháng 4/2017, lời tiên tri của Hòa thượng bắt đầu ứng nghiệm. Đinh La Thăng bất ngờ “ngã ngựa” bởi một bản báo cáo từ chính các đồng chí không đồng lòng của ông - Ủy ban Kiểm tra trung ương - về những sai phạm “rất nghiêm trọng” vào thời ông Thăng là Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Nhưng đến lúc đó, tôi vẫn chỉ nghĩ là Đinh La Thăng sẽ mất ghế ủy viên bộ chính trị, mất cả ghế ủy viên trung ương, và nói chung có thể “bị cách mọi chức vụ trong đảng và chính quyền”, nhưng quá khó để hình dung ra chuyện Thăng sẽ bị bắt.

Bảy tháng rưỡi sau việc Đinh La Thăng bị loại khỏi Bộ Chính trị, lời tiên tri của Hòa thượng đã thêm một lần ứng nghiệm: đầu tháng 12/2017, Đinh La Thăng chính thức bị khởi tố và bị tống giam. Và chỉ một tháng rưỡi sau đó, ông ta đã phải nhận bản án lên đến 13 năm tù giam chỉ với một tội danh đầu tiên. Chưa kể một vụ khác - “800 tỷ” - mà Thăng sẽ bị đưa ra xét xử sau tết nguyên đán 2018.

Đinh La Thăng đã chính thức “bị mất tự do”.

Còn những kẻ nào phải chịu quả báo?


Vào những ngày tết nguyên đán 2018, tôi ghé chùa Giác Hoa ở Sài Gòn để thăm thày Không Tánh. Từ khi không còn chốn dung thân, thày Không Tánh đành phải tá túc nơi đây.

Và tôi những muốn quay lại ngôi chùa lồng lộng gió biển để hỏi Hòa thượng về luật nhân quả.

Giờ đây, tôi đã có thể hình dung rằng vụ phá chùa Liên Trì không chỉ “đen” cho Đinh La Thăng, mà cả một số quan chức cấp dưới của Thăng ở Sài Gòn, cùng những bàn tay đen đúa bí mật của giới quan chức cao cấp và nhóm lợi ích đã đẩy đuổi dã man người dân khỏi khu đất vàng Thủ Thiêm và “ăn đất” tàn mạt đến thế nào, cũng sẽ dần bị “báo ứng”.

Những quan chức nào khác đã a tòng với Đinh La Thăng phá chùa Liên Trì?

Xếp đầu danh sách khiếu nại tố cáo của người dân Thủ Thiêm ở quận 2 luôn là Tất Thành Cang - cựu chủ tịch quận 2, được xem là “đệ tử ruột” của cựu bí thư thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải và là phó bí thư thường trực thành ủy TP.HCM từ thời Đinh La Thăng cho đến giờ.

Và một lô một lốc quan chức chính quyền và Công an TP.HCM, Công an quận 2 mà đã “dây máu ăn phần” trong vụ thẳng tay phá chùa Liên Trì?

Cái “vận đen phá chùa” ấy, không sớm thì muộn, cũng sẽ báo ứng với từng thủ phạm một.

Chỉ còn một cách để được tha thứ và hóa giải cái vận đen đó: chính những thủ phạm ấy phải phục hồi nguyên trạng chùa Liên Trì như một sự hối lỗi trước tâm linh và lịch sử.

Phạm Chí Dũng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình


Ngâm mình dưới nước khiêng kiệu hàng giờ đồng hồ là hình ảnh nghi thức kỳ lạ tại lễ hội chùa Phượng Vũ (xã Minh Khai, Vũ Thư, Thái Bình), ngày 24/2.
VIDEO: Trai làng ngâm mình dưới nước lạnh hàng giờ rước kiệu đầu năm
Lễ hội chùa Phượng Vũ (Thái Bình) chiều 24/2 có nghi thức rước kiệu lội xuống sông và quay liên tục dưới nước hàng tiếng đồng hồ, thu hút đông đảo du khách tham dự.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 1
Nét độc đáo của lễ hội chùa Phượng Vũ (Thái Bình) là nghi thức rước kiệu dưới nước. Vị chủ hội năm Mậu Tuất là ông Nguyễn Văn Chức (63 tuổi). Người có vinh dự này điều kiện phải trên 50 tuổi, gia đình song toàn.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 2
Sau khi làm lễ lúc 7h tại chùa, các trai làng được chia thành 3 đội để rước ba chiếc kiệu gồm Song Loan, Long Đình và Kiệu Lễ. Thời tiết ngày diễn ra lễ hội không quá lạnh nhưng việc liên tục lên bờ rồi xuống nước ảnh hưởng không ít đến sức khỏe của người khiêng kiệu.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 3
Trước đó có hơn 100 ứng viên đăng ký rước kiệu nhưng chỉ 24 người đạt yêu cầu. Họ phải làm lễ xin đài âm dương vào ngày mùng 6 tháng Giêng.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 4
Thanh niên từ 18 tuổi trở lên mới được phép tham gia. Những người này có 3 ngày để chuẩn bị sức khỏe, tinh thần cho buổi rước có thể kéo dài hàng giờ đồng hồ.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 5
Ao, hồ, sông, đền, miếu là những nơi ba chiếc kiệu ghé qua.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 6
Trong hành trình, kiệu sẽ được đưa và ghé vào những nhà từng làm chủ hội hoặc có công đóng góp lớn cho nhà chùa.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 7
Rồi kiệu lại được đưa xuống nước. Có những khu vực ngập ngang cổ người.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 8
Dù đi chân trần rước kiệu lội sông hay đi vào các khu vực nhiều cọc nhọn, đất đá nhưng các thanh niên rước kiệu chưa ai bị thương nặng ở chân. Một vài vết xước ngoài da hay chuột rút là những lần hiếm hoi các anh gặp phải.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 9
Họ được tiếp thêm chút gừng tươi để làm ấm cơ thể sau khi ngâm mình hàng giờ dưới nước lạnh.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 10
“Mọi đường đi nước bước chúng tôi đều không đoán trước được, ai kéo đi đâu thì đi theo đấy”, anh Nguyễn Tiến Minh, thành viên trong đoàn rước kiệu nói.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 11
Chiếc kiệu chao đảo dưới nước khiến các chàng trai vất vả chống đỡ.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 12
Mỗi lần lên bờ rồi lao xuống nước đều là sự thử thách cho bất cứ chàng trai nào. Việc được chọn để khênh kiệu đều là niềm tự hào của mỗi người.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 13
Người dân bày đồ lễ trước cửa nhà nơi đoàn rước kiệu đi qua.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 14
“Nhà tôi cách nơi tổ chức lễ hội 10 km nhưng năm nào tôi cũng đến xem. Màn lội nước rước kiệu thực sự rất cuốn hút”, chị Quỳnh, một du khách chia sẻ.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 15
Mỗi buổi rước thường kết thúc đúng giờ chính Ngọ (12h trưa), 3 kiệu được quy tụ tại đền thánh Từ Đạo Hạnh. Tuy nhiên cũng có những năm nghi lễ kéo dài đến 15h chiều.
Nghi lễ rước kiệu dưới nước kỳ lạ ở Thái Bình - Ảnh 16
Anh Nguyễn Văn Nha vái lậy khi kiệu về đến đền thánh: “Đây là năm thứ 3 tôi khiêng kiệu, lúc đầu người khá mệt mỏi nhưng càng khiêng lại không còn cảm giác gì”.
Quỳnh Trang

Phần nhận xét hiển thị trên trang