Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 21 tháng 2, 2018

Nếu không kiểm soát, VN dễ bùng nổ hàng chục ngàn “Giáo sư chim chuột”


“Nhiều người nói “dân tộc VN hiếu học”, tôi thì thấy nhiều trường hợp trong đó hám danh hơn ham học”.


Năm 2007, GS Nguyễn Tiến Dũng được được Ủy banQuốc gia về đại học của Pháp phong hàm giáo sư hạng nhất (khi mới 37tuổi) và đến 2015 ông được phong hàm GS hạng đặc biệt. Trước đó ônglà thí sinh VN trẻ tuổi nhất đạt HCV Olympic toán Quốc tế (ở tuổi 15).
Giáo sư sinh ra để làm gì?
Những ngày qua, dư luận đã đề cập đến “chuyến tàu vét” khi số lượng GS, PGS 2017 tăng đột biến.
Cụ thể: Năm 2017 có 85 ứng viên được công nhận GS, 1.141 ứng viên được công nhận PGS (tăng 1,7 lần so với năm 2016). Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện nhanh với GS toán học Nguyễn Tiến Dũng, GS Đại học Toulouse, Pháp.
Thưa ông, có thể hỏi ông một câu rất đơn giản: Giáo sư sinh ra để làm gì?
Từ “giáo sư”, hay professor tiếng Anh, đều có nghĩa là người có trình độ rất cao (sư) và có truyền bá kiến thức (giáo) trong lĩnh vực nào đó.
Hiểu theo nghĩa chung như vậy, thì những nhân vật như Plato hay Khổng Tử có thể được gọi là những GS, tuy có lẽ không có một quyết định chính thức nào phong chức đó cho họ.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì GS là một chức vụ được phong, thường là tại một trường đại học hay viện nghiên cứu, gắn liền với lương bổng và trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu ở mức cao nhất. Khó có thể hình dung một trường đại học tử tế mà thiếu GS.
Ở châu Âu có những trường đại học được thành lập cách đây nhiều thế kỷ (ví dụ như Đại học Bologna có từ năm 1088), còn ở Việt Nam các đại học mới xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 dưới thời thực dân Pháp, nên khái niệm GS còn “tương đối” mới.
Như vậy thì mục đích của việc làm GS ở VN khác ở Pháp và một số nước phát triển mà ông biết như thế nào?
Có một điểm khác biệt cơ bản giữa khái niệm GS ở Việt Nam và ở các nước tiên tiến (kể cả phương Tây và những nước láng giềng như Trung Quốc hiện tại), đó là: Ở các nước khác, chức GS là một công việc gắn liền với các quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng, và người ta “tuyển” người vào vị trí GS khi mà có vị trí như vậy đang trống.
Một người muốn thành GS thì phải tìm được một vị trí trống như vậy và phải được hội đồng tuyển việc nhận vào, chứ không phải ngồi sẵn một chỗ rồi cứ thế được nâng cấp lên GS mà không cần có vị trí trống nào.
Vì ở Việt Nam, GS là “phong lên cấp” chứ không phải “tuyển việc” nên việc lên cấp này không gắn liền với tránh nhiệm hay quyền lợi. (Tuy tất nhiên trên thực tế nó sẽ có ảnh hưởng đến trách nhiệm và quyền lợi, nhưng là một sự ảnh hưởng gián tiếp không rõ ràng).
Sự khác biệt thứ hai là, vì GS ở Việt Nam không gắn liền với trách nhiệm ở trường hay viện, nên có rất nhiều vị quan chức cũng được phong thành GS, PGS.
Ở các nước khác, khi đang làm quan chức thì thường không còn là GS nữa vì không thể cùng lúc làm tốt cả hai công việc đòi hỏi toàn bộ thời gian, đấy là không kể đến chức danh “GS danh dự” (chỉ là danh dự) hay “GS thỉnh giảng” (thỉnh thoảng đến giảng theo lời mời thôi, không phải là người của trường hay viện).
Chính vì chức GS ở Việt Nam thiếu sự gắn liền trực tiếp một cách minh bạch với trách nhiệm và quyền lợi (tuy có gián tiếp về chế độ), nên nó một phần bị biến thành danh hão, nhiều người muốn có chỉ để cho “oai”.
Có nên để các trường tự phong GS, PGS?
GS Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng chức danh GS Nhà nước đã có những lí giải rằng: Theo các quy định về tiêu chuẩn hiện hành, cho đến nay chưa có yêu cầu cụ thể, bắt buộc đối với ứng viên GS, PGS phải có bài báo quốc tế ISI, Scopus. Theo ông, đây có phải là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến lượng GS, PGS tăng đột biến?
Theo tôi hiểu, việc tăng đột biến chủ yếu do Bộ GD&ĐT đang muốn thay đổi quy chế xét GS, PGS từ năm sau. Nhiều người sợ theo quy chế mới thì sẽ khó được phong GS, PGS hơn nên họ đổ dồn việc xin chức danh vào năm nay, dẫn đến hiện tượng tăng đột biến.
Có những người đủ “tiêu chuẩn Việt Nam” để được xét GS, PGS mà chưa nộp đơn ngay (từ các năm trước) nhưng năm nay họ quyết nộp để khỏi phải bị xét theo quy trình mới e chừng khó khăn hơn.
Đối với cá nhân từng người, thì đây là giải pháp tối ưu mà họ chọn lựa, không có cớ gì để bắt họ không được làm như vậy.
Còn chuyện không cần bài báo quốc tế ISI thì từ nhiều năm trước vẫn thế. Càng gần đây, sức ép cần có bài báo quốc tế để hòa nhập thế giới, đạt tầm quốc tế, mới càng mạnh lên.
Có ý kiến cho rằng: Cứ đà này, việc “phổ cập” GS, PGS ở VN cũng sẽ tưng bừng giống việc lạm phát hoa hậu. Nếu hoa hậu chỉ là người đạt giải cao nhất của một cuộc thi, thì GS, PGS cũng nên là người được một trường ĐH cụ thể phong, chứ đâu cần nhà nước. Ông nghĩ sao về điều này?
Một năm đột biến vì lý do đặc biệt thì chưa phải là “đà”. Tôi đoán là sang năm số lượng được phong sẽ ít đi như cũ.
Vấn đề “GS có nên do trường tự phong” là vấn đề đã được tranh cãi nhiều ở VN. Các trường lớn trên thế giới đều tự chọn GS cho mình.
Nhưng nếu áp dụng một cách máy móc điều đó vào Việt Nam chưa chắc đã tốt, bởi vì họ làm được như vậy là do họ có các điều kiện mà Việt Nam chưa có.
Ví dụ như ở Singapore cửa hàng buổi tối không cần khóa cửa cũng không sao, ở Việt Nam mà cũng làm thế thì mất sạch.
Trường lớn trên thế giới có hội đồng khoa học đỉnh cao và làm ăn đàng hoàng, chỉ chọn người rất giỏi. Phần lớn các trường ở Việt Nam còn rất lâu mới tự lập được một hội đồng khoa học giỏi và minh bạch, nếu để các trường tự phong mà không có sự kiểm soát chất lượng của các định chế khoa học đáng tin cậy hơn thì đảm bảo là sẽ thực sự bùng nổ ra hàng chục nghìn những “GS chim chuột”.
Ngay ở Pháp, tuy các trường tự tuyển GS, nhưng vẫn có ủy ban đại học quốc gia kiểm tra tư cách ứng cử viên của những người nộp đơn xin làm GS hay PGS tại các trường để có đảm bảo tối thiểu về chất lượng, có giấy chứng nhận đủ tư cách mới được ứng tuyển.
Ở Mỹ thì không có ủy ban trung ương này, tuy nhiên các đại học đẳng cấp quốc tế có sẵn hội đồng xét duyệt rất uy tín và có lấy ý kiến từ các chuyên gia lớn ở bên ngoài để đảm bảo chất lượng.
Ở VN, còn rất lâu mới gặp cảnh “mở cửa thấy GS”
“Mở cửa là thấy GS, PGS thì thật nguy hiểm. Trường nào cũng tự phong GS thì sẽ loạn GS, chả khác nào việc loạn bằng cử nhân hiện nay-thượng vàng hạ cám, có trường đào tạo chả đủ điều kiện cũng cấp bằng cử nhân. Loạn ĐH chưa giải quyết xong lại loạn GS nữa thì chết!” – GS Nguyễn Minh Thuyết đã lo ngại như vậy. Theo ông, lượng GS, PGS ở Việt Nam nhiều hay ít? Cần quản lý thế nào để không xảy ra lạm phát GS, PGS hơn nữa?
Nếu tính tỷ lệ GS trên đầu người dân thì Việt Nam có lẽ còn rất thấp so với thế giới, còn rất lâu mới “mở cửa thấy GS”.
Vấn đề không nằm ở chỗ “Việt Nam có quá nhiều GS” (thực ra là còn quá ít so với nhu cầu của đất nước) mà nằm ở chỗ “chất lượng GS còn quá thấp”.
Như tôi có viết trong trả lời câu trước, đúng là rất đáng lo ngại việc “loạn GS” nếu giao về cho các trường tự lo, khi mà không có gì đảm bảo chất lượng tuyển chọn ở các trường.
Những người “đã làm GS” thì hầu như chẳng còn cách nào tăng chất lượng của họ. Nếu có tăng là tăng với các GS mới.
Nhưng cũng sẽ có sự bất công nếu những người có trình độ ngang bằng trung bình của GS cũ không được phong trong những đợt mới vì thắt chặt các tiêu chí.
Và cũng bất công nếu một GS chất lượng quốc tế cũng chỉ là GS như những GS làng nhàng khác.
Theo tôi, để giải quyết vấn đề trên, cần làm đồng thời nhiều việc:
Một, càng ngày càng đòi hỏi thêm chất lượng với các GS mới, nhưng là một cách từ từ không nhảy quá nhanh.
Hai, tạo những vị trí GS lương cao trội hẳn dành cho những người thực sự có đẳng cấp quốc tế, và đối với những vị trí đó việc tuyển cũng cần khác đi, thiên về chất lượng hơn là hình thức.
Ba, ngay cả đối với các GS, PGS hiện tại chưa đạt chuẩn quốc tế, thì không phải là họ không có khả năng làm việc. Cần tạo điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn cho họ, đầu tư tốt hơn cho khoa học thì họ mới cho ra kết quả tốt hơn
Bốn, loại bỏ chuyện phong GS cho quan chức. Chuyển GS thành công việc ở trường và viện, ai làm quan thì thôi, hết làm quan đi về nghiên cứu giảng dạy lại thì mới lại thành GS, như vậy số lượng GS, PGS sẽ giảm đột biến ngay.
Theo ông, tính háo danh, thích oai và trọng hình thức của người Việt, tác động thế nào đến việc người người muốn có học vị TS và chức danh GS, PGS?
Chắc chắn là ảnh hưởng rất lớn. Nhiều người nói “dân tộc VN hiếu học” tôi thì thấy nhiều trường hợp trong đó hám danh hơn ham học, ham hiểu biết.
Nhưng nếu tôi nói “nhiều người Việt Nam hám danh” thì có thể sẽ bị nhiều người phản đối ngay lập tức.
Tỉ lệ GS, PGS, TS thấp so với thế giới
Theo một thống kê, Việt Nam có 24.000 tiến sĩ (trên tổng dân số hơn 90 triệu). Trong khi đó Mỹ có 322 triệu dân nhưng đã có 3.609.000 tiến sĩ, chưa kể tới 3.365.000 các tiến sĩ chuyên nghiệp (Các tiến sĩ chuyên nghiệp gồm có bác sĩ – tiến sĩ y khoa, dược sĩ – tiến sĩ dược khoa, nha sĩ – tiến sĩ nha khoa và luật sư – tiến sĩ luật khoa).
Tại Việt Nam, chỉ có xấp xỉ 0,06 GS và gần 0,4 PGS trên 10.000 dân trong khi đó ở Trung Quốc có 4 GS hoặc PGS trên 10.000 dân, gấp 10 lần Việt Nam. Tại Đức, theo thống kê năm 2014, nước này có 3 GS trên 10.000 dân.
Tại Việt Nam, chỉ có 0,2 GS hoặc PGS trên 100 sinh viên, còn ở Trung Quốc, có 0,2 GS hoặc PGS trên 100 sinh viên. Đức: 1,7 GS trên 100 sinh viên; Tại ĐH Pittsburgh (Mỹ), có hơn 13 GS, PGS trên 100 sinh viên.
Nghiên cứu khoa học tụt quá xa
Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, kết quả nghiên cứu khoa học của đội ngũ GS, PGS, TS ở VN tụt xa so với các nước trong khu vực ASEAN.
Trong thời gian 10 năm (1996 – 2005), các nhà khoa học nước ta chỉ công bố 3.456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí thuộc danh mục ISI, chỉ bằng 1/5 so với Thái Lan, 1/3 so với Malaysia, 1/14 so với Singapore.
Nguyễn Tiến Dũng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi nào Việt Nam hợp nhất chức Tổng bí thư và Chủ tịch nước?


Nhất thể hoá là khái niệm không còn mới ở Việt Nam. Cho tới thời điểm hiện tại, nhất thể hoá đã được thực hiện ở nhiều địa phương trên cả nước và thu được một số kết quả nhất đinh. Tuy nhiên, vấn đề nhất thể hoá các chức danh cao nhất trong Đảng và Nhà nước liệu sẽ được áp dụng trong bối cảnh hiện nay và quá trình này sẽ gặp những khó khăn hay thuận lợi gì? Phóng viên đài RFA đã có cuộc phỏng vấn với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, người đã có nhiều năm nghiên cứu về các chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ Việt Nam.

Hình minh họa
RFA: Thưa giáo sư, ngày 13/2 vừa qua, Tổng bí thư CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng, đã có cuộc gặp mặt chúc Tết các vị lão thành cách mạng, các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời gửi đi lời chúc tết đến đồng bào chiến sĩ cả nước và kiều bào ở hải ngoại. Theo truyền thống thì hoạt động này được chỉ được thực hiện bởi Chủ tịch nước vào thời khắc giao thừa trên sóng truyền hình quốc gia mà thôi. Giáo sư nhìn nhận sự việc này như thế nào?

Giáo sư Nguyễn Mạnh HùngNgay sau khi đươc Đại hôi Đảng lần thứ XII tái bầu làm Tổng bí thư, ông Trọng đã bắt tay vào việc củng cố quyền lực của Đảng trên toàn thể hệ thống chính trị qua viêc cắt cử người vào các vị trí lãnh đạo ở trung ương và chiến dịch đánh tham nhũng để loại bỏ các phần tử mà ông cho là bất xứng và lạm quyền. Kết quả là ngày nay Tổng bí thư là người có thực quyền cao nhất. Việc để cho ông Trọng chúc Tết cả nước phản ánh thực tế chính trị ấy. Để đề cao một phần nào vai trò của Chủ tịch nước trên bình diện quốc tế, ngay sau đó, ngày 14/2, ông Trần Đại Quang đã được cắt cử điện đàm với Tổng thống Donald Trump để trao đổi về nhiếu vấn đề, trong đó có vấn đề Biển Đông.

RFA: Tỉnh Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trên cả nước đã áp dụng mô hình nhất thể hoá và đã thu được những thành công đáng kể. Hiện tại cũng đã có nhiều địa phương cấp xã, huyện đã được áp dụng mô hình này. Vậy giáo sư có nghĩ rằng việc nhất thể hoá các chức danh cao nhất, cụ thể là Tổng bí thư và Chủ tịch nước sẽ sớm xảy ra trong nay mai không? Ý kiến của ông như thế nào nếu trường hợp này xảy ra?

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng Về trường hợp Quảng Ninh thì người ta khen nhiều lắm. Tuy nhiên, vấn đề gộp chức danh đã đươc ghi vào Nghị quyết của Đại hội XII từ hai năm trước đây. Tháng 3 năm ngoái, trong một hội nghị trực tuyến với sự tham dự của môt số ủy viên Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, môt số người đề nghị nên hợp hai chức danh thành một tại môt số tỉnh. Trong giai đoạn đó cũng có người như Tiến sĩ Nguyên SĩDũng đề cập đến khả năng hợp hai chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch nước. Nhưng trong bài diễn văn bế mạc Trung ương VI kết thúc hồi tháng 10 năm ngoái, ông Trọng chỉ nói đến việc nhất thể hóa chức vụ chỉ huy ở những huyện nào mà “điều kiện cho phép” mà thôi. Nghĩa là Đảng vẫn hết sức dè dặt. Trong tình trạng ấy, khó có thể nói rằng việc hợp nhất chức danh Tổng bí thư với Chủ tịch nước “sẽ sớm xảy ra nay mai.”

RFA: Vậy đâu là những khó khăn và thuận lợi của việc nhất thể hoá các chức danh cao cấp nhất trong  Đảng và Chính quyền, thưa giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: Điểm thứ nhất, về phương diện nghi lễ, thủ tục ngoại giao thì nó làm giản dị trong việc những người lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam khi tiếp xúc với nước ngoài. Còn về phương diện thực tiễn, chính trị thì nó rất lợi vì nó tạo ra cái mà người ta gọi là “chỉ huy thống nhất” – chỉ có một người nói thôi. Còn cái phương cách gọi là lãnh đạo tập thể hay quyết định tập thể nó chỉ là kết quả của mẫu số chung nhỏ nhất thành ra không thể làm những quyết định có tính cách quyết liệt, kịp thời, nhanh chóng, vốn là những quyết định hết sức cần thiết để đối phó với tình trạng thế giới thay đổi rất nhiều. Vì thế nên Việt Nam trong quá khứ đã bị bỏ lỡ rất nhiều cơ hội vì sự lừng chừng. Đó là việc lợi của nó. Còn việc khó khăn hay không khó khăn thì mình thấy ở các nước, rất nhiều Đảng cộng sản có thể nói thầu hết, thì họ đều nhất thể hoá cả, Tổng bí thư kiêm nhiệm luôn nhà lãnh đạo của Hành pháp. Nhưng riêng Việt Nam thì Đảng lãnh đạo tuyêt đối và được đại diện bởi ông Tổng bí thư, còn Hành pháp thì chỉ thi hành thôi và việc thi hành đại diện bởi ông Thủ tướng nhưng ở Việt Nam thì hành pháp lại có thêm ông Chủ tịch nước nữa. Do đó, sự hợp tác giữa hai bên có khó khăn hơn và đó là vấn đề của Việt Nam vì đã có ông Thủ tướng lại có thêm ông Chủ tịch nước nữa. Có lẽ một phần vì nhưng lý do ấy mà Nikita Khrushchev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nga Xô từ năm 1953 đã kiêm nhiệm luôn chức Thủ tướng năm 1958.

RFA: Cho đến thời điểm hiện tại, nhất thể hoá đã được áp dụng tương đối thành công tại Trung Quốc với việc ông Tập Cận Bình kiêm nhiệm cùng lúc chức danh Tổng bí thư  và Chủ tịch nước? Theo giáo sư, Việt Nam liệu có học tập hoàn toàn mô hình này và xác suất thành công khi đươc áp dụng ở Việt Nam?

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: Như tôi đã nói thì đây là mô hình lý tưởng của các nước cộng sản mà hầu hết họ đã làm rồi, chỉ còn Việt Nam thôi. Tuy nhiên ở Việt Nam, vì lý do lịch sử hay là lý do cá nhân thì từ năm 1997, thì đã có chế độ Tam đầu chế, gồm Thủ tướng – Đảng - Quân đội thành ra vậy. Nhưng bây giờ đến giai đoạn này rồi thì họ bắt đầu dần cải tổ. Thành ra trong nhiều năm vừa rồi họ đã nói về chuyện nhập 2 chức danh đó để giản tiện nhưng thực tế chính trị Việt Nam chưa cho phép nhập 2 chức danh đó. Nhưng mà hiện nay chúng ta thấy họ đang làm từ từ. Họ mới sát nhập một số chức ở quận/ xã thôi. Trong Chính phủ như hội nghị tháng 3 tôi nói vừa rồi đó, thì họ chỉ nói đến nhất thể hoá ở cấp tỉnh thôi, còn ở cấp trung ương nhất thì chưa thấy ai đề cập đến. Ở ngoài thì có thể có một số người đã nói đến như ông Nguyễn Sĩ Dũng hay một số người khác nhưng trong Đảng chính thức thì chưa thấy có ai đề cập đến vấn đề này cả. 

RFA: Xin cảm ơn giáo sư về buổi phỏng vấn!
 
Mỹ Lan

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời 4.0: Hàng chục ngàn nhân viên ngân hàng, giao dịch viên mất việc


20/02/2018  Tại TP.HCM, robot mang tên cô Ba được đưa vào hoạt động tại một nhà hàng trên phố đi bộ Nguyễn Huệ, quận 1. Một quán cà phê tại Hà Nội cũng thu hút sự chú ý khi đưa robot vào phục vụ khách. Cửa hàng tiện lợi không người bán, máy bán hàng tự động hay robot không còn là chuyện ở phương trời Tây mà rõ ràng, đã có mặt tại Việt Nam, thậm chí còn do người Việt tự thiết kế. Xem robot giá 200 triệu đồng phục vụ khách ở quán cafe Hà Nội / Nông dân Việt chế robot: Israel thán phục, Nhật, Mỹ xếp hàng xin mua

Cửa hàng đầu tiên không người bán
Robot phục vụ, cửa bàng không người bán
Cách đây một năm, người ta nói nhiều về cách mạng công nghiệp 4.0 và cảnh báo việc robot sẽ dần thay thế con người. Ở thời điểm đó, không ít người dân cho rằng, đó là câu chuyện của nước bạn, còn ở Việt Nam còn dài dài,... Nhưng thực tế không phải vậy, những gì đang diễn ra cho thấy một tương lai không xa, nhiều ngành nghề sẽ có những sự chuyển biến rất mạnh.

Cuối tháng 12, tại TP.HCM, cửa hàng tự động không người bán đầu tiên đã được khai trương. Sự ra đời của cửa hàng tiện lợi này mang lại cho người tiêu dùng nhiều trải nghiệm mới. Điều đặc biệt sẽ không còn nhân viên bán hàng, tư vấn hay thu ngân,...


Khách hàng khi đến đây chỉ cần lựa chọn sản phẩm trên màn hình cảm ứng rồi quét mã QR từ ứng dụng để thực hiện lệnh thanh toán mà không cần thanh toán bằng tiền mặt. Sau cửa hàng đầu tiên trên đường Mạc Thị Bưởi, đơn vị đầu tư tham vọng dự kiến mở khoảng 2.000 cửa hàng dạng này tại Việt Nam trong thời gian tới.

Ở Hà Nội, dịch vụ đỗ xe thông minh lần đầu tiên được ứng dụng tại các điểm khu vực trung tâm. Với những ưu việt so với hình thức đỗ xe truyền thống, ứng dụng quản lý xe ô tô thông minh đang được khách hàng hưởng ứng nhờ việc kiểm tra số chỗ trống và thanh toán tiền nhanh chóng, không cần tới nhân viên trông xe.

Không chỉ đáp ứng sự mong mỏi của người dân, mô hình mới còn góp phần thiết thực vào xây dựng Thủ đô thành một TP thông minh, hiện đại. Sau một thời gian thí điểm đem lại những hiệu quả nhất định, ngày 1/1/2018, dịch vụ tìm kiếm điểm đỗ xe trên thiết bị di động thông qua ứng dụng đã chính thức được triển khai trên địa bàn 9 quận nội thành Hà Nội.

Không chỉ vậy, những con robot bán hàng cũng đã xuất hiện tại Việt Nam. Một quán cà phê tại Hà Nội đang thu hút sự chú ý của dư luận nhờ đưa robot vào phục vụ khách. Đáng nói hơn, chú robot này hoàn toàn do người Việt Nam lên ý tưởng và thiết kế.



Robot phục vụ bắt đầu xuất hiện

Robot đáp ứng tốt khả năng phục vụ thực khách trên một mặt sàn, có thể phục vụ tự động hàng trăm lượt khách trong vòng 15 giờ liên tục, biết tự động dừng lại khi gặp vật cản phía trước hay biết mời du khách khi đã đưa đồ uống đến đúng bàn khách ngồi.

Tương tự như vậy, tại TP.HCM, robot mang tên cô Ba được đưa vào hoạt động tại một nhà hàng trên phố đi bộ Nguyễn Huệ, quận 1. Cô Ba có thể chào hỏi, giới thiệu các món ăn theo lập trình và di chuyển để mang thức ăn, đồ uống cho thực khách thông qua sự điều khiển của nhân viên.

Ở lĩnh vực thương mại điện tử, sự xuất hiện của những Chatbot (trợ lý ảo) ngày càng nhiều. Chatbot là một trợ lý ảo kết nối với các ứng dụng trên thiết bị điện tử để thực hiện những yêu cầu của người sử dụng qua ngôn ngữ tự nhiên.

Chatbot cũng được nhiều doanh nghiệp sử dụng với vai trò của nhân viên chăm sóc khách hàng. Không chỉ trả lời yêu cầu của khách hàng một cách đơn giản, các Chatbot thông minh còn chủ động cung cấp thêm cả các thông tin liên quan, lựa chọn thay thế.

Không thể cưỡng lại xu thế

Những gì đang diễn ra ở trên cho thấy cách mạng công nghiệp 4.0 đã len lỏi vào đời sống xã hội. Cho đến những ngày giữa năm 2017 này, người ta chứng kiến những công nhân đang bắt đầu bị "mất việc bởi robot".

Cách đây không lâu, lần đầu tiên, lãnh đạo một doanh nghiệp ở Việt Nam đã lên tiếng về câu chuyện này. Giám đốc công ty bột giặt hoá chất cho rằng, nguy cơ robot thay thế con người là hoàn toàn có thật ở Việt Nam.

“Tương lai tôi nghĩ công ty sẽ chỉ có vài trăm công nhân, văn phòng được tự động hóa. Chúng tôi sẽ mời các nhân sự có trình độ công nghệ thông tin cao về làm việc”, doanh nhân này cho biết.


Robot đang đe dọa nhiều ngành nghề

Điều ông trăn trở nhất chính là những gì đang thực sự diễn ra dưới các phân xưởng, với những công nhân Việt Nam hàng ngày phải "ấm ức" nhìn robot cướp đi việc làm của mình.

Tốc độ mất việc còn khủng khiếp hơn đối với các công nhân tại nhà máy tại Long Biên. Dây chuyền bột giặt tuổi đời hơn 20 năm ở đây, vốn có 100 người nhưng khi máy móc vào thì sẽ chỉ cần có 10-15 người vận hành.
Chuyện công nhân "mất việc bởi robot" là thực tế chính đang xảy ra tại nhiều công ty sản xuất mỹ nghệ ở Bình Dương hay công ty chế biến thủy sản ở Cần Thơ. Công ty cổ phần ở Bình Dương cho biết vừa khảo sát và hoàn thiện các bước để đưa hơn 20 robot vào dây chuyền sơn.

Không chỉ các cơ sở sản xuất nhỏ và trung bình, xu hướng "robot cướp việc của con người" giờ cũng "lây lan" tới những công ty lớn. Ở Đài Loan thì Foxconn đã cắt giảm tới 60.000 công nhân, tức là hơn một nửa lượng lao động hiện có, để thay thế bằng robot. Thống kê cho thấy ít nhất 20 công ty lớn nhất thế giới đang thực hiện sự thay đổi này. Và câu chuyện tương tự hoàn toàn có thể xảy ra tại Samsung, với hơn 100.000 công nhân hiện tại ở Việt Nam.

Theo báo cáo chi tiết về chủ đề Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thì Việt Nam là nước chịu tác động mạnh mẽ bởi cách mạng công nghiệp 4.0. Báo cáo dự đoán, sẽ có 74% số lao động ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam có mức độ rủi ro cao, dễ bị thay thế do tự động hóa.

Viễn cảnh robot thay thế số lượng lao động lớn ở Việt Nam đang ở gần và đã bắt đầu tác động lên xã hội, xuất hiện trong từng câu chuyện thường ngày. Đã tới lúc những người trẻ cần phải đặt câu hỏi: “Học ngành gì để không bị robot thay thế?”

Duy Anh

Hàng chục ngàn nhân viên bán hàng sắp mất việc cả loạt

Thách thức trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là robot thay thế con nguời. Con người đối mặt nguy cơ thất nghiệp trên diện rộng. Đối tượng đầu tiên có nguy cơ bị ảnh hưởng là các vị trí nhân viên bán hàng, giao dịch đơn giản.

Hàng chục ngàn nhân viên ngân hàng nguy cơ mất việc

Một nhân tố mới giúp các ông chủ tiết kiệm nhân lực, chi phí. Vì thế, sẽ có tới hàng chục ngàn nhân viên ngân hàng sẽ bị sa thải mất việc.

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/thoi-4-0-hang-chuc-ngan-nhan-vien-ngan-hang-giao-dich-vien-mat-viec-428847.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khánh Ly và những bài Nhạc Xuân bất hủ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những Ngày Xuân Muộn





Kết quả hình ảnh cho hinh anh xác pháo nổ



Tôi trở lại khi ngày xuân cạn
Thời hạn cuộc vui lùi về chốn hư không
Xác pháo trên đường
vương nắng bâng khuâng

Em có nhớ bài ca năm cũ
Ru dịu dàng bên cánh hoa xuân
Khi cuộc luân vũ nụ cười 
Chưa truân chuyên dâu bể
Thời thơ ngây nguyên vẹn nước non

Và chút lòng son vẫn còn trinh bạch
Thương quê hương mình rách nát
bởi điêu linh

Thương xác pháo 
bên đình xưa ngơ ngác
từng cánh rời
tơi bời giữa trời xuân.

                                           21/02/2018

                                  






Phần nhận xét hiển thị trên trang

4 việc lãng phí nhất cuộc đời, không ít người vẫn đang làm hằng ngày



Hãy xem bạn có đang lãng phí thời gian, công sức và cuộc đời vào những việc dưới đây hay không.
1. Phiền muộn
Trong cuộc sống, nhiều người trong chúng ta vẫn đang tự làm khó bản thân, khiến mỗi ngày trở nên căng thẳng, phiền muộn và lo lắng. Và điều này chỉ khiến cho bản thân ta cảm thấy mệt mỏi, thiếu năng lượng tích cực.
Trong cuộc sống này, luôn luôn có biến số, có khó khăn thử thách, chẳng ai có thể đoán biết trước tất cả.
Vì thế, thay vì khiến bản thân tiều tụy lo âu, chẳng thà chúng ta giải phóng bản thân để mỗi ngày trôi qua đều nhẹ nhàng, thong thả.
Hãy cứ thuận theo tự nhiên, thản nhiên đối mặt với mọi việc trong cuộc sống, đừng để ưu sầu bủa vây, trói buộc thể xác và nội tâm chúng ta.
4 việc lãng phí nhất cuộc đời, không ít người vẫn đang làm hằng ngày - Ảnh 1.
2. Bất mãn
Một cuộc đời chỉ chất đầy những oán trách sẽ ngày càng dời xa và cuối cùng là mất đi niềm vui thực sự.
Bất mãn với môi trường xung quanh, với người khác, với hiện thực và cuối cùng là bất mãn với lựa chọn và quyết định của mình… thái độ sống này sẽ làm suy yếu sức chiến đấu và nhiệt huyết của bạn, cản trở bước chân tiến về phía trước của bạn và đẩy bạn rơi vào trạng thái cảm xúc tiêu cực khó có thể tự thoát ra.
Hãy thử để dũng khí của bản thân thản nhiên đối mặt với những sóng gió của cuộc đời, chấp nhận mỗi quyết định mà bản thân mình đưa ra, cho dù quá trình này có nhiều gian khổ.
Chúng ta cũng không nên dễ dàng từ bỏ, càng không nên dậm chân tại chỗ để cuối cùng lại bất mãn với chính mình.
3. Oán trách
Gặp chuyện không hay, việc đầu tiên là trách cứ người khác; gặp chuyện không thuận lợi, việc đầu tiên là oán trách điều kiện khách quan… đây là thái độ sống vô cùng tiêu cực và bị động, là một biểu hiện của sự thiếu trách nhiệm.
Oán trách thực ra không mang lại bất cứ lợi ích gì, nó chỉ khiến chúng ta không thể nhận ra vấn đề của bản thân, không ý thức được sai lầm của chính mình.
Người thông mình sẽ hiểu rằng, họ cần phải tự phản tỉnh, tìm ra đáp án từ chính mình chứ không đổ lỗi hay thoái thác, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.
4 việc lãng phí nhất cuộc đời, không ít người vẫn đang làm hằng ngày - Ảnh 2.
Chỉ khi đối mặt với các vấn đề gặp phải trong cuộc sống bằng thái độ tích cực như vậy, chúng ta mới có thể chững chạc hơn, rút ra được bài học và tích lũy thêm kinh nghiệm sống, để cuộc sống hiện tại và sau này của chúng ta ngày càng thuận lợi.
4. So sánh
Trong cuộc sống, bản thân mình cảm thấy vui hay không vui, thỏa mãn hay không thỏa mãn, hạnh phúc hay không hạnh phúc mới là điều qua trọng, đừng để bản thân phải sống trong trạng thái luôn luôn so bì hơn thua với người khác.
Cũng đừng vì người khác mà khiến cho bước chân của mình bị cản trở.
Mỗi người đều có cơ hội và phúc phận của riêng mình, đồng thời cũng sẽ gặp phải sóng gió trong cuộc sống, đừng đem vinh hoa và thành công của người khác ra so sánh để rồi giày vò bản thân.
Cũng đừng mù quá tùy tiện mô phỏng, bắt chước phong cách sống của người khác mà quên mất đam mê, theo đuổi ban đầu của mình.
4 việc lãng phí nhất cuộc đời, không ít người vẫn đang làm hằng ngày - Ảnh 3.
Hãy lắng nghe nội tâm nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn đến việc bản thân mình cần, đi trên con đường mình chọn và sống cuộc đời của riêng mình.
Theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài học về sự nổi giận của người Việt!


>> Nên chăng gọi đó là sự man rợ
>> Một cán bộ chính trực đối đầu với thế lực Vũ Nhôm
>> Cần sớm loại bỏ 'vùng cấm tài liệu mật' trong vụ án Vũ 'nhôm'



XUÂN DƯƠNG
(GDVN) - Người Việt trải mấy nghìn năm lịch sử, cay đắng và oanh liệt song hành, ngoại bang nào cũng đánh thắng, chỉ thua mỗi chính mình.

Nước Việt ta kể từ ngày dựng cờ lập quốc, vung gươm mở cõi, chưa bao giờ nước rộng, người đông như ngày nay.

Người Việt trải mấy nghìn năm lịch sử, cay đắng và oanh liệt song hành, ngoại bang nào cũng đánh thắng, chỉ thua mỗi chính mình.

Trong chiến tranh giữ nước, người Việt có đủ đức hy sinh, tình đoàn kết và niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng.

Tiếc thay, và có lẽ đó cũng là điều tiếc nhất, trong gần nửa thế kỷ xây dựng kinh tế người Việt dần đánh mất niềm tin vào một bộ phận (khá đông đảo) những người lãnh đạo cũng như không ít định hướng sai lầm trong chỉ đạo, điều hành.

Tình đoàn kết, nghĩa cộng đồng bị mai một mà câu chuyện nông dân “trồng hai luống rau”, cán bộ trồng rau trong nhà (để khỏi phải ăn rau bẩn) chỉ là một trong nhiều biểu hiện.

Thua do mình tự làm hại mình thì còn biết trách ai?

Làm vua, làm lãnh đạo hay dân đen rồi cũng đến lúc chỉ còn ba tấc đất, khác chăng là có người danh lưu trong sách, kẻ khác tiếng để trên đời.

Làm quân vương tránh cho đất nước khỏi binh đao, khỏi cảnh nồi da nấu thịt là vua sáng; tránh cho dân tộc khỏi nỗi sỉ nhục kiếp nô lệ, khiến bất kỳ kẻ ngoại bang nào cũng không dám khinh nhờn, khiến người dân ra nước ngoài có thể ngẩng cao đầu mới là đấng minh quân.

Lãnh đạo một quốc gia, không thể là lãnh đạo một nhóm người, càng không thể là lãnh đạo một dòng tộc.

Đem cái lợi ích của dòng tộc, của thiểu số mà gán cho quốc gia, dân tộc không phải là cách làm của người có tầm nhìn xa trông rộng, càng không phải là cách làm của bậc vĩ nhân.

Suốt chiều dài lịch sử, thời cơ, vận hội của mỗi quốc gia, dân tộc như chim trên trời, như cá dưới nước, không níu kéo được nó sẽ vuột mất.

Người Việt bước vào năm 2018 với nhiều thành công về kinh tế, với những chuyển biến bước đầu về phòng, chống tham nhũng nhưng vẫn còn đó nỗi đau của cuộc chiến chống xâm lược đầu xuân năm 1979, của vết thương chiến tranh vẫn chưa lành trong gia đình hơn 500.000 liệt sĩ chưa tìm được danh tính, của di chứng chất độc da cam trong thế hệ sinh sau ngày thống nhất đất nước,…

Phải chăng điều quan trọng nhất trong đồ thị hình sin của sự thăng trầm là chúng ta đã vượt qua điểm cực tiểu, đã bắt đầu một chu kỳ cất cánh mới?

Vậy cực tiểu của tình trạng kinh tế xã hội là gì?

Là sự làm ăn thua lỗ triền miên của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước mà nguyên nhân chính là sự yếu kém của những người được giao trọng trách quản lý.

Là tình trạng tham nhũng của một bộ phận không hề nhỏ cán bộ, công chức, đảng viên đến mức nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phải nói: “Họ ăn của dân không từ một cái gì”!

Là những quy định mà Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phải thốt lên: “Thủ tục hành chính đối với dân giờ cay nghiệt, độc ác lắm”. [1]

Là tình trạng xuống cấp văn hóa, đạo đức khiến ba ngày tết cũng vẫn có cảnh nổ mìn, giết người khiến cả xã hội bất an.

Là một nền giáo dục mù mờ về định hướng và rối loạn về phương pháp.

Liệt kê hết những “tham nhũng vô bờ” mà một bộ phận chức quyền thực hiện suốt mấy chục năm qua cứ như một giấc mơ hãi hùng khiến đời sau không dám tin nước Việt văn hiến có lúc lại như thế.

May thay điều đó đang bắt đầu biến chuyển.

Năm 2018, năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020.

Lo kinh tế là quan trọng, lo định hướng còn quan trọng hơn.

Chớp mắt một cái đã gần hết thập niên thứ hai của thế kỷ 21.   

Vậy đâu là định hướng của nước Việt ba mươi năm tới, khi nửa thế kỷ đâu tiên của thiên niên kỷ thứ ba sẽ trôi qua?

“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là gì? Có phải đã được giải thích bởi các đặc trưng: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”?

Suốt ba kỳ đại hội, từ Đại hội Đảng lần thứ 10 đến Đại hội 12, định hướng xây dựng nước Việt Nam là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Có nhất thiết phải có sự khác nhau giữa tên nước và tiêu chí xây dựng đất nước?

Liệu có bộ tiêu chí nào ngắn gọn nhất nhưng lại kết hợp đầy đủ cả “Độc lập, tự do, hạnh phúc” với “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”?

Đích đến của Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” có gì khác với tiêu chí của các nước tiên tiến trên thế giới?

Nếu khác thì cần một con đường mới, nếu không khác thì có nên học tập, đi tắt, đón đầu để rút ngắn thời gian và công sức mà lại tránh được rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra?

Quá nhiều tiêu chí quốc gia là văn minh hay manh mún?

Một đất nước diện tích hơn 300.000 km2 mà có tới 63 tỉnh, thành phố là văn minh hay manh mún?

Một nền giáo dục mà có tới ngót trăm đơn vị chủ quản bao gồm các tỉnh, bộ, ngành, tập đoàn, tổ chức chính trị xã hội là văn minh hay manh mún?

Một Chính phủ vừa quản lý, vừa kinh doanh là văn minh hay manh mún?

Sống trong một “không gian manh mún” tầm suy nghĩ của con người liệu có được rộng mở, có thoát khỏi tâm lý chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng?

Người Việt xưa bị ngoại bang đô hộ hàng nghìn năm, tồn tại là mục tiêu duy nhất.

Có tồn tại, không bị đồng hóa, mới giữ được ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục, mới quật khởi hết thế hệ này đến thế hệ khác để giành tự do, độc lập.

Ngày nay, người Việt không thể sống theo kiểu “tồn tại” cổ xưa, không thể duy trì nòi giống bằng bất kỳ giá nào.

Mỗi cá nhân - hay suy rộng ra cả một chủng tộc - không thể có trí tuệ minh mẫn trong một cơ thể còi cọc.  

Khi mà nhân loại bước vào kỷ nguyên số, khi nền kinh tế thế giới trở thành nền kinh tế tri thức thì sự còi cọc về thể chất chính là rào cản cho sáng tạo.

Định hướng cho tương lai phải chăng cần phải là chiến lược phát triển con người cả tầm vóc, lòng tự tin và trí thông minh?

Thế giới ngày nay gọi là văn minh, nhưng các nước lớn vẫn âm mưu chia chác trên lưng nước yếu (chứ không phải nước nhỏ).

Nước nhỏ mà có sức mạnh, kinh tế phát triển thì mọi âm mưu sau lưng họ đều phải dè chừng.

Xóa mặc cảm là một nước nghèo, khơi dậy lòng tự tin, giải phóng sự sáng tạo của các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, thế hệ trẻ, khích lệ người lao động tự làm chủ vận mệnh của mình,…

Phải chăng đó chính là định hướng mà bất kỳ người lãnh đạo cũng phải ghi nhớ?

Trên thế giới này, những nhân vật vĩ đại nhất như Phật tổ, Chúa Giê-su, Thánh Ala, Khổng tử,… không người nào nắm vương quyền, cũng chẳng ai chinh chiến đánh đông dẹp bắc, họ đều là những nhà tư tưởng, những người truyền bá lòng vị tha, tính cộng đồng và tôn trọng sự đa dạng sinh học của thế giới.

Vấn đề là niềm tin mà họ quảng bá được quần chúng tự nguyện đón nhận chứ không phải bằng những lợi ích vật chất vẽ ra một cách hào nhoáng, càng không phải bằng các biện pháp cưỡng chế.

Giáo hội Thiên chúa đã từng dùng dàn thiêu và các hình phạt khắc nghiệt đối với những tín đồ có chính kiến khác với giáo lý chính thống.

Nhà thiên văn học Galileo Galilei bị Tòa án Dị giáo kết án chung thân vì ông cho rằng trái đất tròn và quay quanh mặt trời.

Phải mất gần 400 năm, sau nhiều cân nhắc, Tòa thánh Vatican mới đi đến quyết định xóa án cho Galileo, gián tiếp nhận lỗi và công nhận hình phạt dành cho Galileo là sai.

Mỗi tôn giáo, mỗi thể chế chính trị ngay khi bắt đầu nắm quyền lực trong tay cũng đồng thời tạo ra lực lượng ủng hộ và chống đối.

Sự tồn tại của hai lực lượng đó chính là động lực của sự phát triển, điều này được khẳng định trong quy luật Mâu thuẫn, một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin.

Sẽ là ngây thơ nếu mong muốn cả cộng đồng đều nhìn về một hướng, đều răm tắp tuân theo một hiệu lệnh.

Phủ nhận hay không chấp nhận những quan điểm trái chiều trong dân chúng không chỉ là sai lầm về chiến lược trị quốc mà còn nguy hiểm bởi nó đi ngược mọi quy luật phát triển xã hội loài người.

“Khen đúng chỉ là bạn ta, chê đúng mới là thày ta”, nếu người lãnh đạo chỉ muốn nghe lời khen, họ có thể có nhiều bạn nhưng họ sẽ không có thày, điều này đã được tiền nhân cảnh báo “không thày đố mày làm nên”.

Có hai đối tượng mà người đứng đầu nên sợ: “Sợ dân và sợ chính mình”.

Sợ dân để biết cách làm theo ý dân, để đừng bao giờ xem dân như đối tượng cai trị chứ không phải chủ nhân đất nước.

Sợ chính mình để không phạm sai lầm, để không bị hào quang quyền lực làm lóa mắt, để không vì phe nhóm của mình mà xem nhẹ sơn hà, xã tắc.

Chúng ta nói nhiều về các “nhóm lợi ích” nhưng chưa chỉ ra được cụ thể đặc điểm của những nhóm đó là gì.

Cũng tương tự khái niệm “một bộ phận không nhỏ” cán bộ thoái hóa biến chất nhưng chưa chỉ rõ là những ai, nằm ở đâu?

Nếu khẳng định ở Trung ương không có chuyện chạy chức, chạy quyền như ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính thì rõ ràng “bộ phận không nhỏ” hay “nhóm lợi ích” chỉ còn lại ở địa phương, ở các bộ ngành, liệu điều này có hoàn toàn chính xác?

Cuộc chiến chống nội xâm mà cụ thể là chống lại các “nhóm lợi ích” chưa đạt thắng lợi cuối cùng cho thấy có nhiều điều cần được nghiên cứu, hoàn thiện.

Quan trọng nhất hiện nay là xác định “nhóm lợi ích” nào là “mạnh” nhất, có khả năng chi phối cả kinh tế lẫn chính trị - và đương nhiên là cả khả năng chi phối các “nhóm” khác.

Nếu không hoặc chưa xác định được “nhóm lợi ích” đầu sỏ, nếu cứ tập trung vào một số nhóm lợi ích “râu ria” thì khó tránh bị nhân dân nghi ngờ chúng ta mới chỉ đang “ném đá ao bèo”.

Các vụ xem xét kỷ luật, các vụ án điểm liên quan đến ngành ngân hàng, đến các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, đến một số cán bộ lãnh đạo cao cấp vừa được xét xử cho thấy đây mới chỉ là những trận đánh mang tính thăm dò đối phương - nói theo ngôn ngữ quân sự là các trận đánh nghi binh.

Trận đánh lớn cuối cùng phải là vào hang ổ của tham nhũng, của nhóm lợi ích, vào thành trì vốn rất khó nhận diện của giặc nội xâm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Chống nội xâm khó vì là ta tự đánh vào ta”, cuộc chiến này càng khó hơn vì có lúc “ta” ở đây lại là những hậu duệ hoặc người đã nghỉ hưu chứ không chỉ là những “đồng chí chưa bị lộ”.

Cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ khi bắt đầu cuộc chiến chống tham nhũng đã có câu nói nổi tiếng:

“Phải chuẩn bị 100 quan tài, 99 chiếc cho các quan chức tham nhũng và một dành cho bản thân”. [2]

Câu nói của ông Chu Dung Cơ cho thấy chống nội xâm với hành trang là sự liêm khiết chắc chắn chưa đủ mà còn cần dũng khí và sự hy sinh.

Khi người ta ở vào tuổi “cổ lai hy” sống thêm năm nào “lãi” năm ấy thì có gì phải sợ, thế nên người viết tin rằng trong vòng 5-10 năm tới, nhất định cuộc chiến “ta đánh vào ta” sẽ đáp ứng được mong mỏi cua toàn dân, sẽ dạy cho đám sâu mọt bài học về sự nổi giận của người Việt.

Tài liệu tham khảo:

[1]https://thanhnien.vn/thoi-su/thu-tuc-hanh-chinh-voi-dan-gio-cay-nghiet-doc-ac-lam-670108.html

[2]http://danviet.vn/tin-tuc/cuu-thu-tuong-chu-dung-co-tai-xuat-voi-hoi-ky-tham-cung-bi-su-77716.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang