Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

'Người Hà Nội thứ thiệt không nói thế'


>> Vũ Nhôm được giao "công vụ" gì?
>> Nộp đơn 20 năm mới được kết nạp hội nhà văn Việt Nam
>> Trung Quốc thúc đẩy viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
>> Lời nói thẳng của ông Huỳnh Đức Thơ đã nói lên nhiều điều


Vương Trí Nhàn 
















BBC - Hai chữ Tràng An (có lúc đọc Trường Yên) thời Đinh Tiên Hoàng, theo chú thích ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, vốn là tên một xã, và cũng nhiều khi được dùng để chỉ cả vùng thủ phủ Hoa Lư. Nhưng nó đã vĩnh viễn thuộc về Thăng Long Hà Nội nhờ câu ca dao:

"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

"Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An."

Lắng nghe lòng mình, tôi tự thấy khi nhắc đến cái tên dịu dàng ấy, lòng cũng rưng rưng cảm động. Nhưng lý trí buộc tôi có chút phân vân.

Tràng An vốn là tên gọi của Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, mảnh đất tối cổ của văn hóa Hoa Hạ. (Người Trung Quốc hay nói với khách du lịch ”Muốn biết Trung Quốc một trăm năm đến Thượng Hải; muốn biết Trung Quốc một ngàn năm đến Bắc Kinh, muốn biết Trung Quốc năm ngàn năm đến Tây An).

Những cái hay cái đẹp ngoài ta, bao giờ cũng gợi ý muốn chiếm đoạt, nhưng nếu thích quá mà vơ vào mình bằng được, thì lại là một việc nhảm. Người xưa có thể làm như thế. Nhưng người xưa cũng đã tỉnh ra một phần, nên chỉ dùng Tràng An nơi cửa miệng, chứ không đưa nó vào ngôn từ chính thức. Ngày nay chúng ta càng phải tỉnh hơn.

Nhất là hai chữ Tràng An ở đây gắn với một thói xấu mà tôi tạm gọi là tính khoe mẽ, nên lại càng không thể lưu luyến mãi.

Đâu là giá trị thật ?

Trong câu ca trên, người tự nhận là dân Hà Nội không cần giấu giếm mà bộc lộ công khai một cách hiểu cao ngạo về bản thân. Đó là niềm tự hào trước cái phẩm chất riêng mà con người ở một vùng đất sang trọng tự xác định để phân biệt với người nơi khác. Người ta gọi nó là thanh lịch, bao hàm cả tinh tế, thanh nhã, lịch sự… Ít nhất có mấy điều phải bàn :

1/ Chẳng lẽ phẩm chất chính của người dân một thủ đô chỉ thế là đủ? Đã đáng khoe chưa?

2/ Khi không có cái phẩm chất đó, mà cũng tự khoe, khoe lấy được, thì có nên không?

3/ Tại sao người ta chỉ khoe được có thế?

Dù dễ dãi đến đâu cũng phải nhận với nhau rằng khi nói về người dân Thủ đô mà chỉ nói tới thanh lịch, thì còn là quá ít, là dừng lại ở lối xem xét con người qua vẻ bề ngoài.

Về phần mình, khi bàn về người Hà Nội chuẩn, nếu chỉ nói đến một phẩm chất thôi, tôi muốn nói đến một cái gì giống như tổng hợp của hiểu biết, lịch lãm, thích ứng cao, một thứ từng trải ở tầm trí tuệ, xa lạ với mọi thói tỉnh lẻ xoàng xĩnh. Đó cũng là sự xử thế có được nhờ ở tầm rộng của hiểu biết và năng lực trau dồi cho mình một phẩm giá cao quý, vượt lên trên mọi sự tầm thường.

Tôi phải xin lỗi, vì diễn tả còn dài dòng, chưa tìm được một chữ cô đúc. Nhưng theo tôi, một cái gì chưng cất từ sự dài dòng nói trên mới là cái phẩm chất hàng đầu mà người Hà Nội chân chính thầm hiểu rằng mình nên có, phải có, nếu chưa có ngay thì phải phấn đấu theo hướng đó, và chỉ nên tự đánh giá bằng cách so sánh mình với cái tiêu chuẩn khó đạt tới này.

Trong thực tế, tôi đã bắt gặp nó phảng phất ở những người lớn lên trong các gia đình Hà Nội tạm gọi là chính hiệu. Nhờ có cái phẩm chất chắc thiệt như vậy, nên mặc dầu bị hoàn cảnh xô đẩy, chung quanh níu kéo, thậm chí hùa vào tàn phá, song họ vẫn đứng vững với thời gian và vẫn có cái gì đó mà người ta phải nhớ tới, không lẫn với các nơi khác.

Hóa ra là chuyện “hộ khẩu”!

Nếu xem hai chữ thanh lịch như một giả thiết làm việc, ừ thì có thể tạm thời chấp nhận được.

Thế nhưng khi đặt vấn đề có thể không thanh lịch cũng được, cứ là dân Thủ đô (như ngày nay gọi là “hộ khẩu Hà thành”) là đã có quyền tự hào, thì là cả một sự ngụy biện.

Hoa nhài vốn không được coi là loại hoa của sự linh thiêng thành kính, mà thường chỉ tượng trưng cho sự quyến rũ dân gian. Mùi thơm là hồn là cốt, màu trắng bên ngoài chỉ là một chút đưa duyên, rất dễ nhòa nhạt.

Làm gì có cái gì gọi là chất hoa nhài khi không còn mùi thơm? Làm gì còn chất Thủ đô khi không còn thanh lịch?

Vậy mà người ta vẫn khoe! Toát ra từ hai câu ca dao là một lối nói lấy được có pha một chút trơ tráo. Nó là sản phẩm của một kiểu suy nghĩ rất kỳ cục của những người nông nổi, đành hanh, kiêu căng vô lối. Lại cũng có thể bảo là một thứ nhận vơ, tưởng cứ sống ở mảnh đất nào là mặc nhiên có được tất cả phẩm chất tốt đẹp của vùng đất ấy, và cũng mặc nhiên có quyền vênh váo với thiên hạ.

Có như không, không vẫn có

Sự khoe mẽ nói ở đây vốn bắt nguồn từ một hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nhiều thế kỷ qua, Hà Nội luôn luôn bị xáo trộn. Cái lõi của nó mỏng, mà những lớp đắp điếm thêm lại quá nhiều. Chính lớp người nhập cư mới đến Thủ đô sau những xáo trộn lịch sử lại dễ mắc cái bệnh tự hào hão huyền.

Họ lấy sự may mắn được sống trên đất thánh để làm giá với người cùng quê và dân các vùng xa.

Còn người Hà Nội chính cống không nghĩ thế. Trong thâm tâm, lớp dân Hà thành “xịn” này tự nhủ rằng danh hiệu Hà Nội là quá cao quý, mà không phải cái đem khoe, hoặc mang ra dọa nạt thiên hạ.

Phải nhận là hiện thời cái rởm này lại đang phổ biến và bị những người dễ tính đầu cơ. Câu ca Chẳng thơm… còn đang được lưu truyền theo cái nghĩa không hay của nó, chưa biết bao giờ mới thôi.

Còn chất Hà Nội thứ thiệt thì sao? Cùng lúc nó để lại nhiều cảm tưởng khác nhau. Khi thì người ta buồn vì thấy nó phai tàn dần. Khi thoáng vui vì nó không bao giờ chết hẳn và vẫn đang được bộ phận ưu tú nhất trong những lớp người mới nhập cư tài bồi thêm.

Dù đã cố nén lòng, song thông thường, một nỗi bùi ngùi nhớ thương buồn vui lẫn lộn cứ trào lên trong tâm tưởng, mỗi khi nghĩ đến nó.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trần Trung Đạo - « Côn đồ Đặng Tiểu Bình » từng chủ trương xóa bỏ Việt Nam



Đồ tể Pôn Pốt (trái) trong chuyến thăm Bắc Kinh đươc Đặng Tiểu  Bình ủng hộ đánh Việt Nam.

Thời gian qua xuất bản hàng loạt sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình với những cái tựa đọc lên rất dễ bị tăng xông máu như“Con đường phi thường của Đặng Tiểu Bình”, “Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt” v.v…

Lẽ ra nên có một tác phẩm kể tội ác của y đối với dân tộc Việt Nam và đặt tựa là “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” mới đúng. “Côn đồ” là chữ y dùng để chỉ Việt Nam.

Lý do vì “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" đã từng chủ trương xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một cuộc chiến đánh phủ đầu (preemptive war). 

“Đánh phủ đầu” theo chủ trương của “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" không phải là để dời vài cột mốc, đụng độ lẻ tẻ dọc biên giới, mà là cuộc tấn công quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả. 

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình" nói với Tổng thống Jimmy Carter trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979: “Bất cứ nơi nào, Liên Xô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi.”
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China): 

“Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Xô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”. 

“Đông Nam Á”  “ngón tay” theo ý “Côn đồ Đặng Tiểu Bình"không phải là mục tiêu nào khác mà là Việt Nam !

Sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình bày bán tại Việt Nam.
Trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979, Đặng không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ. Mỹ chỉ đồng ý giúp theo dõi sự động binh của 55 sư đoàn Liên Xô phía Bắc và chụp không ảnh các trận đánh vùng biên giới. 

Đặng tưởng đó là một thành công nhưng hóa ra là một thất bại. Nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông quốc tế biết dân quân Việt Nam vùng biên giới dù không chuẩn bị, đã dạy cho Trung Cộng một bài học đích đáng. 

Theo nhận xét của Đại Tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ, Trung Cộng thiệt hại chỉ trong vài ngày bằng hơn một nửa số tổn thất của Mỹ trong 10 năm tham dự chiến tranh Việt Nam.

Sau tuần lễ đầu chịu đựng nhiều thiệt hại nhưng danh sách các vùng chiếm được chỉ là những làng xã dọc biên giới, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" ra lịnh bằng mọi giá phải chiếm cho được thành phố Lạng Sơn, thủ phủ tỉnh Lạng Sơn để lấy tiếng trước khi rút lui. Chiều ngày 4 tháng Ba, sau nhiều trận giao tranh đẫm máu quân Trung Cộng tiến vào Lạng Sơn. 

Khi rút khỏi những nơi này, quân Trung Cộng san bằng tất cả nhà cửa để trả thù cho số thương vong quá lớn. 

Ký giả Nayan Chanda thăm vùng giao tranh vài ngày sau cuộc chiến đã ghi nhận không chỉ các công sở mà cả trường học, bịnh viện đều bị quân Trung Cộng giựt sập. 

Để ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, tháng 8 năm 1975, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”. 

Để xóa bỏ Việt Nam, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" ủng hộ CS Campuchia giết một cách dã man đồng bào Việt sống dọc biên giới Việt Miên.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình" gặp riêng "khát máu Pol Pot" từ 28 tháng 9 đến 22 tháng 10, 1977 tại Bắc Kinh. 

"Khát máu Pol Pot" chủ trương chỉ cần một người Campuchia diệt được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phát làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này. 

Về mặt đối ngoại, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" cố gắng thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và Mỹ. 

Từ cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á. 

Đặng phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978:“Hiệp ước [Việt Xô] này có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa”. Ngoại trừ Singapore, Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á. 

Lý Quang Diệu sáng suốt chỉ ra cho “Côn đồ Đặng Tiểu Bình"thấy: “Không có một cộng đồng Nga kiều nào tại các nước Đông Nam Á có thể dẫn đến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản do Liên Xô ủng hộ, nhưng ở đâu cũng có các cộng đồng Hoa kiều được đảng và nhà nước Trung Cộng xúi dục và ủng hộ”.
 
Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay. 

Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, đặt quyền lợi dân tộc lên trên, chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng, vinh danh kẻ thù dân tộc. 

Chỉ với vài trong số rất nhiều tội ác mà lịch sử sẽ lần lượt viết ra trong tương lai, Đặng Tiểu Bình xứng đáng được gọi “Côn đồ”.

FB TRẦNTRUNG ĐẠO 19.02.2018


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Huy Đức - Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)




Giặc Tàu xâm lược bị bắt trong chiến tranh biên giới 1979.

(Bài viết đã đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị ngày 09/02/2009 nhưng sau đó bị rút xuống)

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi.

Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi bốn mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết.

Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số ba người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm hai người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy.

Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc.

Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung Quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn“10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía.

Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1.680 ngôi mộ. Trong đó, 1.600 mộ là của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509.

Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sĩ xếp chồng lên nhau. Trong số 1.600 liệt sĩ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc giành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sĩ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy.

Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

HUY ĐỨC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một ví dụ về lý sự vừa ngu vừa nhược



1. Cái gì đã qua thì là quá khứ; chúng ta ko thể sống mãi trong quá khứ và ngày ngày kêu gọi hận thù - trừ khi các anh chị muốn sống như Bắc Hàn là nơi mà lãnh đạo tối ngày kêu gọi thù hận sống chết với bọn đế quốc Mỹ sài lang.

Tổ chức tưởng niệm ko phải kêu gọi hận thù. Yêu cầu sách giáo khoa đưa tin đúng, trung thực về chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược là một yêu cầu học thuật. Đã có chương dài về chống Pháp, chống Mỹ sao lại sơ sài trong chống Trung Quốc?
Thử đi một vòng trên Facebook hoặc trên báo, có ai hô hào chém giết, chia rẽ hận thù gì với quá khứ? Ngay cả những dòng kể tội giặc Trung Quốc thì cũng vô cùng nhỏ nhoi giữa các thiên sử kể tội ác giặc Pháp giặc Mỹ. Vậy những dòng kể tội Mỹ, Pháp xưa, các lễ hội linh đình ăn mừng các cuộc chiến dân ta giết dân mình có phải "sống mãi với quá khứ, kêu gọi hận thù"?
 
2. Suy cho cùng thì quốc gia nào trên thế giới này cũng có một lịch sử chiến tranh với các quốc gia khác mà cái giá phải trả của nó là bằng máu và xương thịt vô số người dân vô tội. Như thế đâu phải chỉ có người Việt Nam ngã xuống hy sinh xương máu của mình đâu ?

Vậy nếu như, suốt ngày ca bài thù hận, tưởng nhớ thì chắc có lẽ chả có quốc gia nào trên thế giới này chơi được với nhau; vì suy cho cùng ai chả có dính nợ máu với quốc gia khác ? Và như đã nói ở trên bản chất con người luôn là hướng tới tương lai do đó, tất cả mọi quốc gia đều xếp sự thù hận quá khứ đó lại một bên để bắt tay hợp tác với nhau nhằm phát triển kinh tế.

Người dân các nước trên thế giới vẫn tổ chức tưởng niệm nạn nhât chết vì phát-xít Đức, không làm tổn hệ quan hệ ngoại giao với nước Đức hiện tại. Người dân Hàn Quốc, Trung Quốc biểu tình phản đối khi Thủ tướng Nhật viếng đền Yasukuni. Đó là những phản ứng dân sự bình thường sau chiến tranh, việc đ** gì phải sợ nước Nhật cường quốc, nước Đức hùng cường. 

3. Chả phải riêng TQ, mà đối với Nhật Bản cũng thế. Xét riêng về độ tàn bạo thì TQ không thấm vào đâu so với tội ác của Nhật Bản trước kia đã làm ở VN. Thế nhưng cũng vì lo ảnh hưởng tới mối quan hệ hiện tại, tương lai mà VN cũng ko chủ trương yêu cầu Nhật Bản phải xin lỗi hay bồi thường về tội ác mà họ đã gây ra trước kia.

Tội ác Nhật được nhắc đến nhiều nhất là nạn đói Ất Dậu, nhưng chưa có sử liệu, bằng chứng nào chứng minh phát xít Nhật là tác nhân DUY NHẤT, trực tiếp gây ra nạn đói khủng khiếp đó. Nên muốn kể tội nó không phải dễ. Và cho đến nay, các hỗ trợ của Nhật về kinh tế đều nằm trên chính sách bồi hoàn thiệt hại chiến tranh, rất rõ ràng minh bạch. 

4. Người TQ có lòng tự hào dân tộc rất cao, chủ nghĩa dân tộc và sự tự ái vô cùng lớn - lại thêm tính tiểu nhân ăn sâu của các nước Đông Á có sẵn. Hãy nhìn xem những ca sĩ hàng đầu của thế giới như Selena Gomez, Lady Gaga, Bon Jovi, Justin Bieber chỉ cần có những phát ngôn động chạm tới hình ảnh của người Trung Quốc; là ngay lập tức bị cấm diễn ở Trung Quốc mất đi một khoản lợi nhuận vô cùng lớn. Các tập đoàn lớn của Mỹ như Google còn phải quỳ xuống xin kiểm duyệt thông tin nhạy cảm chấp nhận vi phạm quyền tự do ngôn luận thiêng liêng của Mỹ để mong được làm việc với Trung Quốc.

Vậy giờ giả như cả cái đất nước này cùng thi nhau phát động cuộc thi viết về lòng căm thù Trung Quốc. Rồi tổ chức rùm beng, chống chiêng lung tung xèng kỷ niệm chiến tranh TQ rồi chửi TQ thì liệu người dân TQ họ có vui lòng ? Và lãnh đạo của họ có vừa ý không ? Mẹ, giờ bọn Campuchia chúng nó mới ca thán tí tí về đất đai của nó ngày xưa bị vua chúa VN "mở mang bờ cõi" chiếm cứ thôi mà dân mạng VN đã long xòng xọc máu chó lên đòi đánh nó rồi. Vậy ở địa vị người TQ thì sao ? Họ sẽ nghĩ gì khi một thằng oắt con, chíp hôi như VN ngày ngày sống vào bầu sữa của TQ mà hỗn láo ?

Thương mại là quan hệ đôi bên cùng có lợi. Việt Nam là nước nhập siêu sang Trung Quốc. Các món hàng Việt Nam bán sang hay nhập về đa dạng hơn các sản phẩm âm nhạc của Justin, Selena, thậm chí là cả Mercedes. Nghĩa là Việt Nam là quốc gia (không phải tập đoàn, ca sĩ) mang lại nguồn lợi cho quốc gia này. Việt Nam là một khách hàng lớn, một thị trường lớn của Trung Quốc. Mất một khách hàng lớn, các doanh nghiệp Trung Quốc thiệt hại trước. Nhìn vào cán cân thương mại là thấy được giá trị của nền kinh tế Việt Nam Vậy gì việc đ** gì mà phải sợ dân Trung Quốc thù vặt? Dân Trung Quốc thực dụng luôn lấy kinh tế làm trọng. Tự suy diễn dân Trung Quốc thù vặt, tự sợ hãi mình thiệt hại kinh tế là một thứ tư duy nô lệ hèn kém, ngu muội. 

5. Người Nhật Bản muốn phát triển hòa bình thịnh trị như ngày hôm nay cũng phải ăn hai quả bom nguyên tử từ người Mỹ.
 
Ở đâu ra cái lý ngu này. Người Nhật thịnh trị là nhờ có tự tôn dân tộc, có nhà cải cách lớn từ trước khi ăn hai quả bom. Trước khi bị Mỹ tấn công, Nhật đã là một cường quốc nhờ quốc gia này lấy tiêu chí: con người là tài nguyên có giá trị nhất quốc gia. Lấy giáo dục khai phóng để tạo ra những công dân hiểu giá trị truyền thống, trung thực và kiêu hãnh. Ngay khi nhìn thấy nước Mỹ đi tàu hơi nước vào cảng, họ đã nhận ra, mình cần thay đổi và cải cách theo mô hình dân chủ phương Tây mới không tụt hậu trước cường quốc. 

Ôm ấp truyền bá nỗi lo sợ, tự thuần phục. Tự hủy hoại các giá trị truyền thống là chặt tận gốc sức mạnh dân tộc. Không biết trân trọng quá khứ, đối mặt với sự thật, học các bài học từ đó thì mãi mãi lụi tàn trong ngu dốt. 

Nguồn:https://www.facebook.com/MikamiYuajav/posts/10211489979352530

FB NGUYEN TIEU QUOC DAT 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ Thi Vũ





Người thi sĩ quý bài thơ hơn người
Người hoạ sĩ quý bức tranh hơn người
Nhà chính trị quý bè đảng hơn người
Nhà tôn giáo quý thần linh hơn người
Ông triết gia quý triết học hơn người
Ông đại tướng quý chiến tranh hơn người
Nên suốt đời
                      Người ở với đười ươi.



Cuộc tồn sinh sấp ngửa
Những chân lý đảo lừa
Những tình duyên bạn dối
Những sách qúi thơ hay
Ôi lá rụng mùa đi
Còn chi trong hiu quạnh
Đây gốc rễ âm thầm
Đâm nhánh lá đầu tiên

Một nhánh lá đầu tiên
Cho những mùa bướm chết
Cho những buổi hoa thừa
Cho những ngày bão động
Cho những giờ chiến tranh

Một nhánh lá đầu tiên
Cho những đêm không ngủ
Cho những ngày không ăn
Cho những ai còn nhớ
Cho những người vội quên

Một nhánh lá đầu tiên
Cho tóc còn dính máu
Cho mắt đầy cầu xin
Cho tiếng cười ngạo nghễ
Cho đắng cay thành kiến

Một nhánh lá đầu tiên
Cho những bài thơ câm
Cho những lời không nói
Cho những vò rượu khô
Cho những tình bội phản

Một nhánh lá đầu tiên
Cho giòng sông câu chuyện
Cho Vỹ Dạ xuân mưa
Cho thu hồng Montmartre
Cho mắt em môi tôi
Cho chim trời gió đợi

Ôi cuộc tồn sinh
Hãy mãi hoài khờ khạo
Đứng ngắm với tay trao

Ôi cuộc tồn sinh
Mặc cho người cướp giật
Bao kẻ thân thành lạ
Ta lặng hoá nên cây
Ngón tay xoè ra lá
Thu gọn lấy niềm xanh
Trong xuân sông phừng lửa
Một nhánh lá đầu tiên.





© gio-o.com 2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những bông hoa không cần chỉ thị


Kết quả hình ảnh cho ảnh hoa đào

Mặc ai cấm rằng không được nhắc
bạn vàng Trung Hoa từng thảm sát dân mình
Nhưng làm sao cấm hoa đào hoa mận
Nở rưng rưng rụng xuống những mộ phần
Kệ báo chí cứ phập phồng chờ đợi
Nói hay im? Ngồi nghe ngóng công văn
Những bông hoa không cần chỉ thị
Cứ ra Giêng, rụng thắm đất anh nằm…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Câu đối điên:

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Hoa Mai Có ng dịch nè Tạm biên dịch là : 

"Cởi quần tuổi mới nằm đêm đợi 

Xuân khắp càn khôn fuck sập nhà ."


Phần nhận xét hiển thị trên trang