Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2018

Vì sao chính phủ sụp đổ? Cứu vãn cách nào?


Rachel Nuwer 18 tháng 2 2018 - Theo Al-Rodhan, khi thiết kế một chính phủ lý tưởng, một giải pháp then chốt khác là phải đấu tranh sao cho lòng tự trọng trở nên một phần thiết yếu của quá trình cải cách. Điều này có nghĩa là cần đảm bảo sao cho cảm xúc con người và tính ích kỷ không bao giờ được coi trọng hơn chín tiêu chí cốt lõi: lẽ phải, an ninh, nhân quyền, tính chịu trách nhiệm, tính minh bạch, công lý, tạo cơ hội, đổi mới và không bỏ rơi nhóm người nào trong xã hội. Nếu trong tất cả những điều này có một vài cái thiếu đi thì hệ thống sẽ có thể hoạt động kém hoặc hoàn toàn thất bại. Lý thuyết đó đã được chứng minh trong các nghiên cứu tình huống đời thực.



Hầu hết các chính phủ ngày nay đều quá lỗi thời. Họ được tổ chức theo kiểu của cuối Thế kỷ 19, là thời mà chi phí truyền thông thì tốn kém còn dữ liệu thì khó kiếm. Do đó, các tổ chức chính phủ được phân cấp và kết cấu chặt chẽ với những chức năng cụ thể, chẳng hạn như an ninh và tư pháp.

Ngày nay, thế giới đang ngày càng kết nối chặt chẽ, di chuyển nhanh và rất phong phú về thông tin. Nhưng các chính phủ của chúng ta thì lại không.

Ông Geoff Mulgan, giám đốc điều hành của Quỹ Sáng kiến Nesta, và là đồng chủ tịch Hội đồng Tương lai Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Sáng kiến và Khởi nghiệp nói: “[Chính phủ ngày nay] rất lỗi thời về nhiều mặt. Thật xui xẻo khi các chính phủ hiện đại đã kết tinh ở một thời điểm đặc thù vốn ngày càng xa rời thực tế.”

Lấy việc tham gia chính trị làm ví dụ. Ngay cả khi công nghệ và truyền thông giúp công dân có nhiều cách được lắng nghe thì việc tham gia dân chủ phần lớn vẫn còn giới hạn trong việc bỏ phiếu giữa các đảng phái vài năm một lần.

Nhiều chuyên gia tin rằng một sự cải tổ tận gốc cho hệ thống này là rất cần thiết.

Nghiên cứu sinh Nayef Al-Rodhan của Đại học Oxford, người đứng đầu Chương trình Địa chính trị và Tương lai Toàn cầu tại Trung tâm Chính sách An ninh Geneva, nói: “Dân chủ là một sinh vật đang tiến hóa và cần tiến bộ theo thời gian. Nếu các chính phủ không thay đổi theo thời đại, họ càng ngày càng ít có khả năng giải quyết các nhu cầu của người dân”.

Điều này vốn đang xảy ra ở các nền dân chủ ổn định.

Bản quyền hình ảnhMANDEL NGAN/AFP/GETTY IMAGES

Chẳng hạn ở Mỹ, 43 triệu người sống trong nghèo khó – hoặc có thể nói là vào khoảng 14% dân số, so với chỉ 11% trong năm 1973.

Al-Rodhan nói: “Điều này không thể chấp nhận được cả về mặt đạo đức lẫn xã hội. Nó cũng có thể nguy hiểm. Sớm hay muộn thì những người này cũng sẽ nổi dậy và gây ra vấn đề, bởi vì họ không còn gì để mất."

Các hệ thống chính trị dựa trên bầu cử vốn hoạt động với tâm lý ngắn hạn, trong đó các quan chức có suy nghĩ đi trước thời đại chỉ một vài năm mà thôi.

Hiện giờ, khi những xã hội trên khắp thế giới trở nên phức tạp, đa dạng, đòi hỏi khắt khe và kết nối nhiều hơn, thì các chính phủ thành ra còn được khuyến khích thực hiện những biện pháp khắc phục từng phần mang tính hời hợt.

Nhưng hy sinh cái lâu dài cho cái ngắn hạn - ví dụ như việc để cho cơ sở hạ tầng xuống cấp như ở Đức; hay làm tăng thêm 1 tỷ đôla vào nợ quốc gia để cho phép cắt giảm thuế như ở Mỹ; hoặc chặt phá và đốt rừng già để đổi lấy nông trường như ở Indonesia – cuối cùng sẽ xảy đến với chúng ta.

"Bạn có thể tiếp tục như vậy trong một thời gian dài, nhưng khi hệ thống sụp đổ, đó sẽ là một sự sụp đổ ghê gớm,” Angela Wilkinson, giám đốc cao cấp của Hội đồng Năng lượng Thế giới cho biết.

Điều này không có nghĩa là chúng ta nên bãi bỏ chính phủ hoàn toàn. Mulgan chỉ ra rằng không có một xã hội với quy mô đáng kể nào vận hành tốt khi không có chính phủ.

Chúng ta cũng không nên phá bỏ các hệ thống hiện có và bắt đầu hoàn toàn từ đống đổ nát.

Nam Sudan gần đây đã thử làm và từ đó được gọi là quốc gia thất bại sớm nhất thế giới. “Như hầu hết bất kỳ nhiệm vụ phức tạp nào trong cuộc sống, chính phủ phụ thuộc vào năng suất, kinh nghiệm, kiến thức và năng lực - những thứ sẽ được bồi đắp qua nhiều năm,” Mulgan nói.

Định hình

Thay vào đó, mục tiêu cần đặt ra là tái tạo hình dạng chính phủ hiện nay thành những mô thức phù hợp hơn với cuộc sống hiện đại: định hướng theo dữ liệu và toàn cầu hóa triệt để.

“Tuy nhiên, trong khi một số chính phủ bắt đầu áp dụng phương pháp đó thì số khác lại không làm tốt chút nào,” Wilkinson cho biết.

Những nét tương phản có thể khá nổi bật. Ví dụ như ở Thụy Điển, học sinh tiểu học được học cách mã hóa và phát hiện những tin tức giả mạo, trong khi tại Mỹ, tổng thống hiện nay thường tích cực ủng hộ những điều dối trá.

Đài Loan, Tây Ban Nha và Iceland đang nghiên cứu những cách thức dân chủ sử dụng thông tin tổng hợp, nhưng Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến tới chế độ chuyên quyền và chủ nghĩa độc tài chuyên chế. Estonia đã tự mình mở ra cánh cửa chào đón các công dân toàn cầu như là “những cư dân điện tử”, trong khi Anh đã chọn rời khỏi Liên minh Châu Âu.

Nhưng mặc dù có một số ví dụ đầy hứa hẹn về tiến bộ, Al-Rodhan cũng cho biết thêm hầu hết các chính phủ ngày nay, bao gồm ở châu Âu và Bắc Mỹ, vẫn chưa đủ tốt.

"Bất chấp việc chính phủ một số nước đã đảm bảo tự do chính trị cho công dân của mình, nhiều người dân ở các nước này vẫn không được hưởng quyền lợi do sự bất bình đẳng không thể chấp nhận và khoảng cách bất bình đẳng ngày càng rộng," ông nói.

Ngay cả khi một nhà lãnh đạo nói riêng hoặc toàn thể xã hội muốn thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, họ thường không đạt được mục tiêu của mình.

Bản quyền hình ảnhULET IFANSASTI/GETTY IMAGESImage captionTại Indonesia, việc phá rừng lấy đất trồng trọt là chuyện xảy ra khá phổ biến

Làn sóng cách mạng Mùa xuân Ả Rập đã thất bại trong việc phá vỡ tình trạng tắc nghẽn và tái cơ cấu chính phủ; di sản của Barack Obama về giảm nhẹ biến đổi khí hậu, cải cách chăm sóc sức khoẻ và nhập cư chi phí thấp đã bị hủy bỏ; và Nam Phi chưa bao giờ trở thành 'quốc gia cầu vồng' mà Nelson Mandela đã mường tượng.

Wilkinson cho biết cơ cấu của chính phủ có xu hướng trở thành trở ngại với việc đổi mới. Lĩnh vực tư nhân đã nổi lên một số ý tưởng về mặt làm thế nào điều này có thể thay đổi: Ví dụ như một cuộc thi do một tỷ phú Thụy Điển phát động để thiết kế một hệ thống tốt hơn dành cho việc quản trị thế giới.
Nhưng như Wilkinson chỉ ra, "Chúng ta cũng cần các nhà doanh nghiệp chính trị."

Tuy nhiên, các chính phủ có xu hướng không ưa thích đổi mới. Họ chờ đợi thị trường dẫn đường và sau đó tranh nhau bắt kịp. Khi quyết định được đưa ra, chúng được thực hiện trên toàn xã hội, mà không dùng thử hoặc kiểm nghiệm các ý tưởng trên những mật độ dân số nhỏ hơn trước.

"Bạn không thể dùng từ 'thử nghiệm' trong chính phủ: đó là một từ nguy hiểm, bởi vì nó có nghĩa là bạn có thể thất bại," Wilkinson nói.

"Nhưng chúng ta không thể chờ đợi mọi thứ trở nên hoàn hảo, và chúng ta không thể tiếp tục dùng những giải pháp của ngày hôm qua."
Quốc gia thử nghiệm

Một số quốc gia đang bắt đầu phá vỡ khuôn mẫu.

Ở Canada, Thủ tướng Justin Trudeau đã công bố thử nghiệm sẽ là quy chuẩn cho việc ra quyết định dựa vào dữ liệu. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã cắt ra một phần ngân sách để tiến hành nghiên cứu cách điều hành chính phủ tốt hơn, và các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cũng đã cam kết dành 1% tổng chi tiêu công dành cho cải tổ.

Mulgan nói: "Đây là một cách làm việc hoàn toàn khác với việc có người ở thủ đô soạn thảo luật sau đó áp dụng cho hàng triệu người. Cách này áp dụng cách thức khoa học cho toàn bộ chính phủ."

Tuy nhiên, Slovenia có thể sẽ dẫn đầu thế giới về phương pháp này nhờ vào chương trình Tầm nhìn Slovenia được phát động vào năm 2015. Bộ trưởng Alenka Smerkolj, chịu trách nhiệm về các dự án phát triển, chiến lược và mối liên kết, cho biết: "Thế giới kết nối với nhau, kỳ vọng của người dân đang tăng lên và việc lãnh đạo đất nước càng ngày càng khó khăn hơn. Cách làm như lâu nay không còn hiệu quả nữa, và chúng ta nhận ra rằng chúng ta cần phải bắt đầu thay đổi mọi thứ."

Smerkolj và các đồng nghiệp của bà nhanh chóng nhận ra rằng đó không phải chỉ đơn giản là một dự án hay chính sách thực hiện một lần, mà nó còn đòi hỏi một kế hoạch dài hạn gồm nhiều bước và mục tiêu nhỏ. Họ định ra thời điểm - 2050 - và sau đó cố gắng xác định đích đến mà Slovenia muốn hướng tới lúc đó.

Thay vì tự xác định điều này, họ đã dành một năm khảo sát hơn 1.000 người Slovenia ở tất cả các tầng lớp xã hội và tổ chức nhiều hội thảo. Smerkolj nói: "Thật không dễ dàng, nhưng chúng tôi nhận thấy điều cốt yếu là bắt đầu nói chuyện với người dân và giành lại lòng tin của họ nếu bạn muốn thay đổi bất cứ điều gì trong chính phủ."

Kết hợp ý kiến phản hồi đó với những phân tích về các xu hướng rộng mở hơn và những dự báo dựa vào bằng chứng, Smerkolkj và các đồng nghiệp đã trình bày 12 mục tiêu phát triển ban đầu cho năm 2030.

Tất cả góp phần vào một mục tiêu cốt lõi: chất lượng cuộc sống cho mọi người. Những phương thức can thiệp trải rộng từ các cải tiến nhỏ về mặt lập pháp (ví dụ như khiến chủ sử dụng lao động dễ thuê lao động nước ngoài hơn) đến các giải pháp cho những vấn đề phức tạp, bao gồm cải cách cơ cấu và giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Smerkolj cho biết: “Dự án này thúc đẩy mọi người bắt đầu nói chuyện với nhau, và nó buộc các nhà hoạch định chính sách phải suy nghĩ về các chính sách linh hoạt hơn. Dĩ nhiên viễn cảnh rộng hơn là phương pháp này không chỉ phù hợp với Slovenia mà còn cho tất cả mọi người, cho tất cả các nước trên thế giới này."
Trật tự thế giới

Wilkinson và những người khác tại Govern-Mentality, một hiệp hội công chức, chuyên gia và doanh nhân, đang cố gắng hướng mọi người suy nghĩ về chính phủ của họ với cùng một tư duy sáng tạo. Bà nói: "Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một phong trào thay đổi từ bên trong chính phủ.”

Wilkinson cho biết việc chuyển đổi từ chính quyền nhà nước trung tâm sang chủ nghĩa đa trung tâm có thể là một cách để cải thiện việc quản trị chính phủ. Bà nói rằng điều đó đòi hỏi cần có các nguyên tắc hướng dẫn chung để đảm bảo tạo được môi trường hợp tác, ngăn ngừa tình trạng một thế lực nào đó sẽ chiếm ưu thế, và nỗ lực cùng nhau hướng tới các mục tiêu chung như cắt giảm khí nhà kính hoặc chiến đấu chống nghèo đói.

Hệ thống có được sẽ là một hệ thống “sôi động, năng động, đa dạng và không hoàn hảo" - nhưng cuối cùng sẽ đoàn kết tất cả mọi người dưới một tầm nhìn chung, đa phần giống như những gì Slovenia đang cố thực hiện, Wilkinson phát biểu.

Theo Al-Rodhan, khi thiết kế một chính phủ lý tưởng, một giải pháp then chốt khác là phải đấu tranh sao cho lòng tự trọng trở nên một phần thiết yếu của quá trình cải cách.

Như ông mô tả trong cuốn sách của mình, Lịch sử Bền vững và Nhân phẩm Con người, điều này có nghĩa là cần đảm bảo sao cho cảm xúc con người và tính ích kỷ không bao giờ được coi trọng hơn chín tiêu chí cốt lõi: lẽ phải, an ninh, nhân quyền, tính chịu trách nhiệm, tính minh bạch, công lý, tạo cơ hội, đổi mới và không bỏ rơi nhóm người nào trong xã hội. Nếu trong tất cả những điều này có một vài cái thiếu đi thì hệ thống sẽ có thể hoạt động kém hoặc hoàn toàn thất bại.

Lý thuyết đó đã được chứng minh trong các nghiên cứu tình huống đời thực. Ví dụ, Phần Lan khá nổi tiếng về hệ thống phúc lợi vượt trội so với các nước khác. Nhưng việc thiếu cơ hội và đổi mới đã dẫn đến sự kiệt quệ chất xám kéo dài trong hàng thập kỷ.

Al-Rodhan nói: "Nếu ai đó có ý tưởng, thì hệ thống thể chế phải cho phép người đó hiện thực hóa ý tưởng đó, nếu không thì không có tăng trưởng và người dân sẽ không hài lòng. Đây đại loại giống như ‘Giấc mơ Mỹ’.”

Nhưng cũng còn có những giải pháp khác nữa.

Khởi phát vào đầu mùa đông này, Nesta đã tập hợp 30 chính phủ - trong đó có Singapore, Canada, Chile và Úc - thành một tập thể “nhà nước đổi mới” để giúp cải thiện quá trình đổi mới. Cùng với nhau, các chính trị gia, doanh nhân và các nhà lãnh đạo toàn cầu khác sẽ cân nhắc và thử nghiệm cách sử dụng dữ liệu và công nghệ mới để cải thiện đường lối lãnh đạo và tình trạng chung của thế giới.

"Có một cách tạo ra những chính phủ thực sự tinh tường trong việc học hỏi, cải tiến và tư tưởng," Mulgan nói. "Trong 20 hoặc 30 năm tới, những chính phủ ưu việt nhất sẽ thực hiện những điều mà bây giờ chúng ta không thể hình dung được.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future

http://www.bbc.com/vietnamese/vert-fut-43105627


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kiểu sống 'lạ' của Sài Gòn nhìn từ một người miền ngoài


17/02/2018 TTO - Theo tác giả Nguyễn Văn Mỹ, một người con miền ngoài đã ở Sài Gòn mấy chục năm, người Sài Gòn có lối sống "lạ lùng", tiếp thu hết nhưng lại không giống bất kỳ nơi nào... "Đố ai tìm được khắp chân trời góc bể. Một thành phố trẻ măng nhưng lịch sử rất lạ lùng" (trích thơ Hưởng Triều). Chẳng thế mà nhiều người đến Sài Gòn ít lâu đều muốn ở lại, chuyện không mới từ thuở có thành phố này. 

Quán ăn Nụ cười xuất phát từ tấm lòng
 hào hiệp của người Sài Gòn - Ảnh: M.H.
TTO - Nhịp sống thị dân Sài Gòn với nhiều nét đẹp đáng yêu của một thành phố đang phấn đấu là "nơi có chất lượng sống tốt" như quyết tâm của lãnh đạo thành phố và niềm trông đợi khát khao từ người dân.

Suốt chiều dài 320 năm, trước cả thời hậu duệ của Nguyễn Trãi là Lễ Thành hầu - Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu "Nam tiến", vào vùng đất này lập ra phủ Gia Định, gồm 2 huyện Phước Long và Tân Bình vào năm 1698. 

Người Sài Gòn chúa ghét sự giả dối lẫn đãi bôi, coi khinh những kẻ sống hai mặt và không thích làm chính trị. Thấy bất bình là phản kháng, làm cách mạng xong rồi thôi, mặc thiên hạ bon chen giành giật." Nguyễn Văn Mỹ
Nhiều cuộc Nam tiến của cha ông để mở mang bờ cõi, còn lưu dân thì "hành phương Nam" để mưu sinh lập nghiệp. Lịch sử Việt Nam được viết bằng những công trình kiến trúc, nhất là các đền thờ... 

Lịch sử cho thấy không chỉ người Việt mà công dân nhiều nước cũng chọn Sài Gòn làm chốn mưu sinh và cả an cư. 

Hai đợt di dân lớn nhất của người Việt vào Sài Gòn là 1954 và sau 1975. Nhiều sự kiện quan trọng của đất nước được bắt đầu từ Sài Gòn. Làm cư dân Sài Gòn không khó, kể cả việc... chạy hộ khẩu. Cán bộ viên chức thì có quyết định điều động, còn dân thường thì thoải mái. Từ đại gia cho tới cái bang. 

Ở Sài Gòn không sợ đói và dễ kiếm sống nhất vì chỗ nào cũng có mua bán hợp pháp với đủ thứ dịch vụ để tham gia. Đơn giản nhất hiện nay là chạy grapbike, cũng lai rai đủ tiền trang trải cuộc sống để thực hiện ước mơ.

Giọng nói Sài Gòn được xem là chuẩn của Nam bộ nhưng cũng ngọng với cách phát âm "uân" thành "ưng" (Xuân = Xưng), đổi các chữ khác trước "uy" thành "q" hoặc thêm vào nếu không có phụ âm (Huy thành Quy, Ủy thành Quỷ), "v" thành "z, d" (và thành dà), "oan" thành "oong" (Loan thành Loong)…

Cách xưng hô ngoài xã hội của dân Sài Gòn cũng đặc sệt Sài Gòn, theo nghề nghiệp và thành phần. 

Giới thư ký, thấy thông, thầy phán, viên chức hành chánh thì được gọi là HAI. Người Hoa được gọi là BA. Dân tứ chiếng giang hồ gọi là TƯ. Lưu manh, du đảng gọi là NĂM. Cảnh sát, an ninh được gọi là SÁU. Người Ấn Độ hoặc da nâu sậm, tóc xoăn được gọi là BẢY. Dân lao động đại trà, số đông của Sài Gòn được gọi là TÁM (chuyên mục "Gia đình bác Tám" trên truyền hình Sài Gòn và bài hát "Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi Tám"rất nổi danh là vậy). Chị em sống bằng nghề vốn tự có gọi là CHÍN...

Ẩm thực Sài Gòn coi mòi cũng vô địch cả nước về sự phong phú lẫn khác biệt. Ẩm thực cả thế giới đều có mặt ở Sài Gòn, được Sài Gòn hóa. Từ trong nước với các món bún bò Huế, bún nước lèo Sóc Trăng, bún mắm Đồng Tháp, phở Hà Nội cho đến nước ngoài như hủ tiếu Nam Vang, vịt quay Bắc Kinh, gà Thượng Hải, pizza Ý, cà ry Ấn Độ, lẩu Thái Lan… đều có hương vị Sài Gòn riêng. 

Ăn quen, chê món gốc dở tệ. Chè Sài Gòn cũng không đâu bằng với hàng trăm loại. Từ chè hột gà, hột vịt (nghe nói có cả hột vịt lộn?) và "kính thưa các loại thịt". Có cả rau câu ốc và chè ốc không đụng hàng. 

Nhưng Sài Gòn hơn cả là "bánh mì Sài Gòn, đặc ruột, thôm bơ". Những trào lưu ăn uống, các món ngon mới lại đều khởi phát từ Sài Gòn rồi lan khắp cả nước. Người Sài Gòn thích cả chua lẫn ngọt, cả đắng lẫn cay.

Phải nói là quá hào hiệp. Từ "Xóa đói giảm nghèo", "Nhà tình thương", ""Nhà tình nghĩa" cho đến "Bếp ăn từ thiện", "Quán ăn Nụ cười"; các thùng"Trà đá miễn phí", những "Tủ quần áo", "Tủ bánh mì", "Hủ gạo", "Sửa xe"… miễn phí của người lớn và "Kế hoạch nhỏ" ý nghĩa to, "Về với cội nguồn dân tộc", "Giúp bạn vượt khó"… của thiếu nhi đều là những thương hiệu làm nên tính cách người Sài Gòn. 

Người Sài Gòn khoái đi du lịch và đi có tính toán. Vừa chơi vừa tìm cơ hội kinh doanh, học hỏi thiên hạ nên du lịch bốn mùa. Thiếu tiền thì vay mượn thêm hoặc trả góp. Vui đi chơi cho vui thêm. Buồn đi chơi để buồn bớt. Thất nghiệp đi chơi tìm hứng thú cho việc làm mới… Làm ra tiền, vừa biết hưởng thụ vừa biết để dành chứ không cực đoan. 

NGUYỄN VĂN MỸ

https://tuoitre.vn/kieu-song-la-cua-sai-gon-nhin-tu-mot-nguoi-mien-ngoai-20180118182156595.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện của hai con kiến


Nếu bạn đang làm như những gì hai con kiến trong câu chuyện này đã thực hiện, bạn có cơ sở để tin vào một cuộc sống thú vị, không có chỗ cho sự chán chường, tuyệt vọng.
Chuyện của hai con kiến
Có hai con kiến thật không may mắn khi bò nhầm vào bên trong một cái cốc thủy tinh.
Chúng hoảng loạn bò khắp xung quanh đáy cốc, cố tìm kiếm một kẽ hở nào đó để chui ra. Một lúc sau, chúng phát hiện ra rằng, điều này là không thể.
Vì thế, chúng bắt đầu men theo thành cốc và leo lên trên. Xem ra, đây là con đường duy nhất đưa chúng đến với tự do.
Thế nhưng, bề mặt của chiếc cốc thủy tinh lại quá trơn, bò được hai bước chúng lại bị rơi xuống, đau nhức khắp mình mẩy. Vậy nhưng chúng vẫn cứ bò lên rồi lại thất bại đau đớn.
Hai lần, ba lần, rồi bốn lần… hai con kiến đều cố gắng hết sức cho đến khi chúng nhận ra chúng đã ở rất gần miệng cốc.
Song, tiếc là bước cuối cùng thát bại, và cú trượt ngã lần này khiến chúng đau hơn tất cả những lần trước.
Phải mất hồi lau, chúng mới thở được một hơi. Một con kiến vừa xoa người, vừa nói: "Chúng ta không thể mạo hiểm thêm được nữa, nếu không chúng ta sẽ bị ngã vụn xương mất."
Con kiến còn lại nói: "Ban nãy, chẳng phải chúng ta chỉ còn cách thắng lợi đúng một bước chân đó sao?" Nói xong, nó lại tiếp tục leo lên.
Hết lần này đến lần khác, ngã lại leo, ngã lại leo, cuối cùng nó cũng chạm được đến miệng cốc. Dùng chút sức cuối cùng, nó vượt qua được bức tường trong suốt đã gây khó khăn cho nó trong một thời gian đủ dài.
2 con kiến không may rơi vào cốc và diễn biến sau đó khiến nhiều người phải suy ngẫm! - Ảnh 1.
Ảnh minh họa.
Con kiến bên trong cốc lúc này vừa ngưỡng mộ lại vừa đố kỵ với bạn, nó hỏi: "Anh mau nói cho tôi biết, bí quyết để anh thành công là gì?"
Con kiến bên ngoài đáp: "Lúc chúng ta gần chạm được đến thành công, đó là lúc khó khăn nhất. Ai không đánh mất niềm tin vào thời điểm khó khăn nhất, người đó sẽ giành được thắng lợi."
Con kiến trong cốc nhận được sự chỉ bảo và cổ vũ của bạn, nó không sợ bị đau nữa mà bắt đầu lại, cố gắng leo lên miệng cốc và cuối cùng đã hội hợp được với bạn.
Lời bình
Thực ra, yếu tố quan trọng nhất giúp hai con kiến có thể kiên trì, không từ bỏ chính là niềm tin tất thắng. Trong khó khăn, chúng luôn giữ vững niềm tin ấy, nhất định không đánh mất sự quyết tâm.
Xin gửi tặng đến tất cả mọi người ba câu nói dưới đây và mong rằng chúng ta hãy xem nó là động lực để bản thân luôn nỗ lực không ngừng.
- Trách nhiệm của bạn chính là phương hướng của bạn, kinh nghiệm của bạn chính là vốn liếng của bạn và tính cách của bạn chính là vận mệnh của bạn.
- Những việc phức tạp, giải quyết một cách đơn giản, bạn sẽ là một người khôn ngoan; việc đơn giản nếu làm nhiều, làm hằng ngày, bạn sẽ là một chuyên gia; những việc làm đi làm lại hằng ngày, nếu làm bằng cả trái tim, bạn sẽ là người chiến thắng.
- Sự tốt đẹp thuộc về người tự tin, cơ hội thuộc về người mở đường, kỳ tích thuộc về người kiên trì bền bỉ đến cùng.
2 con kiến không may rơi vào cốc và diễn biến sau đó khiến nhiều người phải suy ngẫm! - Ảnh 2.
Nếu bạn không muốn làm, bạn sẽ luôn tìm lý do để thoái thác; nếu bạn muốn làm, bạn sẽ luôn tìm cách để làm! Đó là sự khác biệt giữa người dễ từ bỏ và người kiên trì đến cùng.
Trên con đường sự nghiệp, người trẻ tuổi thường không có đường tắt để dễ dàng chạm tới mục tiêu. Mỗi người đều là một người tu hành, đằng sau tất cả thành công đều là những gian khổ mà không nhiều người biết đến.
Trí Thức Trẻ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt đang từ bỏ quê hương


 Tôi tự hỏi những người như Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, các vị đại biểu quốc hội, những đảng viên “chân chính”… họ nghĩ gì? Họ phục vụ cho ai? Một chính quyền dù có theo đuổi mục đích, lý tưởng cao đẹp gì đi chăng nữa thì cũng chẳng có ý nghĩa gì khi mà con em họ, khi mà mọi người dân, từ trí thức cho đến chị bán nước dừa cũng đều muốn ra đi. Tôi cho rằng các vị lãnh đạo cần có câu trả lời chính đáng cho chính mình và cho những người dân hiền lành, chất phác đang phải sống lưu vong khắp nơi.

Kết quả hình ảnh cho người việt lưu vong

Cứ mỗi năm cuộc tranh giành quyền lực ở cấp lãnh đạo thượng tầng lại lập đi lập lại, và càng ngày mức độ càng gay gắt. Tôi tự hỏi không biết các vị lãnh đạo có từng bao giờ quan tâm để nhận biết ra rằng từ lâu nhiều người dân VN đã thầm lặng bỏ nước ra đi !

Điều đáng giật mình là – ngày nay người ta rời bỏ quê hương mình không một chút vấn vương luyến tiếc. Quê hương là nơi chốn thiêng liêng, nơi thân thuộc, nơi có cha mẹ, anh em, bằng hữu, có cả một trời thơ ấu; nhưng vì sao người VN lại tìm mọi cách để rời bỏ đất nước mình?

Bốn mươi năm trước, người ta buộc phải dứt áo ra đi, buồn thắt ruột khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Thi sĩ Luân Hoán có bốn câu thơ nhớ quê đến nao lòng :

“trông ra cửa kính trời mưa tuyết ngó lại mình đang ngồi bó tay quê hương nhắm mắt như sờ được sao vẫn buồn xo đến thế này?”

Nếu như ngày xưa, người Việt tị nạn lìa xa quê, nhớ từng chiếc lá me, từng cành phượng vĩ, thương từ viên ngói vỡ, bóng con chim se sẻ trước hiên nhà; thì ngày nay, người giàu cũng như nghèo, ngay cả con cái các quan chức nằm trong bộ máy chính quyền cũng tìm mọi cách để rời bỏ đất nước, ra đi không cần ngoái đầu nhìn lại.

Trong cuộc họp tại văn phòng Quốc hội ngày 29 tháng 12 vừa qua, bàn về tình trạng các du học sinh cấp phổ thông trung học và đại học sau khi tốt nghiệp không trở về; Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng đã nhìn nhận với các đại biểu Quốc hội rằng: “Tôi nghĩ con em nhiều người ngồi ở đây cũng không về. Cá nhân gia đình tôi cũng vậy, 2 đứa không về”.

Vì đâu có tình trạng này? Chiến tranh, nghèo đói cũng không làm người ta rời bỏ quê hương mình. Chỉ mới ngày nào, khi cuộc chiến biên giới bùng nổ vào năm 1979, hàng hàng lớp lớp thanh niên ưu tú sẵn sàng viết đơn bằng máu để xin ra chiến trường. Dù khó khăn, gian khổ người ta vẫn gắn bó, vẫn hãnh diện về dân tộc mình. Tôi nhớ có lần đọc được trong facebook của một em sinh viên: “Tôi tự hào vì mỗi tên đất, tên đường ở xứ tôi đều viết bằng tên người chứ không phải đánh số”. Nhưng chỉ vài tuần trước đây, một bài viết trên trang mạng BBC viết rằng – tác giả muốn rời bỏ VN để con cái mình khi lớn lên được sống làm người tử tế.

Tôi có dịp gặp một số thanh niên VN ở Philippines. Họ trẻ, tốt lành và trong sáng, nhưng họ quay lưng hẳn và không muốn nhắc đến tình hình xã hội, chính trị tại đất nước mình. Sự gian dối, giả trá khắp nơi đã làm các em chán nản. Một em chia sẻ với tôi là hầu hết các bạn của em đều cảm thấy bất lực và muốn tìm cách rời khỏi VN.

Tôi gặp em H, một thiếu nữ sống một mình ở đất nước xa lạ này. Em sống và chống trả với những bất trắc, bão tố do tình trạng cư trú bất hợp pháp của mình. Gã chủ nhà muốn xâm hại em, thản nhiên cầm điện thoại và hăm dọa nếu em không thuận hắn sẽ báo cảnh sát. Rất may, H là một thiếu nữ thông minh và mạnh mẽ, em đã vượt thoát được. Cha mẹ ở miền quê làm sao biết được em đã phải chống chọi với những gì. Những thiếu nữ yếu đuối, không may mắn khác sẽ hành xử ra sao? Và định mệnh sẽ đưa đẩy các em về đâu? Tôi cũng gặp một trường hợp khác, một phụ nữ miền biển, nghèo khó, vô danh nhưng chị đã làm tôi xúc động đến ngẩn ngơ.

Nếu bạn đang đi du lịch phượt trên đất Thái. Dừng chân uống một cốc nước dừa trên hè phố hay tại một quán ăn nào đó. Lúc bạn đang cố bập bẹ nói một ít tiếng Thái với người đang phục vụ, thì nhớ rằng người đang nói chuyện với bạn bằng tiếng địa phương đó có thể là một người VN. Bên dưới nụ cười xã giao và ánh mắt lẩn tránh đó, ẩn chứa cả một mối ân tình thắm thiết của người đồng hương.

Tôi gặp chị L, người phụ nữ gầy ốm da ngăm đen đứng bán một xe nước dừa bên hè phố. Ban đầu có lẽ nghe chúng tôi nói tiếng Việt, không nhịn được, chị cất tiếng hỏi tôi có phải người Việt Nam không. Thấy người đồng hương tôi vồn vã hỏi thăm, nhưng thấy thái độ chị lẩn tránh và đáp lại bằng tiếng Thái tôi đoán có lẽ chị đang có vấn đề về di trú. 

Bốn mươi năm trước, tôi đã gặp một người mẹ cắt ruột đẩy đứa con 6 tuổi của mình ra biển để mong nó tìm được tương lai. Ngày nay, tôi gặp người mẹ khác, cũng thắt ruột bỏ lại đứa con gái năm tuổi của mình cho bà ngoại để đi kiếm sống ở nước ngoài, đi “tha hương cầu thực”. Khi đã tin cậy, chị níu chặt lấy cánh tay tôi luôn miệng nói chuyện, quên cả bán hàng. Được một lúc chị móc trong túi áo ra 25 baht tôi vừa trả tiền nước, đưa lại. Chị ngượng ngùng bảo tình cảm mà lấy tiền tối về không ngủ được. Tôi xúc động vì sự tốt lành, vì cái ân tình chị dành cho tôi, một người xa lạ. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấu hiểu tấm lòng tha thiết của chị đối với người Việt, đối với quê hương như thế nào. Vậy mà có đến mấy lần chị nói với tôi là chị không muốn trở về VN nữa. Xin ghi lại một đoạn đối thoại của tôi với người phụ nữ này để hiểu vì sao chị không muốn trở về. Tôi cố tình hỏi tiếp :

– Nhưng khi để dành đủ tiền rồi chị về quê mình chứ? – Thôi không về đâu. – Tại sao lại không về?

– Ở đây người Thái họ hiền lắm, họ thương mình. Mình đẩy xe đi bán từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm mới về được đến nhà. Đi ban đêm cũng không sợ… Ở đây từ những người thấp nhất trong xã hội như xe ôm hay cảnh sát họ đều giúp đỡ mình hết mình. 

– Nhưng mai mốt chị về thăm con, người khác dành mất chỗ bán của chị thì sao? – Không sao đâu, không có mình thì họ bán, khi họ thấy mình đẩy xe tới, họ tự động đẩy xe đi chỗ khác. – …

Những dự thảo văn kiện đại hội đảng có bao giờ đặt ra vấn đề vì lẽ gì mà người dân nghèo, lương thiện lại không cảm thấy an toàn ở quê hương mình? Những người như chị bán nước dừa, hay cháu H đâu cần biết gì đến dân chủ hay nhân quyền !? Họ cũng không cần biết ngày mai ông Nguyễn Phú Trọng hay ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ trở thành Tổng Bí Thư. Họ chỉ cần một môi trường sống ổn định, an lành. Nơi hàng ngày không phải nơm nớp lo sợ gặp cảnh sát giao thông hay quân cướp giật. Nơi họ kiếm được miếng ăn hàng ngày và không phải im lặng trước những điều tai ác.

Đến bao giờ người dân mình khi “Rời Bỏ” quê hương đều ôm giấc mơ sẽ “Trở Về” để sớt chia những gian nan và dựng xây lại đất nước?
(............ cắt bỏ ............)

Tôi tự hỏi những người như Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, các vị đại biểu quốc hội, những đảng viên “chân chính”… họ nghĩ gì? Họ phục vụ cho ai? Một chính quyền dù có theo đuổi mục đích, lý tưởng cao đẹp gì đi chăng nữa thì cũng chẳng có ý nghĩa gì khi mà con em họ, khi mà mọi người dân, từ trí thức cho đến chị bán nước dừa cũng đều muốn ra đi. Tôi cho rằng các vị lãnh đạo, những người liên hệ trong chính quyền, hay trong trận đấu đá tranh giành quyền lực – từ anh công an quèn quen bóp cổ dân, đến các nhân sự tứ-trụ-triều-đình tương lai cần có câu trả lời chính đáng cho chính mình và cho những người dân hiền lành, chất phác đang phải sống lưu vong khắp nơi.

http://tapchihoaky.info/nguoi-viet-dang-tu-bo-que-huong-15978.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chúng ta đã cùng một tiếng nói.


Kết quả hình ảnh cho hình ảnh chiến tranh bien giới

Sáng nay lướt các trang báo chính thống chỉ lác đác vài báo có bài về ngày 17.2 lịch sử. Buồn. Đau. Thương lắm bao đồng bào, chiến sĩ của quê hương đã đổ máu hy sinh chống bọn cộng sản Trung Quốc dã man và láo xược xâm chiếm đất đai của tổ tiên mà lạnh khói hương của ai đó.
Nhưng... nhân dân không quên. Nhân dân tưởng nhớ. Hàng trăm ngàn tiếng nói của những con người bình thường cất lên trên trang facebook của mình tạo nên một làn sóng mạnh mẽ.
Những tiếng nói đanh thép: kẻ nào quên hoặc cố tình quên hoặc ngăn chặn sự tưởng nhớ trang lịch sử bi hùng này của dân tộc chính là những kẻ phản bội tổ quốc non sông, chính là những kẻ đê hèn trời sẽ không dung đất sẽ không tha.
Cùng với tiếng nói của người dân, nhiều nhà thơ, nhà văn đã cất tiếng nói.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội cho đăng hàng loạt bài thơ tưởng nhớ các anh hùng hy sinh trên mặt trận Vị Xuyên.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cảm xúc mãnh liệt làm một bài thơ lên án bọn Trung Quốc phản bội tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đem 600.000 quân xâm lược Việt Nam. Bài thơ lập tức được lan truyền trên cộng đồng mạng.
Nhà thơ Võ Quê từ Huế cũng đưa lên mạng bài thơ mình viết trong ngày 17.2.1979 lịch sử ấy... cứ thế, nhiều trí thức tên tuổi cùng đồng loạt góp lời. Không thể quên, chúng ta không bao giờ quên trang sử đau thương này.
Và... Sau nhiều giờ im lặng, chiều nay hàng loạt tờ báo lớn như Vnexpess, Tuổi trẻ, Thanh niên, Dân Việt đã cho đăng những bài báo tưởng nhớ những đồng bào chiến sĩ đã ngã xuống cùng những câu chuyện tố cáo tội ác man rợ của quân Trung Quốc xâm lược thảm sát dã man đồng bào ta không khác những cuộc thảm sát ở Mỹ Lai của quân Mỹ hay ở Campuchia của Khmer đỏ.
Không thế lực nào có thể ngăn cản được tấm lòng của nhân dân tưởng nhớ, ghi ơn bất kì ai, bất kì ở đâu để bảo vệ Tổ quốc của Tổ tiên.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhớ Nhà Rơi Nước Mắt - Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu | Nhạc Xuân Trữ Tình Hay...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày xuân, thử nghĩ lại về làng



Nguyên Ngọc (TBKTSG Xuan AL) - Tôi sẽ bắt đầu bài viết này (lại là trong ngày đầu xuân, tôi xin lỗi vậy) bằng một nhận xét có thể gây sốc. Nhận xét ấy thế này: có phải một số tác phẩm văn học từng và còn rất nổi tiếng, thuộc dòng văn học hiện thực (hay “tả thực”) cũng từng rất nổi tiếng ở ta một thời, đã góp phần không ít khiến người đọc, tức là mỗi chúng ta và cho đến tận nay, thường nuôi một định kiến chẳng mấy hay ho, nếu không nói là khá xấu về làng, làng quê Việt Nam. Những Khao của Đồ Phồn, Việc làng và Tắt đèn... của Ngô Tất Tố..., cho đến cả Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cùng những phóng sự nổi tiếng của Phùng Gia Lộc, Võ Văn Trực, Trần Huy Quang, Ngô Ngọc Bội... thời sôi nổi văn học đổi mới... 

Ngày xuân, và ngày nào cũng vậy, trong việc gì cũng vậy, dù nhỏ dù to, phải nhớ đến làng, yếu tố làng. Ảnh: Nguyễn Nam
Phải nói ngay đó là những tác phẩm thật hay, và cái tình trạng nông thôn, cụ thể là các làng quê tăm tối, nhầy nhụa chúng phơi bày ra và mạnh mẽ tố cáo, là hoàn toàn hiện thực. Giá trị nghệ thuật của chúng, tác động xã hội và chính trị của chúng là to lớn, chắc chắn không thể phủ nhận...

Song, mặt khác, cũng rất cần biết rằng, và theo tôi đây là điều có thể còn quan trọng hơn nhiều, rất quan trọng cho đến tận ngày nay: đấy không phải bản chất của làng, đặc biệt của làng Việt Nam. Những tác phẩm ấy là tuyệt tác, chính vì chúng mô tả đến mức sắc sảo hiện thực của làng Việt Nam khi nó đã bị tha hóa. Còn bản chất của làng, làng Việt Nam, vai trò đặc sắc của làng trong suốt lịch sử, có thể chỉ riêng làng Việt Nam có, và cho đến tận ngày nay, thì khác. Xin thử cố gắng nói về điều này.


Ảnh: Nguyễn Nam

Gần đây tôi có đọc lại bài viết của nhà sử học Pháp Jean Chesneaux, nhan đề rất đáng chú ý: Vì sao Việt Nam kháng cự? (Pourquoi le Vietnam résiste?). Có lẽ đúng ra là “Vì sao Việt Nam có thể kháng cự lại thành công (mọi thế lực ngoại xâm)”. Theo Chesneaux, ấy là do một cơ cấu xã hội đặc biệt của Việt Nam. Ông viết:
“Sự cố kết xã hội đáng chú ý của dân tộc Việt Nam đã đóng góp rất lớn vào sức sống và ý chí tồn tại mà nó đã chứng tỏ trong suốt lịch sử của mình, và đặc biệt từ khi có những đội quân xâm lược của Pháp đến vào thế kỷ 20. Sự cố kết ấy có những gốc rễ lịch sử rất xa xưa, ở cả cấp làng xã lẫn cấp nhà nước.


Dưới nền quân chủ xưa, các cộng đồng làng, được đóng kín trong các lũy tre, sống cuộc sống riêng của mình. Ruộng đất công chiếm một phần quan trọng đất canh tác. Làng được điều khiển bởi một hội đồng hương chức, là nơi ký thác quyền lực công, và có quyền lực lớn theo tục lệ... Những người bên ngoài, ngay cả các phái viên của chính quyền trung ương, cũng không thể tự tiện dấn sâu vào làng. Sự cố kết của cộng đồng làng còn được tăng cường bằng những quan hệ gia tộc; trong cộng đồng đóng kín này mọi người đều hoặc là anh chị em họ hoặc là anh chị em rể của nhau. 

Đúng là, qua nhiều thế kỷ, cộng đồng cổ xưa đã bị mờ nhạt đi do tình trạng chiếm hữu đất tư; trong nội bộ cộng đồng đã xuất hiện những người giàu và những người nghèo, đã xuất hiện sự bóc lột bằng đất đai của người này đối với người khác, dưới hình thức địa tô, tá điền, phu phen có tính chất phong kiến theo nhiều cách khác nhau, có lợi cho địa chủ và gây hại cho nông dân nghèo. 

Nhưng thứ chủ nghĩa phong kiến kiểu Việt Nam này, còn tồn tại cho tới khi người Pháp đến, không có những tính chất cực đoan và tàn bạo như phong kiến Phổ hay Nga; dẫu sao địa chủ và nông dân đều cùng có cuộc sống chung như nhau trong nội bộ cộng đồng làng, tính liên đới rất thực đó làm dịu đi và biến dạng sự bóc lột giai cấp.

Làng Việt Nam, dù “hiện đại” đến mấy, vẫn còn đó, đẹp và khỏe như xưa. Và đúng như Paul Mus nói: “...khó nắm lấy, không thể nắm lấy, như chiếm một thủ đô, lật đổ một triều đại, khuất phục một triều đình...”.

Chính sự kết tụ những tế bào làng nhỏ bé ấy đã tạo nên khối thống nhất và gắn kết của dân tộc Việt Nam. Nhà xã hội học Paul Mus ghi nhận: “Ngay từ trong nguồn cội quy hoạch nông nghiệp của đất nước, ngôi làng Việt Nam, chính từ bản thân sức chống chịu của nó (sa rusticité) là một chánh điện bất khả xâm phạm đối với quốc gia. Không phải nó đủ sức đơn độc chống chọi. Nhưng ta gặp hình thế có tính quốc gia này ở khắp nơi. Nó không tập trung ở bất cứ một chỗ nào để đối phương có thể chiếm lấy như chiếm một thủ đô, như đánh đổ một triều đại, hay khuất phục một triều đình (...). Trước tất cả mọi thứ, Việt Nam là một phương cách tồn tại và cư ngụ mà biểu hiện và phương tiện bành trướng là làng, rồi đến sự sinh sôi nảy nở của các làng, và cuối cùng một thảm đồng nhất các làng trồng lúa - giăng ngang kẻ dọc vùng đất một khi đã chiếm lấn được hoặc của tự nhiên hoang dã hoặc của các dân tộc khác”. Bao kẻ xâm lược từ thuở xa xưa đã từng được biết đến khả năng sống còn của Việt Nam ở cấp độ làng; rồi đến lượt người Pháp (cũng được nếm trải điều lạ Việt Nam ấy) vào năm 1858 trong cuộc xâm chiếm chậm chạp và khó khăn vùng Bắc kỳ. Và lần nữa trong cuộc chiến tranh 1945-1954... Paul Mus còn nói thêm: “Bị cắt mất phần ngọn(*) và chỉ còn hệ thống làng của mình, Việt Nam vẫn ‘‘trụ lại’’, dễ dàng hơn, bằng cơ cấu nền tảng lịch sử của nó, không giống các quốc gia khác””.

Tất nhiên Chesneaux không quên nói rằng, song song với hệ thống làng làm nền tảng thiên la địa võng, vừa mềm dẻo vừa bền chặt nên bất khả chiến thắng ấy, là hệ thống nhà nước trung ương tập quyền bên trên (mà người Việt đã chủ động học cách tổ chức từ kinh nghiệm Trung Quốc, để thường xuyên chống xâm lược của chính Trung Quốc trong suốt thiên niên kỷ thứ hai, sau khi đã giành lại được độc lập vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất).

Nghĩa là, nói cách khác: mô hình chuyên chế tập trung học theo kiểu Trung Quốc ở tầng trung ương, và nền tảng văn hóa bản địa giữ chắc ở làng được kết nối mênh mông. Nếu nói như nhà nghiên cứu Phan Ngọc: văn hóa không phải là một “cái” mà là một “kiểu”, thì đấy mới thực là văn hóa Việt Nam, kiểu tồn tại Việt Nam, kiểu chọn lựa cách tồn tại và phát triển của Việt Nam.
Và nhớ lại lịch sử, dường như có một quy luật không được quên: những thời bình ổn của đất nước và xã hội, là những thời hai hệ thống bên trên và bên dưới ấy được giữ cân bằng. Có một nhà nước mạnh bên trên, và một nền tảng bên dưới của các làng xã tự trị dân chủ và tự do. Còn khi mất cân đối, thì tất loạn. Cũng tất nhiên, chỉ có thể xảy ra lệch cân đối khi thế lực thống trị bên trên lấn sâu vào hệ thống làng xã bên dưới, chiếm lấy và triệt tiêu quyền lực, cũng là sức sống của nó. Hội đồng hương chức của làng, vốn là nơi “ký thác quyền lực” tự trị của dân làng, bị tha hóa, biến thành tay sai của chính quyền trung ương, đàn áp, bóc lột dân làng. Xã hội rối loạn, và chính quyền trung ương cũng chao đảo... 

Tuy nhiên quy luật chung đó không diễn ra một cách đơn giản. Một thể chế tập trung chuyên chế đến tuyệt đối ở bên trên, xóa bỏ hệ thống làng tự trị bên dưới, trong một thời gian lịch sử nào đó, cũng lại có thể tạo ra một thời kỳ cực thịnh, có sức mạnh lớn của đất nước. Lịch sử đã từng cho thấy một ví dụ sống động như vậy: đấy chính là thời Lê Thánh Tông, khi nhà nước trung ương tập quyền được tổ chức triệt để nhất theo mô hình chuyên chế Tống Nho. Một thời rực rỡ nhất của Đại Việt... Nhưng quy luật lại lập tức trở lại. Chẳng phải Lê Thánh Tông là đỉnh cao rực rỡ nhất, mà cũng là đỉnh cao cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam đó sao? Liền sau đó, là vực thẳm đột ngột đến kỳ lạ, là sụp đổ và loạn lạc...

Ngày xuân, nhắc lại chuyện xưa... Vì nghĩ lại, nhìn lại mà xem, chuyện vẫn chưa xưa lắm đâu. Chuyện làng. Làng Việt Nam...
Cách đây khoảng vài chục năm, tôi có đọc được một ý kiến của học giả Hoàng Xuân Hãn nói về hậu quả của sai lầm trong cải cách ruộng đất hồi những năm 1950. Theo ông hậu quả nặng nề nhất của sai lầm ấy là nó phá vỡ tế bào cơ bản nhất của xã hội Việt Nam: làng. Vết thương ấy vô cùng sâu sắc và lâu dài vì nó đánh đúng và làm tan vỡ hệ thống tế bào cơ bản tạo nên sức trường tồn Việt Nam. Bấy giờ, cạn nghĩ và láu táu, tôi có mạo muội viết: theo tôi, sai lầm ấy còn phá vỡ một tế bào có thể còn quan trọng hơn nữa: gia đình. Về sau, tôi đã nhiều lần nghĩ lại: chắc chắn Hoàng Xuân Hãn biết rõ hậu quả tai hại của sai lầm cải cách ruộng đất đối với gia đình. Nhưng cũng chắc chắn nếu ông chỉ nói về làng, thì là rất cố ý. Để đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố sức mạnh cốt lõi nhất khiến cho đất nước này đi qua mọi thử thách, tất cả các loại thử thách.

Ngày xuân, lại nói về làng. Bởi vì, lạ thế, vấn đề vẫn cứ còn hiện đại, đến không ngờ, vẫn còn rất hôm nay, là chuyện của một làng: làng Hoành (xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội). Theo chỗ tôi được biết, đơn vị xã bây giờ thường tương đương với phạm vi một tổng ngày xưa; một tổng gồm nhiều làng. Tổng chỉ là đơn vị trung gian. Người dân sống chủ yếu gắn với làng. Đây là chuyện của một làng: làng Hoành. 

Và thật kỳ lạ, thật đáng kinh ngạc, ngay giữa ngày hôm nay, ngay sát một trung tâm đô thị lớn là thủ đô, vẫn còn đó, cứ còn đó, nhỏ nhoi, khiêm nhường mà vô cùng sống động, một cái làng Việt hầu như vẫn nguyên toàn vẹn bản chất và sức mạnh của cơ cấu đặc trưng chỉ làng Việt mới có: cộng đồng làng gắn chặt, mềm dẻo mà kiên định, bền bỉ đến kỳ lạ, kết tụ chung quanh già làng và “hội đồng già làng” dù hôm nay nó được gọi với tên hiện đại khác kiểu nào. Có làng Hoành, nghĩa là lịch sử vẫn sống, không xoay ngược được đâu. Làng Việt Nam, dù “hiện đại” đến mấy, vẫn còn đó, đẹp và khỏe như xưa. Và đúng như Paul Mus nói: “...khó nắm lấy, không thể nắm lấy, như chiếm một thủ đô, lật đổ một triều đại, khuất phục một triều đình...”.

Vậy đó, ngày xuân, và ngày nào cũng vậy, trong việc gì cũng vậy, dù nhỏ dù to, phải nhớ đến làng, yếu tố làng. Nó vẫn còn đó, lạ lùng quá, mà hiển hiện...

(*) Tức mất thủ đô và các thành phố

http://www.thesaigontimes.vn/268636/Ngay-xuan-thu-nghi-lai-ve-lang.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang