Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Đón tết, đừng quên dưới bóng hoa đào...



Chuẩn bị mâm cúng tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 ở đồn biên phòng A Mú Sung, tỉnh Lào Cai - Ảnh: CÔNG THÀNH

Tuổi trẻ
17/02/2018 13:35 GMT+7

TTO - 39 năm và mãi mãi về sau, mỗi mùa xuân hoa đào nở, bên hoa đào chúng ta chúc nhau ly rượu mừng, xin đừng quên một mùa hoa đào đã rực đỏ vì thấm máu người lính.

Hoa đào biên giới tháng 2...
Thầy giáo cùng học trò tưởng niệm liệt sĩ chiến tranh biên giới
'Lịch sử Việt Nam' đã nhìn nhận lại chiến tranh biên giới phía Bắc
 
Hình ảnh đẹp nhất những ngày này là dưới tán những cành đào đang trổ hoa rực rỡ, mọi người đang hân hoan với Tết.

Bên nhánh hoa đào người ta chúc nhau lời chúc đầu xuân. Bên hoa đào dập dìu bao nhiêu hương sắc.

Giờ đây, ở dọc dặm dài biên giới Việt - Trung, hoa đào cũng đang nở rực hồng khoảng trời biên ải. Dưới bóng hoa đào ấy có mộ phần hàng ngàn người lính đã hy sinh trong 39 năm trước, trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới xảy ra vào ngày này, 17-2.

Những cánh hoa đào phủ lên hàng hàng hàng bia mộ ở Ma Lù Thàng, ở Dào San, ở Si Ma Cai, ở A Mú Sung, ở Chi Ma, ở Pò Hèn… những địa danh mà 39 năm trước đã vang lên mỗi ngày trong các bản tin chiến sự của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Khi được sống hòa bình hãy nhớ đến các anh

Những năm tháng đó, lũ trẻ thiếu niên chúng tôi, cứ chiều chiều lại ra nghe "thời sự" qua cái loa treo trên chót vọn một cây gội già đầu xóm, và những bản tin ấy, in sâu và tâm khảm nhiều đứa học trò ấy cho đến tận bây giờ.

Hơn phần tư thế kỷ, kể từ khi nghe những địa danh trong các bản tin chiến sự qua chiếc loa truyền thanh ấy, tôi mới đặt chân lên những ngọn đồi biên viễn, mới đốt nén nhang lên những mộ phần người lính dọc biên cương phía Bắc.

Và đọng lại, vẫn là hình ảnh hoa đào nghiêng xuống trên những nấm mộ, cánh hoa phủ hồng nơi chốn các anh nằm.

Hình ảnh những người dân vui Tết bên hoa đào giữa thị thành đô hội hay nơi làng bản xa xôi và hình ảnh những mộ phần dưới bóng hoa đào biên ải dễ gợi trong tôi dòng thư của một người lính hy sinh Thành Cổ Quảng Trị: "Khi được sống hòa bình hãy nhớ đến anh".

Người viết lá thư đó là Lê Văn Huỳnh, chiến sĩ Thành cổ của mặt trận năm 1972. Người nhận thư là vợ anh, chị Đặng Thị Xơ ở Thái Bình. Bức thư kì lạ ấy đã được nhắc đến nhiều khi ngày tháng đề trên bức thư cách ngày anh Huỳnh hy sinh đến 3 tháng.

Vậy mà trong lá thư ấy, anh hướng dẫn cho vợ mình ngày hòa bình, hãy vào Quảng Trị để tìm mộ của anh chính xác như tất cả những gì anh dự báo.

Nhưng vượt lên những tiên cảm về sự hy sinh, điều đọng lại trong bức thư vẫn là niềm nhắc nhớ ấy: khi được sống hòa bình hãy nhớ đến anh, đến những người lính đồng đội của anh.

Sinh ra ở một đất nước mà mỗi trang sử đều được viết bằng máu của những người dân dài qua hàng chục thế kỷ, liên tiếp những cuộc chiến tranh vệ quốc.

Từ hàng ngàn năm trước,trang huyền sử Thánh Gióng ba tuổi đã phải vươn vai thành người khổng lồ để chống giặc Ân, rồi khi không còn huyền sử, hết Hán, rồi nhà Đường - Tống - Nguyên - Minh - Thanh… tất cả đều in bóng rõ ràng lên từng trang lịch sử.

Tuổi thơ học trò nào không từng dùng các trích đoạn lịch sử ấy để thực hiện các bài ngoại khóa về cờ lau Đinh Bộ Lĩnh, về trái cam Trần Quốc Toản.

Với một lịch sử như thế, nên chuyện ra trận khi Tổ quốc gọi tên là chuyện hết sức bình thường với người lính. Chỉ không bình thường nếu như sự hy sinh đó bị lãng quên.

Không thể phủ nhận lịch sử có những khúc quanh, nhưng lịch sử luôn cần được đối xử sòng phẳng.

Họ tên những người lính hy sinh ngày 17-2-1979 ở Đồn biên phòng Sì Lờ Lầu, 
tỉnh Lai Châu - Ảnh : TIẾN LONG

Nhắc nhớ cho thế hệ sau

Tròn 5 năm trước, dịp kỷ niệm 17-2 năm 2013 ,đại tá Nguyễn Mạnh Hà (Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng Học viện CTQGHCM) nói trên Tuổi Trẻ: "Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất.

Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định.

Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau"

Ngày này, đúng hai năm trước, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến dâng hương ở Nghĩa trang liệt sĩ huyện Trà Lĩnh, nơi an nghỉ của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979.

Trước đó một ngày, ngày 16-2-2016, ông cũng dâng hương ở Nghĩa trang liệt sĩ Lạng Sơn. Sự kiện đó đã mang một thông điệp ấm áp cho những người lính đã ngã xuống cách nay tròn 39 năm trước.

39 năm và mãi mãi về sau, mỗi mùa xuân hoa đào nở, bên hoa đào chúng ta chúc nhau ly rượu mừng, xin đừng quên một mùa hoa đào đã rực đỏ vì thấm máu người lính.

Nén nhang tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới 
Việt - Trung năm 1979 ở đồn biên phòng Sì Lờ Lầu, tỉnh Lai Châu.Ảnh: CÔNG THÀNH

Nén nhang tưởng niệm nhân ngày 17-2

Nén nhang tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 ở đồn biên phòng A Mú Sung, tỉnh Lào Cai - Ảnh: TIẾN LONG

Trong một chuyến đi tác nghiệp bằng xe máy dọc theo đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc từ A Pa Chải đến Móng Cái, nhóm phóng viên, cộng tác viên báo Tuổi Trẻ đã ghé thăm các cán bộ, chiến sĩ các đồn biên phòng và thắp nhang tưởng niệm những người lính ngã xuống, bảo vệ bờ cỏi, quê hương trong cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979.

Họ là những người lính còn rất trẻ, hy sinh ở độ tuổi đôi mươi, tuổi của nhiều ước mơ và hoài bão. Trên các tấm bia, chúng tôi thấy các anh phần lớn hy sinh trong những ngày 17, 18, 19, 20-2-1979 - những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến.

Khoảng 5h-6h sáng ngày 17-2-1979, chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ... 

LÊ ĐỨC DỤC


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến tranh biên giới 1979: Khi bộ đội địa phương VN đối đầu quân chính quy TQ



Lính Trung Quốc cùng sự yểm trợ của xe tăng tấn công vào lãnh thổ Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

(Infonet 17/02/2018) Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam.

Cuộc xâm lược được Bắc Kinh được tiến hành trên hai hướng. Cánh đông do Thượng tướng Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu chỉ huy có 18 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 3 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 6 trung đoàn xe tăng, 2 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Cánh quân này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Cao Bằng và Lạng Sơn.

Cánh tây do Thượng tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), Tư lệnh Đại quân khu Vũ Hán chỉ huy có 10 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 4 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 1 trung đoàn xe tăng, 1 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Lực lượng này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai), Lai Châu của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Hoàng Liên Sơn.

Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Đóng góp vào thế trận phòng thủ chung trên địa bàn 6 tỉnh biên giới còn có các đơn vị binh chủng (pháo cối, ĐKZ, cao xạ, trinh sát, công binh, thông tin, quân y, vận tải) của các BCHQS tỉnh và huyện, thị; lực lượng công an, cảnh sát và đông đảo dân quân, tự vệ ở khắp các làng bản, huyện thị, nông lâm trường và nhà máy xí nghiệp... được tổ chức ở quy mô từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn.

Diễn biến đến ngày 17/2/1979

Từ tháng 1-1979, đối phương bắt đầu ráo riết đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang dọc biên giới. Chỉ trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, phía Trung Quốc đã gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn, khiêu khích cho tới phục kích, giết hại, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất của nhân dân.

Theo số liệu thống kê của lực lượng biên phòng Việt Nam, trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết hại trên 40 dân thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người. Đặc biệt có những vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5km như vụ tập kích trạm gác của dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14/1, có những vụ quy mô lớn như huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng Sơn) ngày 10/2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm, súng cối, ĐKZ... Cùng với đó là hàng chục lần tốp máy bay và tàu thuyền xâm phạm vùng trời, vùng biển của Việt Nam.

Rạng sáng ngày 17/2/1979, pháo binh Trung Quốc bất ngờ khai hỏa bắn phá các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân Việt Nam chính thức bắt đầu.

Trên mặt trận Lai Châu

Trên mặt trận Lai Châu, phía Trung Quốc sử dụng Sư đoàn bộ binh 31 Quân đoàn 11 và Sư đoàn bộ binh 33 địa phương quân Vân Nam, tổ chức thành 2 mũi tiến công. Mũi chủ công đảm nhiệm tiến công Ma Ly Pho, Pa Nậm Cúm vào ngã ba Phong Thổ. Mũi thứ hai tiến công từ Huổi Luông, Pa Tần (Sìn Hồ). Ngoài ra địch còn sử dụng một lực lượng đánh chiếm khu vực bắc Dào San và Mù San (Phong Thổ).

Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Quân khu 2 điều động lực lượng của Trung đoàn 98 Sư đoàn 316 và Trung đoàn 46 Sư đoàn 326 tăng cường cho khu vực phòng thủ Pa Tần. Tại đây chiến sự diễn ra ác liệt, hai bên giành giật từng điểm chốt như ở cao điểm 805, 551 hay 553 bắc Pa Tần. Sau nhiều đợt tiến công liên tục, ngày 3-3, quân Trung Quốc chiếm được Thị trấn Phong Thổ, Pa Tần và đến 5/3 chiếm được Dào San. Đến 10/3 trên mặt trận Lai Châu địch rút về bên kia biên giới.

Trên mặt trận Quảng Ninh

Trên hướng Quảng Ninh, ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc huy động một bộ phận địa phương quân, biên phòng, dân binh của tỉnh Quảng Tây tiến đánh một số trận địa phòng ngự do các đơn vị thuộc Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Trung đoàn 43 và 244 bộ đội địa phương, Đồn biên phòng Pò Hèn… đảm nhiệm ở khu vực Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu), Thán Phún (Hải Ninh) và pháo kích vào Thị xã Móng Cái. Trong các trận tiến công này địch chiếm được bình độ 300, Đồn Pò Hèn và điểm cao 1050 Cao Ba Lanh nhưng đến chiều 19/2 ta phản kích khôi phục lại trận địa 1050.

Ngày 26/2, địch mở đợt tiến công mới nhằm vào khu vực chốt của Trung đoàn 288 Sư đoàn 325B ở điểm cao 1050, 585, đồi Cây Xanh, đồi Không Tên… và ngày 28/2 đánh vào trận địa Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B ở điểm cao 500, 600, 781, đồi Khẩu Hiệu… Các đợt tiến công này đều bị đánh bại.

Ngày 28/2, Tư lệnh Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Ninh do Thiếu tướng Nguyễn Sùng Lãm mới được cử về làm Phó tư lệnh quân khu đứng đầu.

Ngày 1/3, quân Trung Quốc đồng loạt tiến công vào các điểm tựa của Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Tiểu đoàn 130 Bình Liêu, Đồn biên phòng Hoành Mô, Đồng Văn, Móng Cái và Đại đội 6 công an vũ trang… chiếm được đồn Hoành Mô và một phần điểm cao 600 và 781 nhưng bị chặn lại trên các hướng khác.
Ngày 4/3, địch tập trung đánh chiếm điểm cao 1050 nhưng một lần nữa bị đẩy lui với thiệt hại nặng nề. Cũng trong ngày hôm đó Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B phản kích lấy lại điểm cao 600 và 781. Đến đây, mọi nỗ lực tấn công vào tuyến biên giới Quảng Ninh của Trung Quốc đã chính thức bị bẻ gãy.

Ngày 5/3, Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Chiến sự trên hướng Quảng Ninh tạm thời chấm dứt. 

Trên mặt trận Hà Tuyên

Hà Tuyên là hướng phối hợp, địch không tiến công lớn mà chỉ sử dụng Trung đoàn biên phòng 12 và dân binh Tỉnh Vân Nam đánh vào các chốt của ta ở Xã Thượng Phùng, Lũng Làn (Mèo Vạc), Lũng Cú, Ma Ly (Đồng Văn), Nghĩa Thuận (Quản Bạ), Thanh Thủy, Lao Chải (Vị Xuyên), Bản Păng, Bản Máy (Xìn Mần), Na Khê (Yên Minh).

Tại đây bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ đã phối hợp chặn địch. Ngoài ra lực lượng vũ trang Hà Tuyên còn chủ động tổ chức một số trận đánh ngay vào vị trí xuất phát tiến công của đối phương như trận đánh ngày 23/2 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122 vào điểm cao 1875 hoặc trận ngày 25/2 của Tiểu đoàn 1 Mèo Vạc tập kích địch đột nhập Xã Thượng Phùng và tập kích Đồn Hoà Bình.

Từ 4/3, để hỗ trợ cho hai cánh quân trên hướng Hoàng Liên Sơn và Lai Châu, ở Hà Tuyên địch đẩy mạnh các hoạt động tiến công cấp đại đội, tiểu đoàn nhằm vào các đồn biên phòng và các xã biên giới: Ngày 5/3 tiến công đồn Lũng Làn và điểm cao 1379 Phìn Lò (Mèo Vạc), ngày 6 và 7/3 đánh Bản Păng, Bản Máy (Xín Mần); ngày 8 và 9/3 đánh Phó Bảng (Đồng Văn); ngày 11/3 tiến công khu vực Lao Chải (Vị Xuyên); ngày 13/3 tiến công điểm tựa của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122… đều bị đẩy lui.

Đến ngày 14/3 chiến sự tạm dừng. Trong đợt chiến đấu này lực lượng vũ trang Hà Tuyên đã tham gia chiến đấu 61 trận, có 1 cá nhân và 1 đơn vị công an biên phòng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Theo công bố chính thức, trên cả ba mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến 14.000 quân Trung Quốc (trong đó Hà Tuyên tiêu diệt khoảng 1.000 địch), đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch, phá hủy 4 xe tăng và 6 xe quân sự.

(Còn tiếp)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG BÀI QUAN HỌ ĐẶC SẮC NHẤT ĐÓN NĂM MỚI 2018- Đạo diễn: VĂN HỒNG - LƯ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Họ cũng đạt được một vài mục tiêu, nhưng cơ bản là thất bại”



Huỳnh Phan thực hiện 

















VNN -  “Tôi nghĩ việc Trung Quốc tấn công Việt Nam vào ngày 17/2/1979 là một sự kiện lớn, phải giải thích từ nhiều nguyên nhân… Họ cũng đạt được một vài mục tiêu, nhưng cơ bản là thất bại” – TS Vũ Dương Huân.

Nhiều nguyên nhân đằng sau

Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước năm 1975, Trung Quốc liên tục có những động thái làm xấu đi quan hệ giữa hai nước, như cắt giảm viện trợ, thúc đẩy Hoa Kiều Việt Nam hồi hương, hay giúp Khơ-me đỏ Campuchia tiến hành chiến tranh biên giới phía Tây Nam. Như vậy, nguyên nhân sâu xa của việc tấn công Việt Nam ở biên giới phía Bắc đầu năm 1979 có phải là nhằm làm suy yếu một nước Việt Nam thống nhất?

TS Vũ Dương Huân: Tôi nghĩ việc Trung Quốc tấn công Việt Nam vào ngày 17/2/1979 là một sự kiện lớn, phải giải thích từ nhiều nguyên nhân, chứ chỉ đặt vấn đề là để Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia cũng là đúng, nhưng chưa đủ.

Tôi cho rằng, nguyên nhân đầu tiên là quan hệ hai nước lúc này căng thẳng và Việt Nam có nhiều chính sách không phù hợp với mong muốn của Trung Quốc. Trung Quốc muốn khuất phục Việt Nam, muốn Việt Nam phải theo quan điểm, đường lối, chính sách của Trung Quốc, và phụ thuộc vào Trung Quốc. Cho nên có nhiều vấn đề, nhiều việc mà Việt Nam làm, khiến Trung Quốc không hài lòng.  

Thí dụ, thứ nhất, chiến lược của Trung Quốc là tập trung vào tiến hành hiện đại hóa, thực hiện nhiệm vụ 4 điểm hiện đại hóa. Thứ hai là chiến lược đối ngoại của Trung Quốc vẫn coi như Liên Xô và Mỹ là kẻ thù truyền kiếp và nguy hiểm. Thứ ba, Trung Quốc muốn Việt Nam không ảnh hưởng lớn đến Lào và Campuchia ở Đông Dương, không tập hợp lực lượng ở đây. Và trên hết, Trung Quốc không muốn Việt Nam mạnh để hoàn toàn độc lập về đường lối, chủ trương, dẫn đến Việt – Trung kênh về đường lối, chủ trương, và sau đó là lợi ích.

Chiến lược của Việt Nam, sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đã coi Liên Xô là đối tác hợp tác toàn diện, sau này còn nâng lên là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại. Trong khi đó, Trung Quốc coi Liên Xô là kẻ thù, Trung Quốc hòa hoãn với Mỹ lúc ấy để chống Liên Xô. Liên Xô vẫn duy trì lực lượng rất lớn ở Mông Cổ và biên giới Trung Quốc, và Trung Quốc cho rằng đấy là mối đe dọa với họ.

Ngoài chiến lược hợp tác toàn diện với Liên Xô, Việt Nam đồng thời gia tăng quan hệ với khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế), nghĩa là Việt Nam vào khối mà Trung Quốc chống.

Khía cạnh thứ hai về đối ngoại là Trung Quốc đã không muốn Việt Nam thắng lợi ở miền Nam và giải phóng đất nước, vì Việt Nam sẽ mạnh hơn, đồng thời mở rộng ảnh hưởng sang Lào và Campuchia. Chính sách của Trung Quốc sau Hiệp định Geneva năm 1954 là chia cắt bán đảo Đông Dương thành những quốc gia nhỏ - Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, như thế Trung Quốc mới dễ dàng có vai trò chỉ đạo. Trung Quốc cho rằng Việt Nam muốn xây dựng Đông Dương thành khu vực của mình, thành “tiểu bá”, và tuân theo “đại bá” Liên Xô.

Không thể chấp nhận được đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, nên Trung Quốc muốn dạy cho Việt Nam một “bài học”.

Trung Quốc đã không muốn Việt Nam thống nhất đất nước, và năm 1974, lợi dụng tình hình chiến sự của ta, Trung Quốc công khai chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam có nêu lại vấn đề Hoàng Sa?

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tống Bí thư Lê Duẩn tháng 9/1975 và năm 1977, hai bên bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề biên giới lãnh thổ. Ông Lê Duẩn chính thức phê phán Trung Quốc chiếm Hoàng Sa của Việt Nam 1974 và chính thức đặt vấn đề là hai bên cần bàn lại vấn đề Hoàng Sa, nhưng Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ. Hai chuyến thăm đều không có đáp lễ và không có tuyên bố chung, vì hai bên không thống nhất được bất cứ vấn đề gì.

Hơn nữa, trong chuyến thăm đầu, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc, nước có quan hệ thân thiết với Khơ-me Đỏ, giải quyết quan hệ khúc mắc giữa Việt Nam với Campuchia, bởi sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 2/5/1975, Khơ-me Đỏ đã tấn công Việt Nam, đến 10/5/1975 bắt đi 512 người, khiến quan hệ biên giới cực kỳ căng thẳng. Trung Quốc đã lờ đi.

Vậy còn vấn đề nạn kiều, được họ khơi ra từ khi nào?

Chuyện này bùng nổ từ tháng 8/1978, khi Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản, chủ yếu đã động tới người Hoa ở Miền Nam. Hồi đó, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu người Hoa, trong đó khoảng 70-80% ở Sài Gòn, chủ yếu là doanh nghiệp lớn, án ngữ kinh tế miền Nam.

Trung Quốc coi việc cải tạo công thương ở miền Nam là chiến dịch chống lại người Hoa, mà chính sách của Trung Quốc là coi người Hoa ở nước ngoài cũng là người Trung Quốc, phải bảo vệ, ủng hộ, giúp đỡ. Hồi đó, Việt Nam cũng có chính sách yêu cầu người Hoa ở miền Bắc, trở về nước.

Nguyên nhân trực tiếp của việc Trung Quốc tấn công Việt Nam vào đầu năm 1979 có phải là nhằm yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia?

Tôi cho đó là nguyên nhân thứ hai tác động đến quyết định của Trung Quốc.

Ngày 7/1/1979 Việt Nam giải phóng Campuchia, sau hàng loạt hoạt động quân sự trước đó, như cuối 1977 - đầu 1978 Việt Nam chống trả 23 sư đoàn Campuchia tấn công Việt Nam.

Đến 23/12/1978, Việt Nam tấn công giải phóng toàn bộ phía Đông, và đến 7/1/1979 giải phóng Phnom Pênh, lật đổ toàn bộ chính phủ Khmer Đỏ. Đó là cái tát vào mặt Trung Quốc, và Trung Quốc phải “rửa mặt” bằng cách tấn công Việt Nam.

Trung Quốc dùng lực lượng quân sự 30 vạn quân đánh Việt Nam như thế, họ cũng tính toán chiến lược là Việt Nam phải rút lực lượng quân sự ở Campuchia về, bởi ở phía Bắc Việt Nam chỉ có một sư đoàn chủ lực. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho Khmer đỏ chống lại sức ép của Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Còn việc Việt Nam ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô tháng 11/1978 có tác động gì tới quyết định của Trung Quốc tấn công Việt Nam?

Tôi nghĩ quyết định đánh Việt Nam có liên quan tới Hiệp định này nhằm phá sự liên kết, đoàn kết giữa Việt Nam - Liên Xô. Tôi cho đó là nguyên nhân chiến lược, vì Trung Quốc rất ngại khi Liên Xô duy trì khoảng 1 triệu quân ở biên giới Trung Quốc ở Mông Cổ.

Trung Quốc nhiều lần khẳng định đấy là sự đe dọa nguy hiểm với an ninh của nước này, cũng như nhiều lần đề nghị Liên Xô phải rút quân, nhưng Liên Xô cũng không bao giờ chấp nhận. Trung Quốc cho rằng nếu Việt Nam - Liên Xô ngày càng thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn sẽ đe dọa an ninh của họ, bởi phía Bắc là Liên Xô, phía Nam là Việt Nam, và họ bị kẹp hai đầu.

Qua việc tấn công Việt Nam năm 1979, họ sẽ thử phản ứng của Liên Xô. Nếu Liên Xô phản ứng tích cực, Trung Quốc sẽ tính toán được sự đe dọa của Liên Xô.

Chuyên gia nước ngoài nói rằng một trong những nguyên nhân Trung Quốc đánh Việt Nam là thử sức mạnh của quân đội, hòng thúc đẩy chương trình hiện đại hóa quân sự, bởi quân đội Trung Quốc đã không trực tiếp chiến đấu kể từ chiến tranh Triều Tiên năm 1953?

Tôi cho rằng cũng có lý. Quân đội Trung Quốc mấy chục năm không qua chiến đấu, thử thách, đã tỏ ra lạc hậu. Tấn công Việt Nam là để thử sức cái gọi là lực lượng vũ trang Trung Quốc, đồng thời thử vũ khí, chiến thuật, và năng lực quân đội.

Về cơ bản Trung Quốc đã thất bại

Theo ông, khi tấn công Việt Nam, Trung Quốc có dự tính đánh tới đâu không?

Đấy là câu hỏi chính Đặng Tiểu Bình cũng đã khôn ngoan trả lời, ngay sau khi Trung Quốc bắt đầu tấn công Việt Nam, rằng việc đánh Việt Nam bằng hoạt động quân sự là hạn chế về không gian và thời gian. Điều đó có hai cái lợi, là khẳng định rằng Trung Quốc chỉ “dạy bảo” thôi, chứ không thôn tính Việt Nam. Như vậy, phản ứng quốc tế bất lợi cũng đỡ hơn.

Theo ông, qua kênh ngoại giao Việt Nam có biết Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam không? Nhất là khi trước đó Đặng Tiểu Bình tuyên bố là sẽ dạy cho Việt Nam một bài học?

Tôi nghĩ là lúc ấy hầu như không có ai suy luận được, không ai nghĩ là Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam bằng quân sự, vì ta có cái nhận thức từ xưa tới nay là XHCN không có mâu thuẫn đối kháng, không tấn công lẫn nhau. Trên thực tế, sáng 17/2/1979, khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Bộ Ngoại giao mới tập trung làm tuyên bố.

Tại sao khi tấn công Việt Nam, Trung Quốc lại sử dụng quân từ phía Bắc mà không phải ở phía Nam mà có thể là hiểu Việt Nam hơn? Liệu có phải như cựu Tổng Lãnh sự ở Quảng Đông Dương Danh Dy từng kể, một lãnh đạo tỉnh Quảng Đông đã nói với ông rằng "chúng tôi và các ông (Việt Nam) còn gần gũi nhau hơn là phía Bắc (Bắc Kinh)"? Và trên thực tế quân Trung Quốc đã hành động hết sức dã man đối với bộ đội và nhân dân phía Bắc.

Trung Quốc rất giỏi toan tính về vấn đề này. Trung Quốc là một đất nước rộng mênh mông, người phương Bắc là những bộ tộc người khác, còn ở phía Nam họ cũng cùng với Việt Nam nằm trong Bách Việt, từ Nam sông Dương Tử trở lại đây là Bách Việt. Chính vì vậy dân Trung Quốc phía Bắc và phía Nam có sự khác nhau về dân tộc và văn hóa.

Đặng Tiểu Bình rất khôn ngoan khi không dùng người phía Nam, chủ yếu là dân tộc Choang, vốn cùng là dân Bách Việt với người Việt Nam, rất hiểu văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam, để đánh Việt Nam. Họ có thể sẽ không mạnh tay, không dã man như quân phương Bắc. 

Trong cuộc chiến này, phải chăng vì Việt Nam bất ngờ nên đã không có chủ trương tuyên truyền đối ngoại hợp lý?

Không phải. Cuộc chiến này chủ yếu liên quan tới Việt Nam, còn các nước như Campuchia hay Lào im lặng, Liên Xô và các nước XHCN khác tuy xác định Trung Quốc là nước có tư tưởng Đại Hán nhưng họ vẫn công nhận Trung Quốc là nước XHCN. Trong khi đó, Trung quốc đã tranh thủ được sự ủng hộ của các nước ASEAN và phương Tây, đặc biệt là Mỹ, chống lại việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia.

Sau chưa đầy một tháng tấn công Việt Nam, Trung Quốc đã rút lui. Lý do có phải do thất bại nặng nề hay là do e ngại Liên Xô có phản ứng ở biên giới phía Bắc Trung Quốc?

Tôi nghĩ có nhiều nguyên nhân, nhưng đầu tiên cũng phải khẳng định rằng Trung Quốc tấn công Việt Nam bằng quân sự theo lịch trình của họ, bởi họ tuyên bố không thôn tính Việt Nam, và cuộc chiến này hạn chế về mặt không gian và thời gian.  

Lý do thứ hai cũng không thể loại trừ, là thiệt hại của quân đội Trung Quốc vô cùng lớn. Một thống kê sau này cho thấy phía Trung Quốc có 62.000 người chết, thương vong rất nhiều, vũ khí đạn dược nhiều cái lâu không dùng bị thối, lực lượng dân công, hậu cần cũng gặp khó khăn, bởi các phương tiện rất lạc hậu.

Dư luận quốc tế cũng gây sức ép nặng, đòi họ phải rút quân.

Liên Xô đã tuyên bố rằng nếu Trung Quốc dừng kịp thời thì Liên Xô sẽ không can thiệp sâu, mặc dù Liên Xô và Việt Nam có ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có điều 6 là hợp tác quân sự. Đó là nhân tố Trung Quốc phải tính đến, họ cũng ngại nếu can thiệp sâu quá, vượt quá “vạch đỏ” thì Liên Xô có thể tấn công ở phía Bắc, nơi Liên Xô có hơn một triệu quân.

Trước đó, Liên Xô huy động lực lượng quân sự ở mức vừa phải thôi, chủ yếu giúp Việt Nam vận chuyển quân đội từ Campuchia lên biên giới phía Bắc, cung cấp cho Việt Nam vũ khí, quân trang, quân dụng, và đưa cố vấn vào.

Còn một lý do quan trọng nữa, có lẽ là tình báo họ nắm được là chiều 5/3/1979 Việt Nam dự định tổ chức mít tinh tại Nhà hát lớn và công bố Lệnh Tổng động viên. Nhưng sáng 5/3 họ đã rút rồi, nên không có buổi mít tinh ấy nữa. Một khi có lệnh tổng động viên sẽ là vấn đề lớn, thành vấn đề Tổ quốc bị xâm lăng, chứ không còn là vấn đề chiến tranh biên giới nữa.

Trung Quốc có đạt được mục tiêu khi tấn công Việt Nam?

Trung Quốc đã đạt được mục tiêu thử phản ứng của Liên Xô, và biết rằng Liên Xô sẽ không đổ tiền đổ của vào để cứu Việt Nam bằng mọi giá. Mặt khác, qua đây họ kiểm tra lại khả năng quốc phòng, binh lính, hợp đồng tác chiến, và vũ khí của mình, nhận thức được quốc phòng, vũ khí của Trung Quốc quá lạc hậu, chiến thuật, chiến lược quá kém.

Tôi thấy Trung Quốc cũng đạt được một vài mục tiêu, nhưng cơ bản là thất bại.

Thứ nhất, mục tiêu bắt Việt Nam thay đổi chính sách thì ta không thay đổi, vẫn quan hệ chặt chẽ với Liên Xô và vẫn bất đồng quan hệ với Trung Quốc, và bất đồng lợi ích với Trung Quốc trong nhiều vấn đề.

Thứ hai, mục tiêu thứ hai bắt Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, thì tuy Việt Nam có rút bớt quân khỏi Campuchia, nhưng điều đó không tạo ra so sánh lực lượng ở chiến trường Campuchia có lợi cho Khơ me đỏ. Như vậy cũng không đạt yêu cầu.

Thứ ba là vấn đề đánh để giãn đồng minh chiến lược Việt Nam - Liên Xô cũng không đạt yêu cầu.

Xin cảm ơn ông đã chia sẻ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà nước giám sát của Trung Quốc đe dọa từng người dân


Anna Mitchell – Larry Diamond
Phạm Nguyên Trường dịch

Trung Quốc đang hoàn thiện mạng lưới gián điệp kỹ thuật số cực kì rộng lớn, coi đấy là phương tiện kiểm soát xã hội – đang gây ra những ảnh hưởng đối với chế độ dân chủ trên toàn cầu.


Một camera an ninh được gắn trước bức chân dung của cựu Chủ tịch Trung Quốc - ông Mao Trạch Đông nằm trên Quảng trường Thiên An Môn của Bắc Kinh, vào ngày 19 tháng 5 năm 2017.

Hãy tưởng tượng một xã hội, trong đó bạn bị chính phủ đánh giá về mức độ độ đáng tin của bạn. “Điểm số công dân” của bạn đồng hành cùng bạn mọi lúc, mọi nơi. Điểm số cao cho phép bạn truy cập vào dịch vụ internet tốc độ cao hơn hoặc được cấp chiếu khán tới châu Âu nhanh chóng hơn. Nhưng nếu bạn đăng trực tuyến những bài viết mang tính chính trị mà chưa được phép, hoặc chưa hỏi hay trái ngược với quan điểm của chính phủ về những sự kiện đang diễn ra, thì điểm số của bạn sẽ giảm. Để tính toán điểm số, các công ty tư nhân làm việc cho chính phủ liên tục rà soát số lượng lớn các phương tiện truyền thông xã hội và dữ liệu mua sắm trực tuyến của bạn.

Vừa bước chân ra ngoài là hành động của bạn liền bị đưa vào mạng lưới săn lùng tội phạm: Bằng các Video Camera đặt trên từng con phố và khắp thành phố, chính phủ thu thập một lượng thông tin khổng lồ. Nếu bạn phạm tôi - hay chỉ đơn giản là qua đường một cách thiếu thận trọng – chương trình nhận dạng sẽ so sánh khuôn mặt của bạn với ảnh của bạn trong cơ sở dữ liệu căn cước công dân quốc gia. Chẳng bao lâu sau cảnh sát sẽ xuất hiện trước cửa nhà bạn.

Đây dường như là xã hội không-tưởng-đen (dystopia), nhưng nó không ở qúa xa: Đấy có thể là Trung Quốc trong vài năm tới. Nước này đang chạy đua để trở thành nước đầu tiên áp dụng hệ thống giám sát thuật toán rộng khắp. Sử dụng những tiến bộ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, khai thác và lưu trữ dữ liệu nhằm xây dựng hồ sơ chi tiết về tất cả các công dân, nhà nước cộng sản Trung Quốc tính “điểm công dân” nhằm khuyến khích những hành vi “tốt”. Mạng lưới camera giám sát khổng lồ sẽ liên tục theo dõi việc đi lại của người dân, được cho là sẽ làm giảm tội ác và nạn khủng bố. Trong khi con mắt theo dõi mở trừng trừng theo kiểu Orwell (ý nói đôi mắt theo dõi trong tác phẩm 1984 của Orwell – ND) có thể cải thiện “mức độ an ninh công cộng”, nó cũng là mối đe dọa lạnh lùng đối với các quyền tự do dân sự ở đất nước với một trong những chính phủ áp chế và kiểm soát gay gắt nhất thế giới.

Hệ thống giám sát kĩ thuật số đang phát triển của Trung Quốc sẽ dựa vào các cơ quan an ninh của đảng cộng sản để lọc, thu thập và phân tích một số lượng dữ liệu có thể làm người ta choáng váng, được truyền qua internet. Để biện hộ cho các biện pháp kiểm soát nhân danh an ninh quốc gia và ổn định xã hội, ban đầu Trung Quốc dự định phát triển hệ thống giám sát “Golden Shield”, tạo điều kiện cho các cơ quan an ninh dễ dàng truy cập vào hồ sơ của từng công dân được thu thập tại địa phương, khu vực và trên toàn quốc. Dự án đầy tham vọng này chủ yếu tập trung vào Vạn lý Hỏa thành (Great Firewall), mục tiêu là ngăn chặn các trang web của nước ngoài, trong đó có Google, Facebook và The New York Times. Theo Freedom House, Trung Quốc là nước có mức độ tự do internet thấp nhất thế giới. Giờ đây, cuối cùng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng được hệ thống thu thập dữ liệu đa dạng, phong phú mà họ đã mơ ước trong suốt hàng chục năm.

Trong khi chính phủ Trung Quốc từng kiểm tra kỹ lưỡng bằng chứng về sự phản bội chế độ của từng công dân trong suốt một thời gian dài, thì bây giờ họ mới bắt đầu xây dựng bộ hồ sơ toàn diện, liên tục được cập nhật và chi tiết về quan điểm chính trị, những lời bình luận, giao thiệp của từng công dân và thậm chí là thói quen của người tiêu dùng nữa. Hệ thống về mức độ tin cậy xã hội đang được phát triển sẽ hợp nhất các hồ sơ từ các công ty tư nhân và các cơ quan chính phủ vào “điểm số công dân” duy nhất cho từng người dân Trung Quốc. Trong kế hoạch tổng thể năm 2014, Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra mục tiêu là “giữ vững niềm tin và những ràng buộc nhằm chống lại việc phá hoại niềm tin”. Mặc dù, hiện nay, đây là hệ thống tự nguyện, nhưng năm 2020 nó sẽ trở thành bắt buộc. Hiện 100.000 người Trung Quốc đã đăng điểm số cao trên mạng xã hội “Sesame Credit” do Alibaba điều hành – đây là mạng tiên phong trong khu vực tư nhân sẽ kết nối với hệ thống của chính phủ. Tập đoàn thương mại điện tử khổng lồ này tuyên bố rằng ứng dụng của họ chỉ theo dõi hoạt động tài chính và tín dụng của người sử dụng, nhưng hứa sẽ có “đánh giá toàn diện về người sử dụng”. Không khó tưởng tượng rằng chẳng bao lâu nữa nhiều người Trung Quốc sẽ khoe khoang về điểm số của mình.

Mặc dù vẫn chưa rõ, những dữ liệu nào sẽ được xem xét, nhưng các nhà bình luận đã bàn rằng phạm vi của hệ thống sẽ rộng lớn đến mức có thể làm người ta lo ngại. Điểm “mức độ tin cậy của công dân” có khả năng ​​sẽ cân nhắc nhiều dữ liệu hơn hẳn điểm số Fico ở phương Tây, tức là điểm số giúp những người cho vay đưa ra quyết định nhanh chóng và đáng tin về việc có cho vay thêm hay không. Trong khi hệ thống Fico chỉ đơn giản là theo dõi xem bạn đã trả nợ và có quản lý hiệu quả vốn liếng của mình hay không, thì các chuyên gia về Trung Quốc và chuyên gia về quyền riêng tư trên Internet nói rằng - dựa trên số lượng lớn các dữ liệu về mua sắm trực tuyến do chính phủ khai thác được, mà không thèm quan tâm tới quyền riêng tư của người tiêu dùng – điểm số tin cậy của bạn có thể gia tăng nếu bạn mua món hàng mà chế độ thích – ví dụ, tã lót và giảm nếu bạn mua những thứ mà chế độ không thích, như trò chơi điện tử hay rượu. Ngoài lĩnh vực mua sắm trực tuyến, việc tham gia vào chính trị của bạn cũng có thể có ảnh hưởng lớn đến điểm số của bạn: Đăng các ý kiến ​​chính trị mà chưa được phép hay đưa những tin tức chính xác, nhưng chính phủ Trung Quốc không thích, có thể làm giảm điểm của bạn.

Đáng lo ngại hơn nữa là, về mặt kĩ thuật, chính phủ sẽ có thể cân nhắc hành vi của những người bạn và người thân của công dân Trung Quốc trong khi cho điểm họ. Ví dụ, một bài viết mang tính chống chính phủ về mặt chính trị của người bạn của bạn có thể làm giảm điểm của chính bạn. Do đó, hệ thống chấm điểm có thể cô lập các nhà bất đồng chính kiến, không cho họ tiếp xúc với bạn bè và phần còn lại của xã hội, biến họ thành những người sống bên lề xã hội. Điểm của bạn thậm chí có thể quyết định quyền tiếp cận của bạn đối với một số quyền lợi mà ở Mỹ được coi là đương nhiên, ví dụ, chiếu khán để đi du lịch ra nước ngoài hay thậm chí là quyền đi lại bằng tàu hỏa hoặc máy bay ở trong nước. Một chuyên gia về bảo mật Internet cảnh báo: “Việc Trung Quốc đang làm là giáo dục theo lối chọn lọc dân chúng để họ phản ứng tiêu cực đối với tư duy mang tính phê phán và độc lập”.

Trong lúc người phương Tây và đặc biệt là các nhóm ủng hộ quyền tự do dân sự như ACLU (American Civil Liberties Union – Liên minh bảo vệ quyền tự do dân sự Mỹ) cảm thấy choáng váng trước viễn cảnh đó – một nhà bình luận gọi khả năng này là “chủ nghĩa độc tài, đã biến thành trò chơi” – một số người khác thì khẳng định rằng, thiếu vắng niềm tin là vấn đề nghiêm trọng ở Trung Quốc, cho nên nhiều người Trung Quốc hoan nghênh hệ thống này. Tuy nhiên, hệ thống giám sát trên cơ sở dữ liệu, do nhà nước điều hành, được Đảng khuyến khích, đặt ra trước phương Tây những vấn đề sâu sắc về vai trò của các công ty tư nhân trong việc giám sát của chính phủ. Việc các công ty tư nhân giúp đỡ trong việc giám sát quần chúng và chuyển dữ liệu của họ cho chính phủ có phải là hành động đạo đức hay không? Alibaba (công ty Trung Quốc tương tự như Amazon) và Tencent (chủ sở hữu chương trình tin nhắn WeChat được nhiều người sử dụng) có dữ liệu về từng người Trung Quốc mà chính phủ sẽ khai thác để tính điểm. Mặc dù hiện nay người ta đã yêu cầu các công ty Trung Quốc giúp đỡ trong việc theo dõi, còn các công ty Mỹ thì không, nhưng có thể tưởng tượng Amazon nằm ở vị trí của Alibaba, hay Facebook ở vị trí của Tencent. Mặc dù các công ty tư nhân, như các văn phòng chấm điểm tín dụng, luôn sử dụng dữ liệu nhằm đánh giá mức độ tin cậy của người tiêu dùng, trong những xã hội tử tế người ta phải phân biệt rõ giữa cơ chế chấm điểm của khu vực tư nhân và khu vực công, tức là khu vực có thể quyết định quyền tiếp cận các quyền và các đặc quyền của công dân.

Hệ thống đánh giá độ tin cậy dựa trên dữ liệu chỉ là một mặt của hệ thống giám sát kĩ thuật số đang phát triển nhanh chóng ở Trung Quốc. Mạng lưới khác: dựa vào công nghệ đang mở rộng khắp nơi, đặc biệt là các camera giám sát, để theo dõi việc đi lại của người dân. Năm 2015, lực lượng cảnh sát quốc gia Trung Quốc - Bộ Công an - đã kêu gọi thành lập “mạng lưới giám sát video quốc gia có mặt khắp nơi, kết nối liên hoàn, lúc nào cũng nằm dưới quyền kiểm soát”. Bộ công an và các cơ quan khác tuyên bố rằng lực lượng thực thi pháp luật phải sử dụng công nghệ nhận dạng nét mặt, kết hợp với các máy quay video để bắt những người vi phạm pháp luật. Theo ước tính của IHS Markit (Information Handling Services Markit – công ty chuyên cung cấp thông thin và phân tích), hiện Trung Quốc có 176 triệu camera, kế hoạch là năm 2020 sẽ có 450 triệu chiếc được lắp đặt khắp nôi. Theo Văn phòng An toàn Công cộng Bắc Kinh (Beijing Public Safety Bureau), 100% dân chúng Bắc Kinh hiện đã nằm trong tầm giám sát của hệ thống camera này.

Mục tiêu đề ra của hệ thống này là bắt và ngăn chặn bọn tội phạm. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những nguy cơ to lớn và hiển nhiên đối với quyền riêng tư và một ít quyền tự do mà công dân Trung Quốc đã giành được từ thời Mao. Hình phạt đối với các tội ác nhỏ dường như không hợp lý: Các nhà chức trách ở Phúc Châu công bố trên các phương tiện truyền thông địa phương tên của những người sang đường một cách thiếu thận trong và thậm chí còn gửi cho những người đang thuê họ. Nhưng, đáng lo ngại hơn là những người có quan hệ với các nhà bất đồng chính kiến ​​hoặc những người chỉ trích, tức là người lan truyền những bản kiến ​​nghị hay tung ra biểu tượng phản đối hay chỉ đơn giản là vô tình có mặt tại địa điểm và thời điểm không nên có mặt ớ đó, cũng bị trừng phạt. Do đó, việc cài đặt giúp chính phủ bộ máy có thể nhìn thấy hết làm cho những người bảo vệ quyền tự do dân sự và quyền riêng tư trên toàn thế giới lo ngại. Chính phủ Trung Quốc đã thường xuyên theo dõi điện thoại di động và các phương tiện truyền thông xã hội của các nhà hoạt động nhân quyền nhân danh “giữ vững ổn định”. Hệ thống giám sát bằng video sẽ cho phép giám sát một cách sâu rộng và triệt để hơn nữa. Đưa công khai những đoạn băng lên mạng đe doạ quyền riêng tư của mọi người dân: Một người hàng xóm bận rộn có thể dễ dàng theo dõi các hoạt động của gia đình bên cạnh khi họ làm việc vặt hoặc đi nghỉ.

Các thí nghiệm của Trung Quốc với việc giám sát công nghệ số tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng mới đối với tự do ngôn luận trên internet và các quyền con người khác ở Trung Quốc. Ngày càng có nhiều công dân phải kiềm chế việc thể hiện một cách độc lập hoặc phê phán vì sợ dữ liệu hoặc việc đi lại của mình bị chính phủ ghi lại và trừng phạt. Và đó chính là mục đích của chương trình này. Hơn nữa, những hiện tượng xuất hiện ở Trung Quốc sẽ không chỉ nằm mãi ở Trung Quốc. Công nghệ đàn áp của nước này có thể lan sang các chế độ độc tài khác trên khắp thế giới. Vì thế – chưa nói tới sự lo lắng cho hàng trăm triệu người ở Trung Quốc mà quyền tự do ít ỏi của họ sẽ bị teo đi - các chế độ dân chủ trên toàn thế giới phải theo dõi và tố cáo những hành động nham hiểm đang trượt dần tới cái thế giới mà Orwell đã mô tả.

Anna Mitchell là nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu ở Stanford University.

Larry Diamond là công tác viên cao cấp ở Hoover Institution và ở Stanford University.

Đã đăng trên http://www.vietnamthoibao.org/2018/02/vntb-nha-nuoc-giam-sat-cua-trung-quoc-e.html

Nguồn: https://www.theatlantic.com/international/archive/2018/02/china-surveillance/552203/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nở rộ dịch vụ nhổ lông gà, vịt thuê và... Thu thuế


Đọc giải trí. 

Đi qua chợ Tết thấy các gia đình vặt lông gà lông vịt rất nhanh, rất gọn và hoàn toàn không có tiếng ồn. Đúng là những thiên tài chỉ có ở nước Việt thời văn minh xã hội chủ nghĩa. Sau Tết, nhà nước nên thuê những chuyên gia vặt lông gà lông vịt này làm cán bộ thu thuế, đảm bảo ngân sách sẽ bội thu trong khi người dân vẫn vui vẻ, hạnh phúc và càng tin tưởng không cần suy nghĩ gì, mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo.

Dịch vụ nhổ lông gà, vịt thuê dịp Tết hút khách
TPO - Hai ngày cận Tết, dịch vụ nhổ lông gà thuê ở tỉnh biên giới Lạng Sơn nở rộ. Mỗi con, tiền công mất 30 ngàn đồng, khách vẫn chờ đợi để được thuê nhổ lông, làm lòng.
Nhộn nhịp dịch vụ nhổ lông gà thuê ở chợ Chi Lăng *ảnh: Duy Chiến
Sáng nay (15/2, tức 30 tết âm lịch); chị Chi huy động 4 người thân trong gia đình đến góc chợ Chi Lăng (phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn) làm dịch vụ giết mổ, làm lòng gà, vịt cho khách. Mỗi con trung bình 30 ngàn đồng tiền công; vịt 45 ngàn/con; gà Đông Tảo 60 ngàn/con.

Rất đông người chờ đợi đến lượt lấy lại gà. Theo chị Chi, trung bình mỗi nhà 3,4 con nên dù làm việc cật lực cũng khó có thể đáp ứng hết nhu cầu của khách. Đến qua giờ Ngọ (12 giờ trưa hôm nay), chị sẽ dừng không nhận thêm của khách.

Chợ chi Lăng có gần chục người làm công việc nhổ lông gà. Các khu chợ khác ở TP Lạng Sơn như: Chợ Giếng Vuông, Chợ Đông Kinh, Kỳ Lừa cũng có gần 100 người làm dịch vụ nhổ lông, làm lòng gà, vịt thuê. Mỗi người kiếm tiền triệu trong ngày này.

Gia đình chị Chi huy động 4 người tham gia công việc nhổ, làm lòng gà *ảnh: Duy Chiến

Con gà Đông Tảo này có giá công dịch vu 60 ngàn đồng/con *ảnh: Duy Chiến

NGUYỄN DUY CHIẾN
https://www.tienphong.vn/kinh-te/dich-vu-nho-long-ga-vit-thue-dip-tet-hut-khach-1242658.tpo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

tháng giêng ở miền cao


 
tháng giêng
mùa chạm khắc tình nhân lên cầu thang gỗ
hơi thở em dài như ngôi nhà
bầu vú thơm rỉ nhựa
 
tháng giêng trên cánh đồng đất vỡ
những con chim ca hát lúc ban mai
bài hát câm đến khi mặt trời mọc
 
tháng giêng giọng nói bên trong vỏ hạt nứt
đàn kiến thợ đi qua rừng tìm thấy cành lá làm tổ
các nấm mối, bụi rậm, các hòn đá dường như đã hồi sinh
 
tháng giêng màu xanh mới lên tuổi
thị trấn có một trăm năm mươi ngày mưa và một chiếc còi hụ báo giờ
ngày lạnh nhất những cây thông trên đỉnh đồi nghiêng mình gần nhau
 
tháng giêng chạm vào ly còn ấm
em cũng vậy nhảy nhót như chuông gióng sớm ở thánh đường
tấm điện tín mùi mùa đông
 
tháng giêng nheo mắt dưới bóng cây
tiếng gầm gừ của rắn
bầy se sẻ đang đổ bộ lên thềm
và thảm lá non xoá tôi biến mất
 
 
 
-----------------------


Phần nhận xét hiển thị trên trang