Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

BÌNH LUẬN VỀ TÁO QUÂN TẾT VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH CỦA VTV




Luân Lê

TÁO MÒN

Năm nay thực ra có một chút thay đổi về cách trình diễn nhưng về cơ bản thì nội dung và khung chương trình vẫn như cũ: kể ra các hậu quả yếu kém, những thứ thiệt hại, những bất cập và tồn tại trong mọi ngành, nghề và lĩnh vực. Và nó vẫn không có bất cứ giải pháp gì ngoài mấy lời khuyên bảo là từ giờ không như vậy nữa. Chấm hết.


Ở đó, vị Ngọc Hoàng vẫn là vị “to nhất” trên thiên đình. Ở đó vẫn chỉ có vị trí độc tôn quyền lực. Và ở đó vẫn chỉ có những câu nói sáo rỗng, vô hồn và vô dạng đối với những trò lố của các Táo. Chẳng ai phải chịu trách nhiệm, từ người có nghĩa vụ và chức phận đối với việc quản lý, đến người đứng đầu thiên đình. Có vẻ như tất cả đều vô can và không có bất kể phương án hay chế tài nào được đưa ra giải quyết hoặc xử lý. Tất cả đâu lại đóng đó. Người dân vẫn gánh chịu mọi biến cố, hậu quả, nhưng thiên đình thì là một sân khấu tuồng, chèo, tố nhau qua lại, bẩm báo lố bịch, rồi nhân dân dưới hạ giới vẫn nhận tất thảy những “12 cái nút áo”, “chiếc cánh giả gãy rời”, “sợi dây kinh nghiệm rút mãi không hết” hay “đường giao thông bé như sợi tóc”.

Ở đó, vẫn là một triều đình rối loạn, lên án và cứ để đó năm này qua năm khác, không năm nào hậu quả giống năm nào. Và sẽ ra sao nếu ông to nhất thiên đình trở nên tồi bại, kém trí hay vô đạo? Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu người này, với vị thế lớn như vậy, lại không gì kiểm soát và có thể thay thế? Tại sao vị to nhất không phải là nhân dân? Tại sao lại có một triều đình để bàn luận về những vấn đề của một xã hội trong lòng quốc gia mà vô phương cách cứu chữa?

Vậy, giá trị một tác phẩm nghệ thuật là ở đâu, nếu không thể thức tỉnh dân chúng, không có giải pháp thiết thực hay chí ít là đem lại tiếng nói của người dân bằng việc đòi hỏi phải có những áp lực, sự chịu trách nhiệm?

Táo quân, chỉ khiến cho những con người bế tắc trong đời thường, tìm lấy sự cảm thông và được chia sẻ những nỗi bức xúc, phẫn uất dồn nén, tìm đến như một sự trút bỏ. Và họ được chính cái triều đình bấn loạn cai trị ấy ban thưởng cho những tràng cười nhạt nhẽo, bi kịch mà họ chính là những người đang thừa hưởng và gánh chịu những thứ bất công ấy.

Điều lố bịch hơn nữa ở Táo quân năm nay, đó là việc, họ đổ lỗi khá nhiều cho mạng xã hội. Trong khi, những bất công và tiêu cực ở lĩnh vực nào cũng có và cũng lớn (thông qua các Táo báo cáo). Vậy những bất công ấy ở mạng xã hội mà ra? Hay chỉ từ khi có mạng xã hội thì nhiều sự thật mới được phơi bày, nhiễu nỗi oan khuất mới được minh giải, nhiều những khổ đau bị che khuất mới được bộc lộ? Bất công có từ sau khi mạng xã hội trở thành một phương tiện thông tin hữu ích hay từ trước khi nó tồn tại? Mạng xã hội chỉ là một phương tiện, và người ta không thể đổ lỗi cho phương tiện một khi những con người không đủ nhận thức, sự giáo dục và cả luật pháp kiểm soát hữu ích sử dụng nó.

Và cũng cần phải nói thêm, tại sao một số hình ảnh tốt của những viên chức công quyền lại ít được chia sẻ và biểu dương? Đơn giản ở hai lẽ, một là những thứ xấu xí quá nhiều trong xã hội, đến mức người ta không còn muốn hoặc có đủ thời gian để nghĩ về những điều tốt. Hai là, người ta đã trở nên nghi ngờ những thứ tốt đẹp, họ không còn đủ niềm tin vào những điều đó là trung thực khi mà họ thấy quá nhiều sự dối trá quanh mình và ở mọi nơi, mọi lúc. Hơn nữa, việc làm vài việc được cho là tốt, đáng ra đó là những việc làm đương nhiên của một con người trong một xã hội nếu có đầy đủ sự giáo dục, văn minh và nhân bản, vậy cần gì phải biểu dương những giá trị bình thường của một xã hội bình thường và đúng mực (?). Đó là điều mới cần phải bàn và đáng phải lo cho một xã hội hơn là đặt câu hỏi như là một hệ quả tất yếu của xã hội không còn lòng tin và điều tử tế dành cho nhau.

Đổ lỗi cho xã hội hoặc phương tiện nào đó thực rất dễ dàng và ai cũng sẽ vô can. Nhưng nhìn vào bản chất cũng như cội rễ vấn đề để nói lên và đưa ra những giải pháp thay đổi tốt hơn lên đó mới là giá trị của một tác phẩm nghệ thuật thực thụ. Chứ không phải nó chỉ đơn giản là liều moóc phin để người ta quên mất cơn đau và cái chết đang cận kề trong chính mình.
_________________

Nguyễn Việt Chiến

CHIỀU 30 TẾT TẤT NIÊN CHIẾU PHIM TẦU TRÊN VTV3 CÓ VÔ CHÍNH TRỊ?

Đang soạn cơm cúng tất niên chiều 30 Tết cả gia đình xum họp trong cái tết dân tộc, ngước mắt nhìn lên VTV3 thấy họ chiếu phim Tầu lúc 18 giờ 41 tối. Bà vợ lẩm bẩm: bọn vô chính trị, sao không chiếu phim Việt, phim về làng quê Việt ngày tết khi bao nhiêu gia đình cả nước đang cúng tất niên mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ...về chứng giám ngày tất niên, đúng là bọn vô văn hoá rồi vô chính trị...

Cả nước đang cúng tất niên
Phim Tầu nó chiếu có điên không à.






Đặng Tiến

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

Sau giao thừa, Vô tuyến đang có chương trình rất hay về Tiếng Việt!
Ngôn từ là bằng chứng sống động nhất cho văn hóa của một cộng đồng!
Tiếng Việt đủ giàu có, đủ chính xác, đủ tinh tế để cho chúng ta bày tỏ tất cả những gì cần bày tỏ!

Năm mới, cầu mong tất cả chúng ta ai ai cũng thành công trong việc Nghe người khác Nói và Nói để người khác Nghe.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Con đầu đàn "suy tưởng"


HOÀNG HẢI VÂN





















Từ những gì mà bạn quan sát khi nuôi chó, bạn có thể nhận ra rằng : Nếu con chó thân thiện với bạn, nó nghĩ bạn là một con chó tử tế. Nếu con chó trung thành với bạn, nó nghĩ bạn là con chó đầu đàn.

1. Tôi nuôi một đàn chó Phú Quốc, giờ đã lên tới 30 con. Chúng sống với tôi trong vườn, như những người thân yêu của một gia đình. Chúng mang đến cho tôi cảm giác an lành, cái cảm giác tôi chưa từng biết trước khi nuôi chó. Người ta bảo chó Phú Quốc là quốc khuyển, là loài chó không thua kém bất cứ loài chó quý nào trên thế giới, thậm chí còn nổi trội hơn. Nhưng tôi không tự hào về điều đó, tôi tự hào về chúng chỉ vì chúng là những đứa con thân yêu của tôi mà thôi. Đối với tôi, bất cứ con chó nào, dù là chó Phú Quốc hay giống chó khác, đều là những con chó kỳ diệu.

Sống với đám chó và nuôi dạy chúng, tôi ngày càng nhận ra sự thật này : Những con chó dạy cho tôi nhiều điều hơn là tôi dạy chúng. Tôi viết “Ký sự Người nuôi chó” đã đăng trên Báo Thanh Niên 35 kỳ, nhưng những gì có thể viết về chúng là gần như vô tận, vì mỗi ngày qua đi chúng đều mang đến cho tôi những điều mới mẻ. Hãy tin tôi đi, những con chó không bao giờ đem đến cho bạn sự nhàm chán.

Những con chó hàng ngày nghĩ gì chúng ta không biết được và đừng cố biết mất công. Đừng ngạo mạn cho rằng chỉ có con người mới tư duy. Chỉ đơn giản là tư duy của con người không thâu tóm được tư duy của con chó. Nhưng từ những gì mà bạn quan sát khi nuôi chó, bạn có thể nhận ra rằng : Nếu con chó thân thiện với bạn, nó nghĩ bạn là một con chó tử tế. Nếu con chó trung thành với bạn, nó nghĩ bạn là con chó đầu đàn.

Tôi tâm đắc với triết lý của Cesar Millan, người dạy chó lừng danh thế giới. Ông bảo, bạn không nên nghĩ mình là chủ của những con chó, mà trước hết phải trở thành bạn của nó và trở thành một con đầu đàn (leader of pack). Điều đó có nghĩa là, muốn nuôi chó, trước hết bạn phải trở thành một con chó trong mắt của nó và khi nào nó nghĩ bạn là một con chó đầu đàn thì việc nuôi chó của bạn mới thành công. Trên thế giới có những con chó nổi tiếng lấy không biết bao nhiêu là nước mắt của nhân loại. Người ta tôn vinh ca ngợi chúng, nhưng ít ai để ý rằng đằng sau những con chó kỳ diệu đó là những “con đầu đàn” không tiếng tăm, đó là những người nuôi chúng.

2. Theo kinh nghiệm của tôi thì dạy chó khó hơn dạy người. Mỗi con người vốn là một cá nhân tự do tồn tại riêng biệt không ai giống ai. Thoạt kỳ thủy dạy người là dạy từng cá thể riêng biệt, không phải dạy cho một đám đông được tập hợp lại. Nhưng dần dần nhân loại tự nhào nặn mình theo những chuẩn mực của đám đông, mỗi người không tự sống với sự riêng tư của mình mà sống theo yêu cầu của đám đông, từ đó con người đánh mất bản sắc, trở thành “muôn người như một”. Ngày nay giáo dục 1 triệu người không khác bao nhiêu với giáo dục 1 người, một giáo trình áp dụng cho đồng loạt bất chấp cá tính. Các chính khách gộp mọi người lại thành “công chúng”, các nhà quảng cáo gộp mọi người lại thành “người tiêu dùng”, truyền thông gộp mọi người lại thành “độc giả”, “khán giả”, “thính giả”. Một bộ phận con người biến thành kẻ hám danh, hám lợi với những đặc điểm giống nhau. Kẻ hám danh có thể dùng danh để sai khiến, người hám lợi có thề dùng lợi đế điều khiển. Đối với con chó thì hoàn toàn khác.

30 con chó của tôi mỗi con là một cá thể riêng biệt không bị nhào nặn thành một tập thể. Không có một phương pháp chung cho 30 con mà mỗi con áp dụng một cách dạy riêng. Con chó không hám danh nên không thể dùng danh để động viên nó phấn đấu thăng tiến làm quan hay thi hoa hậu. Nó đương nhiên cần miếng ăn, nhưng trong việc ăn nó tri túc hơn là con người. Nó không tích lũy lương thực, không tàn sát các sinh linh khác để phơi khô, làm mắm hay đóng hộp. Đừng tưởng con chó ham ăn mà có thể dùng miếng ăn để dạy nó. Lấy miếng ăn dạy chó là sai lầm tệ hại, cách đó chỉ có thể dạy được cách đi đứng nằm ngồi bò lết, là những hành vi nô lệ. Dùng miếng ăn để dạy chó, con chó có thể thực hiện nghiêm túc các hành vi nô lệ đó, nhưng nó nhất định không thực hiện các hành vi cao cả. Hành vi cao cả con chó chỉ dành cho những ai thương yêu thông hiểu nó.

Bất cứ con chó nào cũng có hành vi cao cả, nếu như người nuôi nó yêu thương thông hiểu nó. Đó là điều diễn ra tự nhiên, là sự đáp trả tự nhiên không cần dạy, không cần “huấn luyện” và không dạy được, không “huấn luyện” được.

3. Hầu hết các vật nuôi ngày nay đều được con người thuần hóa từ cuộc cách mạng nông nghiệp đầu tiên, riêng con chó thì đã về sống với con người ngay từ thời kỳ hái lượm. Từ đó, số phận con chó gắn chặt với con người, hầu như không thể trở về với hoang dã được nữa.

Thân phận của từng con chó không phụ thuộc vào thân phận của người nuôi, mà phụ thuộc vào phẩm hạnh của mỗi chúng ta. Nhiều con chó may mắn được sống với những người tử tế và có vô số những con chó bất hạnh khi phải sống với những kẻ ác độc. Con chó không những không chọn cửa để sinh ra mà còn không chọn cửa để đi đến. Khi một con chó đã ở với bạn, nó không bao giờ rời xa bạn, dù bạn có coi nó là thành viên của gia đình hay bị bạn ruồng rẩy đánh đập rồi đưa vào nồi rựa mận.

Đối với loài người, sự trung thành là đức tính của các bậc chí nhân quân tử. Còn đối với con chó, sự trung thành là thuộc tính tự nhiên, không có ngoại lệ. Sự phản trắc chỉ có ở thế giới loài người, tuyệt đối không có trong thế giới của loài chó. Thỉnh thoảng truyền thông vẫn đưa tin chỗ này chỗ kia có chó tấn công chủ, tôi có thể cam đoan tất cả những tin tức kia đều thất thiệt, bạn đừng bao giờ tin vào điều đó. Chỉ xin lưu ý rằng, con chó không coi những người bỏ tiền ra mua nó về là chủ, nó chỉ coi người sống với nó, cho nó ăn hàng ngày là chủ thôi. Đừng nghĩ rằng con chó “ngu trung”. Không nên đem đạo lý của con người quy chiếu vào con chó mà chỉ nên suy tưởng về đạo lý làm người.

Sống dính chặt với loài người suốt mấy chục vạn năm nay, loài chó chịu rủi ro nhiều hơn là may mắn, nhưng chúng vẫn giữ được sự hồn nhiên thiên bẩm, không dính mắc vào sự thị phi của con người. Hàng chục triệu con chó mỗi năm bị đưa vào lò mổ, như hàng chục triệu lần Đức Ki-tô thị hiện chịu đóng đinh trên thập giá, để bao dung chúng ta, để cứu rỗi chúng ta, nhưng chúng ta vẫn u mê không thức tỉnh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM


Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Nam Phong.


Phạm Quỳnh

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Lâm Khang.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.


(1930)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xuân thắm người tươi


Xin chữ đầu năm

Bên cạnh ông Đồ, còn có bà Đồ
Vẽ tranh trên sứ
Ông Đồ trẻ đang múa bút
Cho em xin một chữ đầu xuân
Áo dài cô Ba xin chữ đầu năm
Du xuân chụp ảnh

Áo dài xúng xính dạo phố chơi xuân

Cô Ba xuống phố
Chụp ảnh đầu xuân
Đẹp dịu dàng áo dài trắng bên mai vàng
Trò chuyện rôm rả
Cung chúc tân xuân

Rực rỡ sắc màu
Rực rỡ sắc màu
Cung chúc tân xuân
Cùng ngắm lại ảnh nào

Trong cái nhộn nhịp, đông đúc của phố phường, mỗi người vẫn có một thế giới riêng của mình


Vẽ chân dung
Ký họa chân dung
Say sưa chụp ảnh
“Nếu biết được lên hình, tui đã mặc đồ khác đẹp hơn” – Chia sẻ của người bán bong bóng

Thanh Thảo 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỜ ĐÓN NĂM MẬU TUẤT


Thái A Trần





DẬU sắp đi qua, TUẤT đến thôi...
Cầu cho trăm họ được AN VUI!
Lũ GÀ BỚI BẾP đang lo CHẠY...
Đàn CHÓ COI KHO vẫn NGỦ vùi!
QUAN ĐỎ vét vơ xây BIỆT PHỦ...
DÂN ĐEN lưu lạc sống CẦM HƠI!
Mong sao LỊCH SỬ sang trang MỚI
Cuộc sống DÂN TA sớm ĐỔI ĐỜI!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÚC MỪNG NĂM MỚI


tet


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gửi chút lòng riêng trong không khí Tết



(Ảnh: viethaingoai.net)
Tết đến, mỗi người mỗi nỗi niềm suy tư. Hãy cùng bước vào thế nội tâm của bạn Nguyễn Hoàng Anh tại Hà Nội với hai bài thơ trải nỗi lòng trong không khí Tết.
Ngày xưa mỗi độ Tết sắp về,
Cùng anh dạo khắp cả chợ quê,
Mua đào, mua quất, xin câu đối
Ríu rít cùng nhau dọc lối về.
Rồi anh sang nhà em giúp mẹ,
Nhanh tay gói hết bánh chưng xanh.
Buổi tối thức cùng trông nồi bánh,
Xiếp cá thơm lừng trong mắt anh.
Rồi anh sang nhà em giúp mẹ. Nhanh tay gói hết bánh chưng xanh. (Ảnh: Honglam.vn)
Đêm 30 Tết đi hái lộc,
Người người chen lấn khắp sân chùa.
Anh nắm tay em cho khỏi lạc,
Mưa xuân rơi nặng lúc Giao thừa…
Mùng một, mình cùng nhau đi lễ,
Cầu chúc cho năm mới an lành.
Rồi cùng bè bạn đi chơi Tết,
Xóm dưới, làng trên khắp quê mình.
Đêm 30 Tết đi hái lộc. Người người chen lấn khắp sân chùa. (Ảnh: Golux.vn)
Không gian ngập tràn trong tiếng pháo,
Người người nô nức đón xuân sang.
Ánh mắt ngập tràn bao cảm xúc,
Đón chào một năm mới an khang…
Thời gian thấm thoát bao mùa cũ,
Cuộc đời đưa đẩy em với anh.
Bây giờ mỗi đứa về một ngả,
Anh có cùng ai dạo chợ xuân?
Ánh mắt ngập tràn bao cảm xúc. Đón chào một năm mới an khang… (Ảnh: Facebook.com)
Ngày Tết bây giờ đơn giản lắm.
Bánh chưng dăm chiếc đặt là xong.
Biết tìm nơi đâu hương cá xiếp,
Câu đối có còn ai đợi mong?
Đào, quất có người mang tận cửa,
Giao thừa, Lộc bán khắp Bờ Hồ,.
Đi lễ đầu năm cầu danh lợi,
Ngày Tết trôi qua bao hững hờ…
Bạn bè thường trách em nhiều lắm,
Ở phố quen rồi, không về thăm.
Đâu biết trong lòng em vẫn nhớ,
Nhớ Tết ngày xưa, và nhớ anh!
Đâu biết trong lòng em vẫn nhớ. Nhớ Tết ngày xưa, và nhớ anh… (Ảnh: WordPress.com)
Hoàng Anh 
Phần nhận xét hiển thị trên trang