Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

CỜ ĐỎ 8 SAO XUẤT HIỆN TRÊN CỔ CHÓ ĐƯỜNG HOA SÀI GÒN




Năm nay là năm con chó. Đường hoa Nguyễn Huệ ở trung tâm TP HCM đã cơ bản hoàn thành. Người ta đã làm ngay chính giữa đường hoa là gia đình chó với khuôn mặt rạng rỡ chào năm mới.

Tuy nhiên, con chó đeo vòng cổ màu đỏ cờ, trên có 8 ngôi sao, rất giống cờ Trung Quốc (Cờ Trung Quốc 5 sao). Không rõ ngành văn hóa TP HCM muốn chuyển tới người dân thông điệp gì?

_________________________
Đường hoa Nguyễn Huệ trước ngày khai mạc

VNE
Thứ hai, 12/2/2018 | 09:42 GMT+7 

Một ngày trước khai mạc, hầu hết những tiểu cảnh, linh vật chó đặc sắc của đường hoa Nguyễn Huệ (TP HCM) đã cơ bản hoàn thành. 


Sau gần nửa tháng thi công, đường hoa Nguyễn Huệ xuân Mậu Tuất đã hoàn thiện cơ bản để kịp khai trương vào 28 Tết. Đường hoa dài 720 m, kéo dài từ UBND đến đường Tôn Đức Thắng. Đây là năm thứ 15, TP HCM tổ chức đường hoa.


Chủ đề năm 2018 là "Khát vọng vươn xa", được chia thành 3 phân đoạn với các chủ đề nhỏ như: Mùa xuân thành phố; Hội nhập và phát triển; Vươn tới tương lai. 


Ở mỗi chủ đề đều có hình ảnh chó, linh vật của năm Mậu Tuất. Ngay chính giữa đường hoa là gia đình chó với khuôn mặt rạng rỡ chào năm mới. 


Năm nay, những chú chó Phú Quốc được chọn làm chủ đề chính. "Loài chó này là giống đặc trưng ở Việt Nam. Chó Phú Quốc có dáng vững chãi, đầu ngẩng cao và rất thông minh", chị Ngọc Linh (phụ trách mỹ thuật đường hoa) cho biết.


Hình ảnh những chú cún xuất hiện ở hầu hết các tiểu cảnh, đại cảnh với ý nghĩa về gia đình, tình yêu, sự sung túc. Hàng trăm loài hoa đủ màu sắc ở các vùng ôn đới nhiệt đới... được trang trí xuyên suốt phố đi bộ Nguyễn Huệ.


Khung cảnh quan thuộc của làng quê Việt Nam tái hiện trong một tiểu cảnh ở phố đi bộ. 


Sát thời điểm khai mạc, công nhân gấp rút hoàn thiện những công đoạn cuối như trang trí hoa ở những tiểu cảnh, làm hệ thống điện, chiếu sáng, dọn vệ sinh... 


"Đây là năm thứ 10 tôi tham gia thi công đường hoa Nguyễn Huệ. Cảm giác năm nay đường hoa đẹp hơn mọi năm. Chúng tôi cố gắng làm từ sáng đến tối muộn để kịp hoàn thành cho người dân tham quan", bà Nguyễn Thị Bích (55 tuổi) chia sẻ.


Năm nay, đường hoa sử dụng nhiều chất liệu thiết kế mới, cùng việc đưa hệ thống chiếu sáng tân tiến và công nghệ chụp hình thực tế ảo vào hoạt động. 


"Tôi thấy đường hoa năm nay khá đẹp, nhất là những mô hình cho rất sinh động, đủ màu sắc. Mỗi tiểu cảnh trang trí lại có nét riêng, không trùng lặp nhau", chị Hạnh (quận Bình Thạnh) nhận xét.


Những chậu hoa úp ngược độc đáo treo trên thân cây. 

Đường hoa Nguyễn Huệ sẽ đón khách từ 19h ngày 13/2 (28 Tết) đến 22h ngày 19/2 (mùng 4 Tết), dài hơn một ngày so với mọi năm. Công tác dọn dẹp sẽ được thực hiện ngay trong đêm, trả lại mặt bằng phố đi bộ vào 10h sáng 20/2 (mùng 5 Tết).

Quỳnh Trần

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÂN DUNG TÔ THÙY YÊN

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản và trong nhà



(Nhà thơ Thế Dũng là bậc đàn anh về tuổi tác cũng như văn thơ, phê bình. Hôm rồi đọc bài viết của tôi về nhà thơ Tô Thùy Yên, anh gọi điện bảo: Bài Đỗ Trường nên đặt lại cái tựa cho đúng với chân dung khí phách Tô thi sĩ. Tôi đang loay hoay và suy nghĩ, Thế Dũng gửi luôn cho bài thơ viết về chân dung Tô Thùy Yên, và tặng luôn cho cái tựa đề. Cảm ơn anh Thế Dũng quan tâm. Đỗ Trường thay lại cái tựa của bài)
CHÂN DUNG TÔ THÙY YÊN
“Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai
Nỗi đời hung hãn ở ngoài mắt em?
Gian nhà cỏ-Lối rêu êm ,
Trừng trừng cửa sổ tầu đêm vong tình
Gió sáng lạ sẽ thổi tới
Thơ lầm than thốt lời nói cuối cùng...
Trối trăng thơ goá anh hùng
Trời chìm đất đuối ...Thong dong ta về ?
Trường Sa hành gót phu thê
Hạ tàn mộ khúc thốt thề làm chi ?
Thời khủng khiếp. Vận phân ly...
Thơ đầy tô tức biên thuỳ nào yên ?”
(Thế Dũng)

TÔ THÙY YÊN: TIẾNG THƠ LẦM THAN HÀO KIỆT TỪ MỘT THỜI KHỦNG KHIẾP, MỘT VẬN PHÂN LY
(Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)
Hiệp định Genève cắt đôi hình đất nước, kéo theo một cuộc di dân từ Bắc vào Nam, với qui mô chưa từng có, kể từ ngày lập quốc. Những người di dân ấy, đã mang theo ngôn ngữ, văn hóa đặc trưng vùng, miền về nơi định cư mới. Và trong dòng người đó, có rất nhiều văn nhân, nghệ sĩ tài năng. Có thể nói, cái ngôn ngữ, văn hóa này, ảnh hưởng ít, nhiều đến tâm hồn những văn nghệ sĩ phương Nam. Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ chịu ảnh như vậy, và ngay từ buổi đầu đến với thi ca. Nhất là từ khi ông tham gia sáng lập tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn cùng với những thi sĩ, văn nhân đất Bắc như: Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh… 
Do vậy, đọc Tô Thùy Yên, ta có thể thấy, dường như ông đã trộn ngôn ngữ, văn hóa của cả ba miền Bắc Trung Nam vào những trang thơ của mình, để làm nên ngôn ngữ thơ (bác học) sang trọng, không thể lẫn lộn với bất cứ nhà thơ nào khác. Thông thường khi đọc một tác phẩm nào đó, một chút lưu tâm, ta có thể nhận ra quê quán nơi sinh trưởng của tác giả, thông qua ngôn ngữ biểu đạt. Nhưng, cũng giống như nhà thơ Luân Hoán, đọc Tô Thùy Yên, quả thật, khó có thể nhận biết, quê quán, nơi sinh trưởng của ông qua những đặc tính trên. 
Tuy đến với thi ca sớm, nhưng Tô Thùy Yên viết không nhiều. Cho đến nay, ông mới in ấn, xuất bản hai thi phẩm: Thơ Tuyển (1995) và Thắp Tạ (2004) ở hải ngoại. Cùng với nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, Tô Thùy Yên là một minh chứng làm sáng tỏ cho một nhận định: Có người cả đời làm và in thơ, nhưng không bao giờ thành thi nhân, và có người chỉ cần một tập, hay một bài thơ đã trở thành thi sĩ. Và không dừng lại ở đó, Tô Thùy Yên còn là một nhà thơ lớn tên tuổi trên thi đàn Việt cũng như quốc tế. Nói Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn, chắc chắn không phải, bởi số lượng tác phẩm đồ sộ như Võ Phiến, hay Du Tử Lê… mà do tư tưởng, nghệ thuật sáng tạo, cũng như nhân cách sống của ông. 
Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Ông đến với thi ca vào những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Ông có một thời gian học Đại học văn khoa Sài Gòn. Năm 1963 Tô Thùy Yên trở thành sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau chiến tranh ông bị bắt, và tù đày suốt 13 năm. Hiện ông đang sống và viết tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
Nhìn vào những biến cố đau thương của đất nước, ta có thể thấy, cũng như những nhà thơ, người lính cầm súng khác, thi ca Tô Thùy Yên được viết, và chia thành ba giai đoạn: Hai mươi năm cuộc chiến huynh đệ tương tàn, rồi đến những năm tháng tù đày, và cuộc sống nơi đất khách quê người. 
*Người lính qua hình tượng nghệ thuật.
“Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” không phải là bài thơ đầu của Tô Thùy Yên, nhưng nó là cái mốc khởi đầu cho ông bước chân vào làng văn. Bài thơ thất ngôn này, ông viết năm 1956, gây sự chú ý cho người đọc, cũng như giới cầm bút lúc đó, bởi tính mới lạ của nó. Tuy nhiên, với tôi, đây không phải là bài thơ hay của Tô Thùy Yên. Cái hữu hạn của cuộc sống, con người dường như là tư tưởng nhất quán xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Tô Thùy Yên. Và “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” là bài thơ mang tính triết lý như vậy, mà ngay từ ngày đầu cầm bút ông đã gửi đến người đọc. Có thể nói, Tô Thùy Yên có cái nhìn, quan sát tỉ mỉ, để đi đến sự liên tưởng khá thú vị. Vâng, sức lực, nhanh chậm hiện hữu đều nằm trong cái qui luật của tự nhiên. Và “vết chấm nâu” ấy chính là điểm dừng của vòng quay trong bức tranh của thiên nhiên, vũ trụ vậy. 
Tuy nhiên, dù Tô Thùy Yên có dày công với thủ pháp xếp vần, và hoán đổi vị trí âm ngữ trong thơ, nhưng nếu không có câu thơ kết: “Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/ Chấm giữa nền nhung một vết nâu, .” tạo nên bố cục của bức tranh hay tứ của một bài thơ, thì những câu thơ trên chỉ là những câu nói thường nhật mà thôi:

“Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.”

Có thể nói, Tô Thùy Yên có sở trường về thơ thất ngôn. Ông rất dụng công làm mới không chỉ về nội dung hình thức nghệ thuật, mà còn khắt khe về chọn lọc ngôn từ. Do vậy, thơ Tô Thùy Yên không chỉ đọc một lần, mà buộc ta phải suy nghĩ. Và đọc nó, ta thấy nặng nhọc, không kém gì tác giả viết ra nó. Nói thơ Tô Thùy Yên không dành cho người đọc hời hợt là vậy. Nói về người lính, từ trước đến nay, chúng ta thường nhớ đến Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến, mà dường như quên mất bài Qua Sông của Tô Thùy Yên. Với tôi, đây là một trong những bài thơ bi thương, và hay nhất của thi ca Việt viết về người lính trong chiến tranh. Ngoài giá trị về mặt tư tưởng, Tô Thùy Yên còn cho ta thấy tài năng nghệ thuật sử dụng từ ngữ, với lối so sánh ẩn dụ rất mới lạ, lấy nỗi nhớ để đo khoảng cách: “Con đường đáo nhậm xa như nhớ” cùng những từ có âm đôi (âm kép): “Châu thổ mang mang trời nước sát”. Hoặc từ ngữ ghép mới, hoán chuyển độc đáo từ danh từ thành tính từ:“Mưa lâu trời mốc buồn hôi xưa”. Nó làm cho câu thơ sắc và sinh động. Với thủ pháp nghệ thuật này, sau này nhà thơ Trần Mạnh Hảo sử dụng rất thành công trong trường ca Đất Nước Hình Tia Chớp: “Chỉ nhìn vào móng chân thôi/ Biết em đã lội qua thời trẻ trung”. Nếu “Trời mốc” trong câu thơ của Tô Thùy Yên, từ danh từ chuyển thành tính từ, thì động từ “Lội” trong câu thơ của Trần Mạnh Hảo cũng hoán chuyển thành tính từ. Và cả hai đồng lột tả sự buồn thảm, xót xa. Có thể thấy, đây là một trong những đặc tính nghệ thuật tiêu biểu của Tô Thùy Yên. Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây dể thấy được cái tàn nhẫn của chiến tranh, cũng như số phận bi thương của người lính:
“Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện
Mưa lâu trời mốc buồn hôi xưa
Con đường đáo nhậm xa như nhớ
Chiều mập mờ, xiêu lạc dáng cò
------
Châu thổ mang mang trời nước sát
Hồn chừng hiu hắt nỗi không tên
Tiếp tế khó - đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó - sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác
Thây sình mặt nát lạch mương tanh...”(Qua Sông)

Khổ kết bài thơ, tác giả bất ngờ đổi thủ pháp nghệ thuật, từ thất ngôn chuyển sang thể lục bát. Làm cho câu thơ trở nên mềm mại, ngân nga, như những lời ru mình, ru đồng đội, ru cho đất nước trong cơn khổ đau vậy. Đây cũng là sự độc đáo của bài thơ. Tuy nhiên, với thủ pháp này, ta đã bắt gặp ở Đến Hương Phấn Mê Linh, hay Tìm Bóng Tử Thần trong thơ Đinh Hùng: 
“... Nao nao mường tượng bóng mình
Mịt mùng cõi tới u minh tiếng rền
Xuống đò, đời đã bỏ quên...
Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.“ (Qua Sông)
Nếu hình ảnh người lính trong thơ Nguyễn Bắc Sơn hiện lên với khẩu khí ngang tàng, và bất cần:“ Khi tao đi lấy khẩu phần/ Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao/ Chúng mình nhậu đế trừ hao/ Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng… Mai ta đụng trận ta còn sống/ Về ghé Sông Mao phá phách chơi/ Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/ Đốt tiền mua vội một ngày vui…“, thì người lính ấy trong thơ Tô Thùy Yên tuy khí chất trời Nam, nhưng vẫn mang mang nét hào sĩ, trí thức. Thật vậy, đọc Anh Hùng Tận một bài thơ tự sự, kể về một chiều nghỉ chân trên đường hành quân, tác chiến. Không có khói bom và tiếng súng, nhưng dường như người đọc vẫn cảm được cái chết (có thể ngày mai) đang đến rất gần với người lính, thông qua hình tượng ẩn dụ: “Bạn hỏi thăm ta cho có lệ/ Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:/ Còn mươi tháng nữa lên trung úy/ Có thể ngày mai chửa biết chừng”. Và có thể nói, Anh Hùng Tận cũng là một trong những bài thơ điển hình về tài năng sử dụng các biện pháp tu từ với câu thơ vắt dòng, cùng dấu chấm ngắt câu độc đáo, gây bất ngờ cho người đọc trong thơ Tô Thùy Yên:
“Dựng súng trường cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều
Đây ngã ba sông, làng sát nước
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn
-------
Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương
Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên...
Tới đây toàn những tay hào sĩ
Sống chết không làm thắt ruột gan
Cũng không ai nhắc về thân thế
Có vợ con mà như độc thân
Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:
Còn mươi tháng nữa lên trung úy
Có thể ngày mai chửa biết chừng …”

Dường như thoáng một chút bi quan, nhưng hình ảnh người lính trong thơ Tô Thùy Yên vẫn hiện lên một cách hồn nhiên, và sảng khoái:
“Ta chắt cho nhau giọt rượu sót
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây
Giờ cất quân, đưa tay bắt
Ước cõi âm còn gặp để say. “ (Anh Hùng Tận)

Tôi biết và đọc Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên khi đi sâu vào tìm hiểu thể thơ Hành. Tô Thùy Yên viết bài thơ này, khi ra thăm đảo vào tháng 3-1974, ngay sau khi giặc Trung Quốc đánh Hoàng Sa. Với tôi, Trường Sa Hành là bài thơ viết về biển đảo hay nhất từ trước đến nay của nền văn học Việt Nam. Và có thể nói, Trường Sa Hành không chỉ có giá trị về văn học, mà còn giá trị về mặt lịch sử. Đọc Trường Sa Hành, có lẽ ta cũng nên nhắc lại một chút về thể thơ này: Viết về chiến tranh, người lính có lẽ không có thể thơ nào chuyển tải và lột tả hết cái bi thương bằng thể thơ Hành. Hành thuộc thơ cổ, có xuất xứ từ Trung Quốc, thường viết theo thể thất ngôn, hoặc ngũ ngôn, dài ngắn tùy thuộc tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Nó là thể thơ khó nhằn, khó viết. Nhìn chung, các nhà thơ Việt rất ít, hoặc ngại sử dụng thể loại này.
Đã đọc khá nhiều thơ thể hành, nhưng quả thực, còn đọng lại trong tôi không nhiều. Bởi, tuy từ ngữ, khẩu khí trong thơ mang tính tự do, phóng khoáng, nhưng để đạt đến cái đỉnh bi tráng, thực sự lay động lòng người, không phải nhà thơ nào cũng làm được. Tôi cho rằng, kể từ khi có thơ mới đến nay, Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên cùng với Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, Hành Phương Nam của Nguyễn Bính, Biên Cương Hành của Phạm Ngọc Lư và Đau Thương Hành của Thế Dũng là những bài viết theo thể Hành hay nhất.
Thật vậy, cuộc sống gian khổ của người lính, dưới cái điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, đã được tác giả nhân cách hóa bằng hình tượng so sánh đảo trôi. Đảo trôi là từ mới của Tô Thùy Yên. Và vẫn thủ pháp hoán chuyển, động từ (trôi) sang tính từ trong câu thơ: “Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi” chỉ cái hữu hạn của sức người dưới cái khắc nghiệt khôn cùng của thiên nhiên. Nhiều lần tôi đã viết: Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới. Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú. Vâng! Tô Thùy Yên là một nhà thơ tài năng như vậy. Có thể nói, ông là nhà thơ hàng đầu về làm mới ngôn ngữ, và thi pháp. Sự nhào trộn giữa mới và cũ mang mang hồn cổ phong ấy, đã đưa câu thơ tưởng chừng dân dã, trở nên sang trọng.
Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để thấy rõ cái gian khổ, bi ai của người lính đảo, cũng như tài năng làm mới thơ thất ngôn của thi sĩ Tô Thùy Yên:

“Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi
Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
---
Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh
Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời…” (Trường Sa Hành)

Đắng cay, gian khổ là thế, nhưng dường như không riêng Tô Thùy Yên, mà nhà thơ quân đội nào cũng vậy, luôn có cái nhìn nhân bản và khách quan về chiến tranh. Nếu lòng nhân đạo, trong thơ Nguyễn Bắc Sơn chỉ gói gọn ở hai người lính đối đầu: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước/ vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi“ thì sự nhân đạo, cảm thông trong thơ Tô Thùy Yên rộng lớn, và khai mở hơn. Ông gọi tên, lột mặt một cách mỉa mai, những kẻ mê hoặc, đứng sau cuộc chiến: “Ta thương ta yếu hèn/ Ta thương ngươi khờ khạo/ Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng/ Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử/ Cùng mê sa một con đĩ thập thành”. Và Chiều Trên Bến Tam Giang là một bài thơ độc thoại như vậy của Tô Thùy Yên. Bài thơ được viết theo thể tự do, và chia làm ba đoạn. Và mỗi đoạn là một bài thơ hay, hòan toàn có thể đứng độc lập. Đây là bài thơ điển hình nhất về sự dung hòa ngôn ngữ vùng, miền trong thơ Tô Thùy Yên. Nếu không biết Tô Thùy Yên người Sài Gòn- Gia Định, thì có lẽ, ai cũng nghĩ, tác giả phải là người Huế, hoặc Hà Nội. 
Phần hai của bài thơ được nhạc sỹ Trần Thiện Thanh phổ thành bản nhạc nổi tiếng cùng tên. Thông qua tình yêu và nỗi nhớ, Tô Thùy Yên đã giãi bày về cuộc chiến với tư tưởng bi quan, chán chường. Thật vậy, chiến tranh đã vào thành phố, len vào: “Nơi chúng ta thường hẹn gặp” để rồi chỉ còn những ghế bàn quạnh quẽ, cô đơn. Đọc bài thơ này của Tô Thùy Yên, chợt làm tôi nhớ đến câu thơ rất hay của Ngô Thanh Hoàn: “Chiến tranh cắn vào mê nón cháy em ngồi.”. Vâng! Chiến tranh cháy vào trong lòng thành phố, nhưng thi sĩ Tô Thùy Yên vẫn lãng mạn hóa tình yêu và cuộc sống, qua những lời độc thoại của mình. Có thể nói, chính sự dung hòa ngôn ngữ, đã làm nên lời thơ nhẹ nhàng và tuyệt đẹp này:

“…Giờ này có thể trời đang mưa
Em đi nép hàng hiên sướt mướt
Nhìn bong bóng nước chạy trên hè
Như những đóa hoa nở gấp rút
Rồi có thể em vào một quán nước quen
Nơi chúng ta thường hẹn gặp
Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao
Giữa những đám ghế bàn quạnh quẽ…”

Và người lính của Chiều Trên Bến Tam Giang không trở về, để em thành Góa Bụa. Rời bỏ quán nước quen, em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Nếu ta đã đọc Làm Dâu của nhà thơ, người lính chiến bên kia chiến tuyến Trần Mạnh Hảo: “…Mỗi khi chim lợn kêu dồn/ Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ/ Đêm về đội lén khăn xô/ Thương người nằm khoác ba lô mối đùn…” thì mới hiểu hết nỗi đớn đau với tiếng kêu oan khốc của người đàn bà Góa Bụa trong thơ Tô Thùy Yên. Và xin nhắc lại bài thơ của Trần Mạnh Hảo, để chứng minh thêm một điều: Chiến tranh, dù ở phía nào đi chăng nữa, sự đớn đau ấy đều giống nhau, và bao giờ cũng thuộc về những người mẹ, và những người vợ. 
Có thể nói, Tô Thùy Yên viết Góa Bụa không chỉ bằng cảm xúc, mà còn bằng lý trí của mình. Và đã lâu lắm rồi, tôi mới được đọc những câu thơ mới lạ với hình ảnh ẩn dụ hay đến rợn cả người như vậy: “Ngọn đèn hư ảo chong linh vị/ Thắp trắng thời gian mái tóc em.” Đọc nó, chợt làm tôi nhớ đến cảm xúc khá tương đồng trong bài Biển Hoàng Hôn của mình viết đã lâu: “ Sóng bạc đầu mang cả màu tóc em”. 
Góa Bụa là bài thơ cô đọng, bố cục khá chặt chẽ. Từ siêu hình trở về hiện thực, Tô Thùy Yên đưa người đọc chìm vào nỗi đau với những câu thơ đậm tính ước lệ, tượng trưng. Ta cùng đọc đoạn trích dưới đây để thấy rõ điều đó: 

“Con chim nhào chết khô trên cửa,
Cửa đóng muôn ngàn năm bặt âm,
Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ.
Sao người khai giải chưa về thăm?
Em chạy tìm anh ngoài cõi gió,
Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn,
Tiếng kêu đá lở long thiên cổ,
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn….
…Ngọn đèn hư ảo chong linh vị,
Thắp trắng thời gian mái tóc em.
Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh.
Hồn xa con đóm lạc sâu đêm….”

Là nhà thơ quân đội, do vậy thơ Tô Thùy Yên luôn đồng hành cùng người lính. Ông đã trải lòng mình, lòng đồng đội lên những trang viết của mình. Tính xã hội cũng nóng bỏng trong thơ ông: “…Cuộc cờ kỳ lạ không bày tướng/ Ăn sạch quân, trừ lính được thua…” . Nhận ra chân tướng, và nước cờ ấy, Tô Thùy Yên chán chường, luôn mơ ước trở về với tuổi thơ, trở về người thi sĩ đích thực: “Hề, ta trở lại gian nhà cỏ/ Giữa cánh đồng không, bên kia sông /… Vầng trăng ta thấy thời thơ ấu/ Mọc lại cho ta thuở xế tàn”. Nhưng ước nguyện ấy của thi sĩ, chỉ là một giấc mộng trên Chiều Phá Tam Giang mà thôi. 
*Từ giam hãm tù đày đến tấm lòng nhân bản, vị tha.
Chiến tranh chấm dứt, thời thế, xã hội đảo lộn tùng phèo. Thay cho trở về tuổi thơ, trở về làm người thi sĩ, thì giam hãm tù đày là nơi Tô Thùy Yên buộc phải đi đến. Tàu Đêm là một bài thơ, hay là cuộc hành trình vào nơi địa ngục ấy của ông. Tôi đã đọc hồi ký, thơ văn của một số nhà văn và cả những tướng, tá Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng viết về những ngày tù tội, tàu xe chuyển trại. Nhưng có lẽ, Tàu Đêm làm tôi xúc động hơn cả. Từ hiện thực tủi nhục, khổ đau và đói rách:“Ngồi đây giữa những phân cùng bụi…/ Ta trở thành than, thành súc vật.” người tù Tô Thùy Yên hồi tưởng về một thời tươi đẹp, mới đây thôi, nhưng ở nơi tưởng chừng xa vời vợi. Có điều đặc biệt nữa, đọc thơ Tô Thùy Yên, ta thấy cứ tầng tầng lớp lang, so sánh nằm trong so sánh, hình ảnh lồng trong hình ảnh, buộc người đọc cứ phải bóc dần ra. Tuy nhiên, cũng như các nhà thơ khác, Tô Thùy Yên không phải, không có những câu thơ dở nằm trong bài thơ hay. Nhưng có thể nói, ngoài tài năng Tô Thùy Yên có tính cần cù, tìm tòi sáng tạo. Mỗi bài thơ của ông, ta đều có thể tìm thấy một điều mới mẻ ở trong đó. Do vậy, bài thơ nào của Tô Thùy Yên cũng đi vào lòng người. Và Tàu Đêm cũng là một bài thơ như vậy của ông: “Có lúc tàu qua những thị trấn/ Mà đêm đã gói lại im lìm”. Đây là hai câu thơ hay, và tôi thích nhất trong bài. Bởi, động từ “gói” được đặt đúng văn cảnh, bật lên hình tượng ẩn dụ mới, làm cho người đọc chờn chờn, rợn rợn, trước cái thị trấn chết, và cuộc sống tù hãm của con người. Và mảnh đất chết, vắng những linh hồn ấy, thì những tiếng kêu của những kẻ tù đày, khốn khổ đó rơi tõm vào hư vô mà thôi: “... Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục/ Cho tiếng rền vang dội địa cầu/ Lay động những tầng mê sảng tối/ Loài người hãy thức, thức cùng nhau”. Và đoạn trích dưới đây không chỉ cho ta thấy nỗi thống khổ, bị đày đọa của những cựu sĩ quan VNCH, mà còn chứng minh thêm tài năng xây dựng hình ảnh, hình tượng của Tô Thùy Yên: 

“Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển đời xung xát bạo tàn
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người e cũng đã quên ngang.
---
Tàu ơi hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau ...”

Tiếng kêu cất lên từ miền đất chết, chỉ vọng lại một dấu chấm than (!), trong nỗi tuyệt vọng của người lính tù phương Nam: Xứ khổ, thêm chi mùa thảm khốc/ Than ôi, trời đã bỏ rơi dân!”. Và Tầu Đêm không dừng lại sân ga, địa ngục trần gian là nơi họ phải đến: ” Ở đây, địa ngục chín tầng sâu/ Cả giống nòi câm lặng gục đầu”. Nếu ta đã đọc Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư, hay Sau Cơn Binh Lửa của Song Vũ, thì sẽ giảm đi sự giật mình kinh hãi, khi đọc Mùa Hạn của Tô Thùy Yên. Đọc Mùa Hạn, cho ta cảm giác, trong cái bi đát tột cùng ấy, người tù không còn sống bằng sinh hóa năng lượng nữa, mà chỉ còn sống bằng những hoài niệm. Và những hoài niệm bình yên và tươi đẹp ấy, chính là sự dung hòa, làm dịu đi nỗi nhục nhã, đắng cay trong thơ mà thi nhân muốn gửi đến người đọc chăng? Phải nói, những đoạn, hoặc những bài hoài niệm này của Tô Thùy Yên có lời thơ rất đẹp: “Ở đâu còn cụm mây hư ảo/ Bay tự ngàn năm trắng cổ thi.”. Không dừng ở hoài niệm và nhẫn nhục, lời thơ Tô Thùy Yên cũng căng lên đầy phẫn uất. Tuy nhẹ nhàng, nhưng sự mỉa mai, châm biếm ấy, mang tiếng cười rất chua cay: “ Đám chủ mới, y trang xúng xính/ Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu/ Xua trăm họ sá chi thân mạng / Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa.” . Uất ức là vậy, nhưng tính nhân bản lòng vị tha, luôn mở cho mình, cho người những lối thoát, xuyên suốt cuộc sống, cũng như trang thơ Tô Thùy Yên: “Những ai hôm trước từng gây tội/ Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình/ Tựa tại, thời gian chôn chính nó/ Đời lên lại mãi tựa bình minh.”. Ta có thể thấy, ở lãnh vực nào, thể loại nào thơ của Tô Thùy Yên rất nhẹ nhàng, chừng mực. Nhưng không hiểu sao ông lại bị bắt nhiều lần, và tù lâu đến vậy, dù có là sĩ quan cấp tá đi chăng nữa?. Tôi cứ ngẫm nghĩ và tự hỏi. Tuy nhiên, tôi chỉ có thể tìm ra câu trả lời: Cũng như Vũ Hoàng Chương cái tên, cái bóng Tô Thùy Yên quá rộng, quá dày đối với một chế độ, chính quyền yếu đuối, nhìn đâu cũng thấy vi trùng sợ hãi chăng?. Đoạn trích dưới đây, là một trong những đoạn thơ, mà một số người cho là nặng nề nhất của Tô Thùy Yên: 

“Ở đây, địa ngục chín tầng sâu,
Cả giống nòi câm lặng gục đầu,
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
Bước tới, chân không đè đá sắc,
Vai trần chín rạn gánh oan khiên,
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc,
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.
Xứ khổ, thêm chi mùa thảm khốc.
Than ôi, trời đã bỏ rơi dân!
Nắng kim khí chảy, đá rạn nứt,
Gió táp, rừng khô rụm, cát tràn…
Ta nhặt từng trang sách rách toang
Đứa ngu đã xé vứt ra đường.
Ta gom từng hạt cây luân lạc,
Mong mỏi gầy lên một địa đàng…” (Mùa Hạn)

Mười năm nơi địa ngục trần gian, cứ tưởng rằng đã tẩy rửa được tư tưởng, tâm hồn, cũng như ý trí Tô Thùy Yên, nhưng họ đã lầm: ”Mười năm ta vẫn cứ là ta”. Và Tô Thùy Yên đã sống sót trở về. Ông không khỏi bùi ngùi, xúc động. Quê hương còn đó, nhưng đã vắng những bóng người: “Khách cũ không còn, khách mới thưa”. Không một chút hận thù, nhưng ông vẫn muốn bóc trần bộ mặt thật của chế độ, xã hội: “Ta về khai giải bùa thiêng yểm”. Cho nên, lời vĩnh biệt mười năm chết dấp của Tô Thùy Yên đã không thành sự thật. Nhà tù, nơi chết dấp ấy, vẫn là nơi ông phải nhiều lần quay trở lại. Vì vậy, Ta Về của ông không chỉ viết, và đọc cho một lần...Và tôi cũng không rõ, những lần ra tù sau, tâm trạng ông có bùi ngùi, thiết tha giống với lần đầu không?
Đi sâu vào nghiên cứu, có thể thấy, Ta Về là bài thơ điển hình nhất về tư tưởng, nhân cách con người Tô Thùy Yên. Thời gian này, Tô Thùy Yên đến gần thiền triết, với tâm thức, linh hồn đã vượt ra khỏi cuộc sống dã man tầm thường, trong một cái xã hội lưu manh ấy:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ …
…Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi…”

Có thể nói, cùng với giai đoạn trước 1975, thời gian cải tạo tù đày, và cho đến ngày xuất ngoại, bút lực của Tô Thùy Yên mạnh mẽ, tài hoa. Thi pháp, nghệ thuật của ông đã đạt tới mức bậc thày.
*Thân làm lữ khách, tâm nơi quê nhà.
Lần cuối cùng thoát ra từ nhà tù nhỏ, Tô Thùy Yên không còn bùi ngùi, và thiết tha nữa. Bởi, không phải riêng người lính tù thất trận, mà cả thành phố của ông: “Thành phố của anh/ Nhục nhằn duyên cưỡng ép”. Và thành phố rộng, nhưng chẳng còn một bóng người quen. Để rồi, buộc ông phải trốn bỏ nơi bản quán: “ Anh/ lên đường, cúi mặt lên đường/ Giả tảng không nhìn nỗi sỉ nhục/ Phi trường bị đánh thức”. Cái mênh mông của nước Mỹ càng làm cho tâm hồn Tô Thùy Yên thêm trống trải, cô quạnh. Sự hoang mang ấy, dường như làm cho ông bi quan và chán chường: “Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn/ Anh không còn muốn tự định liệu.”. Và xa thật rồi, mà Tô Thùy Yên cứ ngơ ngẩn hỏi. Một câu hỏi của người dường như đã lạc mất linh hồn:
“Đi như lạc trong trời đất,
Thuỷ tận sơn cùng, xí xoá ta.
Cõi chiều, đứng lại, khóc như liễu:
Có thật là ta đi đã xa?” (Đi Xa)

Quê hương, bản quán là nỗi nhớ thường trực trong Tô Thùy Yên. Một khúc nhạc quê, một kỷ niệm nhỏ trở về cũng làm tâm hồn nhạy cảm của người thi sĩ xao động. Và không chỉ cô đơn với cõi chiều tàn ấy, mà trên đường xe chạy, hay hàng quán nơi chốn đông người, Tô Thùy Yên vẫn cảm thấy lẻ loi, dằn vặt tự hỏi. Vâng! Có lẽ, đây là nỗi đau, nỗi buồn tâm lý chung của những kẻ xa quê, chứ không riêng người thi sĩ: 
“Thả hồn trôi theo một tấu khúc chừng quen,
Dềnh giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi.
Nhớ lại, cố nhớ lại những người bạn bặt tin, những người thân tứ tán…
Ghé lại một trạm xăng, một hàng fast food hay một rest area
Đây là đâu ?
Đây cũng là đâu đó vậy
Dấp nước đầu, cổ, mặt,
Tỉnh tỉnh lại với đời ...
Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh,
Nhìn chút đỉnh những con người,
Nhìn cuộc sống còn nửa thức, nửa ngủ .
Hỏi lại mình: Lòng ngất tạnh khuya,
Tìm đâu một chốn ấm hơi đời ?” (Đường Trường Đêm)

Rồi người thi sĩ đã tìm thấy hơi ấm ở nơi tình người, tình đồng hương. Và cũng từ cảm xúc ấy đã cho ông nguyên liệu sống viết nên thi phẩm Gặp Gỡ Giữa Đường. Có thể nói, đây là những lời lục bát tự sự hay trong thi tập Thắp Tạ. Một thể thơ Tô Thùy Yên rất ít sử dụng. Ta hãy đọc lại đọa trích dưới đây, để thấy sự cô đơn và hoang mang ấy, dường như có lúc đã biến mất trong ông: 

“…Vào đây, có lửa, có người,
Có cây rộng lượng che trời hộ ta,
Có câu thăm hỏi quê nhà,
Đường qua thế ấy, đường xa thế nào?
Giờ lâu, liệu lửa tiêu hao,
Quơ thêm tâm sự cho vào chuyện chung,
Giữ ta sáng ấm mặt lòng,
Rõ đêm nhân thế vốn cùng loại đêm…”

Tập thơ Thắp Tạ hầu như bao gồm những sáng tác từ khi Tô Thùy Yên định cư tại Hoa kỳ. Có thể nói, đến với thi tập này, bút lực của ông không còn được như trước, kể cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Âu đó cũng là điều rất bình thường như con người, có lúc hay lúc dở, khi khỏe mạnh hoặc ốm đau vậy. Và cũng có lẽ, do môi trường sống thay đổi, hoặc do sức lực, tuổi tác của của Tô Thùy Yên chăng?. Bài thơ “Vẫn Là“ khá hay, được Tô Thùy Yên viết sau khi ông đến Mỹ được mấy năm. Khi nói về sự tĩnh lặng của mùa thu, của tâm hồn, trong Thu Điếu, Nguyễn Khuyến đã dùng động để tả tĩnh: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo.“. Ở bài thơ này cũng vậy, Tô Thùy Yên đã bắt chước tiền nhân chăng?. Ông dùng tiếng động của vật rơi để miêu tả cái tĩnh lặng của không gian, cũng như tâm trạng. Với thủ pháp vắt dòng, đảo ngữ khá hay. Tuy nhiên, những người đọc bình thường, hoặc hời hợt sẽ khó hiểu, không gây được cảm xúc. Hơn nữa, trong thơ ông thường sử dụng khá nhiều cổ ngữ, hay thuật ngữ Đạo giáo do vậy rất kén người đọc: 

“Vẫn là tiếng thinh lặng kinh hoàng
Đâu đó quanh đây
Do một vật đã rơi buông từ chỗ rất cao
Còn để lại…“

Thắp Tạ còn có những bài thơ khá dở. Và Nhanh Hơn là một bài thơ như vậy. Dù có nói đến cái hữu hạn của con người trước qui luật của tạo hóa, thiên nhiên, thì bài thơ này chưa được sàng lọc, và tinh cất. Nếu bực mình, bác Tô Thùy Yên có lọc ra quất roi vào đít, thì em vẫn nói: Mấy câu này chưa hẳn đã phải là thơ: 
“Cố gắng, 
Cố gắng theo cho kịp 
Cái bóng mình như có đi nhanh hơn.“

Có thể nói, đi sâu vào nghiên cứu Tô Thùy Yên, cho ta biết thêm sự dung hòa trong một chiếc cán cân khác của nền văn học miền Nam. Sự dung hòa ấy, không chỉ trong thơ, mà còn in đậm trong cuộc sống thường nhật của ông. Mười ba năm dài đằng đẵng trong lao tù, cứ tưởng rằng hận thù ấy đeo đẳng mãi trong ông. Nhưng Tô Thùy Yên đã bước ra khỏi hận thù, trải lòng mình vào những trang thơ. Do vậy, đọc thơ ông, ta không cảm thấy nặng nề về tư tưởng. Cả cuộc đời của mình, Tô Thùy Yên luôn cần mẫn đi tìm lại hồn thơ cũ để tặng cho người và cho đời. Hồn thơ ấy, chắc chắn sẽ sống cùng thời gian. Và tôi xin mượn bài thơ Tặng Phẩm có thể làm sáng tỏ thêm chân dung của nhà thơ, để kết thúc bài viết này:

“Thức cho xong bài thơ. 
Mai sớm ra đi, 
Cài hờ lên cửa tặng.”
Leipzig ngày 8-2- 2018
Đỗ Trường

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để có một hội nghề nghiệp thật sự


Phỏng vấn nhà phê bình nghiên cứu văn học NGUYỄN ĐĂNG MẠNH
PHÓNG VIÊN: - Từ nay tới ngày Đại hội các Nhà văn Việt Nam lần thứ IV thời gian chẳng còn bao lâu. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Chính trị Trung ương Đảng vừa ra Nghị quyết Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Dưới ánh sáng của nghị quyết này chắc chắn Đại hội không thể không bàn bạc, thảo luận để định ra những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn. Xin anh cho biết ý kiến cá nhân về vấn đề ấy?
NGUYỄN ĐĂNG MẠNH: - Quả đã đến lúc cần thiết phải bàn bạc, thảo luận để định ra những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội. Bởi lâu nay Hội có đấy mà cũng như không. Chẳng mấy ai có ý thức về sự tồn tại của nó trong đời sống xã hội. Hình như mãi tới khi Hội có chế độ tạm cấp sáng tác, người ta mới lờ mờ cảm thấy sự có mặt của nó. Dĩ nhiên có nhiều người phải liên đới chịu trách nhiệm về tình trạng ấy.
P.V. - Xin anh cho biết cụ thể hơn?
N.Đ.M. - Theo tôi, có mấy lý do sau đây khiến cho lâu nay Hội Nhà văn có đấy mà cũng như không:
Thứ nhất. Hội không có bất kỳ một tý quyền hành nào. Sách, báo, bài vở của hội viên do những nơi nào duyệt kia, chứ Hội không được "ý kiến" vào đấy. Ngay cả công việc tổ chức của Hội, hội viên cũng không được quyền quyết định. Phải một thời gian dài, 20 năm liền (từ 1962 đến 1982) mới họp được Đại hội lần thứ III, nhưng lại mất dân chủ trầm trọng. Hội viên không tán thành nhiều Ủy viên Chấp hành và chấp hành không được bầu Ban Thư ký. Ban Chấp hành ít gắn bó với hội viên.
Thứ hai. Việc kết nạp hội viên của Hội luộm thuộm quá. Còn nhớ, một lần anh Tế Hanh và anh Chế Lan Viên giục tôi sao không làm đơn xin vào Hội đi. Tôi bèn viết đơn đem nộp, có kèm theo mấy chữ giới thiệu của anh Xuân Diệu và anh Lê Trí Viễn. Rồi một hôm, nhân chúng tôi họp tổ chuyên môn tại nhà anh Nguyễn Hoành Khung, có mời được anh Nguyễn Khải nói chuyện. Anh Khải tiện đấy báo cho biết, tôi đã được vào Hội. Chỉ có thế.
Thứ ba. Khi vào Hội rồi, giữa hội viên và Hội dường như không có một tý quan hệ công việc nào cả. Việc ai người ấy làm. Ngay cả việc tổ chức một cái câu lạc bộ để đôi khi anh em gặp gỡ, trao đổi cũng không có. Người ta làm việc với nhà xuất bản khác, nghĩa là làm việc với tư cách của một cộng tác viên bình thường chứ không phải với tư cách hội viên. Thậm chí Tác phẩm mới không hấp dẫn người ta bằng các nhà xuất bản khác. Bởi Tác phẩm mới trả nhuận bút thấp hơn so với nhà xuất bản kia.
Tóm lại, Hội Nhà văn không bằng bất kỳ một hội nào khác, nó hầu như chẳng có ích gì cho công việc của các hội viên. Gần đây, hình như việc bồi dưỡng nhà văn trẻ có được chú ý hơn.
P.V. - Cứ như anh nói thì có lẽ không cần thiết phải thành lập Hội Nhà văn nữa?
N.Đ.M. - Không phải thế! Về một phương diện nào đó, viết văn cũng là một nghề. Có nghề phải có hội chứ? Thực lòng, ai cũng muốn có hội, nhưng hội phải ra hội.
P.V. - Theo anh, chức năng xã hội của Hội Nhà văn là gì? Là tổ chức nghề nghiệp? Là cơ quan quản lý hội viên giống như nhà máy quản công nhân, hợp tác xã quản xã viên?
N.Đ.M. - Dĩ nhiên không nên biến Hội thành cơ quan quản lý mang tính chất hành chính. Hội Nhà văn là hội nghề nghiệp. Nó phải chịu trách nhiệm trước tình trạng phát triển của văn học nước nhà. Đặc biệt, nghề văn đòi hỏi tính nghề nghiệp rất cao. Cho nên Hội phải được tổ chức chặt chẽ để bàn bạc, thảo luận rút đúc kinh nghiệm sáng tác, kích thích sự sáng tạo nghệ thuật. Tổ chức Hội còn phải chịu trách nhiệm trong việc đào tạo lực lượng sáng tác, lực lượng phê bình, nhất là phải tạo điều kiện để các nhà văn nâng cao trình độ văn hóa. Muốn thế, Hội phải có kinh phí lớn để hoạt động, ít ra là để xây dựng một cái thư viện cho ra hồn. Tôi rất buồn về tình trạng thư viện của Hội Nhà văn. Sách thiếu, bản thảo của các nhà văn không có ai lo lắng bảo quản, giữ gìn, thất lạc mất cả. Cũng cần lưu ý, nghề văn không giống các nghề khác. Tôi tin rằng, cách mạng khoa học kỹ thuật không thể cơ giới hóa hay điện khí hóa lao động nhà văn. Bởi đây là lĩnh vực của tài năng và cả tính sáng tạo, Hội Nhà văn phải trở thành tổ chức của những tài năng. Nói rõ hơn, phải chú trọng tới tính tổ chức chặt chẽ của Hội, đồng thời phải quan tâm tới đặc trưng của ngành sản xuất tinh thần này. Đó là nghề có tính đặc biệt cá thể. Ở đây sự độc đáo cá nhân lại là một phẩm chất cần khuyến khích và bồi dưỡng. Mỗi người là một thế giới tâm hồn với những màu sắc và quy luật riêng. Vậy Hội phải tìm hiểu và chăm lo cho từng cá nhân (mỗi cá nhân là một tài năng kia mà! Tất nhiên không kể ngoại lệ).
P.V. - Theo tôi, chỉ khi nào Hội Nhà văn thoát ra khỏi cơ chế quản lý bao cấp của Nhà nước, đặc trưng của lao động nghệ thuật mới thực sự được coi trọng. Làm thế nào để thực hiện được điều đó?
N.Đ.M. - Nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực mà còn bộc lộ quan niệm của mình về con người và cuộc đời. Với ý nghĩa ấy, văn học là tiếng nói của tư tưởng, là sự phát ngôn cho quan điểm. Lâu nay văn học chưa được quyền phát ngôn. Cần chỉ ra tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm ở khá nhiều nhà lãnh đạo văn nghệ. Khi nói, người ta cao giọng tuyên bố: văn học là mặt trận, nhà văn là chiến sĩ. Trong thực tế, họ lại xem văn nghệ như trò giải trí, có cũng tốt, mà không có nó cũng chẳng chết ai. Tình trạng nhuận bút rẻ mạt thì cứ kéo dài mãi (không có nghề nào bị trả giá rẻ mạt như nghề văn hiện nay). Mặt khác, mỗi khi có ai đó dám phản ánh trong tác phẩm của mình một sự thật nào đấy không hợp với ý lãnh đạo, lập tức lại bị xem như cái gì nghiêm trọng lắm, cứ y như là vì nó mà mất nước đến nơi. Tệ nhất là một thời gian khá dài, văn học bị biến thành phương tiện minh họa thô thiển cho những tư tưởng có sẵn hay cho những chủ trương chính sách. Nhiều tác phẩm có tư tưởng lại bị xem là thiếu tư tưởng hay tư tưởng kém. Ngược lại, nhiều tác phẩm thiếu tư tưởng lại được đề cao là có tư tưởng tốt. Lộn xộn quá! Văn học ta nghèo đi là vì thế. Cho nên, muốn thoát khỏi cơ chế quan liêu bao cấp của Nhà nước, trước hết phải có dân chủ; trong lĩnh vực văn nghệ thì phải chấm dứt tình trạng bao cấp tư tưởng. Và để thực hiện được điều đó, Hội phải tổ chức được bộ máy làm việc riêng của mình. Chẳng hạn muốn cho các tác phẩm tốt không bị trù dập, muốn phát hiện tài năng, động viên sáng tác kịp thời, Hội phải có các ban, các hội đồng chuyên môn. Phải tổ chức các ban theo thể loại. Không nên có ban theo đề tài. Cũng nên đổi mới cơ cấu, thành phần của các ban. Ví như không nên có sự ngăn cách như hiện nay về mặt tổ chức giữa lý luận, phê bình và sáng tác. Phê bình không được sáng tác coi trọng thì không thể xem là phê bình tiêu biểu được. Cho nên chỉ nên để những nhà phê bình, lý luận được các nhà văn tín nhiệm tham gia vào ban phê bình, lý luận. Trong ban lý luận, phê bìnhnên có cả những người sáng tác. Ngược lại, trong các ban thơ, văn xuôi... cần có sự tham gia của các nhà phê bình, lý luận được tín nhiệm.
P.V. - Theo anh, lần này Đại hội nên tiến hành theo cách thức thế nào để đảm bảo dân chủ?
N.Đ.M. - Theo tôi, không nên đại hội đại biểu. Nhất thiết phải đại hội toàn thể.
Nhiệm kỳ vừa rồi, Ban Thư ký không phải do Đại hội, cũng không phải do Ban Chấp hành bầu ra mà do cấp trên chỉ định. Lần này nên có hình thức thăm dò trước xem những ai xứng đáng được bầu vào Ban Chấp hành, Ban Thư ký. Nhưng đến Đại hội, việc bầu bán phải được tự do hoàn toàn, không thể chấp nhận mọi hình thức áp đặt từ bên ngoài. Sau khi bầu Ban Chấp hành, nên để Đại hội tự bầu Ban Thư ký và Tổng thư ký của Hội.
Tôi xin nhắc lại, cốt lõi vẫn là vấn đề tự do dân chủ. Có dân chủ, tự do, Đại hội lần này sẽ thành công tốt đẹp. Có tự do dân chủ, văn học nước nhà mới có thể phát triển nhanh, mạnh, kịp bước tiến của thời đại.
P.V. - Xin chân thành cảm ơn anh.
(LÃ NGUYÊN thực hiện)
Văn nghệ, Hà Nội, số 10 (5.3.1988)
w Rút từ bộ sưu tập ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ THỜI ĐẦU ĐỔI MỚI,
Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình sưu tầm biên soạn;
bản đánh máy: Trung tâm VH-NN Đông Tây, Hà Nội

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ Nhôm và bình phong



FB Hồ Đông Thụy

Phan Văn Anh Vũ tức Vũ Nhôm đã bị khởi tố thêm tội " lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ" , như vậy là cơ quan an ninh đã chính thức xác nhận là Vũ Nhôm là người có "chức vụ, quyền hạn", nghĩa là thân phận một sĩ quan công an chìm là đúng, sau một thời gian lập lờ chỉ xác quyết là Vũ Nhôm là một "đại gia bất động sản".

Như vậy nếu Vũ Nhôm là một công an chìm của tổng cục 5 bộ Công An, mà cấp bậc như bí thư thành ủy Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa từng tiết lộ là "cấp tá", một câu hỏi đặt ra là Vũ Nhôm xuất thân là công an mới đi làm doanh nhân hay Vũ Nhôm từ làm doanh nhân rồi mới được "tuyển mộ" vào ngành công an?

Nếu Vũ Nhôm là công an từ trước, thì chắc chắn là những tài sản, những thương vụ hàng trăm tỷ của Vũ Nhôm là tài sản của cơ quan chủ quản Vũ Nhôm, ở đây là tổng cục 5. còn Vũ Nhôm chỉ là một người đứng tên làm "bình phong", làm nhiệm vụ thuần túy cấp trên giao.

Nếu Vũ Nhôm là một doanh nhân thực thụ chả có tí nghiệp vu công an tình báo nào mà được thu dụng làm công an thì vấn đề là tại sao Vũ Nhôm có thể trở thành công an với cấp tá, trong khi theo tin ngoài lề thì Vũ Nhôm chỉ học tới lớp 11, nghĩa là trình độ học vấn không đủ? Ai đã cho Vũ Nhôm vào ngành , và liệu Vũ Nhôm có dùng tiền mua chức sau khi đã thành "đại gia bất động sản" để vênh váo với đời hay không?

Vũ Nhôm dùng thân phận sĩ quan an ninh tình báo để làm bình phong cho hoạt động kinh doanh hay lấy hoạt động kinh doanh làm bình phong cho hoạt động tình báo? Đây là một câu hỏi rất đáng đặt ra với Vũ nhôm và không ít sự thú vị.

Nhưng với tội danh "lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ" cộng với "cố ý tiết lộ bí mật nhà nước", rõ ràng thân phận công an chìm của Vũ Nhôm là đã khẳng định chắc chắn. Như vậy đống tài sản của Vũ Nhôm có bao nhiêu phần trăm của cá nhân ông ta? có bao nhiêu tài sản của cơ quan chủ quản đã trở thành tài sản riêng của Vũ Nhôm và của các quan chức ô dù bảo kê cho Vũ Nhôm? Hành trình xác định truy nguồn và thu hồi số tài sản này không kém phần hấp dẫn và thú vị cho những ai quan tâm đến việc chống tham nhũng và chiến dịch "đốt lò".

Sự hống hách của Vũ Nhôm khi vừa có tiền vừa có quyền trong lúc đỉnh cao chính là một trong những lý do làm cho Vũ Nhôm ngã ngựa rơi đài. Vũ Nhôm quên rằng ông ta chỉ là người đang "thực hiện công vụ" và chức vụ và quyền hạn cũng như đống tài sản tiền bạc ông ta có là phục vụ cho nhiệm vụ được giao. Vì lẽ đó, cái cấp bậc thượng tá hay danh phận tổng giám đốc tập đoàn Nova Bắc Nam 79 cũng chỉ là nhiệm vụ của ông, nó hoàn toàn không phải là tài sản của cá nhân ông, cũng không phải quyền lực của cá nhân ông. Người ta cung cấp và đưa cho ông được thì cũng có thể thu hồi và lấy lại được. Vũ Nhôm vốn ngạo mạn, hay quá thấp kém vì trình độ hiểu biết kiến thức chưa tới tầm hay vì quá hăng say trên đỉnh cao mà quên mất điều đó.

Việc của Vũ Nhôm, cùng với Trịnh Xuân Thanh và Út Trọc được đưa ra phơi bày trong thời gian qua cho thấy một điều đang tồn tại ở trong xã hội này: đó là việc "đứng tên" làm bình phong cho các thế lực kim tiền và quyền lực mà ở góc độ và cương vị của những người có thế lực đó họ không tiện ra mặt. Có một lớp người mà tư chất thông minh, lanh lợi, luồn cúi, trung thành,... được chọn mặt gửi vàng để thay thế "ông chủ" đi giao dịch, đi quan hệ v.v... và những người này được dựng lên làm "bình phong", làm cascadeur cho những sếp VIP và siêu VIP phía sau.

Vũ Nhôm, Xuân Thanh, Út Trọc,... chẳng qua cũng chỉ là quân lính, là môn khách, như những Kinh Kha, Yêu Ly, Dự Nhượng,.. thời xưa mà thôi. gặp thời thì phất lên, gặp lúc tao loạn thì có thể thành danh như Yết Kiêu, Dã Tượng còn khi hết giá trị sử dụng rồi thì sẽ là thân phận "nuôi quân nghìn ngày, dùng quân một khắc". Nhưng những người như Vũ, Thanh, Út,.. hơn hẳn những kẻ khác khi họ dám chấp nhận thân phận "bình phong" như một thực tại và lựa chọn nó cho sự nghiệp và tiến thân, mà trong lúc nhiều người vì sĩ diện, vì đạo đức, vì thân thế hay đơn giản không có cơ hội mà từ chối hoặc không được nhận làm những công việc này.

Những Vũ Nhôm (hay những Trịnh Xuân Thanh, Út Trọc) khác, ở trình và cấp độ thấp hoặc cao hơn là một trong những case đáng để nghiên cứu đối với giới xã hội học, giới tinh hoa elite chính trị vì nó là một tồn tại thực tế khách quan, một khi trong xã hội còn thiếu minh bạch và nhiều vụ áp phe (cả kinh tế và chính trị) mờ ám, thì những người như họ, là những nhân vật tuy bề ngoài là những diễn viên chính nhưng sau hậu trường chỉ là kép phụ, chính là bộ mặt góp phần sinh động cho nền chính trị và kinh tế của một đất nước.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Họ đã cùng nhau “phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật”


>> Trung Quốc thúc đẩy viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
>> Lời nói thẳng của ông Huỳnh Đức Thơ đã nói lên nhiều điều


XUÂN DƯƠNG
(GDVN) - Pháp luật được thượng tôn sẽ tránh cho những vị từng là lãnh đạo cao cấp không phải rơi nước mắt xin lỗi nhân dân, đó chính là những gì mà người Việt mong đợi.

Năm 2017,  khi đất nước đạt những thành tựu ấn tượng về kinh tế, thể thao,… thì cũng là lúc mức độ “tăng trưởng” về chức vụ của cán bộ bị kỷ luật, bị xử lý hình sự có sự gia tăng đột biến.

Chưa bao giờ số lượng cán bộ cao cấp đương chức hoặc đã nghỉ hưu từ Bí thư, Chủ tịch tỉnh, Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị bị xử lý nhiều như thời kỳ này.

Nhiều cán bộ cao cấp bị xử lý không phải do những người này mới mắc sai phạm mà do một thời gian dài buông lỏng quản lý, do cách thức chống tham nhũng trước đây chỉ mới “từ vai trở xuống”.

Một trong những nguyên nhân chính là việc pháp luật chưa được tôn trọng, có thời điểm xuất hiện tổ chức gọi là “Liên ngành tư pháp” mà ý kiến, ý định của tổ chức này khiến cả Công an, Kiểm sát và Tòa án đều phải tuân theo.

Có những trường hợp người bị oan sai tố cáo bị bức cung, nhục hình nhưng không mấy khi được cơ quan chức năng thừa nhận.

Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (Vov.vn) ngày 1/2/2018 trong một bài viết đặt vấn đề:

“Để xây dựng Chính phủ kiến tạo thì phải kiên quyết loại bỏ mọi biểu hiện phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật, làm hư hỏng bộ máy công chức”. [1]

Thực ra, những biểu hiện phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật không chỉ tìm thấy ở “bộ máy công chức hư hỏng” mà cũng còn tìm thấy ở những thành phần khác như viên chức, doanh nhân và người dân bình thường. 

Tuy nhiên việc tập trung vào “bộ máy công chức” không phải là không có lý do.

Bởi “bộ máy công chức” chính là những cá nhân, tập thể được nhà nước giao trách nhiệm bảo vệ pháp luật.

Do đó, họ cũng chính là lực lượng có điều kiện nhất nếu xảy ra việc “phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật”.

Người dân phải hối lộ quan chức để được việc cũng chính là “phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật” song đây là sự “cực chẳng đã”, nằm ngoài ý muốn nếu không gọi là bị bắt buộc.

Nói đến sự tôn nghiêm của pháp luật, người dân thường liên tưởng đến ba cơ quan là Công an, Kiểm sát và Tòa án, tuy nhiên đó chưa phải là toàn bộ các bộ phận cấu thành nhà nước.

Đa số người dân nhìn vào thái độ thực thi công vụ của cán bộ trong cơ quan công quyền, của Công an, Kiểm sát khi khởi tố điều tra, khởi tố vụ án, của các Thẩm phán khi xét xử để xem pháp luật có được tôn trọng hay không.

Điều này đúng nhưng chưa bao quát toàn diện, chưa đi đến tận cùng vấn đề.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chính xác khi cho rằng:

“Chính phủ xác định phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nhất là tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. [1]

Việc đầu tiên và quan trọng nhất như khẳng định của Thủ tướng là “tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

Nói cụ thể hơn là phải bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh, không chậm trễ những điều đã được ghi trong Hiến pháp và các bộ luật đã có hiệu lực thi hành.

Không phải ngẫu nhiên nhiều phiên họp Quốc hội, các đại biểu đã chất vấn chính phủ về việc hoãn trình dự thảo Luật Biểu tình, Luật về Hội,…

Mười ba năm trước, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 48-NQ/TW xác định cụ thể những quan điểm chỉ đạo, các định hướng lớn và những giải pháp cơ bản cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Điều 2 Nghị quyết nêu rõ:

“Xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng”. 

Căn cứ vào Nghị quyết 48-NQ/TW, Quốc hội khóa XII và XIII đã thông qua nhiều đạo luật song cho đến nay hai đạo luật về lập hội và biểu tình vẫn chưa có.

Điều này cho thấy không chỉ các nghị quyết mang tính chỉ đạo của Bộ Chính trị mà các nghị quyết của Quốc hội - văn bản có tính pháp lý bắt buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện - cũng chưa được tuân thủ nghiêm túc.

Phải chăng đây mới chính là những vấn đề cốt lõi liên quan đến “sự tôn nghiêm của pháp luật”?

Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định:

Nhà nước là bộ máy do giai cấp thống trị về kinh tế - chính trị thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố quyền cai trị (của giai cấp thống trị) đối với các giai cấp, tầng lớp khác.

Nói cụ thể hơn, giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để ban hành các đạo luật và không ít trường hợp, luật pháp được sử dụng như là công cụ đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị bên cạnh việc dùng nó (luật pháp) để quản lý xã hội.

Giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật, về bản chất chính là giữ gìn quyền thống trị của một giai cấp hoặc một liên minh các giai tầng đối với các thành phần còn lại của xã hội.

Trong một quốc gia mà quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân, nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc “của dân, do dân và vì dân” thì quyền thống trị thuộc về nhân dân, điều này có đồng nghĩa với việc không còn sự phân biệt giai cấp lãnh đạo hay bị lãnh đạo?

Nếu không tồn tại giai cấp lãnh đạo quyền lãnh đạo thuộc về ai?

Khoản 2, điều 2 Hiến pháp 2013 nêu:

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Công nhân, nông dân, trí thức liên minh thành lực lượng nòng cốt nắm quyền lãnh đạo.

Các tầng lớp khác như tiểu thương, giới biểu diễn (showbiz), doanh nhân,… vì đều là “Nhân dân” nên cũng có vai trò nào đó, nhưng không phải là “nền tảng” trong “quyền lực nhà nước” như Hiến pháp đã chỉ rõ.

Vấn đề là tất cả các thành phần tạo thành “Nhân dân” đó có trực tiếp tham gia quản lý nhà nước hay không?

Câu trả lời có thể tìm thấy chính trong Nghị quyết 48-NQ/TW:

“Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức;

Mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước; ban hành Luật về trưng cầu ý dân”.

Cho đến nay chưa có một đạo luật riêng về “quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân” mà chỉ có quy định về “giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội đối với cơ quan hành chính nhà nước”.

Nhân dân ủy thác quyền lực cho Quốc hội, Quốc hội thay mặt Nhân dân ban hành các đạo luật và lực lượng cán bộ, công chức chịu trách nhiệm thực thi những gì mà pháp luật quy định.

Khi chưa có Luật Biểu tình, Luật về thành lập Hội thì việc người dân biểu thị nguyện vọng của mình không thể nói là không có những khó khăn nhất định.

Bản thân việc đặt vấn đề “phải kiên quyết loại bỏ mọi biểu hiện phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật” chỉ là cảnh báo một nguy cơ có thể thành hiện thực hay cho thấy trên thực tế pháp luật chưa được tôn trọng - nghĩa là quyền của nhân dân chưa được tôn trọng?

Hãy xem xét qua một sự việc vừa xảy ra, Công an Phú Quốc - Kiên Giang bêu tên người mua, bán dâm tại nơi công cộng.

Xin trích dẫn ý kiến trong bài báo “Công an Phú Quốc bêu tên người mua bán dâm: Hệ lụy khủng khiếp” trên Vov.vn:

“Quy định của pháp luật hiện nay cho thấy mua bán dâm không phải là tội phạm, nó chỉ là vấn đề tệ nạn xã hội. 

Những hành vi mua bán dâm trên chỉ đáng bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013… 

Việc làm của Công an thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác”. [2]

Liệu việc làm của Công An Phú Quốc có phải là “phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật” hay các quy định trong luật và các văn bản dưới luật không rõ ràng khiến người thực thi công vụ khó áp dụng?

Hiện tượng kết bè kéo cánh, hiện tượng “vua con” tại các địa phương, hiện tượng mua quan bán chức mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các văn kiên của Đảng đã đề cập là do cán bộ, công chức “phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật” hay do chế tài xử lý không mang tính răn đe khiến người ta không sợ?

Thực tế cho thấy tại bất kỳ quốc gia nào, từ xưa đến nay, sự tôn nghiêm của pháp luật luôn mang tính tương đối, vấn đề chỉ là ở chỗ pháp luật bị lợi dụng, bị bẻ cong ít hay nhiều và người dân có hiểu biết thấu đáo những quyền hiến định của mình hay không?

Một thể chế chính trị dung túng cho nhân viên công quyền phá hoại sự tôn nghiêm của pháp luật chắc chắn không phải là thể chế mạnh. 

Một lãnh đạo biết mười mươi nhân viên dưới quyền tham nhũng, hối lộ, mua quan, bán chức nhưng lại vờ như không biết, dung túng bao che cho cấp dưới làm trái pháp luật chắc chắn không phải là người có uy tín.

Chỉ khi nhìn vào cách đối xử của đồng liêu, của cấp dưới khi người đó rời xa chính trường là đủ biết thực tế đó là người thế nào.

Luôn tồn tại mâu thuẫn giữa giữ ổn định chính trị để phát triển kinh tế với đòi hỏi đổi mới thể chế theo quy luật biện chứng của sự phát triển.

Sự thay đổi về lượng chắc chắn sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất, đó là một trong ba quy luật quan trọng nhất của triết học Mác - Lênin.

Trở thành một nước có thu nhập trung bình, dân số đạt gần 100 triệu người, dự trữ vàng và ngoại tệ trong dân đạt con số ấn tượng khoảng 500 tấn vàng và nhiều tỷ USD, tốc độ tăng trưởng đạt trên 6% một năm đã làm biến đổi cơ bản tiềm lực kinh tế đất nước.

Quá trình tích tụ của cải vật chất của quốc gia, nâng cao thu nhập từng cá nhân chính là sự thay đổi về lượng.

Sự thay đổi về lượng rất dễ nhận thấy, sự thay đổi về chất - tức là thể chế chính trị rất khó dự báo bởi theo quy luật nó là một bước nhảy vọt, diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Nhìn chung người Việt không muốn những diễn biến kiểu “Cách mạng màu” hay “Mùa xuân Ả rập”, vấn đề là không thể không có những thay đổi về chất cách thức quản lý đất nước.

Pháp luật chỉ có thể được tôn trọng khi quan chức “không muốn, không thể và không dám tham nhũng”.

Trong ba yếu tố đó “không muốn” là quan trọng nhất bởi một khi người ta đã “muốn tham nhũng” thì người ta có thể tìm nhiều cách, kể cả khi biết rằng sẽ bị trừng trị.

Để cán bộ, công chức không thể tham nhũng thì cần hoàn thiện pháp luật và minh bạch trong mọi hoạt động, đặc biệt là những hoạt động liên quan đến tiền bạc, chức tước.

Còn để người ta “không dám tham nhũng” thì hình thức răn đe phải đủ nghiêm khắc, cán bộ phải bị xử lý nặng hơn dân thường.

Pháp luật được thượng tôn sẽ tránh cho nhiều người - từ dân thường đến cựu Ủy viên Bộ Chính trị - không phải khóc trước tòa vì tự cho là mình oan sai hay vì hối hận.

Pháp luật được thượng tôn cũng sẽ tránh cho những vị lãnh đạo cao cấp không phải rơi nước mắt xin lỗi nhân dân, đó chính xác là những gì mà người Việt mong đợi lúc này.

Tài liệu tham khảo:

[1]https://vov.vn/xa-hoi/cong-an-phu-quoc-beu-ten-nguoi-mua-ban-dam-he-luy-khung-khiep-726060.vov

[2] http://vov.vn/chinh-tri/kien-quyet-loai-bo-moi-bieu-hien-pha-hoai-su-ton-nghiem-cua-phap-luat-725716.vov

Phần nhận xét hiển thị trên trang