Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Putin và nước Nga sẽ đi về đâu trong năm 2018? - Quan điểm của Trung Quốc



 
Năm 2017, Nga xảy ra nhiều sự kiện: nhiều thành phố diễn ra các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn, Saint-Petersburg lại lần nữa xảy ra đánh bom ở tàu điện ngầm, quan hệ Nga-Mỹ lên xuống thăng trầm giữa cải thiện và chuyển biến xấu. Năm 2018, nước Nga của Putin sẽ đi về đâu?

Nga là một quốc gia thần kỳ, có thể gây ảnh hưởng cho thế giới bằng phương thức không ai nghĩ đến, thu hút sự chú ý của mọi người. Như nhà thơ, nhà ngoại giao Nga nổi tiếng thế kỷ 19, Fedor Ivanovich Tyutchev (1803-1873) từng nói: “Lý trí không lý giải được nước Nga, đối với nước Nga, bạn chỉ có thể tin tưởng nó”. 
Năm 2017, Nga xảy ra nhiều sự kiện: nhiều thành phố diễn ra các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn, Saint-Petersburg lại lần nữa xảy ra đánh bom ở tàu điện ngầm, quan hệ Nga-Mỹ lên xuống thăng trầm giữa cải thiện và chuyển biến xấu. Những sự kiện này đều thu hút sự chú ý của thế giới. Trung Quốc là nước láng giềng có chung 4.300 km đường biên giới với Nga, cho dù là trong lịch sử hay thực tại, Nga đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Trung Quốc. Người Trung Quốc rất quan tâm đến những gì đã xảy ra ở Nga, tại sao lại xảy ra những sự việc này, trong tương lai Nga sẽ đi về đâu? 
Nhìn nhận khuôn khổ nhận thức của nước Nga
Một sự thực là, cho dù người Trung Quốc rất hứng thú với nước Nga, nhưng cách nhìn đối với nước Nga rất chắp vá. Có người cho rằng Nga vẫn là cường quốc thứ nhất thứ nhì thế giới, vẫn có thể phát uy tầm ảnh hưởng mang tính quyết định đối với các công việc của thế giới. Cũng có người cho rằng Nga đã suy yếu và vẫn sẽ tiếp tục xu thế này trong tương lai, cuối cùng hạ xuống thành một quốc gia mang tính khu vực. Một số người nghĩ rằng Trung Quốc và Nga là đồng minh tự nhiên, Trung Quốc trong tình hình đối mặt với sức ép mạnh mẽ từ Mỹ, đương nhiên cần phải liên minh với Nga để cùng nhau chống lại Mỹ. Nhưng cũng có người cho rằng kể từ khi Trung Quốc và Nga tiếp xúc, Nga đã gây nhiều tổn thương cho Trung Quốc, tạo nên mối đe dọa lớn cho an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. “Nga là một láng giềng xấu, Trung Quốc nên tránh càng xa càng tốt”. 
Những bất đồng ý kiến này cho thấy có sự khác biệt nhận thức rất lớn trên phương diện quan sát các công việc quốc tế của dân chúng. Vì vậy, rốt cuộc chúng ta nên nhìn nhận Nga trong khuôn khổ phân tích như thế nào, khách quan, công bằng hay toàn diện, có bao gồm cả việc đánh giá các công việc quốc tế khác? 
Người xưa của Trung Quốc có không ít câu nói về nhận thức sai lầm, như “bị lá cây che mắt, không nhìn thấy núi Thái Sơn”, “chỉ nhìn thấy cây, không nhìn thấy rừng”, “mò trăng đáy nước”… Có thể nói, cùng một sự vật, nếu bạn quan sát ở các góc độ khác nhau thì rất có thể nhìn thấy sự vật không giống nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải dựa trên góc nhìn khách quan toàn diện và khuôn khổ phân tích khoa học để quan sát thế giới phức tạp rối ren này. 
Theo người viết, cho dù là đối với Nga, hay là đối với các vấn đề quốc tế khác, đều cần phải đặt nó trong không gian 3 chiều do 3 trục tọa độ hợp thành để quan sát một cách toàn diện. 
Trục tọa độ thứ nhất là trục ngang, chính là những thay đổi của lịch sử quốc gia này, những yếu tố như văn hóa chính trị, cơ cấu kinh tế, phương thức quản lý, bản sắc dân tộc… của nước này rốt cuộc có những thay đổi gì diễn ra trong lịch sử. Trục tọa độ thứ hai là trục thẳng đứng, chính là đặt đối tượng nghiên cứu của chúng ta vào trong cả hệ thống quốc tế, so sánh nó với các nước khác trên thế giới để phân tích điểm mạnh và điểm yếu, và xác định vị trí của nó trong hệ thống quốc tế. Trục thứ 3 quan trọng hơn cả, cho dù đối với bất kỳ vấn đề quốc tế nào, chúng ta đều cần phải coi lợi ích quốc gia của Trung Quốc là một đường tâm quan trọng, xem xét sự vật mà chúng ta quan sát rốt cục có ý nghĩa gì đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, dẫn đến ảnh hưởng gì. Chỉ có trong không gian 3 chiều chúng ta mới có thể nhìn rõ bản chất của vấn đề. 
Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giáo dục truyền thống, cách tư duy của người Trung Quốc đa phần là nhị nguyên, không đen thì trắng, không tốt thì xấu. Chúng ta không giỏi nắm bắt mức độ phong phú và “độ xám” khác nhau của đối tượng trong một thế giới màu xám. Hơn nữa, rất nhiều người chúng ta khi xem xét một sự vật đều thích phán xét giá trị trước, nhận định xem cái này tốt hay xấu, người kia xấu hay tốt. Nhưng thường khi phán xét giá trị, bạn lại bỏ qua nhiều khía cạnh khác của đối tượng. 
Vì vậy tác giả kiến nghị rằng mọi người trong quan sát và suy xét các vấn đề quốc tế phải dùng nhiều hơn một lăng kính, để nó quan sát 7 sắc quang phổ, chứ không phải dùng kính lão, kính cận hay kính viễn vọng chỉ có thể nhìn thấy từng điểm của đối tượng. 
Những thành tựu và thiếu sót của hai vị tổng thống nhiệm kỳ trước Putin 
Trở lại vấn đề chính. Nga rốt cuộc đang xảy ra vấn đề gì? Tương lai sẽ diễn biến theo hướng nào? Đây chính là chủ đề hôm nay chúng ta sẽ cùng thảo luận với mọi người. Như chúng ta đã biết, Putin tiếp quản quyền lực từ tay Boris Yeltsin bắt đầu từ ngày 31/12/1999, cho đến nay đã được 17 năm. Trong 17 năm đó, đầu tiên ông đảm nhận 2 nhiệm kỳ tổng thống, sau đó chuyển sang làm thủ tướng, tiếp theo đó năm 2012 một lần nữa quay trở lại Điện Kremli giữ chức tổng thống. Theo hiến pháp của Liên bang Nga sau khi sửa đổi, nhiệm kỳ tổng thống Nga từ 4 năm kéo dài thành 6 năm, điều này có nghĩa là Putin có khả năng nắm quyền đến năm 2024, cũng có nghĩa là lãnh đạo nước Nga một phần tư thế kỷ. 
Trong thời gian 17 năm Putin lãnh đạo nước Nga, những thay đổi lớn đã diễn ra ở Nga. Chúng ta nhìn xem, rốt cuộc là những thay đổi nào. Trong hai nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Putin làm rất nhiều việc, ở một mức độ rất lớn đã làm thay đổi cục diện kinh tế suy thoái, chính trị hỗn loạn thời kỳ Tổng thống Boris Yeltsin cầm quyền. 
Về chính trị, ông lựa chọn biện pháp mạnh mẽ, thông qua hàng loạt biện pháp như thành lập khu vực liên bang, cử Đại diện toàn quyền Tổng thống Liên bang Nga… định hình lại hệ thống quyền lực thẳng đứng, chống lại sự can thiệp của giới đầu sỏ chính trị, khiến một số nhân vật đầu sỏ chính trị như Vladimir Gusinsky, Boris Berezovsky không vào tù thì cũng phải lưu vong nước ngoài, ảnh hưởng chính trị giảm đáng kể. Về kinh tế, ông dựa vào chủ nghĩa tư bản nhà nước xây dựng lại sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế, đồng thời dựa vào giá dầu đang lên cao trên thị trường quốc tế để đạt được sự phục hồi tăng trưởng nhanh chóng của kinh tế Nga trong giai đoạn 2000 đến 2008. Trong lĩnh vực an ninh, dùng “bàn tay sắt” để chống chủ nghĩa khủng bố, bao gồm phát động Chiến tranh Chechnya lần thứ hai, khiến tình hình an ninh trong nước từ hỗn loạn mất trật tự chuyển sang an ninh có trật tự. Về mặt quốc tế, ông áp dụng các chính sách thực dụng “cứng rắn nhưng linh hoạt” để ngăn chặn xu thế địa vị quốc tế của Nga không ngừng sụt giảm, tầm ảnh hưởng quốc tế của Nga đã được khôi phục phần nào. 
Đồng thời, chúng ta cũng dễ nhận ra rằng phương thức quản lý của Putin cũng mang lại một số vấn đề mới cho nước Nga. Về mặt chính trị, đã tiêu diệt một số nhân vật đầu sỏ chính trị cũ, nhưng lại xuất hiện một số nhân vật đầu sỏ mới, bao gồm Thống đốc ngân hàng Rossiya Yuri Kovalquk, anh em nhà Rotenberg (Arkady Rotenberg và Boris Rotenberg, hai anh em nhà này cũng là đầu sỏ nhận được hợp đồng xây dựng khu liên hợp thể thao phục vụ thế vận hội Sochi), nhà sáng lập công ty giao dịch dầu lửa Gunvor - tỷ phú Gennady Timchenko… Những đầu sỏ mới này nắm giữ mạch máu kinh tế và tài nguyên chính trị của Nga, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước mà Putin khởi xướng ở một mức độ rất lớn đã diễn biến thành chủ nghĩa tư bản đầu sỏ. Trong cơ chế thiếu đi sự cạnh tranh này, quan hệ “ô dù” còn quan trọng hơn đổi mới và sáng tạo, sức sống của doanh nghiệp và xã hội chịu sức ép rất lớn. Tại Nga, chiếm vị trí chủ đạo đều là doanh nghiệp nhà nước, là doanh nghiệp lớn, họ được hỗ trợ bởi các chính sách nhà nước, dựa vào địa vị độc quyền vốn có để kiếm tiền, nhưng lại không mang lại động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế của đất nước. 
Về ngoại giao, cùng với sự xuất hiện của cuộc chiến giữa Nga và Gruzia năm 2008 và cuộc khủng hoảng Crimea năm 2014, quan hệ giữa Nga và phương Tây rơi xuống mức thấp nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, môi trường quốc tế của Nga nhanh chóng xấu đi. 
Năm 2012, Putin trở lại Điện Kremli, bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống lần thứ 3 của mình. Lần trở lại này thực sự không dễ dàng. Bởi vì bắt đầu từ cuộc bầu cử Duma Quốc gia Nga cuối năm 2011, các cuộc biểu tình quy mô lớn chống chính phủ và phản đối Putin nổ ra trên toàn lãnh thổ nước Nga. Có thể nói rằng từ lúc đó, vòng hào quang trên đầu Putin đã mờ nhạt phần nhiều. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012, tỷ lệ ủng hộ Putin là 63,6%, trong khi tại hai trung tâm chính trị lớn nhất là Moskva và Saint Petersburg, tỷ lệ ủng hộ ông chưa quá bán, điều này cho thấy thái độ của dân chúng Nga đối với ông khi đó đã có sự thay đổi lớn. 
Bản kế hoạch phát triển của nhiệm kỳ tổng thống thứ 3 và sự thất bại của nó
Trước khi trúng cử tổng thống lần thứ 3, Putin đã vạch ra một bản kế hoạch rực rỡ cho sự phát triển của nước Nga trong tương lai. Về kinh tế, đến năm 2020, phải làm cho tổng lượng kinh tế của Nga đứng trong hàng ngũ 5 nước đứng đầu thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 35.000 USD, tạo ra 20 triệu vị trí việc làm mới, khiến giá trị sản lượng của ngành công nghiệp công nghệ cao chiếm hơn 50% GDP. Về chính trị, phải hàn gắn sự chia rẽ xã hội mà cuộc bầu cử năm 2012 mang lại, thực hiện ổn định chính trị. Về ngoại giao, cải thiện quan hệ với phương Tây, đồng thời thông qua các biện pháp như thành lập liên minh thuế quan, liên minh kinh tế Á-Âu để thực hiện “tái hội nhập” không gian hậu Xôviết dưới sự lãnh đạo của Nga. 
Về các chính sách kinh tế cụ thể, Putin đề ra 5 trụ cột phát triển kinh tế. Thứ nhất là hiện đại hóa ngành công nghiệp dầu khí. Dầu khí là kho báu thượng đế ban cho nước Nga, Putin không chỉ cần phải thực hiện xuất khẩu dầu khí Nga, mà còn phải nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm dầu khí Nga. Thứ hai, thông qua kế hoạch tái thiết vũ khí quân sự trong 10 năm tổng giá trị 750 tỷ USD để dẫn dắt tái công nghiệp nước Nga. Thứ ba, thông qua việc gây dựng hàng loạt khu khoa học công nghệ để thúc đẩy phát triển và đổi mới nước Nga. Thứ tư, ra sức phát triển vùng Viễn Đông, để Viễn Đông trở thành một Singapore thứ hai. Thứ năm, phát huy ưu thế tài nguyên đất đai phong phú của Nga, phát triển hiện đại hóa nông nghiệp, khiến Nga trở thành nước xuất khẩu lương thực của thế giới. 
Cho đến nay, nhiệm kỳ tổng thống lần thứ 3 của Putin sắp trôi qua. Nhìn lại sự phát triển của Nga vài năm gần đây có thể nói bản kế hoạch mà Putin vạch ra gần như không thể thực hiện, kể cả đến năm 2020 cũng không thể thực hiện. 
Về kinh tế, mặc dù giá dầu quốc tế năm 2012 vẫn duy trì ở mức cao hơn 100 USD, nhưng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Nga vẫn sụt giảm rõ rệt. Năm 2012 chỉ có 3,4%, và tụt xuống còn 1,3% vào năm 2013. Cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014 dẫn đến sự trừng phạt của phương Tây đối với Nga và giá dầu theo đó cũng sụt giảm, khiến mức tăng trưởng kinh tế của Nga năm đó chỉ đạt mức 0,5%. Năm 2015 và 2016, kinh tế Nga lâm vào suy thoái, mức tăng trưởng kinh tế lần lượt là 3,7% và -1,7%. 
Mặc dù phía Chính phủ Nga cho biết năm 2017 Nga có khả năng thực hiện tăng trưởng không hoặc tăng nhẹ, nhưng bất kể là dựa trên dự đoán của các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hay cơ quan Chính phủ Nga, đến năm 2020 mức tăng trưởng kinh tế của Nga tính theo tình hình tốt nhất cũng chỉ 2% đến 3%. Đây là một mức tăng trưởng thấp, thấp hơn mức bình quân tăng trưởng kinh tế của thế giới (theo IMF dự đoán, 2017 là 3,5%, 2018 là 3,6%). Điều này có nghĩa là trong giai đoạn tiếp theo vị thế của Nga trong bố cục kinh tế thế giới sẽ tiếp tục suy giảm. 
Vừa rồi chúng ta nói đến việc Putin đề ra đến năm 2020 Nga phải bước vào hàng ngũ 5 nước đứng đầu thế giới về kinh tế. Dựa theo mục tiêu này, trong 8 năm từ năm 2012 đến năm 2020 mức tăng trưởng kinh tế của Nga cần phải đạt bình quân trên 7,5% năm. Hiện nay có thể chắc chắn rằng mục tiêu này hoàn toàn ngoài tầm với. 
Putin từng muốn dựa vào việc chấn hưng quân sự để kéo theo “tái công nghiệp hóa” nước Nga. Vì sao phải tái công nghiệp hóa? Bởi vì trong 20 năm sau khi Liên Xô tan rã, do các nguyên nhân như thiết bị lạc hậu, thiếu sự đầu tư, chảy máu chất xám…, hệ thống công nghiệp nặng mà thời kỳ Liên Xô để lại về cơ bản đã lạc hậu, nhưng hệ thống công nghiệp mới lại chưa được thiết lập. Có thể nói, trong thời gian hơn 20 năm sau khi Liên Xô tan rã, Nga đã trải qua một quá trình “phi công nghiệp hóa” đau thương. Nhiều nhà kinh tế Nga mong đợi đến “xã hội hậu công nghiệp hóa”, nhưng trên thực tế, nền kinh tế dựa trên tri thức và ngành công nghiệp công nghệ cao của Nga không chỉ chưa phát triển đầy đủ, thậm chí ngay cả hệ thống công nghiệp truyền thống cũng đang tiếp tục suy tàn. 
Vì lý do này, có đến 60% đến 70% lượng hàng hóa nhập khẩu của Nga là sản phẩm công nghiệp. Nhưng nước này xuất khẩu chủ yếu vẫn là các nguyên vật liệu như dầu mỏ, khí đốt, gỗ, kim loại, than…, cũng chính là tài nguyên thiên nhiên mà thượng đế đã ban cho nước Nga. Trong tình hình này, đặc biệt là đang lúc cuộc cách mạng năng lượng mới và cách mạng công nghiệp mới đang tăng tốc, Nga sẽ tham gia cạnh tranh kinh tế thế giới với tư thế gì, chiếm vị trí thế nào trong cơ cấu kinh tế thế giới, làm thế nào mới có thể bước vào hàng ngũ các nước phát triển? Đây là vấn đề lớn mà giới cầm quyền ở Nga phải đối mặt. 
Tình hình ngoại giao khó khăn của Nga sau đó 
Về ngoại giao, trước nhiệm kỳ tổng thống thứ 3, Putin cũng đưa ra nhiều ý tưởng, nhưng chưa thực hiện được đầy đủ. Liên minh kinh tế Á-Âu thực sự được thành lập, từ ba nước thành viên ban đầu (Nga, Belarus và Kazakhstan) phát triển đến hiện nay bao gồm cả Cộng hòa Kyrgyzstan và Armenia. Nhưng liên minh này chưa hoàn toàn thực hiện dòng chảy tự do về đầu tư, hàng hóa, dịch vụ, nhân lực. Ở một mức độ nào đó, liên minh kinh tế này phần nhiều quan tâm đến lợi ích của Nga, chứ không phải lợi ích của tất cả các nước thành viên. Vì vậy các nước thành viên khác mặc dù gia nhập Liên minh kinh tế Á-Âu, nhưng lâu nay vẫn ngầm bất mãn mới Nga. 
Trong quan hệ với phương Tây, mặc dù bắt đầu từ khi Obama nắm quyền năm 2008 Mỹ đã đề ra kế hoạch khởi động lại quan hệ Nga-Mỹ, đặc biệt là Trump lên nắm quyền khiến cho rất nhiều người Nga đặt kỳ vọng vào việc quan hệ Nga-Mỹ nhanh chóng được cải thiện, nhưng chỉ trong một vài tháng chúng ta thấy xu hướng xấu đi của quan hệ Nga-Mỹ chưa thực sự được cải thiện. Giữa Nga-Mỹ không chỉ thiếu sự liên kết mạnh mẽ về kinh tế, mà lập trường trong hàng loạt vấn đề quốc tế lớn cũng khó thỏa hiệp. Quan trọng hơn là, cùng với việc trong nước Mỹ vẫn âm ỉ “nghi án Nga can thiệp bầu cử Mỹ”, cũng như bầu cử tổng thống Nga 2018 sắp tới đây, yếu tố chính trị trong nước của hai nước này sẽ tiếp tục kìm hãm sự cải thiện quan hệ song phương. 
Quan hệ Nga-châu Âu cũng vậy, cùng với sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng Crimea và chiến sự kéo dài ở khu vực miền Đông Ukraine, châu Âu cảm nhận được sức ép rõ ràng từ Nga. Đối với đa số các nước EU, hành động cứng rắn của Nga là một mối đe dọa cho an ninh châu Âu. Putin từng đề xuất cùng EU thành lập một “đại châu Âu”, cùng châu Âu xây dựng “không gian thống nhất” trong các lĩnh vực kinh tế, luật pháp, an ninh và văn hóa. Nhưng những mục tiêu này về cơ bản đã nhanh chóng tiêu tan. 
Nga đã đạt được một số thành quả trong việc chuyển hướng sang châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là trong việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản, quan hệ với Ấn Độ cũng đang được điều chỉnh, Nga và ASEAN dự định thành lập khu thương mại tự do. Nhưng nói một cách thực tế, Nga vẫn ở một vị thế tương đối bên lề trong bố cục hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương.
Những hiểu lầm trong quan niệm về chiến lược quốc tế 
Tại sao bản kế hoạch Putin vạch ra hầu như không thực hiện được? Người viết cho rằng ở mức độ rất lớn là bởi vì cách tư duy của Nga chưa bắt kịp với sự phát triển của thời đại mới. Đặc biệt là trong phương diện chiến lược quốc tế, Nga vẫn tồn tại một số vấn đề. 
Thứ nhất, cho đến nay, Nga vẫn coi việc cạnh tranh giữa các nước lớn là cạnh tranh địa chính trị đơn thuần, không phải là cạnh tranh sức mạnh tổng hợp. Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng này, Nga càng coi trong địa bàn, vì vậy không thể không giành lấy Crimea. Nga không nhận ra rằng một quốc gia muốn có chỗ đứng trong thế giới hiện nay thì sức mạnh tổng hợp cần phải được phát triển đầy đủ và toàn diện. 
Có thể giải thích bằng nguyên lý thùng gỗ. Nếu chúng ta coi Nga như một cái thùng gỗ, thì trong các mảnh ghép nên thùng gỗ, chỉ có mảnh gỗ quân sự là tương đối dài, trong khi kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, kể cả các phương diện quyền lực mềm đều bị thiếu hụt. Chiếc thùng của bạn có quá nhiều mảnh ngắn, như vậy nó rốt cuộc có thể đựng được bao nhiêu nước bạn có thể biết rõ. 
Thứ hai, sức mạnh của Nga không phải là khách quan. Rất nhiều người Nga vẫn cho rằng, Nga là một nước lớn trên thế giới, nên và cần phải giải quyết tất cả các việc lớn ảnh hưởng đến quốc tế. Nhưng nếu đánh giá dựa trên các số liệu và chỉ số, chúng ta sẽ phát hiện rằng cho dù trên phương diện kinh tế hay quân sự, sức ảnh hưởng của Nga hiện nay đều đang suy giảm. Đương nhiên, Nga vẫn là nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhưng thời gian gần đây chúng ta thấy trong các cuộc bỏ phiếu của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc liên quan đến các vấn đề an ninh quốc tế và khu vực quan trọng, Nga phần lớn là bỏ phiếu chống, điều này dẫn đến sự hoài nghi của nhiều quốc gia. 
Thứ ba, Nga cho rằng mình là nước chịu thiệt trong trật tự quốc tế hiện tại. Putin từng nói: “Liên Xô tan rã là một thảm họa địa chính trị”. Rất nhiều người Nga cho rằng Liên Xô tan rã là kết quả của hàng loạt âm mưu mà phương Tây thúc đẩy. Trong tình hình này, việc Nga khôi phục địa vị nước lớn chắc chắn sẽ thách thức trật tự quốc tế hiện có. Vì vậy trong những năm gần đây, chúng ta thấy Nga hoạt động không ngừng, liên tục phát động chiến tranh với Gruzia, khủng hoảng tại Crimea, thậm chí đóng quân ở Syria. Trong con mắt của nhiều người Nga, Nga nhất định phải trở thành nước thách thức trật tự quốc tế mà phương Tây chủ đạo, người Mỹ nói gì cũng không làm theo. 
Thứ tư, Nga hiểu không thấu đáo về cuộc cách mạng năng lượng và cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới. Khi cuộc cách mạng khí đá phiến của Mỹ phát triển mạnh mẽ và gây ảnh hưởng lớn đến cục diện năng lượng thế giới, rất nhiều người Nga vẫn cho rằng đó là một trò bịp bợm do Mỹ và Saudi Arabia tạo ra, mục đích là thông qua việc trấn áp giá dầu để kiềm chế Nga. Nhưng trên thực tế chúng ta có thể thấy hiện nay Mỹ đã trở thành nước nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất vượt qua cả Saudi Arabia, nước sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới vượt qua cả Nga, và khí đá phiến của Mỹ sau khi trải qua hóa lỏng đã bắt đầu xuất khẩu sang châu Á-Thái Bình Dương (TBD), tương lai sẽ xuất khẩu sang châu Âu. Sự thay đổi mang tính lịch sử này có ảnh hưởng đến tương lai của Mỹ, tác động lớn đến thị trường năng lượng quốc tế, cũng tác động đáng kể đến địa vị năng lượng của Nga. 
Thứ năm, về việc nhìn nhận Các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xôviết, Nga cho dù bề ngoài coi các nước này là quốc gia độc lập có chủ quyền, nhưng trong sâu thẳm vẫn coi những nước này thấp hơn một bậc: tôi là anh lớn, bạn là em trai; trong các vấn đề lớn liên quan đến lợi ích của tôi thì bạn phải nghe theo tôi, phải ủng hộ và bảo vệ lợi ích của tôi, không phải lợi ích của bạn. Xét cho cùng, Nga vẫn không có thái độ bình đẳng đối với những nước này. Như người viết vừa đề cập trước đó, liên minh kinh tế Á-Âu tồn tại rất nhiều mâu thuẫn nội bộ. Tại sai như vậy? Có một phần nguyên nhân nằm ở đây. 
Thứ sáu, Nga có thái độ tương đối bi quan đối với nhất thể hóa kinh tế thế giới. Tại sao? Bởi vì Nga ở vị trí bên lề của hệ thống phân công kinh tế thế giới ngày nay. Nước này phần nhiều xuất khẩu nguyên liệu thô, không phát triển kinh tế thông qua nắm bắt công nghệ cao. Vì vậy họ cho rằng mình đang bị bóc lột, xuất khẩu năng lượng sang châu Âu là bị bóc lột, xuất khẩu năng lượng sang Trung Quốc và các nước châu Á-TBD khác cũng là bị bóc lột. Họ không muốn hội nhập quá trình nhất thể hóa kinh tế thế giới. 
Mặc dù Nga đã gia nhập WTO, nhưng nước này vẫn hy vọng thông qua phương thức thành lập Liên minh kinh tế Á-Âu để bảo tồn Liên Xô trước đây. Nga dựng hàng rào xung quanh di sản này, hy vọng không ai xâm phạm vào. Cách tư duy này cũng dẫn tới sự phát triển kinh tế của Nga trên thực tế ngày càng xa rời trào lưu lớn của sự phát triển kinh tế thế giới. 
Hiệu quả của việc gửi quân đến Syria như thế nào?
Dù mắc những sai lầm trong nước và quốc tế kể trên, Nga vẫn không chịu chấp nhận hậu quả. Đất nước này, dân tộc này vẫn có sức sống mãnh liệt, họ hy vọng mình trở thành một dân tộc được mọi người tôn trọng. Vì vậy tháng 10/2015, Nga bất ngờ đưa quân đến Syria, triển khai các hoạt động quân sự nhằm vào IS. 
Các hành động này được thực hiện trong bối quan hệ giữa Nga và phương Tây vô cùng căng thẳng, khủng hoảng Ukraine vẫn chưa kết thúc, phương Tây đang áp dụng biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Nga, nền kinh tế Nga đang chịu thiệt hại nặng nề. Trong bối cảnh khó khăn như vậy, Nga vì sao lại đưa quân đến Syria, mục đích là gì? Theo người viết, Nga đưa quân đến Syria có 6 mục tiêu: Một là, chống chủ nghĩa khủng bố. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga chịu tổn hại sâu sắc từ các cuộc tấn công khủng bố. Những năm 1990, Nga đã phát động 2 lần Chiến tranh Chechnya, một trong những nguyên nhân chính là thế lực ly khai bên trong Chechnya đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho an ninh quốc gia Nga. Kể từ thế kỷ mới, các cuộc tấn công liên tiếp của các phần tử khủng bố khiến cho xã hội và dân chúng Nga chịu nhiều đau khổ. Hơn nữa dựa theo số liệu của Cơ quan An ninh liên bang Nga, hiện nay vẫn con hơn 2.000 công dân Nga gia nhập IS ở phía Bắc Iraq và phía Bắc Syria. Nếu những người này trở về sẽ gây thách thức nghiêm trọng cho an ninh trong nước Nga. Do đó, chống khủng bố xuyên quốc gia là một mục tiêu vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc gia của Nga. 
Hai là, giữ các căn cứ quân sự quan trọng của Nga ở khu vực Địa Trung Hải. Sau khi Liên Xô tan rã, các căn cứ quân sự của Nga ở nước ngoài thu hẹp hàng loạt, đến nay chỉ giữ lại một căn cứ hải quân tại Tartus-Syria. Đối với Hạm đội Biển đen, chỉ khi Nga giữ lại căn cứ quân sự này thì trong tương lai mới có thể đến được Địa Trung Hải, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương, phát huy vai trò răn đe chiến lược của Nga. Trong lịch sử, để tranh giành lối đi ra Biển Đen, Nga đã thực hiện hàng chục trận chiến kéo dài hàng trăm năm với Đế quốc Ottoman. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014, do các nước NATO cảnh giác hơn đối với Nga, quan hệ hai bên ngày một căng thẳng. Nga đối mặt với sức ép ngày càng lớn tại Biển Đen và Địa Trung Hải. Trong hoàn cảnh này, nước Nga cần phải giữ căn cứ quân sự tại Syria. Sau hơn 1 năm trôi qua, Nga không chỉ giữ được căn cứ hải quân Tartus, mà còn giành được căn cứ quân sự tại khu vực Latakia ở miền Bắc Syria. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Nga trong việc bảo vệ lợi ích địa chính trị tại Biển Đen và Địa Trung Hải. 
Ba là, cố gắng duy trì chính quyền của Tổng thống Syria Bashar Assad. Tại sao? Bởi vì Nga hiện nay ở Trung Đông chỉ có hai đồng minh tương đối đáng tin cậy, một là chính quyền đương nhiệm Bashar Assad của Syria, hai là Iran với phần lớn người Shitte. Quan hệ giữa Nga và các nước như Qatar, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, cũng như các nước vùng Vịnh khác với chủ yếu là người Sunni không tốt. Trong hoàn cảnh này, duy trì chế độ Assad là có thể bảo vệ lợi ích địa chính trị của Nga ở Trung Đông, đồng thời tạo đòn bẩy cho tình hình địa chính trị của Trung Đông. 
Bốn là, ở một mức độ nhất định đã thỏa mãn niềm tự hào nước lớn của Nga. Mặc dù Liên Xô đã tan rã được một phần tư thế kỷ, dù địa vị quốc tế của Nga sụt giảm nghiêm trọng, nhưng nước này rõ ràng không chấp nhận sự thật này, thậm chí tìm cách chứng minh sự hiện diện của mình với vai trò nước lớn. Họ muốn nói với toàn thế giới rằng mình vẫn là một nước có ảnh hưởng lớn đối với các công việc quốc tế. 
Năm là, chuyển hướng sức ép trong vấn đề khủng hoảng Ukraine. Ngoại giao Nga có nội hàm chiến lược phong phú và truyền thống lịch sử lâu đời. Tư duy của người Trung Quốc luôn là dựa vào hợp tác để theo đuổi hòa bình, dựa vào hợp tác theo đuổi an ninh, dựa vào hợp tác theo đuổi cùng thắng. Nhưng Nga thì luôn là dựa vào đấu tranh để tìm kiếm hòa bình: chỉ có buộc đối phương ngồi vào bàn đàm phán mới có thể có được thứ mà mình muốn. Vì vậy, đúng vào lúc xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, Nga muốn triển khai cuộc chiến thứ hai để làm suy yếu sức ép của Mỹ và châu Âu đối với mình trong vấn đề Ukraine, buộc Mỹ triển khai hợp tác tương ứng với Nga. Đây gọi là “giương đông kích tây”. 
Sáu là, từ bỏ việc khai thác khí thiên nhiên ở khu vực phía Đông Địa Trung Hải. Giới học giả và truyền thông không mấy quan tâm đến mục tiêu này. Những năm gần đây, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, đặc biệt là khu vực thềm lục địa gần Địa Trung Hải của Israel, Jordan, Lebanon, Ai Cập và Syria đã phát hiện trữ lượng lớn khí thiên nhiên. Khu vực này rất gần thị trường châu Âu, nếu lượng khí tự nhiên của Địa Trung Hải này có thể khai thác một cách hiệu quả và xuất khẩu sang châu Âu thì Nga vốn sinh tồn dựa vào việc xuất khẩu khí đốt sang châu Âu sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt và tổn thất vô cùng lớn. Trong hoàn cảnh như vậy, Nga bất ngờ đưa quân đến Syria, hơn nữa đạt được kết quả mong muốn đáng kể. 
Vì vậy, mặc dù sức mạnh của Nga đang suy giảm, ảnh hưởng đang giảm sút, nhưng nước này vẫn có thể có những hành động đáng kinh ngạc. Trong tương lai, chúng ta vẫn có thể thấy những việc gây bất ngờ như vậy. 
Quan hệ Nga-Mỹ không thể cải thiện trong ngắn hạn 
Trong thời gian tranh cử tổng thống, Donald Trump đã bày tỏ tình cảm mạnh mẽ của mình đối với nước Nga, bày tỏ sự ca ngợi chân thành đối với Putin. Vì vậy, từ cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, truyền thông quốc tế và trong nước từng kêu gọi quan hệ Nga Mỹ cần phải cải thiện một cách thực chất. 
Nhưng người viết cho rằng quan hệ Nga-Mỹ không thể có sự cải thiện lớn trong ngắn hạn. Tại sao? Vấn đề là không gian hợp tác Nga-Mỹ vô cùng nhỏ. 
Trên phương diện kinh tế, kim ngạch thương mại giữa Nga và Mỹ chỉ có 20-30 tỷ USD. Điều này đối với hai nước lớn thế giới là một con số vô cùng khiêm tốn, đặc biệt là đối với Mỹ, có thể nói là không đáng kể. Giữa hai nước không có sự gắn kết lợi ích mật thiết, quan hệ xấu đi hay không cũng không ảnh hưởng gì, không tạo thành mối đe dọa quá lớn cho sự ổn định kinh tế trong nước và phát triển kinh tế của mình và đối phương. 
Trên phương diện quân sự, rất nhiều người nói rằng Nga và Mỹ có rất nhiều lợi ích quốc tế chung. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào cuộc cách mạng quân sự mới đang diễn ra thì có thể thấy cho dù trong hiện đại hóa vũ khí hạt nhân, hệ thống tấn công nhanh toàn cầu, hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo toàn cầu hay trong lĩnh vực mạng và truyền thông, hai nước đều có sự cạnh tranh khốc liệt. Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lần này, chúng ta cũng thấy cơ quan tình báo Mỹ cáo buộc Nga can thiệp vào chính trị Mỹ thông qua sự tấn công của các hacker mạng. Vì vậy hai bên đã bắt đầu cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực quân sự. 
Trên phương diện an ninh châu Âu, vấn đề Ukraine vẫn chưa được giải quyết, chiến sự ở khu vực phía Đông Ukraine cho dù có phần hạ nhiệt nhưng vẫn chưa kết thúc hoàn toàn. Chúng ta không nên đánh giá thấp vấn đề Ukraine, nó liên quan đến Hiệp ước Helsinki ký kết năm 1975, liên quan đến tiêu chuẩn an ninh của cả châu Âu. Nếu người Mỹ thả lỏng trong vấn đề an ninh châu Âu, thì các nước đồng minh NATO sẽ nảy sinh mối hoài nghi mạnh mẽ về địa vị lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống an ninh xuyên Đại Tây Dương. Vì vậy, cho dù Nga hàng ngày chỉ trích NATO triển khai lực lượng quân sự mới tại Đông Âu, nhưng từ quan điểm của NATO, những hành động này là để ngăn chặn Nga gây ra cuộc khủng hoảng Ukraine mới và sự kiện Crimea mới. 
Trong vấn đề Syria, rất nhiều người nói Nga và Mỹ có thể hợp tác trong vấn đề chống khủng bố. Nhưng nếu nhìn lại cuộc chiến Syria gần 8 năm qua có thể thấy cho dù hai bên Nga-Mỹ đều giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa khủng bố ở Syria, nhưng rút cục ai là khủng bố, chống khủng bố như thế nào thì nhận thức của hai bên lại có sự khác biệt. Theo người viết, trong tương lai hợp tác giữa Nga và Mỹ trong vấn đề Syria là rất hạn chế. 
Ngày 6/4/2017, Mỹ tấn công quân đội chính phủ Syria bằng 59 quả tên lửa hành trình Tomahawk. Đây là lần đầu tiên quân đội Mỹ đánh vào chính diện quân đội chính phủ Syria. Trước đây Mỹ đều thông qua hỗ trợ các lực lượng chống chính phủ của Syria, thông qua hỗ trợ một số đồng minh của Mỹ tại Trung Đông như Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ để can thiệp vào công việc nội bộ của Syria. Nhưng lần này Mỹ muốn thể hiện rõ sức mạnh với Chính phủ Syria, đồng thời cũng là ra đòn cảnh cáo để Nga thấy rằng cho dù nước này đạt được thành quả lớn bằng việc đưa quân đến Syria, nhưng giới hạn về việc Mỹ yêu cầu các bên ở Syria không được sử dụng vũ khí sinh học là không được lay chuyển. 
Về phương diện nhận thức giữa hai nước với nhau, giới chiến lược Mỹ phần nhiều nghiêng về phía coi Nga là một quốc gia hạng hai, Obama từng thẳng thừng nói rằng Nga đã không còn là một nước lớn toàn cầu. Nhưng Nga không nghĩ như vậy, nước này vẫn tự coi mình là một nước lớn thế giới, vẫn muốn ở vị trí ngang hàng với Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Sự tương phản này không chỉ khiến nhận thức giữa hai nước Nga-Mỹ có sự chênh lệch lớn, mà còn dẫn đến mâu thuẫn lớn giữa hai bên trong các lĩnh vực chính sách cụ thể. 
Từ quan điểm chính trị trong nước, trong nước Nga và Mỹ đều có nhóm lợi ích rất mạnh, họ không muốn quan hệ hai nước nhanh chóng cải thiện, lợi ích của ngành công nghiệp quân sự hai nước có thể chịu thiệt hại do sự cải thiện quan hệ. Hơn thế nữa, hai nước gây nên không ít “thù oán” trong phương diện can thiệp tìn hình nội bộ của nhau: trào lưu chống chính phủ trong nước Nga năm 2011-2012 được Putin cho là cuộc “cách mạng màu” do Mỹ sắp đặt và thao túng, mục đích là ngăn cản Putin quay trở lại điện Kremlin; trong khi người Mỹ nhận định Nga đã can thiệp sâu sắc vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 thông qua tấn công mạng và chiến tranh thông tin, việc này đối với người Mỹ là không thể chấp nhận. Người Mỹ từ khi nào đã bị nước khác can thiệp vào chính trị trong nước, hơn nữa còn gây ảnh hưởng lớn? 
Nhận thức về nhau giữa hai nước Nga-Mỹ hiện nay đều không tốt, coi đối phương là đối thủ thậm chí là kẻ thù. Trong nội bộ hai nước, các lực lượng có thể giúp quan hệ song phương được cải thiện không nhiều. Vì vậy có thể nói trong tương lai cũng không nên đặt hy vọng quá lớn vào việc quan hệ Nga-Mỹ nhanh chóng được cải thiện. 
Dựa vào động lực bên trong để thúc đẩy quan hệ Trung-Nga phát triển bền vững 
Cuối cùng là quan hệ Trung-Nga. Trung Quốc và Nga là nước láng giềng có chung 4.300 km đường biên giới, trong lịch sử, Nga đã có ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh, phát triển thậm chí là cả thể chế xã hội của Trung Quốc. Những năm 1960, 1970, quan hệ Trung Quốc-Liên Xô xấu đi, hai nước bày binh bố trận tại đường biên giới, kết quả không chỉ lãng phí nguồn lực lớn, quan trọng hơn là hai nước đã mất đi cơ hội phát triển quan trọng. 
Cá nhân người viết rất tin tưởng rằng quan hệ Trung-Nga chỉ có thể tốt chứ không thể xấu. chi khi Trung Quốc và Nga có một quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác với thì nhau mới có thể khiến hai nước có được môi trường xung quanh tốt đẹp, khiến hai hước đều tập trung sức lực vào việc xây dựng kinh tế và cải thiện cuộc sống cho nhân dân hai nước. 
Quan hệ Trung-Nga hiện nay đang ở trong giai đoạn tốt nhất của lịch sử, chính phủ nói vậy và cá nhân người viết cũng cho là như vậy. Cái gọi là giai đoạn tốt nhất trong lịch sử không phải chỉ việc Trung Quốc và Nga kết liên minh quân sự chống lại Mỹ. Điều quan trọng nhất là sau 400 năm, đặc biệt là sự tìm kiếm vất vả mấy chục năm gần đây, Trung Quốc cuối cùng đã xác định được vị trí lịch sử thực sự của quan hệ Trung-Nga, đó chính là láng giềng hữu nghị, không kết đồng minh, không đối đầu, không nhằm vào bên thứ ba, đây là nguyên tắc cơ bản. 
Những lời này cho dù có vẻ sáo rỗng, những nó chính là tài sản quý giá mà lịch sử để lại. Bất cứ hành vi nào từ bỏ những câu chữ này, bất cứ ý tưởng nào phá hoại quan hệ Trung-Nga hoặc khiến Trung Quốc và Nga kết đồng minh đều không phù hợp với lợi ích hai nước. Hiện nay rất nhiều người nói về quan hệ ba bên Trung-Mỹ-Nga, có người lo lắng sau khi Trump lên nắm quyền sẽ liên minh với Nga chống lại Trung Quốc, có người nhấn mạnh hai nước Trung-Nga cần phải kết đồng minh chống lại Mỹ. Tuy nhiên, người viết phải nhấn mạnh rằng mô hình truyền thống kiểu “2 chọi 1” này là sản phẩm của Chiến tranh Lạnh, đã không còn phù hợp với sự phát triển của quan hệ quốc tế ngày nay. 
Tại sao? Trước tiên, mô hình này chỉ quan tâm đến địa chính trị, nhưng các chương trình nghị sự của quan hệ quốc tế hiện nay vô cùng phong phú, bao gồm hợp tác kinh tế, biến đổi khí hậu, quản lý toàn cầu, đổi mới khoa học kỹ thuật, mà không chỉ lãnh thổ, địa bàn, nước này tốt với nước kia để đối phó với nước thứ ba. Dùng phương thức đon giản để giải quyết vấn đề phức tạp thì không thể đạt được kết quả tốt. Thứ hai, nhìn vào thực tiễn, chúng ta cũng không nhận thấy nếu quan hệ Trung-Nga chặt chẽ hơn hoặc kết đồng minh thì có thể giảm bớt sức ép đến từ Mỹ. Ví dụ, trong những năm gần đây Trung Quốc và Nga từng hợp tác trong đó có cả tập trận chung, nhưng Mỹ không vì thế mà nới lỏng việc tuần tra chiến lược ở Biển Đông, chưa thấy Mỹ vì thế mà từ bỏ việc triển khai quân sự tại Đông Âu. 
Quan trọng hơn cả là đối với Nga và Trung Quốc, một quan hệ Nga-Mỹ tốt đẹp hay một quan hệ Trung-Mỹ tốt đẹp đều hết sức quan trọng. Vì vậy điều người viết muốn đặc biệt nhấn mạnh là, quan hệ Trung-Mỹ-Nga ngày nay không phải là bản sao của quan hệ Trung Quốc-Mỹ-Liên Xô của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, không phải là sự đối đầu “2 chọi 1”, mà cần phải phát triển quan hệ ba bên kiểu mới hợp tác, cùng hưởng lợi. Ba cặp quan hệ song phương Trung-Mỹ, Trung-Nga, Nga-Mỹ đều có giá trị riêng, lôgích riêng và vai trò riêng. 
Trong bối cảnh điểm nóng quốc tế không ngừng xuất hiện, phát triển kinh tế thế giới vẫn chưa chưa thoát khỏi tình trạng khó khăn, ba nước Trung-Nga-Mỹ có thể thông qua hợp tác tích cực để thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới, bảo đảm sự hòa bình của khu vực và thế giới.
Theo The Paper (Trung Quốc)
Hoàng Lan

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến lược kinh tế của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương


Bối cảnh ở châu Á-Thái Bình Dương đang thay đổi nhanh chóng - thường theo những cách không có lợi cho lợi ích của Mỹ. Tuy nhiên, các tác giả của báo cáo tin chắc rằng một chiến lược kinh tế toàn diện và được thực hiện thận trọng của Mỹ đối với khu vực có thể định hình những xu hướng này có lợi cho các lợi ích dài hạn của Mỹ và hướng nó về tương lai ổn định, thịnh vượng hơn cho tất cả.

Giới thiệu 
Tháng 1/2017, Ủy ban chiến lược kinh tế châu Á CSIS lưỡng đảng đã công bố một báo cáo khuyến nghị rằng Chính phủ Mỹ dưới thời Donald Trump nên thông qua một chiến lược kinh tế toàn diện đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương năng động. Báo cáo đó, mang tên Củng cố chiến lược kinh tế của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, đã phác thảo các xu hướng kinh tế lớn định hình khu vực, biện luận ủng hộ sự lãnh đạo của Mỹ trong các vấn đề khu vực, và đặt ra một chiến lược toàn diện để đảm bảo thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ. 
Bài viết tiếp sau đó được các học giả CSIS chuẩn bị với đóng góp của một loạt chuyên gia và xây dựng trên công trình của Ủy ban này. Nó đã được chuẩn bị trước chuyến đi đầu tiên của Tổng thống Donald Trump đến khu vực vào tháng 11/2017 để dự hội nghị các nhà lãnh đạo diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS). Nó cập nhật các diễn biến trong khu vực kể từ khi Donald Trump nhậm chức và đưa ra các khuyến nghị mục tiêu để thúc đẩy các lợi ích của Mỹ trong chuyến đi của tổng thống Mỹ và trong các tháng sau đó. 
Ở trung tâm của nỗ lực này là niềm tin rằng Mỹ có những lợi ích kinh tế và chiến lược sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà đòi hỏi phải có sự can dự của Chính phủ Mỹ. Các nước dọc bờ biển Thái Bình Dương đại diện cho hơn một nửa các nền kinh tế nghìn tỷ USD và mỗi năm Mỹ xuất khẩu hơn 750 tỷ USD sang các nước châu Á và Thái Bình Dương, một động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng và việc làm ở Mỹ. Một châu Á-Thái Bình Dương ổn định, đặc trưng với những thị trường tự do và mở cửa, hứa hẹn gia tăng sự thịnh vượng và an ninh trong tương lai của nước Mỹ. 
Các tác giả cũng tin rằng số phận sự lãnh đạo của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương nằm trong tay Mỹ - hay nói cách khác, những báo cáo về sự suy tàn của Mỹ đã bị thổi phồng quá mức. Mỹ vẫn là một đối tác thương mại và đầu tư sống còn đối với nhiều nước ở châu Á, không chỉ là thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới mà còn cung cấp hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao, kiến thức then chốt và vốn. Mỹ từ lâu đã có một cam kết vững chắc với các đối tác liên minh của mình và với việc duy trì trật tự an ninh hiện tại của châu Á-Thái Bình Dương, đem lại yếu tố cốt tử cho nền hòa bình và ổn định khu vực. Và, với tư cách nền dân chủ lâu đời nhất thế giới và là nước lãnh đạo toàn cầu giàu kinh nghiệm, Mỹ sở hữu một khả năng không ai sánh kịp là huy động các nước khác ủng hộ những mục tiêu chung. 
Tuy thế, như Ủy ban chiến lược kinh tế châu Á lưu ý trong báo cáo hồi tháng 1 của mình, bối cảnh ở châu Á-Thái Bình Dương đang thay đổi nhanh chóng - thường theo những cách không có lợi cho lợi ích của Mỹ. Đây một phần là kết quả của những bước đi của chính Mỹ, như quyết định của Tổng thống Trump rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cũng như những tín hiệu lẫn lộn gửi tới các đồng minh của Mỹ. Một phần đây là kết quả của những xu hướng dài hạn hơn, kể cả sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách là một nước lớn, những tác động không dự đoán trước được của tiến bộ công nghệ về các hình mẫu phát triển kinh tế, và một viễn cảnh nhân khẩu ngày càng thay đổi khắp khu vực, từ bùng nổ dân số trẻ đến tình trạng siêu già hóa. 
Bất chấp những thách thức này, các tác giả tin chắc rằng một chiến lược kinh tế toàn diện và được thực hiện thận trọng của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương sống còn có thể định hình những xu hướng này có lợi cho các lợi ích dài hạn của Mỹ và hướng nó về tương lai ổn định, thịnh vượng hơn cho tất cả. Các tác giả trình bày bài viết và những khuyến nghị dưới đây theo tinh thần này. 
Một bối cảnh đang phát triển 
Châu Á-Thái Bình Dương vẫn là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, quy mô kinh tế của khu vực đã tăng gấp 3 lần, và thương mại giữa châu Á và Mỹ đã tăng hơn 200%. Bên cạnh đầu tư gia tăng từ các nước châu Á và Thái Bình Dương, hoạt động này hỗ trợ tạo công ăn việc làm đáng kể ở mọi nước - và khi khu vực tiếp tục tăng trưởng, có tiềm năng hỗ trợ thậm chí nhiều hơn. 
Trong khi những cơ hội thương mại và đầu tư ở châu Á-Thái Bình Dương vẫn là to lớn, Mỹ đã phải đối mặt với một môi trường ngày càng thách thức trong khu vực những năm gần đây. Những căng thẳng gia tăng về các chương trình tên lửa và vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã khiến khu vực lo ngại. Ở Biển Đông, Trung Quốc đã tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo bất chấp luật pháp quốc tế. Và bất chấp tăng trưởng bền vững và mạnh mẽ, các xu hướng kinh tế trong khu vực không thuận lợi cho lợi ích của Mỹ. Trong khi Quỹ tiền tệ quốc tế dự báo tăng trưởng hằng năm ở châu Á đang phát triển vẫn trên 6% trong trung hạn, những rủi ro bất lợi với viễn cảnh này đã tăng lên, nhất là rủi ro chủ nghĩa bảo hộ ngày càng tăng và sự bất ổn tài chính. 
Các chính sách công nghiệp và thương mại trọng thương tiếp tục phát triển trong khu vực. Đặc biệt, Trung Quốc đã tăng cường các chính sách từ chối cơ hội thị trường cho các công ty Mỹ, hỗ trợ những công ty hàng đầu trong nước và bóp méo các thị trường toàn cầu. Bắc Kinh đã ngày càng cho thấy rằng họ đã sẵn sàng nhắm mục tiêu vào các ngành công nghiệp của tương lai và cạnh tranh trực tiếp với Mỹ cho sự lãnh đạo công nghệ toàn cầu. Được thông qua năm 2013, kế hoạch "Sản xuất ở Trung Quốc năm 2025" của Bắc Kinh tiết lộ tham vọng của họ đưa Trung Quốc lên cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu bằng mọi cách cần thiết, kể cả trợ cấp, chuyển giao công nghệ bắt buộc và lạm dụng chính sách cạnh tranh. Nó được bổ sung vào tháng 7/2017 bằng việc công bố "Kế hoạch trí tuệ nhân tạo thế hệ mới", đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng cho việc phát triển trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc cho đến năm 2030. 
Trong khi đó, các luật và chính sách mới tiếp tục hạn chế hoạt động của các công ty Mỹ ở Trung Quốc. Chẳng hạn, việc thực hiện một luật an ninh mạng mới đã buộc Apple hồi tháng 7 phải công bố rằng họ sẽ mở trung tâm dữ liệu đầu tiên ở Trung Quốc. Sau đó vài ngày, công ty này đã lặng lẽ bỏ các mạng riêng ảo (VPN) khỏi kho ứng dụng của mình ở Trung Quốc dưới sức ép của chính phủ. Các hoạt động này không chỉ có hại cho sức khỏe của các ngành công nghiệp lâu đời của Mỹ, mà còn cho thấy một mối đe dọa cho những cơ hội xuất khẩu tương lai. 
Trong bối cảnh này, các nước châu Á đã hành động để định hình cấu trúc thương mại khu vực mà không có Mỹ. Quyết định của Tổng thống Trump rút khỏi TPP đã thúc đẩy dàn xếp khu vực lớn khác, Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), đưa Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nền kinh tế tiên tiến châu Á-Thái Bình Dương lại với 10 nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Nếu thỏa thuận này được ký kết, nó có thể không chỉ tạo ra những tác động thương mại làm chệch hướng mà sẽ phải trả giá bằng công ăn việc làm và tăng trưởng cho nước Mỹ, mà còn củng cố các nguyên tắc kinh tế tiêu chuẩn thấp vốn sẽ làm nghiêng sân chơi cạnh tranh theo hướng bất lợi cho các công ty Mỹ. 
Bất chấp việc Mỹ rút lui, TPP cũng đã tiếp tục mà không có Mỹ. Với Nhật Bản và Úc dẫn đầu, 11 nước ký kết còn lại đã gặp mặt vài lần và hoàn tất các cuộc đàm phán về sửa đổi thỏa thuận này vào thời điểm hội nghị cấp cao APEC diễn ra vào tháng 11/2017. 
Ngoài ra, nhiều nước đã tiếp tục lại nỗ lực của họ hoàn thành các thỏa thuận thương mại song phương. Kết quả lớn nhất của những điều này là một thỏa thuận đối tác kinh tế gần như cuối cùng giữa Liên minh châu Âu và Nhật Bản. Trong số những điều khác, thỏa thuận này có thể bao gồm các nguyên tắc theo kiểu châu Âu về quyền riêng tư dữ liệu, cũng như chỉ dẫn địa lý cho thực phẩm và đồ uống có cồn, gây phương hại cho các công ty và nông dân Mỹ. Cùng nhau, những thỏa thuận này có khả năng làm xói mòn đáng kể tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Mỹ và duy trì những nguyên tắc có hại cho lợi ích của Mỹ. 
Ngoài thương mại, các nước châu Á đang thúc đẩy các tầm nhìn cạnh tranh về đầu tư cơ sở hạ tầng trên khắp siêu lục địa Á-Âu mà có thể có những ảnh hưởng lớn đối với các lợi ích thương mại và địa chính trị của Mỹ. Nổi bật nhất trong số này là Sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI), theo đó Bắc Kinh đã hứa hẹn đầu tư hàng trăm tỷ USD vào đường bộ, đường sắt và cảng biển cho các nước láng giềng và xa hơn nữa. Vào tháng 5/2017, Bắc Kinh đã tổ chức một diễn đàn nổi bật thu hút các quan chức cấp cao từ hơn 130 nước, kể cả Mỹ. Theo sau đó là một cuộc họp vào tháng 6/2017 của cái gọi là nhóm "16+1", đưa Trung Quốc và các nước ở Trung Âu cũng như Đông Âu lại với nhau. Các nỗ lực này đã báo hiệu những tham vọng trên lục địa của Bắc Kinh. Nhưng Trung Quốc không chỉ có một mình; các nước khác, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ, đã đấu tranh cho tầm nhìn cơ sở hạ tầng của riêng họ. Thông qua những sáng kiến như Quan hệ đối tác mở rộng về cơ sở hạ tầng chất lượng, Nhật Bản đã thúc đẩy các tiêu chuẩn cao cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong khu vực, trong khi Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã khởi động chính sách "Hành động phía Đông" của ông để thiết lập những quan hệ cơ sở hạ tầng gần gũi hơn với Đông Nam Á. Hồi tháng 5/2017, Modi thông báo một quan hệ đối tác với Nhật Bản gọi là Hành lang tăng trưởng Á-Phi, một sáng kiến để hội nhập tốt hơn các nền kinh tế của Ấn Độ Dương. 
Những thay đổi này trong bối cảnh kinh tế và chính trị ở châu Á-Thái Bình Dương đã được Washington đón nhận bằng những tín hiệu lẫn lộn về hướng can dự của Mỹ vào khu vực. Sau khi rút khỏi TPP, Chính phủ Mỹ đã khởi động tiến trình tái đàm phán Thỏa thuận thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Canada và Mexico, với một loạt kết quả có khả năng xảy ra từ gia hạn thỏa thuận 23 năm tuổi này đến thêm vào các nghĩa vụ lao động và môi trường cho đến Mỹ rút khỏi thỏa thuận. Dù các quan chức chính quyền cấp cao đã cho thấy sự quan tâm của họ đến việc theo đuổi các thỏa thuận thương mại tự do song phương ở châu Á-Thái Bình Dương, chưa thỏa thuận nào được công bố. Ngược lại, Chính phủ Mỹ đã đe dọa rút khỏi thỏa thuận lớn nhất hiện có của khu vực, Thỏa thuận thương mại tự do Mỹ-Hàn (KORUS). Họ cũng đã làm dấy lên lo ngại sẽ có hành động thương mại đơn phương chống lại các nước châu Á theo luật thương mại của Mỹ, đáng chú ý nhất là mở các cuộc điều tra theo Khoản 232 của Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 và Khoản 301 của Đạo luật thương mại năm 1974 về tác động an ninh quốc gia của lần lượt là thép và nhôm nhập khẩu và chính sách chuyển giao công nghệ bắt buộc của Trung Quốc. 
Tất cả điều này đang tạo ra sự không chắc chắn to lớn trong khu vực về chiều hướng của chính sách Mỹ. Trung Quốc đã nắm lấy sự không chắc chắn này bằng cách khẳng định vai trò của chính mình là nhà đấu tranh cho trật tự khu vực hiện tại. Bài phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos hồi tháng 1/2017 bảo vệ toàn cầu hóa dường như báo hiệu một sự "đổi gác" trước công chúng phương Tây. Đương nhiên, điều này trái ngược với động thái của Trung Quốc đều đặn tiến đến cách tiếp cận chính sách kinh tế mang tính trọng thương, tập quyền và cách nước này dùng biện pháp ép buộc kinh tế chống lại các nước khác và các tổ chức đa quốc gia. Tuy thế, khi không có sự lãnh đạo nhất quán của Mỹ, sức hấp dẫn của Trung Quốc, được hỗ trợ bằng những sáng kiến như BRI và Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), có thể ngày càng được đón nhận trong khu vực. 
Điều này cho thấy một trật tự kinh tế khu vực tương lai tiềm tàng mà ở đó các nguyên tắc và quy chuẩn do Bắc Kinh phác họa đang chiếm ưu thế, ở đó các nước từ bỏ những tiêu chuẩn cao mà Mỹ đã đấu tranh nhiều thập kỷ để duy trì, và ở đó các thị trường tự do và đa nguyên chính trị trên khắp khu vực bị xói mòn. Điều này không chỉ làm giảm tăng trưởng và cơ hội thương mại cho Mỹ và bóp méo các thị trường toàn cầu, nó còn khiến khó có thể giải quyết một loạt thách thức khu vực mà cuối cùng sẽ liên quan tới lợi ích của Mỹ, từ chiến đấu chống dịch bệnh lan tràn đến đưa số lượng thanh niên đô thị ngày càng lớn ở châu Á - nhiều người có nguy cơ bị cấp tiến hóa Hồi giáo - vào lực lượng lao động. 
Tất cả điều này nhấn mạnh nhu cầu phải có sự can dự mạnh mẽ của Mỹ vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trật tự kinh tế mà Mỹ đã bảo vệ kể từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai đã có lợi cho Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thiết lập các nguyên tắc có lợi cho lợi ích của Mỹ. Với các chính sách đúng đắn và sự can dự lâu bền từ Washington, khu vực có tiềm năng lớn làm một thị trường cho các doanh nghiệp và người lao động Mỹ. Các đồng minh và đối tác chính trong khu vực, như Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc, có thể mở rộng những nỗ lực của Mỹ và củng cố một trật tự khu vực hỗ trợ cho những tiêu chuẩn cao và thậm chí có thể tạo ra nhiều cơ hội hơn. Tuy nhiên, bối cảnh ở châu Á đang thay đổi nhanh chóng và sẽ không chờ đợi Mỹ. Rất khẩn thiết cần có một chiến lược toàn diện để tái lập sự lãnh đạo của Mỹ trong khu vực, đoàn kết các đối tác có cùng ý tưởng để theo đuổi những mục tiêu chung, và đẩy mạnh nhiều lợi ích của Mỹ tại đó. 
Các yếu tố của một chiến lược 
Trong báo cáo hồi tháng 1/2017, Ủy ban chiến lược kinh tế châu Á đã lưu ý rằng bất kỳ chiến lược kinh tế nào về châu Á-Thái Bình Dương phải bắt nguồn từ những lợi ích chiến lược lâu dài của Mỹ trong khu vực: thúc đẩy hòa bình và ngăn chặn một bá quyền khu vực nổi lên, củng cố một trật tự kinh tế xuyên Thái Bình Dương dựa trên thị trường tự do và pháp trị, và hỗ trợ phổ biến các giá trị dân chủ. 
Ủy ban cũng đã công nhận sự cần thiết phải có những nền tảng trong nước mạnh cho một chiến lược kinh tế ở nước ngoài hiệu quả của Mỹ. Sự can dự kinh tế của Mỹ trong khu vực có thể hỗ trợ tăng trưởng mạnh mẽ và toàn diện ở trong nước, nhưng chỉ khi đi kèm với chính sách cơ sở hạ tầng, thuế, quy định, giáo dục và các chính sách trong nước khác phù hợp. Việc công nhận những liên kết giữa các chính sách quốc tế và trong nước có thể bắt đầu giải quyết nhiều mối lo ngại của người Mỹ về vai trò của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu và thái độ nước đôi về sự can dự của Mỹ trong khu vực. 
Ủy ban đã đề ra một số mục tiêu chiến lược cho việc can dự kinh tế vào khu vực: thúc đẩy tăng trưởng mạnh, bền vững, cân bằng và toàn diện; đảm bảo thị trường mở cho hàng xuất khẩu và nhà đầu tư Mỹ; hỗ trợ sự hội nhập khu vực thông qua thương mại nâng cao, các kết nối cơ sở hạ tầng và quan hệ tài chính; và hành động hướng tới một bộ quy tắc tiêu chuẩn cao cho nền kinh tế khu vực mà hỗ trợ cho những lợi ích của Mỹ. 
Bất kỳ chiến lược thành công nào ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ đều có chung những đặc điểm nhất định: Nó phải toàn diện, có một trọng tâm dài hạn, và được nêu rõ và thực hiện nhất quán. 
Để có thể toàn diện, chiến lược này phải tính đến đầy đủ các lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nhờ đến các công cụ sẵn có, làm cho phương tiện đáp ứng được mục đích. Nó sẽ kết hợp chiến lược kinh tế của Mỹ với chiến lược chính trị và an ninh lớn hơn về các vấn đề như cuộc khủng hoảng Triều Tiên và Biển Đông. Nó sẽ đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách ở mọi cấp và nhánh của chính phủ làm việc cùng nhau, với những cơ chế phối hợp hiệu quả ở Nhà Trắng. Điều đó cũng có nghĩa là làm việc chặt chẽ với các công ty và xã hội dân sự Mỹ, cũng như các đồng minh và đối tác trong khu vực và bên ngoài, đặc biệt là các nước chia sẻ những giá trị và ưu tiên chính của Mỹ như Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc. 
Chiến lược này phải dứt khoát tập trung vào xử lý các lợi ích của Mỹ vượt ra ngoài thời gian tại nhiệm của một chính quyền. Các nhà lãnh đạo ở châu Á nổi tiếng vì họ hoạch định chính sách hướng đến tương lai và đầu tư vào những yếu tố quyết định dài hạn trong thành công của họ, từ giáo dục đến cơ sở hạ tầng. Mỹ phải sánh được với tư duy của các nước đó. Chính sách của Mỹ phải giúp đặt nền tảng cho cả một nền kinh tế Mỹ cạnh tranh lẫn một trật tự khu vực tận dụng được lợi thế chiến lược của Mỹ. 
Cuối cùng, chiến lược của Mỹ ở châu Á phải nhất quán trong thực tiễn và cách thể hiện. Là một cường quốc toàn cầu, Mỹ thường bị sao nhãng với những cuộc khủng hoảng ở các khu vực khác và chỉ can dự từng đợt với các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Việc truyền thông điệp của Mỹ thường gay gắt hoặc không hiệu quả. Các đối tác và đối thủ cạnh tranh của Mỹ trong khu vực đang lắng nghe sát sao những dấu hiệu của sự thiếu vắng sức bền bỉ hay cam kết với lợi ích chung.
Khuyến nghị 
Trước chuyến đi châu Á tháng 11/2017 của Tổng thống Trump, Nhà Trắng phải bắt đầu đặt nền móng cho một chiến lược kinh tế hiệu quả cho khu vực. Chín tháng đầu của chính quyền là một thời kỳ thiếu chắc chắn cả ở Mỹ lẫn châu Á. Tuy nhiên, vào lúc này sự cần thiết phải có một chiến lược toàn diện của Mỹ vẫn rõ ràng giống như ngày 20/1/2017. 
Các khuyến nghị dưới đây tập trung vào những bước đi cụ thể đầu tiên mà chính quyền có thể bắt đầu tiến hành từ lúc này cho đến hết năm 2018. Trọng tâm của Mỹ ở đây là vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung. Tuy nhiên, công nhận tầm quan trọng của các chiến lược song phương hiệu quả đối với các nền kinh tế lớn trong khu vực, Mỹ sẽ đưa ra tư duy riêng rẽ về chính sách kinh tế của mình đối với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đông Nam Á và Hàn Quốc. 
1. Làm rõ một chiến lược rõ ràng để Mỹ can dự và lãnh đạo trong khu vực
Chính phủ Mỹ không thể bắt đầu xây dựng và tiến hành một chiến lược toàn diện về châu Á-Thái Bình Dương mà không có đường lối rõ ràng từ các cấp cao nhất của chính quyền. Cùng với chuyến đi của Tổng thống Trump đến khu vực, chính quyền nên công khai bắt đầu giải thích cho người dân Mỹ rằng châu Á-Thái Bình Dương mang tính then chốt đối với sự thịnh vượng và an ninh tương lai của Mỹ, và Mỹ cần phải tiếp tục can dự và dẫn dắt. 
Chiến lược này cũng phải tính đến các đồng minh và đối tác của Mỹ ở châu Á, và phân biệt họ với những nước không chia sẻ lợi ích hay giá trị với Mỹ. Chính quyền phải làm rõ với các nước đó một tầm nhìn tích cực cho một trật tự xuyên Thái Bình Dương công bằng, cởi mở, dựa trên nguyên tắc mà hỗ trợ cho các lợi ích của Mỹ. Sự hỗ trợ từ các đồng minh và đối tác có tính then chốt đối với thành công trong chiến lược của Mỹ và với việc duy trì trật tự kinh tế khu vực vốn đã có lợi cho Mỹ trong 70 năm qua. Cuối cùng, Chính phủ Mỹ phải chuẩn bị đủ nguồn lực và nhân lực để thực hiện một chiến lược hiệu quả. 
Các bước thực hiện cụ thể:
a.    Cùng với chuyến đi của ông đến khu vực, Tổng thống Trump nên có một bài phát biểu chủ yếu giải thích tầm quan trọng của châu Á-Thái Bình Dương đối với an ninh và sự thịnh vượng của Mỹ cũng như bao hàm các trụ cột trong chiến lược của chính quyền về khu vực. 
b.    Sau chuyến đi của ông, Tổng thống Trump nên ngay lập tức lệnh cho các đội ngũ an ninh quốc gia và kinh tế của mình chuẩn bị chỉ thị chính sách tổng thống (PPD) về chiến lược của Mỹ với khu vực, với kinh tế là trọng tâm. Việc này sẽ định hướng và liên kết hoạt động của các cơ quan trong chính quyền và làm rõ chính sách kinh tế có thể hỗ trợ cho hòa bình và sự ổn định ở khu vực như thế nào. Thái Bình Dương
c.    Tăng gấp đôi nỗ lực làm việc với Quốc hội để đảm bảo rằng các vị trí chính trị được bổ nhiệm liên quan đến chính sách kinh tế và châu Á trên khắp chính phủ được đề cử và xác nhận sớm nhất có thể. 
d.    Tham gia và huy động sự ủng hộ của khu vực tư nhân cũng như xã hội dân sự Mỹ đã ăn sâu trong các nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương. 
2. Giành lại sự lãnh đạo về mở cửa thị trường và thiết lập quy tắc tiêu chuẩn cao trong khu vực 
Việc Mỹ lãnh đạo sự mở cửa các thị trường và thiết lập nguyên tắc cũng như tiêu chuẩn khu vực ở châu Á-Thái Bình Dương phục vụ cho lợi ích của Mỹ theo 3 cách: Nó hỗ trợ cho tăng trưởng và công ăn việc làm của Mỹ, thúc đẩy những mô hình hội nhập kinh tế, và giúp củng cố sự hiện diện dài hạn của Mỹ trong khu vực. Ngược lại, việc rút khỏi các thỏa thuận thương mại hiện có, hoặc đe dọa làm vậy, sẽ không tạo ra những cơ hội công ăn việc làm. 
Các nguyên tắc tiêu chuẩn cao thúc đẩy hàng xuất khẩu Mỹ và bảo vệ đầu tư của Mỹ ở nước ngoài. Chúng cũng bảo vệ dòng tự do dữ liệu, điều mang tính sống còn với khả năng cạnh tranh ở những cấp độ hiệu quả cao nhất của các công ty Mỹ - từ công ty bảo hiểm tới nhà sản xuất máy bay. Những quy tắc rõ ràng cũng giúp cho người lao động Mỹ. Khi người lao động ở châu Á được quyền tổ chức và được trả lương hợp lý, người lao động Mỹ có thể cạnh tranh trong một sân chơi công bằng. Khi các tập đoàn nhà nước phải chịu những quy tắc chặt chẽ và các chính sách cạnh tranh được thực thi công bằng, các công ty Mỹ có thể cạnh tranh về chất lượng hàng hóa và dịch vụ của họ, tính hiệu quả sản xuất của họ và sức mạnh lực lượng lao động của họ. 
TPP đã thiết lập những quy tắc tiêu chuẩn cao trong nhiều lĩnh vực này. Nếu không có sự tham gia của Mỹ trong TPP hay một chiến lược toàn diện tương tự, Mỹ có nguy cơ từ bỏ quyền lãnh đạo về mở cửa thị trường và thiết lập quy tắc cho các đối thủ cạnh tranh chiến lược của mình. Không có sự ủng hộ từ Mỹ, ngay cả các đồng minh và đối tác của Mỹ cuối cùng cũng có thể phải chấp nhận những tiêu chuẩn thấp hơn. Tiến bộ trong BRI và các thỏa thuận thương mại của Trung Quốc như RCEP vốn không bao gồm Mỹ có thể dẫn đến những quy tắc về mọi thứ từ đầu tư cơ sở hạ tầng đến kinh tế kỹ thuật số trái ngược với những lợi ích của Mỹ. 
Washington có thể và nên xác nhận lại sự lãnh đạo của Mỹ trong các lĩnh vực này. Họ có thể bắt đầu bằng cách báo hiệu rằng họ không phản đối các đối tác trong khu vực như Nhật Bản, Úc và Singapore tiếp tục với các thỏa thuận như TPP, trong khi để ngỏ cánh cửa để Mỹ tham gia một thỏa thuận khu vực trong tương lai mà giải quyết các ưu tiên của Mỹ. Chính quyền cũng có thể hành động thông qua APEC và các thỏa thuận song phương như Đối thoại kinh tế toàn diện với Trung Quốc và diễn đàn kinh tế cấp cao với Nhật Bản để đẩy mạnh các nguyên tắc và quy chuẩn mà Mỹ ưa thích trong thương mại và đầu tư. Và họ có thể làm việc một cách xây dựng với các đối tác trong khu vực để xây dựng dựa trên tiến bộ hướng tới các thị trường có khả năng cạnh tranh. 
Các bước thực hiện cụ thể :
a.    Trong các tuyên bố công khai, như bài phát biểu đã giới thiệu trong phần 1.a trên đây, và trong những cuộc gặp song phương với các đối tác trong khu vực, quan chức cấp cao trong chính quyền nên báo hiệu rằng Mỹ không hề phản đối hoàn tất sớm một thỏa thuận TPP trong các nước ký kết còn lại, và có thể sẵn sàng tham gia một thỏa thuận khu vực tương lai nếu nó giải quyết các ưu tiên của Mỹ. 
b.    Tại hội nghị APEC ở Việt Nam, ủng hộ các nguyên tắc và quy chuẩn mà Mỹ ưa thích hơn về thương mại và đầu tư, an ninh năng lượng, tài sản trí tuệ, an ninh mạng, tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước, cơ sở hạ tầng và hội nhập tài chính. Đặc biệt, tập trung cải thiện điều kiện cho các nhà xuất khẩu dịch vụ Mỹ, một lĩnh vực mà Mỹ có tính cạnh tranh cao. 
c.    Bắt đầu một sự đánh giá liên ngành về những mục tiêu và ưu tiên của Mỹ trong các hiệp ước đầu tư song phương, và xây dựng một chiến lược giải quyết các vấn đề đầu tư thông qua những thỏa thuận tương lai tiềm tàng, như với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. 
d.    Làm việc thông qua các ngân hàng phát triển đa phương và các kênh song phương, tìm cách để được chấp nhận một bộ quy tắc quản trị đầu tư cơ sở hạ tầng ở châu Á-Thái Bình Dương mà thúc đẩy một trật tự kinh tế khu vực mở, tính minh bạch, quy định chắc chắn và các cơ hội cho doanh nghiệp Mỹ. Ưu tiên hợp tác với các đối tác khu vực có chọn lọc, như Singapore, để thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng mềm, đặc biệt trong hội nhập tài chính và tăng cường hệ thống tài chính-thị trường. 
3. Phát triển các chiến lược đa phương được điều chỉnh phù hợp cho những nền kinh tế chủ chốt trong khu vực 
Một chiến lược kinh tế hiệu quả của Mỹ đối với châu Á-Thái Bình Dương đòi hỏi phải có một đường hướng mang tính khu vực, nhưng nó phải được bổ sung bằng những chiến lược hiệu quả đối với từng nước. Thực tế của việc hoạch định chính sách và sự đa dạng của khu vực đòi hỏi Mỹ cũng phải can dự cùng các đối tác của mình trên cơ sở song phương. Sự can dự này không được loại trừ một chiến lược khu vực; ngược lại, nó nên bổ sung cho các mục tiêu khu vực của Mỹ. 
Các ưu tiên cũng cần thiết phải thay đổi tùy theo từng nước hay nền kinh tế. Trong một số trường hợp, trọng tâm sẽ là giải quyết những vấn đề phiền nhiễu trong quan hệ song phương hoặc những bất đồng trong các thể chế quốc tế. Trong những trường hợp khác, sẽ có cơ hội để nâng cao hợp tác song phương. Những chiến lược song phương thông minh có thể đóng vai trò nhân cấp nhiều lần sức mạnh của các chính sách Mỹ, cho phép Washington tận dụng các mạng lưới và khả năng của các nước khác để thực hiện các mục tiêu chung. 
Các đường hướng song phương nên được đánh giá hợp lý với nhu cầu và tình hình chính trị cũng như kinh tế đặc thù ở mỗi nước. Với một nước như Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh chiến lược tăng trưởng nhanh, chiến lược của Mỹ phải tập trung chắc chắn vào một mối quan hệ cùng có lợi vừa giải quyết các bất đồng cơ bản của 2 nước, như về chuyển giao công nghệ bắt buộc, vừa thúc đẩy hợp tác ở lĩnh vực có khả năng. 
Đối với Nhật Bản, một đồng minh hiệp ước có chung tư tưởng và chia sẻ những lợi ích tiêu chuẩn cao của Mỹ về khu vực, đường hướng của Mỹ nên tận dụng sức mạnh tương ứng của mình để làm việc cùng nhau ở các nước thứ ba và trong các thể chế đa phương để thúc đẩy các nguyên tắc và quy chuẩn Mỹ ưa thích hơn. Đối với Hàn Quốc, nơi việc rút khỏi Thỏa thuận thương mại Hàn-Mỹ sẽ gây hại cho cả lợi ích kinh tế lẫn an ninh của Mỹ, đường hướng của Mỹ nên giải quyết các mối lo ngại chính đáng của chúng ta trong bối cảnh thỏa thuận này, bên cạnh việc hỗ trợ vị thế của Hàn Quốc với tư cách là đồng minh chính của Mỹ trong khu vực và các nỗ lực riêng của nước này nhằm thúc đẩy động lực thị trường và những thị trường có khả năng cạnh tranh hơn. 
Ưu tiên cho chiến lược song phương với các nền kinh tế chủ chốt trong khu vực bao gồm, nhưng không giới hạn ở: 
·         Trung Quốc: Thiết lập một kênh thường xuyên giữa cố vấn an ninh quốc gia Mỹ và giám đốc Hội đồng kinh tế quốc gia với các cố vấn thân cận nhất và cao cấp nhất cho Chủ tịch Tập Cận Bình để định hình đường nét của một mối quan hệ Mỹ-Trung cùng có lợi. Nhóm 2x2 này nên bắt đầu làm việc để phát triển một nghị trình giải quyết các lĩnh vực cạnh tranh và hợp tác, và gặp gỡ trực tiếp ít nhất 2 lần/năm. 
·         Nhật Bản: Tại cuộc họp tiếp theo của đối thoại kinh tế Mỹ-Nhật do phó tổng thống và phó thủ tướng hai nước dẫn đầu, thiết lập một trụ cột tập trung vào nhận diện các lợi ích chung ở các nước thứ ba và các thể chế đa phương, và giao cho các quan chức cấp cao phát triển kế hoạch phân công lao động cho hợp tác Mỹ-Nhật để giải quyết các vấn đề đó. Cả hai bên cũng nên tái cam kết tiếp tục hợp tác về cải cách về điều tiết khu vực và toàn cầu mà hỗ trợ cho các lợi ích chung của hai bên. 
·         Ấn Độ: Việc thừa nhận tầm quan trọng của tiềm năng kinh tế không sánh bằng của Ấn Độ, trong đó có dân số trẻ của nước này, sẽ mở rộng sự can dự kinh tế của Mỹ với các nhà lãnh đạo bang đầy quyền lực của Ấn Độ, kể cả bằng cách hướng vào can dự khu vực tư nhân cao cấp của Mỹ với các nhà lãnh đạo bang của Ấn Độ để thảo luận trực tiếp các ưu tiên cải cách. 
·         Đông Nam Á: Tiếp tục ủng hộ những nỗ lực của ASEAN hướng tới hội nhập kinh tế và Cộng đồng kinh tế ASEAN thông qua những sáng kiến như Cơ chế một cửa ASEAN. Tổng thống Trump nên mời các nhà lãnh đạo ASEAN đến Mỹ vào năm 2018 để thảo luận các vấn đề kinh tế khu vực cũng như chiến lược, xây dựng dựa trên những lợi ích đã đạt được tại hội nghị thượng đỉnh Sunnylands năm 2016. Về song phương, làm việc với Indonesia để hạ các rào cản đối với thương mại và đầu tư của Mỹ, và thúc giục Việt Nam tiếp tục cải cách, đặc biệt về tiêu chuẩn lao động, mà nước này đã đồng ý như một phần của đàm phán TPP. 
·         Hàn Quốc: Làm việc một cách xây dựng với Hàn Quốc để đàm phán cải thiện KORUS, điều sẽ giúp gia tăng tự do hóa trong các lĩnh vực then chốt như ngành tài chính, pháp lý, thương mại điện tử và dẫn đến một mối quan hệ thương mại song phương công bằng hơn. 
4. Hành động để chống các chính sách hạn chế thương mại trong khu vực 
Các chính sách hạn chế thương mại và đầu tư đã tăng lên trên toàn cầu kể từ cuộc khủng hoảng tài chính. Phần lớn các nền kinh tế ở châu Á đã thông qua những biện pháp mang tính hạn chế này, điều đã gây hại cho các nhà xuất khẩu và người lao động Mỹ. Các biện pháp địa phương hóa đã đặc biệt gây nguy hại, làm giảm tính hiệu quả của đầu tư vào công nghệ của cả các công ty địa phương lẫn nước ngoài. Những tác động kết hợp của tình trạng ăn cắp tài sản trí tuệ từ việc làm giả và sử dụng lậu hàng hóa, dùng lậu phần mềm và ăn cắp bí mật thương mại đã khiến nền kinh tế Mỹ thiệt hại khoảng 600 tỷ USD mỗi năm. Trong khi Mỹ vẫn là một nền kinh tế mở cửa cao độ, với thuế suất áp dụng tính theo khối lượng thương mại trung bình là 1,7% và là một trong những chế độ đầu tư ổn định, cởi mở nhất thế giới, các sản phẩm và công ty Mỹ vẫn thường phải chịu một loạt các chính sách phân biệt và rào cản tiếp cận thị trường ở các thị trường châu Á. 
Sự mở cửa của nền kinh tế Mỹ vẫn rất mạnh mẽ, làm đầy túi tiền của người tiêu dùng Mỹ hơn, giúp các nhà sản xuất Mỹ tiếp tục cạnh tranh bằng cách tìm nguồn cung ứng các đầu vào chất lượng cao nhất với giá thấp nhất, và để Mỹ duy trì là nước dẫn đầu về đổi mới. 
Đồng thời, Chính phủ Mỹ có thể và nên hành động nhiều hơn để ngăn chặn các nước khác thực hiện những chính sách thiển cận, mang tính phân biệt làm méo mó và gây hại cho nền kinh tế Mỹ. Để ngăn chặn các hành vi có hại trong tương lai, Washington phải thể hiện rằng họ sẵn sàng áp đặt những giải pháp hợp lý nhưng cứng rắn và làm việc với các đối tác thương mại về các hoạt động tự do hóa cùng có lợi. 
Những nỗ lực đó bắt đầu với việc sử dụng mạnh mẽ các luật đã có để xử lý những hoạt động thương mại không công bằng, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trong sự phối hợp với các đồng minh của Mỹ. Trong dài hạn, việc bảo vệ các công ty và người lao động Mỹ đã liên kết với toàn cầu khỏi bị các chính sách trung ương tập quyền lạm dụng sẽ đòi hỏi phải củng cố một loạt công cụ chính sách. Mục tiêu ở đây phải là sử dụng các công cụ đang có một cách hiệu quả hơn, trong khi xây dựng những cơ chế mới, bền vững cho các hành động hơn nữa mà hỗ trợ cho những lợi ích rộng lớn hơn của Mỹ. 
Các bước thực hiện cụ thể 
a.    Sử dụng các giải pháp thương mại của Mỹ để điều tra tích cực hơn các hoạt động thương mại và đầu tư không công bằng (và chuẩn bị những kế hoạch hành động tương ứng để giải quyết chúng) theo một cách thức nhất quán với các quy tắc của WTO và tránh gây hại thêm cho các lợi ích khác của Mỹ. 
b.    Tránh dùng những tác động kinh tế vĩ mô rộng như giảm mất cân bằng thương mại như là mục tiêu để đàm phán thương mại, thừa nhận rằng những tác động đó là kết quả của nhiều nhân tố như tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư, và chênh lệch giàu nghèo giữa các đối tác thương mại. 
c.    Văn phòng đại diện thương mại Mỹ (USTR) nên bắt đầu phát triển một chiến lược để sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO một cách năng nổ hơn, đặc biệt trong các trường hợp liên quan tới những lĩnh vực kinh tế do nhà nước hỗ trợ. 
d.    Bắt đầu thực hiện các khuyến nghị chính của Báo cáo ủy ban IP cập nhật năm 2017, bao gồm: 
i.      Như đã được công nhận trong Đạo luật các quyền lực kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA), trao quyền cho Bộ trưởng Tài chính, theo giới thiệu của Bộ trưởng Thương mại, để ngăn chặn các công ty nước ngoài nhiều lần dùng hoặc hưởng lợi từ việc ăn cắp IP Mỹ sử dụng hệ thống ngân hàng Mỹ. 
ii.    Yêu cầu Ủy ban chứng khoán và hối đoái (SEC) đánh giá liệu việc các công ty sử dụng IP ăn cắp có là một điều kiện vật chất phải được báo cáo công khai hay không. 
iii.   Thiết lập khả năng tịch thu tạm thời các mặt hàng nhập khẩu mà bao gồm nguyên vật liệu ăn cắp hay sử dụng lậu hoặc được sản xuất với một quy trình kinh doanh bao gồm tài sản trí tuệ có được một cách bất hợp pháp, làm việc với Quốc hội để củng cố Khoản 337 của Đạo luật thuế quan 1930. 
e.    Làm việc với Quốc hội để khởi động một quá trình đánh giá toàn diện, mang tính lưỡng đảng về rò rỉ công nghệ chiến lược thông qua hàng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, và đề xuất những điều chỉnh thích hợp cho hệ thống quản lý xuất khẩu của Mỹ, quá trình thẩm định đầu tư do Ủy ban đầu tư nước ngoài ở Mỹ (CFIUS) giám sát, và các công cụ liên quan khác. 
f.      Chỉ đạo cố vấn an ninh quốc gia và giám đốc Hội đồng kinh tế quốc gia phát triển một kế hoạch chung cho các hành động tương hỗ có điều chỉnh và chọn lọc chống lại các chính sách ở những thị trường quan trọng như Trung Quốc vốn đặt các doanh nghiệp Mỹ vào thế bất lợi về cạnh tranh.
Matthew P. Goodman là cố vấn cấp cap Chương trình Kinh tế Châu Á và là giám đốc Chương trình Kinh tế Chính trị tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ. Chương trình Kinh tế Chính nghiên cứu về chính sách kinh tế quốc tế, trong đó tập trung vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Scott Miller là Chủ tịch Chương trình Kinh doanh Quốc tế tại CSIS từ năm 2012. Chương trình Kinh doan Quốc tế tập trung và các vấn đề cốt lõi về kinh tế toàn cầu như thương mại quốc tế, đầu tu, cạnh tranh và cải cách.
Amy Searight là giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại CSIS. Tiến sĩ Amy Searight có nhiều kinh nghiệm về chính sách Châu Á như quốc phòng, ngoại giao, phát triển và kinh tế.
Bài viết được đăng trên CSIS.
Trần Quang (gt)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày hội Hoa đào tại Vân Hồ 'thiên đường hoa vùng Tây Bắc'



Ngày hội Hoa đào đã được tổ chức thành công lần đầu tiên tại huyện Vân Hồ với nhiều hoạt động tôn vinh vẻ đẹp hoa đào cũng như bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Vân Hồ
Ngày hội Hoa đào tại Vân Hồ 'thiên đường hoa vùng Tây Bắc'
Ngày hội Hoa đào đã được tổ chức thành công lần đầu tiên tại huyện Vân Hồ với nhiều hoạt động tôn vinh vẻ đẹp hoa đào cũng như bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Vân HồSơn La tổ chức Ngày hội Hoa đào tại 'thiên đường hoa vùng Tây Bắc'
Sơn La tổ chức Ngày hội Hoa đào tại 'thiên đường hoa vùng Tây Bắc'

Tối 2/2, tại Sân vận động Pa Kha, thuộc xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, lần đầu tiên tỉnh Sơn La tổ chức Ngày hội Hoa đào. 


Chương trình thu hút sự tham gia của hàng trăm người dân, du khách đến từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh. 

Huyện Vân Hồ được mệnh danh là một trong những thiên đường hoa vùng Tây Bắc với sắc hồng rực rỡ của hoa đào. Hòa chung không khí đất trời vào Xuân, cánh hoa đào phớt hồng xen lẫn tán mận, mơ đang vươn chồi nảy lộc làm cho khung cảnh thiên nhiên nơi đây trở nên thơ mộng, yên bình và đẹp nhưng một bức tranh. 


Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Vân Hồ Nguyễn Huy Anh cho biết Ngày hội Hoa đào là dịp để ca ngợi, tôn vinh loài hoa gắn liền với Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay, qua đó giới thiệu, quảng bá đến bạn bè, du khách gần xa về miền đất và con người Vân Hồ giàu lòng mến khách.'

Ngày hội đã đáp ứng lòng mong đợi, sự kỳ vọng của nhân dân trên địa bàn huyện và bạn bè gần xa.

Anh Đỗ Danh Hùng, du khách đến từ tỉnh Điện Biên, chia sẻ anh rất vui khi đến tham dự Ngày hội Hoa đào lần đầu tiên được tổ chức tại tỉnh Sơn La. Ngày hội này có nét rất khác Ngày hội Hoa đào ở Điện Biên, từ trang phục đến các trò chơi dân tộc. 

Anh Hùng cho biết nếu có dịp, anh chắc chắn sẽ quay lại Vân Hồ để tìm hiểu thêm vẻ đẹp cảnh quan và con người nơi đây. 

Ngày hội Hoa đào diễn ra từ ngày 2-4/2. Trong khuôn khổ ngày hội, nhiều chương trình văn hóa và nghệ thuật đặc sắc sẽ diễn ra như: trình diễn trang phục dân tộc, giao lưu đốt lửa múa xòe, hội thi giã bánh giày...

Các gian hàng giới thiệu, quảng bá văn hóa ẩm thực, trang phục các dân tộc huyện Vân Hồ cũng được trưng bày và giới thiệu tại Ngày hội. 

Huyện Vân Hồ nằm ở cửa ngõ của tỉnh Sơn La, có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển du lịch. Trong thời gian tới, Vân Hồ sẽ xây dựng và phát triển Ngày hội Hoa đào trở thành sản phẩm du lịch độc đáo, thúc đẩy sự phát triển du lịch của địa phương và đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh Sơn La./. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HHiếu câu hỏi, khác

 
1.
 
40 năm trước một người mỹ hỏi tôi từ đâu đến
tôi từ cuộc nội chiến đến
những người lính hai miền chắc hẳn đã trở về với vợ con rồi nhỉ
30 năm trước một người nga hỏi tôi là người ở quốc gia nào đến
tôi từ việt nam cộng hoà đến
ủa thống nhất rồi mà phải là việt nam dân chủ cộng hoà chứ
20 năm trước một người trung hoa hỏi tôi từ đâu đến
tôi từ saigon đến
băng-rôn biển quảng cáo ở thành phố hồ chí minh đều viết bằng hán ngữ phải không
10 năm trước một người mễ hỏi tôi từ đâu đến
tôi trả lời là từ một đất nước nghèo nàn như đất nước của bạn
như thế thì rào chắn biên giới chắc là không cao lắm há
vừa rồi tổng thống mỹ có hỏi các anh từ đâu đến
chúng tôi đến từ miền đất bị khủng hoảng nhân quyền
ồ chả liên quan gì đến nước mỹ
hôm qua tôi ngước mặt nhìn trời hỏi tôi từ đâu đến
trời đang mưa và
sấm sét tứ tung
thiếu định hướng.
 
2.
 
thấp hơn lũ mây chùng trên kia
nhiệt độ rơi xuống bám tóc tai
kéo cao cổ áo lên khỏi vai
che lại ký ức còi cọc
tôi nhai những cọng thuốc lá bằng cái bật lửa thời G.I.
một chú sóc buông mình đáp cú nhảy chót biến mất sau lùm tối
một ánh đèn pha nhá nhem huýt gió cầu sông kwai[*]
ý nghĩ niểng đầu nhìn từng nhúm đất đang gồng mình
đo lường khoảng cách nào có thể bung tay chân ra
nếu rơi tự do
trước khi chúng co cứng lại
một đời sống
suy nghĩ hoài không ra cách
sao có thể tiếp tục hít thở được
trong một môi trường ô nhiễm hoá chất và chế độ
để chục năm sau
tôi có thể bật dậy trở về
nhìn quanh quẩn thấy một loài người na ná giống mình
khác tiếng nói khác diễn đạt
trùm kín trong lắm thứ xiêm y của một loại tắc kè đang tự biến dạng để sinh tồn
không biết họ và tôi
có thể chung đụng được bao lâu.
 
 
_________________________
[*]“Hành Khúc Sông Kwai” (The River Kwai March) là một nhạc phẩm do Malcolm Arnold sáng tác vào năm 1957, diễn tả hình ảnh những người lính Anh quốc vừa huýt sáo vừa bước vào một trại tù của quân Nhật ở Miến Điện trong cuốn phim lừng danh “The Bridge on the River Kwai” của David Lean.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chu Thụy Nguyên Bụi, rơm và lông chim


1.

Dạo gần đây, đã nhiều lần Du hối hả lật tung hết mọi thứ mỗi lúc hiếm hoi quay về căn nhà nhỏ trên đồi. Những lúc như vậy Du chẳng hề cảm thấy lạnh tanh hay bất kỳ mùi ẩm mốc nào như lệ thường bước vào những căn nhà bỏ hoang quá lâu. Căn nhà này một thời từng là tổ ấm, nơi Du từng mày mò ăn học, nỗ lực thành đạt, kể cả việc chớp lấy thời cơ. Ký ức vẫn như còn đọng lại mập mờ trên các bức tường khô xám, hay như khói sương còn lãng đãng trên trần nhà. Một ít tiếng trầm đục như vẫn đang ẩn trốn đâu đó trong ngách kẹt, giữa tủ và vách. Tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên gác lửng, tiếng tắc kè bên ngoài chái bếp. Và thi thoảng, mùi tóc gội mộc bởi duy nhất hương bồ kết từ mái tóc người tình mỗi khi ghé thăm. Kệ sách đầy bụi vẫn khiêm nhường nép vào một bên tường, vẫn im lìm cưu mang trên lưng, trên vai nó biết bao phát kiến độc đáo của tâm hồn. Các thuyết lý giả định thời thượng, vô số các dòng mạch tư tưởng, nếp nghĩ từ các tiền bối một thời. Chen chúc nhau ở đó cũng không hề thiếu các hố thẳm, đáy vực, hoặc chót đỉnh các thuyết lý, cho đến từng tập vụn vặt các tạp văn thượng vàng, hạ cám, lẫn lộn với từng pho dày nặng ký tư tưởng của rơm rác không tưởng. Cũng luôn có, dù thật hiếm hoi, các tập đầy bụi mờ dạy cách làm người tử tế và tập luận bàn về nhân cách con người sau thời kỳ từ quan. Không gian thật khiêm tốn, nếu không muốn chê trách là quá lu mờ, khiếm khuyết những mảng dành cho liêm khiết, chính trực, chí công và vô tư. Bên cạnh đó, các bạn sẽ không khó lắm để nhận ra các xảo thuật để làm sao thành công trong phỏng vấn, bí quyết giúp bạn đoạt lấy chức CEO trong tay đối phương có vây cánh, chìa khoá giúp bạn chinh phục trái tim vị Tổng Giám Đốc khá độc đoán và khắc nghiệt... Hơn lúc nào hết, Du đang ước muốn cỗ máy thời gian có thể nào quay ngược lại, chỉ bởi Du đang tha thiết muốn tìm lại chính mình, và phải là chính mình, mẫu hình của sự chân thật và lương thiện thời sinh viên, chứ không phải bất cứ hình thức của một con vụ, hoặc con rối nào trong bất cứ bàn tay ai, hoặc bàn cờ được hoạch định nào.

2.

Trên chiếc kệ bám đầy bụi đó, bạn sẽ dễ dàng nhận ra vô số các con đường, cùng với biết bao lối rẽ đã được bọn tiền nhân từng lập trình hay đồ hoạ sẵn. Bọn ấy may ra đã “sinh phùng thời”, đã khởi đi và đến đích. Cũng không hề thiếu bọn vừa bất tài, vô tướng, lại vừa thiếu chiếc ô màu cần thiết nên đã chua chát nếm mùi tẩu hoả. Đồ hoạ rôm rả thuở ban đầu, sau đó có khi chỉ là những khung sườn trơ xương, trống toác, hoặc những khung sườn do kết cấu nhồi độn rơm rác, hoá ra không tưởng, và đương nhiên chẳng bao lâu sau hoá thành những ngôi nhà ma rợn người, phế bỏ, hoang sơ. Từ những thất bại đau đớn và chua chát ấy, chính họ cũng đã trơ lì, chai mặt, ngồi xuống mày mò điều chỉnh và hiệu đính lại các công trình đào tạo rỗng kiến thức, trọng tâm chỉ để biến người trở thành các robots vâng phục tuyệt đối của mình. Chính Du đã sớm ngã quỵ, và sớm nhận biết mình bây giờ chẳng qua cũng chỉ là một con robot bất đắc chí, phiêu linh trong tay kẻ điều khiển dốt nát nhưng đầy tham vọng. Một tên học trò trì chí như Du, từng mày mò học, và học như những con sâu gạo miệt mài, cố bòn rút, cạy cựa, tích luỹ, chuyên cần, bởi nghiện ngập dần các lời khuyến dụ và nhồi sọ của bọn trưởng bối dốt đặc. Đáp số họ tự mặc định luôn là hương mật ngọt, là ảo ảnh tô chuốc cho các vai ông nghè, ông cống, các quan lại quyền thế, nghĩa là bậc ăn trên ngồi trốc, chỉ biết khè ra oai, thét ra lửa, từ đó chả mấy chốc họ cam kết rằng những chú bồ câu mới ra ràng như Du cũng sẽ tập tễnh ho ra bạc, khạc ra tiền dễ như chơi, nếu biết răm rắp một đường một đạo. Thế rồi trời bất dung gian, cùng đích của một kẻ sĩ lỡ thì, một tín đồ ngoan đạo nhưng không lọng che, bất ngờ buộc phải rẽ sang một lối khác. Một lối chẳng phải là đường tránh lẽ ra phải đặt trạm BOT, mà là một con hẻm bất chợt tối om om khiến ông chẳng ra ông, thằng không ra thằng, lỡ thầy lỡ thợ lỡ cu li một cách thật vô duyên. Từ đó Du bất chợt hoá thành một thanh niên ngờ nghệch, hoặc giống hơn hình ảnh của một gã thầy tu bất đắc chí, cứ thập thò chân trong chân ngoài, không dứt khoát kề bên khung cửa xuất.

3.

Cũng kể từ dạo ấy, mỗi lần quay lại căn nhà nhỏ trên đồi - nơi chàng thanh niên mới lớn đầy lý tưởng từng văn ôn võ luyện, từng không ít lần cam tâm dũa mài kiến thức độc đạo dưới trăng, và cũng từng câm lặng nhìn cuộc tình mới lớn đẹp như thơ của mình choàng khăn, khoác áo ra đi (vì chẳng người con gái nào có thể kiên trì chờ cho giấc mộng bất định của chàng lãng tử được nuôi triền miên, nhưng không bao giờ thấy phút viên mãn) - chỉ để điên cuồng lật tung mọi trật tự, đối với Du, là giây phút chính thức xác nhận mình bại trận, một cuộc bại trận trong trí tưởng điên rồ và sai lệch của một thanh niên mơ cầm lấy thanh đao đồ tể, tập chém xối xả xuống tầng lớp thần dân tuyệt tận, khố rách áo ôm. Một giấc mơ điên cuồng không khác chi cảm xúc lay gọi các oan hồn đang theo bén gót Du vào nhà, bám đu trên đầu hồi, ngả ngớn bên rèm cửa sổ, trên chảng cây, ngọn cỏ quanh vườn, ân oán như sẵn sàng thách thức. Xới tung có lẽ vừa là hành vi tỏ ra điên cuồng hối tiếc, nhưng chưa bao giờ là hành vi tha thiết muốn tìm lại chính mình chân chỉ hạt bột như manh giấy trắng năm xưa. Nhiệt huyết của một tầng lớp thanh niên u mê chưa bao giờ giúp Du sáng suốt xới tung nhằm mục đích lần ra đầu mối của sợi dây mê hoặc vô hình đã buộc, đã lôi, đã kéo mình vào con đường mà mình phải luôn ghìm nhau, tranh đoạt, đấu đá, hất cẳng, đội – đạp, bợ – nâng, phù thịnh, thậm chí sẵn sàng hạ thủ người đồng đội với mình chỉ mới hôm qua... Xới tung của Du ở đây chẳng qua chén tiệc lẽ ra được mời bỗng bị hất tung ra sân cho lũ chó ngao đang hám mồi. Và xới tung bởi lửa tham sân bừng bừng đã tố giác Du vô hình trung tha thiết mong được cột buộc mình thành bó cùng với các nhóm uổng tử oan hồn, hết đời này chẳng thể siêu sanh chỉ vì các miếng ăn có từ vô vàn nhẫn tâm cướp đoạt. Cơ trời xưa nay luôn mở ra thật đúng lúc, khi những kẻ từng gắn bó đồng tịch đồng sàng lại vì ham hố cướp bóc mồ hôi, nước mắt của đám thần dân đến tận cùng khố rách áo ôm, nhưng chia chác nhau bất xứng, lạnh lùng lưu huyết nhau giữa chốn ngai vàng, điện ngọc. Ngẫm lại, Lord Byron khá thấu tình đạt lý khi viết:
“Men think highly of those who rise rapidly in the world; whereas nothing rises quicker than dust, straw, and feathers.”
(Tạm dịch: “Con người thường tôn vinh những kẻ nhanh chóng trèo cao lên nấc thang danh vọng; trong khi đó chẳng có thứ gì bốc lên cao nhanh hơn bụi, rơm và lông chim.”)



Phần nhận xét hiển thị trên trang