Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Tư duy sáng tạo của người Việt: đến cụ Hà Văn Thùy cũng phải thốt lên "sáng tạo hay tối tạo"


Xưa nay, cụ Thùy vốn rất tự tôn người Việt. Cụ xem đó là một tộc người hàng thượng đẳng, hay một giống người tinh hoa, ví dụ xem lạiở đây (đầu năm 2014) hay ở đây

Sang xuân 2018, trong bài khai bút đầu năm, cụ đã làm một bước ngoặt đánh chú ý trong suy tưởng về Việt tộc. Lời thốt lên "sáng tạo hay tối tạo" của cụ dành cho sản phẩm tinh hoa của giống người tinh hoa ấy, là chữ Nôm, hẳn là một sự khác thường đến kì lạ so với trước nay.

Toàn văn như ở dưới.

Kết luận của bài:
"Không ai phủ nhận giá trị lớn lao của kho tàng chữ Nôm trong văn hóa dân tộc. Tuy vậy lịch sử ra đời của chữ Nôm là chuyện rất cần suy ngẫm. Nỗi đau khôn nguôi là ông cha ta quá lệ thuộc văn hóa Tàu, dẫn tới mất khả năng tư duy độc lập, mất tự chủ, không còn đủ sáng suốt trong quyết sách những vấn đề quan hệ tới sự sống còn của dân tộc. Không nỡ trách cha ông nhưng cần rút ra bài học cho hôm nay là làm sao xây dựng được tư duy độc lập và tự chủ?"



---





01.02.2018 BY KHOAHOCNET.COM

Hà Văn Thùy – CHỮ NÔM: SÁNG TẠO HAY TỐI TẠO?
Không bàn về vai trò chữ Nôm trong văn hóa dân tộc. Với chuyên luận này, người viết muốn nói về việc ra đời của chữ Nôm cùng bài học lịch sử cần được rút ra.
Trong quá khứ, người Việt sáng tạo ba loại chữ. Chữ thắt nút được chế bằng cách nhuộm những sợi gai bằng màu sắc khác nhau rồi thắt nút theo quy ước nhất định, tạo thành chữ. Giáo sư Lê Trọng Khánh cho biết, trong kháng chiến chống Pháp, tại quê nhà Quảng Nam, ông đã gặp những vị trưởng làng có cả nhà sách như vậy. Không chỉ là lịch Chăm mà còn sử thi, ca dao. Loại chữ thứ hai được gọi là Khoa đẩu.
Theo nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thành thì tên chữ vốn là chữ Khoe đầu vì là loại chữ đầu to, đuôi nhỏ nên cái đầu khoe ra, từ đó gọi nôm na là chữ Khoe đầu. Người thời Đường không còn nói được âm Việt nên gọi là Khoa đẩu vì chữ giống con nòng nọc. Chưa có công trình chuyên sâu khảo cứu chữ Khoa đẩu. Chỉ biết rằng cổ thư Trung Hoa có nói tới loại chữ này. Sự kiện duy nhất được ghi lại là thời Hán Vũ Đế, khi dỡ nhà Khổng Tử, đã phát hiện sách chữ cổ được giấu trong vách. Tài liệu không nói rõ là chữ gì nhưng nhiều người cho là chữ Khoa đẩu. Loại chữ thứ ba là chữ tượng hình được khắc trên đá, yếm rùa, xương thú, gọi là Giáp cốt văn, tiền thân của chữ Nho sau này.
Những năm gần đây, do nắm được quá trình hình thành người Việt nên một số học giả căn cứ vào niên đại các di chỉ khảo cổ như Giả Hồ, Cảm Tang, Lương Chử… đã xác nhận người Việt là chủ nhân của Giáp cốt văn. Những khảo cứu mới nhất cho thấy, người Hán cũng là con cháu của người Việt đi lên khai phá Hoa lục từ xa xưa nên về gốc gác cũng là người Việt. Như vậy, chữ Nho là chữ Việt. Tuy nhiên, có thể có tình hình như sau. Đất Việt Nam là nơi phát tích con người và văn hóa châu Á. Do là gốc rễ nên văn hóa trên đất Việt Nam lâu bền. Nhưng do phát triển sớm nên cũng có phần cằn cỗi, bảo thủ. Người ở Việt Nam quen dùng chữ Khoa đẩu nên không nghĩ tới việc sáng tạo chữ tượng hình. Trong tất cả các di chỉ khảo cổ ở Việt Nam không hề tìm thấy chữ tượng hình trên yếm rùa, đồ gốm hay đá. Phải chăng sáng tạo chữ tượng hình là của những người đã đi ra ngoài Việt Nam? Sau này người Việt Nam chỉ biết tới chữ vuông hoàn chỉnh từ thời Triệu Đà?
Có tình hình như sau: chữ được chế ra để ghi lại tiếng nói. Nhưng tiếng nói do hình thành từ xa xưa nên số lượng lớn. Trong khi đó, chữ làm ra thì ít. Dù đã dùng mọi cách để cho một chữ bao hàm nhiều nghĩa nhưng rồi cũng có không ít tiếng không được ký âm, tức là không có chữ. Ngôn ngữ học thống kê được khoảng 30% số tiếng như vậy. Trên lưu vực Hoàng Hà, đất của nhà Thương-Chu trước đây, do chữ có sớm nên những tiếng không được ký tự (không có chữ) không được sử dụng, bị lãng quên. Trong khi đó, ở Giang Nam hàng nghìn năm dân vẫn nói tiếng địa phương Quảng Đông, Triều Châu, Thượng Hải… Chỉ sau năm 1949 chính quyền Trung Quốc mới rốt ráo xóa bỏ tiếng địa phương và dùng quan thoại. Do vậy, nhiều tiếng địa phương bị rơi rụng dần. Đến nay còn khoảng 20% tiếng địa phương (không có chữ) được trao đổi trong dân gian.
Ở Việt Nam tình hình cũng tương tự. Sau thời Bắc thuộc, nước ta có khoảng 70% tiếng được ký tự bằng chữ Nho, được gọi là “tự” hay “chữ” và 30% tiếng không có chữ, được gọi là Nôm. Ở thế kỷ XIX, do lầm tưởng “tự” là của Hán còn Nôm là thuần Việt nên các học giả Tabert, Maspero cho rằng tiếng Việt vay mượn 70% từ tiếng Hán.
Từ thế kỷ X, khi dành lại quyền tự chủ, thấy rằng nếu chỉ có “tự” thôi thì không đủ để ghi chép mọi sự phong phú của đời sống. Do vậy việc chế ra thứ chữ riêng của người Việt là đòi hỏi bức thiết. Nhưng phải gần 300 năm sau mới chế ra chữ Nôm.
Từ thực tế này, có thể nói gì về việc hình thành chữ Nôm?
Ta có thể hình dung: cho tới nhiều thế kỷ trước Công nguyên, chữ Khoa đẩu đã được sử dụng không chỉ ở Đông Dương, Trung Quốc mà cả ở Thái Lan, Miến Điện. Chưa đủ tài liệu chứng minh nhưng có dự cảm cho rằng chữ Khoa đẩu trước 2000 năm TCN đã có mặt ở Ấn Độ. 50.000 năm trước, người Lạc Việt Indonesian sang chiếm lĩnh Ấn Độ, trở thành dân bản địa vùng đất này, sau được gọi là người Dravidian. Rất có thể người Dravidian đã sớm sở hữu chữ Khoa đẩu từ Việt Nam đưa sang cùng với nông nghiệp. Khi người Arian xâm lăng, đã kết hợp chữ viết Arian với chữ Khoa đẩu bản địa để thành chữ Sanskrit. Học giả phương Tây do không biết quá trình hình thành như vậy và do choáng ngợp trước văn minh Ấn Độ đã cho rằng chữ Sanskrit là của người Arian mang tới. Sau đó người Khmer học chữ Sanskrit rồi người Thái học theo người Khmer để làm ra chữ Thái.
Trong suốt nghìn năm đô hộ Việt Nam, người Trung Quốc dùng chính sách chia rẽ giữa các sắc tộc để dễ cai trị. Mặt khác triệt để xóa bỏ văn tự của người Việt: hủy những kho chữ thắt nút và những tài liệu viết bằng chữ Khoa đẩu. Ngay ở Trung Quốc, do quy chế “xa đồng quỹ, thư đồng văn” các triều đại quân chủ cũng xóa bỏ hoàn toàn chữ Khoa đẩu.
Vì vậy, khi dành được quyền tự chủ, nhà nước quân chủ Việt Nam thấy ở đồng bằng sông Hồng, ngoài chữ Nho không còn thứ chữ nào khác. Trong khi đó, tại miền núi, các tộc ít người vẫn sử dụng văn tự của mình. Để phủ dụ dân ngoại trấn, triều đình gả công chúa cho một số tù trưởng những tộc lớn. Một số vị thân vương, quan lại nói được tiếng thiểu số. Điều này cũng có nghĩa là triều đình biết có những tộc thiểu số có chữ viết. Tuy nhiên vì tiêm nhiễm quan niệm kỳ thị sắc tộc của thiên triều nên triều đình coi các sắc dân này là man, mọi. Do vậy, chữ viết của họ cũng bị gọi là man tự. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong, học giả Vương Duy Trinh gọi bộ chữ cái của người Mường Thanh Hóa là Man mẫu tự. Mặt khác, do thấy tiếng Mường, Thái đa âm còn tiếng Kinh đơn âm nên các cụ coi đó là thứ tiếng xa lạ. Thêm nữa, do không hiểu bản chất tiếng Việt là tiếng ghép vần nên không nhận ra chữ Mường hay Thái là loại chữ ghép vần, viết theo quy luật phát âm và dễ học. Do quan niệm như vậy nên cho thứ chữ đó là man di, không đáng dùng.
Trong khi đó, vì việc bức thiết phải có chữ để ký âm phần tiếng Nôm nên thế kỷ XIII, tương truyền Nguyễn Thuyên chế ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán. Đó là công nghệ thêm nét này, bớt nét khác trên con chữ Nho để đọc khác đi với nghĩa khác đi và gọi là chữ Nôm! Do được chế ra như vậy nên chữ Nôm có những nhược điểm lớn là phải thông thạo chữ Hán mới đọc được. Thứ nữa, do quy chế tạo chữ quá lỏng lẻo, phức tạp nên chữ hình thành ở mỗi nơi mỗi khác, thiếu nhất quán. Dù có những cố gắng để thống nhất chữ viết nhưng kết quả rất hạn chế. Một thí dự đáng buồn là thập kỷ 1960 có người sưu tầm được bản văn chữ Nôm nhưng không ai đọc được, hy vọng vào học giả Hoàng Xuân Hãn là người duy nhất có thể đọc. Rồi cụ Hoàng qua đời, văn bản quý trở thành đồ bỏ!
Thực tế trên nói lên điều gì? Nếu từ khi dành được độc lập, cha ông ta nhận ra người Thái, người Mường là đồng bào, đồng tộc của mình. Chữ Thái, chữ Mường là chữ của tổ tiên tộc Việt, để rồi nghiên cứu hoàn chỉnh, phổ biến thứ chữ dễ viết dễ học trong toàn dân thì văn hóa Việt sẽ khác. Điều chắc chắn là, do chữ Khoa đẩu là loại chữ ghép vần, có thể ký âm được cả “tự” lẫn Nôm nên thời gian không lâu, chúng ta có quốc ngữ của mình. Do vậy số lượng người biết chữ nhiều hơn, dân trí cao hơn. Chữ Hán dần được loại bỏ. Đấy là hành động thiết thực và có ý nghĩa lớn trong việc dành độc lập về văn hóa. Độc lập về văn hóa mới là sự độc lập vững bền nhất.
Tuy nhiên, đó chỉ là giả định mà lịch sử thì không có chuyện giả định. Điều quan trọng là từ đó rút ra bài học gì?
Dù rất nhiều suy ngẫm nhưng với tôi, câu trả lời vẫn rất khó. Cùng với cái khó là nỗi lo bất kính với tiền nhân. Nhưng rồi, tới tận cùng mọi sự, tôi không thể không nhận ra rằng, nguyên nhân là do cha ông ta mang nặng đầu óc nô lệ với văn hóa Trung Quốc. Dù hết lần này lượt khác, đổ hàng núi xương sông máu để dành lại lãnh thổ nhưng cha ông ta dường như chưa bao giờ nghĩ tới sự độc lập về văn hóa với Trung Quốc. Do vậy, khi dành lại quyền tự chủ, thời Đinh, Lê, thời Lý, Trần luôn coi chữ Nho là chữ thánh hiền. Kinh sách, sử Trung Hoa là những môn học chính thức trong khoa cử. Không chỉ Khổng, Lão mà “chư tử” Trung Hoa luôn là thầy của kẻ sỹ Việt. Đã là những bậc tôn sư như thế thì người Việt hết thế hệ này sang thế hệ khác chỉ một mực cúc cung tuân phục. Mở đầu Đại Việt sử ký toàn thư, Cụ Lê Văn Hưu viết: “Thuở Hoàng Đế dựng muôn nước.” Không hiểu nổi vì sao các vị viết như thế? Các Cụ biết rằng, Xích Quỷ ra đời năm 2879 TCN, trong khi đó, vương quốc của Hoàng Đế chỉ xuất hiện năm 2698 TCN sau trận Trác Lộc, muộn hơn Xích Quỷ 182 năm. Vậy làm sao mà Hoàng Đế dựng muôn nước? Không thể giải thích cách nào khác ngoài sự mù quáng tôn sùng Hoa Hạ! Khi đọc lại một số bậc đáng kính gần đây nhất như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh ta vẫn thấy các cụ quá đề cao học giả Trung Hoa. Có thể thấy tâm lý này ngay ở Hồ Chí Minh với câu nói nổi tiếng: “Bác chẳng có tư tưởng gì. Những cái đó là do Cụ Mác, cụ Lê Nin và Bác Mao nói sẵn rồi!” Với những chuyện sống còn của dân tộc mà phó mặc vào người ngoài thật là nguy hiểm vô chừng! “Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống!” Câu nói của Marat hoàn toàn thích hợp trong chuyện này. Tuy trong dân gian có kể những câu chuyện “thắng” của sứ thần trong đấu trí, đấu thơ với người phương Bắc rồi cả chuyện ông Trạng Quỳnh được dựng lên nhưng đó thực sự chỉ là thắng lợi kiểu Chí Phèo!
Chính do tâm lý nô lệ bái phục văn hóa Tàu nên trong thâm tâm người Việt không dám “vượt qua lời nguyền” của nỗi mặc cảm thấp kém và yếu hèn về văn hóa. Do vậy không bao giờ dám mơ tưởng đến việc bứt phá trở thành độc lập về văn hóa tư tưởng. Tâm lý ấy dẫn tới coi khinh, vứt bỏ chữ Khoa đẩu của tổ tiên để đi vào tử lộ là chế ra thứ chữ gây khốn khổ cho người học, kìm hãm tiến bộ của dân tộc.
Điều đáng tiếc là, thói khiếp nhược, nô lệ văn hóa đó không chỉ của cha ông với người Tàu mà còn phổ biến và nặng nề ở người Việt hôm nay đối với con người và văn hóa phương Tây. Quá nhiều ví dụ là, một ý tưởng nào đó, nếu người Việt nói ra thì bị đồng bào bỏ qua hay xúm vào ném đá. Nhưng nếu thốt ra từ miệng ông John, ông Smith, ông Ốp ông Ep thì được tin như thánh chỉ! Trong phong trào “đổi mới tư duy” một giáo sư dạy Triết xin tài trợ làm đề tài “Vai trò của tư duy tổng hợp.” Ông dịch hết ông Tây nọ bà Đầm kia rồi bình tán thành mấy chục trang giấy. Tôi bảo ông: “ Muộn nhất là 20.000 năm trước, người Hòa Bình biết trồng cấy nên phải tư duy tổng hợp bằng cách trông trời, trông đất, trông mây… Do vậy tư duy tổng hợp là bản năng của người Việt. Đặt vi điện cực vào những điểm khác nhau trong não bộ, khoa thần kinh học phát hiện người phương Đông chủ về tư duy tổng hợp. Nếu nghiên cứu kỹ điều này, bác sẽ làm thầy mấy ông giáo sư Tây kia chứ không phải là dịch sách của họ mà học!” Một giảng viên Đại học Quốc gia sang học tiến sỹ Harvard, vừa đọc mấy tác giả Pháp của Viễn Đông bác cổ đã vội dạy cụ Kim Định: “Âm dương là chung của nhân loại!” Anh ta không biết rằng, khi cha anh ta còn ở bờ tre gốc dứa nào đó thì Kim Định đã đọc đến nhả bã những sách đó để thai nghén thuyết Việt Nho! Chính những chuyện như thế làm chúng ta ngu đi, hèn đi!
Có sự thật là đã một thời chúng ta ngu ngơ bước ra thế giới vì không có khoa học cơ bản và cũng thiếu thông tin. Nhưng hôm nay, chúng ta được trang bị khoa học cơ bản ngang với trình độ nhân loại, còn thông tin thì tràn đầy trên mạng nên nếu biết tự chủ, tư duy độc lập, chúng ta không thua kém bất kỳ ai!
Không ai phủ nhận giá trị lớn lao của kho tàng chữ Nôm trong văn hóa dân tộc. Tuy vậy lịch sử ra đời của chữ Nôm là chuyện rất cần suy ngẫm. Nỗi đau khôn nguôi là ông cha ta quá lệ thuộc văn hóa Tàu, dẫn tới mất khả năng tư duy độc lập, mất tự chủ, không còn đủ sáng suốt trong quyết sách những vấn đề quan hệ tới sự sống còn của dân tộc. Không nỡ trách cha ông nhưng cần rút ra bài học cho hôm nay là làm sao xây dựng được tư duy độc lập và tự chủ?
Sài Gòn, khai bút năm 2018
H.V.T
https://khoahocnet.com/2018/02/01/ha-van-thuy-chu-nom-sang-tao-hay-toi-tao/#more-24117


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giữa tầm nhìn và lạc quan



Một năm trôi qua mà không viết thêm được bài nào … Cho đến nay.
Đúng một năm sau tôi đã về Việt Nam và đang viết bài này ngay tại Sài Gòn. Với bài nay, tôi xin rũ bỏ mọi nghiệp xấu của năm qua và lại tiếp tục sự nghiệp.
Trong bài “thư gửi Việt Nam” tôi đã báo động về hai điều. Một là nguy cơ toàn thế giới sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng khủng khiếp. Hai là đoán riêng nước Mỹ sẽ rơi vào một cơn khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhất kể từ thời Nội chiến của Mỹ. Ngoài ra tôi có nêu một số nhận xét về ý nghĩa của thời Trump đối với Việt Nam. Vậy, hiện tại và ngay sau Ông Trump đã qua Việt Nam, chúng ta đang thấy gì? Ở đây chỉ nêu những sự khác biệt lớn nhất và để lại những vấn đề cụ thể cho những bài tiếp theo.
Nhìn chung, thế giới của hôm nay, nước Mỹ của hôm nay, và Việt Nam của hôm nay đã khá là khác với thế giới, nước Mỹ, và nước Việt Nam của thời trước đây chỉ một năm. Về thế giới và nhất là về cái gọi là “trật tự thế giới” thì chúng ta thấy mức độ “thiếu chắc chắn” (tức uncertainty) đã tăng vọt. Dù trong “trật tự thế giới” của những năm trước Trump cũng đã tồn tại nhiều nhược điểm lớn, “đóng góp” lớn nhất của Chính quyền Trump cho đến nay chính là đã làm suy yếu một cách nghiêm trọng vai trò lãnh đạo và quyền lực của Mỹ. Vì thế, thế giới của hôm nay phản ánh một khoảng trống quyền lực toàn cầu lớn nhất từ những năm 1930.
Về Mỹ, rõ rằng nước đầy hứa hẹn và vấn đề này đã và đang rơi vào khủng hoảng chính trị và xã hội lớn nhất từ thời nội chiến trong những năm 1860 cách đây gần 150 năm. Ly do chính là những thể chế dân chủ của nước Mỹ, vốn đã đầy khuyết điểm, nay đang bị phá hoại do một kẻ lửa đảo mị dân. Là một kẻ phân biệt chủng tộc, là một trong những nhân vật xấu nhất ở cả nước Mỹ, ông và những người và nhóm ủng hộ đang phá hoại cả xã hội Hoa Kỳ một cách nhanh chóng.
Còn đối với Việt Nam, thì đánh giá sao?
Muốn đánh giá về ông Nguyễn Phú Trọng, thì phải thừa nhận ông ấy và những người “đồng minh” đã giành được lợi thế trên chính trường. Chiến dịch chống tham nhũng đã và còn đang tác động lớn, không chỉ hay chủ yếu đối với tham nhũng mà cả chính trị nữa. Sáng mai, khi tòa tuyên án TXT và ĐLT, thì nó sẽ không nên được xem là sự kết thúc của một quy trình pháp luật mà là một hình thức tiêu biểu trong một quá trình chính trị còn đang tiếp diễn.
Tôi đè nghị trong năm vừa rồi Việt Nam đã bắt đầu một thời mới. Một thời có thể được gọi là thời ‘Hậu Dũng.” Nói “Hậu Dũng” của Việt Nam không có nghĩa là ảnh hưởng của thời Dũng đã hết. Trong 10 năm qua xã hội Việt Nam đã có những thay đổi mang tính cấu trúc, như sự trỗi dậy của giới kinh doanh thân hữu, sự lên ngôi của giới ngân hàng thân hữu, và của tham nhũng quy mô lớn, v.v… Những yếu tố đó vẫn còn và vẫn mạnh. Thời kỳ hiện nay khác ở chỗ đang có những thay đổi nhất định trong giới lãnh đạo và có vẻ một số thay đổi đối với quan hệ giữa Đảng và bộ máy.
Việt Nam sẽ đi đâu trong giai đoạn mới này còn quá sớm để đánh gía. Tầm nhìn cho đất nước trong khi mới sẽ là như sao? Đó chính là việc người dân Việt Nam sẽ quyết định.
Vốn là người cố gắng lạc quan một cách phi ảo tưởng, tôi giữa “định hướng” lạc quan vì 2 lý do chính. Thứ nhất, bất chấp một số diễn biến tiêu cực trong nước, tôi còn thấy người dân Việt Nam quan tâm đến số phận của đất nước mình.
Thứ hai, bất chấp những cơn gió lạnh, điều chắc chắn là đại đa số muốn một Việt Nam mới, một Việt Nam dân chủ hơn, một Việt Nam minh bạch và công bằng, một Việt Nam mà phản ánh những giá trị của Phan Châu Trinh hay thậm chí Obama hơn là những giá trị của Stalin hay Tập Cận Bình.
Song, viết thế này có giá trị không? Làm sao mà lạc quan được trước mặt của quá nhiều vấn đề và trong lúc có vẻ Việt Nam còn thiếu những thể chế mà cần để giành được một tương lai tươi sáng.
Chúng ta phải nhớ rằng ở bất cứ nước nào, những thể chế không rơi từ trên trời xuống mà là do những quá trình hội nhập và quan hệ xã hội tạo ra. Do đó, chờ thay đổi từ trên xuống không hề là một động thái hứa hẹn. Tôi nhìn về Mỹ thì nhiều lúc cũng thấy rất khó để lạc quan. Nhưng biết để có những thay đổi tích cực, để cứu nước, thì chính là người dân Mỹ phải thức dậy. Tương lai của Việt Nam cũng tuỳ thuộc vào chính người dân.
Để giữa một động thái lạc quan phải có tầm nhìn về tương lai. Đúng vậy. Dù nói về thế giới hay Mỹ hai Việt Nam, cái mà chúng ta không thể thiếu hôm nay chính là một tầm nhìn. Nhưng không chỉ có thế. Chúng ta phải dám tự tin và nỗ lực cùng nhau để sống theo nó.
JL, Sài Gòn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi những lãnh tụ trở về với đất mẹ


KIỆT ANH - BẢO ANH





















(PL)- Nơi an nghỉ của nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng thế giới thường vô cùng giản dị.

Từng sống một cuộc đời hào hùng đầy vinh hiển nhưng nơi an nghỉ của nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử thế giới thường vô cùng giản dị.

Sống đời hào hùng, nằm xuống bình dị

Ông Olof Palmer là lãnh tụ đảng Dân chủ xã hội Thụy Điển 17 năm liền, từ năm 1969 đến khi ông qua đời (1986). Hai lần làm thủ tướng Thụy Điển, ông là một trong những người Thụy Điển nổi tiếng nhất của thế kỷ 20, người gây ấn tượng mạnh mẽ về các chính sách an sinh xã hội cho đất nước mình và trợ giúp các nước đang phát triển.

Hoạt động của ông từng gây khủng hoảng ngoại giao giữa Thụy Điển với Mỹ khi xuống đường chống cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ với Việt Nam. Ngày 21-2-1968, Palmer lúc đó là bộ trưởng Bộ Giáo dục đã tham gia một cuộc tuần hành phản đối Mỹ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam ở Stockholm cùng với đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Liên Xô Nguyễn Thọ Chân. Cuộc biểu tình do Ủy ban Thụy Điển vì Việt Nam tổ chức, cả Palmer và ông Chân đều được mời phát biểu ý kiến. Do việc này, Mỹ đã triệu hồi đại sứ của mình ở Thụy Điển về, còn ông Palmer bị phe đối lập chỉ trích dữ dội về việc tham gia cuộc tuần hành đó.

Thụy Điển dưới thời ông từng giúp đỡ Việt Nam rất nhiều, trong đó có Nhà máy giấy Bãi Bằng, BV Nhi Trung ương, Nhiệt điện Uông Bí. Ông bị ám sát năm 1986 khi đang là thủ tướng. Đêm đó ông cùng vợ đi bộ về sau một buổi xem kịch. Thủ phạm được cho là một tay nghiện ma túy. Mộ Olof Palmer cũng như mọi ngôi mộ khác trong khuôn viên nhà thờ Adolf Fredick, Stockholm. Bia mộ là một tảng đá khắc chữ ký của ông, không một dòng chức danh, công trạng. Nhưng hoa tươi chưa bao giờ thiếu vắng trên mộ ông, ngay cả trong những ngày Bắc Âu buốt giá.

Điểm khác biệt duy nhất...

Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, một trong những tổng thống nổi tiếng nhất lịch sử nước Mỹ cũng được an nghỉ một cách giản đơn tại nghĩa trang quân đội Arlington. Người đó chính là J.F. Kennedy với câu nói nổi tiếng đã đi vào tâm thức của không chỉ người Mỹ mà còn phản ánh tinh thần cống hiến cho tổ quốc đối với người trẻ tại nhiều nước: “Hỡi những người bạn Mỹ của tôi. Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn. Hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc”. Câu hỏi đau đáu này được ông Kennedy nêu lên trong bài phát biểu nhậm chức vào ngày 20-1-1961, giữa lúc xã hội Mỹ đang khủng hoảng sâu sắc với vấn đề phân biệt sắc tộc, giữa lúc những thanh thiếu niên Mỹ đang chênh vênh giữa những giá trị cũ và mới. Nước Mỹ khi đó đang đứng trước giai đoạn căng thẳng cao trào của Chiến tranh lạnh, của bóng ma chiến tranh hạt nhân và người dân Mỹ đang đòi hỏi Washington chấm dứt sa lầy vào chiến tranh Việt Nam.

Lập “kỷ lục” là tổng thống trẻ nhất trong lịch sử nước Mỹ thời điểm đó, lại là người theo Công giáo La Mã (Kitô giáo) đầu tiên trở thành “chủ nhân” của Nhà Trắng, J.F. Kennedy trở thành một biểu tượng để người dân Mỹ hy vọng chấm dứt những chia rẽ và khủng hoảng của xã hội.

Khi ông bị ám sát ngày 22-11-1963, vụ việc đã được ví von như một nhát dao đâm vào trái tim người Mỹ. Thi thể của ông được an táng giản đơn tại một sườn đồi khu nghĩa trang Arlington dành cho những quân nhân Mỹ, cũng chỉ với dòng chữ “John Fitzgerald Kennedy 1917-1963”. Điểm khác biệt duy nhất của ngôi mộ so với những bia tưởng niệm quân nhân Mỹ có lẽ chính là “Ngọn lửa vĩnh cửu” đặt trước khu mộ, được thiết kế bởi kiến trúc sư John Carl Warnecke, một người bạn lâu năm của Kennedy. Có một vài ghi chép lịch sử cho rằng chính vị cố tổng thống đã trong một lần viếng thăm Arlington vào tháng 3-1963, chỉ bảy tháng trước khi ông bị ám sát, đã chọn khu sườn đồi làm nơi an nghỉ cho ông sau này.

Nghĩa trang của những anh hùng

Nằm tại TP Taguig thuộc vùng đô thị Manila, Nghĩa trang Libingan ng mga Bayani (Nghĩa trang của những anh hùng) với diện tích 103 ha, là nơi an nghỉ của hơn 49.000 quân nhân, chính khách và các anh hùng của người dân Philippines.

Libingan ng mga Bayani được chính phủ Philippines xây dựng vào năm 1947 với cái tên ban đầu là “Nghĩa trang tưởng niệm cộng hòa”. Mục đích xây dựng là để tưởng nhớ các binh sĩ Philippines hy sinh trong Thế chiến thứ hai. Một điều luật được ký bởi cựu Tổng thống Elpidio Quirino vào thời điểm đó cũng nói rõ nghĩa trang này sẽ được dùng làm nơi an nghỉ cho các tổng thống, các anh hùng dân tộc và các nhà yêu nước. Số tiền ban đầu được thông qua để xây dựng nghĩa trang là 1 triệu peso. Năm 1954, cựu Tổng thống Ramon Magsaysay đã chính thức đổi tên nghĩa trang trang trọng bậc nhất của Philippines thành Libingan ng mga Bayani.

“Mộ binh sĩ vô danh”, một trong những công trình chính của khu nghĩa trang, đã được dựng lên ở trung tâm nghĩa trang. Bên trên công trình này là dòng chữ: “An nghỉ tại đây là một binh sĩ Philippines với tên tuổi mà chỉ Chúa biết”. Công trình tưởng niệm này nổi bật với ba thanh cột mang ý nghĩa đại diện cho ba nhóm đảo chính của Philippines. Đây là nơi các quan chức chính phủ Philippines thường tiến hành nghi thức đặt vòng hoa tưởng niệm.

Việc quyết định ai sẽ là người được chôn cất ở nghĩa trang này là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong những năm qua. Lực lượng vũ trang Philippines (AFP) giữ vai trò quản lý và giám sát nghĩa trang cũng đã ra các chỉ dẫn cụ thể nêu rõ những ai sẽ được chôn cất tại nơi đây. Những đời tổng thống Philippines, các bộ trưởng Quốc phòng và những tổng tham mưu trưởng AFP sau khi qua đời sẽ được đưa về Libingan ng mga Bayani để an nghỉ. Đây cũng là nơi chôn cất những quân nhân từng được trao huy chương cao quý nhất của quân đội Philippines.

Tháng 8-2016, trong một quyết định gây tranh cãi, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã đồng ý đưa thi hài của nhà độc tài Ferdinand Marcos, cựu tổng thống Phillippines từ năm 1965 tới 1986, vào an táng ở Nghĩa trang của những anh hùng dân tộc thể theo ước nguyện của người dân phía Bắc đất nước.
***

Nằm xuống cùng những người đồng chí

Nếu TP Villa Clara ở miền Trung Cuba gắn liền với tên tuổi của người du kích anh hùng Argentina Che Guevara thì Santiago de Cuba lại được coi là TP ghi dấu ấn của cố lãnh tụ cách mạng Fidel Castro. Bài phát biểu đầu tiên của lãnh tụ Fidel Castro sau khi cách mạng thắng lợi được phát ra từ ban công của Tòa thị chính Santiago de Cuba, nằm cạnh Công viên Cespedes ở trung tâm TP. Nghĩa trang Santa Ifigenia ở ngoại ô Santiago de Cuba, TP có gần nửa triệu dân, cũng chính là nơi an nghỉ của vị lãnh tụ huyền thoại của cách mạng Cuba.

Tại nghĩa trang này được đặt một tảng đá lớn mang về từ dãy núi Sierra Maestra, nơi lãnh tụ Fidel Castro lãnh đạo phong trào du kích lật đổ chế độ độc tài Fulgencio Batista năm 1959. Bên trong tảng đá chính là chiếc hộp đựng tro cốt của người đã lãnh đạo cách mạng Cuba đi đến thắng lợi.

Lễ an táng nhà lãnh đạo kiệt xuất của cuộc Cách mạng Cuba vào tháng 12-2016 cũng được tổ chức vô cùng giản dị tại Santiago de Cuba, chỉ với sự tham gia của những thành viên trong gia đình và đài truyền hình quốc gia Cuba phải 13 tiếng đồng hồ sau mới đưa tin. Nơi an nghỉ của ông cũng được đặt gần đài tưởng niệm những người đồng chí của ông, những chiến sĩ đã tham gia trận công đồn Moncada những ngày đầu của cách mạng Cuba. Theo tờ Cuba Debate, có khoảng 2.000 lượt người tới thăm viếng ngôi mộ của vị lãnh tụ đáng kính mỗi ngày.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ kiện trước ngưỡng cửa 4.0!


>> Nghiêm minh đến thế là… cùng!
>> Án chung thân cho cựu đại biểu ‘chạy’ vào quốc hội


ANH ĐÀO
LĐO - Vụ Vinasun kiện Grab phải chăng giống việc nông dân kiện máy cày, bưu tá kiện gmail, và công nhân kiện robot?

Vụ Vinasun kiện Grab vừa được tòa án đưa ra xét xử đang có những chi tiết hẳn nhiên sẽ đi vào... lịch sử cách mạng công nghiệp 4.0.

Nó thế này: Vinasun cho rằng Grab chỉ được hoạt động tại thị trường VN thông qua "Quyết định 24" của Bộ GTVT về việc thí điểm triển khai ứng dụng KH-CN hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng, tức cung cấp phần mềm cho đơn vị kinh doanh vận tải. Nhưng thực tế, Grab là DN kinh doanh vận tải taxi - một lĩnh vực cùng ngành nghề với Vinasun. Và hoạt động vi phạm pháp luật của Grab đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho Vinasun.

Cụ thể, đến hết quý II.2017, hơn 8.000 người lao động của Vinasun phải nghỉ việc, hàng trăm đầu xe phải nằm bãi. Tỷ lệ thiệt hại mà Grab gây ra cho Vinasun từ tháng 1.2016 đến tháng 6.2017 là 52,52%, tương ứng số tiền 39,9 tỉ đồng. Và Vinasun kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại 41,2 tỉ đồng.

Grab thì nói Vinasun vô lý, bởi hình thức kinh doanh của Grab chỉ cung ứng phần mềm kết nối giữa lái xe và khách hàng, tạo điều kiện cho khách đi lại dễ dàng, tạo cạnh tranh lành mạnh với các hãng taxi truyền thống. Hơn nữa, cách tính toán thiệt hại của Vinasun là không có cơ sở, không có quan hệ nhân quả giữa vi phạm của Grab Taxi (nếu có).

So sánh đơn giản, nó giống như giới “cửu vạn” hồi thế kỷ thứ 19 đập phá ôtô, tàu lửa vì cho rằng chúng cướp việc làm, giống như bưu tá kiện gmail, giống như công nhân đòi đưa robot lên giàn lửa..., dẫu rằng mấu chốt là ở chỗ hành vi kinh doanh của Grab có trái luật không.

Vụ kiện này hi hữu, nhưng sẽ chỉ là một mở đầu. Mở đầu cho ứng dụng CNTT nói riêng hay KHKT nói chung gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động truyền thống. Mở đầu cho kỷ nguyên “chân tay to và mồ hôi đơn thuần” sẽ phải kiện chí chết cho những robot, phần mềm và tự động hóa.

Một báo cáo của McKinsey & Co hồi đầu năm dự báo: 46 quốc gia bị ảnh hưởng, 800 triệu công nhân sẽ bị mất việc làm vì robot và tự động hóa vào 2030, tức là cứ 5 người thì có 1 người mất việc làm.

Bình minh của cách mạng 4.0 đã bắt đầu, nhưng nhân loại thế kỷ 21 đã tiến rất nhanh so với hồi cuộc cách mạng CN đầu tiên để biết rằng phải thích nghi, chung sống và sáng tạo, thay vì đi đập phá kiện cáo.

Vụ kiện này cũng vậy, chắc chắn nó sẽ trở thành một tiền lệ. Tiền lệ để biết sự sẵn sàng của chúng ta với cách mạng 4.0, sự sẵn sàng ở cả thái độ tiếp nhận, thích nghi, ứng phó, thay vì chỉ hô hào trong báo cáo. Tiếp nhận, để những phán xử của hôm nay không trở thành trò cười trong ngày mai.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Làm tướng mau giàu thật!

BM

https://baomai.blogspot.com/
Báo lề đảng vừa trình làng cơ ngơi của trung tướng kiêm nhà văn công an Nguyễn Hữu Ước.

Nhìn vào cái được gọi là "chốn lưu ẩn" này của ông Bí thư Đảng bộ Báo Công an nhân dân; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Lực lượng, Bộ Công an; Tổng Biên tập kênh truyền hình Công an nhân dân người ta tự hỏi: TBT Nguyễn Phú Trọng đâu, sao không cử  điều tra xem tướng này là tướng  loại gì mà giàu đến mức này!?

https://baomai.blogspot.com/

Trả lời: nó còn ok tức là nó thuộc phe đồng chí ta chứ không phải phe đồng chí địch.

Và đây là "chốn lưu ẩn" của đồng chí ta:

https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/
https://baomai.blogspot.com/

Hữu Ước cũng là người từng bị Ls Trần Đình Triển tố cáo đã làm “phù phép” bán 2 mảnh đất rộng 28.000 m2 UBND TP Hà Nội cấp cho báo Công an nhân dân (CAND) để xây nhà ở cho cán bộ và bỏ túi 200 tỉ đồng. Sự việc đổ bể, ông trung tướng, cũng là nhà văn của đảng này làm văn bản xin trả lại cho thành phố.

Vì là thành phần chuột trong bình nên Hữu Ước được hạ cánh an toàn và thảnh thơi xây dựng chốn lưu ẩn khủng.

https://baomai.blogspot.com/

Thử hỏi một người đi bộ đội từ năm 1970, sau đó làm phóng viên cho công an, rồi lên làm tổng biên tập Báo An ninh Thế giới và Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Công an, leo lên chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Lực lượng Công an Nhân dân và kiêm nhiệm chức vụ Tổng Biên tập Báo Công an Nhân dân, đồng thời là Ủy viên Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam... chừng đó chức vụ và cả đời không một ngày "lao động thối móng tay" thì tiền đâu ông trung tướng công an này có để xây một cơ ngơi "vĩ đại" như vậy?
...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tục tiễn Táo quân của Việt Nam và Trung Quốc khác nhau như thế nào?



Hậu Thạch tổng hợp
08:05 - 11 tháng 2, 2015

Cùng là những nước Á Đông nên văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét giống nhau. Một trong những điểm tương đồng thú vị ấy là phong tục tiễn Táo quân ngày Tết.

Nguồn gốc



Ở Việt Nam ngày "ông Công ông Táo" bắt nguồn từ sự tích Táo quân hay "ba ông đầu rau". Dù sự tích này có nhiều dị bản nhưng đều theo một mô-típ chung đó là câu chuyện về ba người, do những hoàn cảnh éo le mà trở thành hai chồng một vợ. Sau khi mất họ vẫn yêu thương nhau nhưng không muốn chia lìa. Cảm động vì điều đó Ngọc Hoàng phong họ làm Táo quân (hay ba ông đầu rau) quản việc bếp núc gia đình, và ngày 23 tháng Chạp hàng năm phải về trời trình báo việc hạ giới. (Ảnh: Tranh dân gian Đông Hồ)

Với Trung Quốc, Táo Quân, hay Táo Vương còn được tôn kính gọi là "Đông trù tư mệnh Táo chủ Thần quân" nghĩa là vị thần cai quản việc bếp núc cũng như bản mệnh, phúc họa của mỗi gia đình. Nguồn gốc Táo quân của người Trung Quốc cũng rất đa dạng và phong phú nhưng truyền thuyết về cặp đôi "thần bếp" với chồng tên Tô Cát Lợi và vợ Vương Thị được xem là phổ biến hơn cả. Người Trung Quốc cũng làm lễ Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, một số nơi ở phía nam thì tổ chức muộn hơn một chút vào ngày 24 tháng Chạp. (Ảnh: Tranh Dân gian Đông Bắc Trung Quốc)

Địa điểm tiến hành lễ



Người Việt thường bày mâm cỗ trước bàn thờ gia tiên để làm lễ tiễn ông Công, ông Táo về chầu trời. Họ quan niệm Táo quân không chỉ đơn thuần là vị thần bếp mà còn được coi là Thổ công, Thổ địa, vị thần cai quản mọi việc trong gia đình. Vì vậy có thể nói Táo quân là một vị thần tối thượng trong mỗi gia đình Việt. (Ảnh:Đời sống pháp luật)



Trong khi đó người Trung Quốc lấy gian bếp là địa điểm chính để tiến hành nghi lễ tiễn Táo Quân lên thiên đình. Họ quan niệm Táo quân mang ý nghĩa quan trọng nhất là cai quản việc bếp núc và duy trì ngọn lửa hạnh phúc cho gia đình.(Ảnh: An Dương tân văn mạng)

Đồ cúng


Người Việt sắm đồ cúng thường có 3 chiếc mũ ông công, trong đó hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Những đồ vàng mã này sẽ được hóa (đốt đi) sau lễ cúng ông Táo. (Ảnh : Ngôi Sao) 



Đồ cúng của người Trung Quốc đơn giản hơn một chút. Họ chỉ cần đi mua một bức tranh có hình Táo quân về rồi dán vào bức tường phía trên bếp, sau đó tiến hành các nghi thức cúng bái. (Ảnh: An Dương tân văn mạng)

Mâm lễ


Mâm lễ của người Việt trong ngày cúng ông Công ông Táo được chuẩn bị rất tươm tất bao gồm: Đĩa xôi, gà luộc, rượu, hoa quả... Nếu nhà nào gói bánh chưng trước Tết thì còn bày thêm một hoặc hai chiếc bánh lên mâm lễ. (Ảnh: VOV)


Trong khi đó mâm lễ của người Trung Quốc sẽ thịnh soạn tùy từng gia đình nhưng không thể thiếu các món bánh gạo hay kẹo lạc truyền thống. (Ảnh: Baidu.com)

Phương tiện để Táo quân lên chầu trời


Đến ngày 23 tháng Chạp hàng năm người Việt thường tìm mua 3 chú cá chép về để cúng Táo quân. Theo quan niệm của người Việt cá chép vượt của Vũ Môn sẽ hóa rồng và bay lên thiên đình. Vì vậy chúng trở thành phương tiện đi lại của các vị thần Táo. Sau khi cúng ông Táo xong mọi người sẽ tìm ao hồ, sông suối rồi thả cá chép xuống nước như một nghi thức phóng sinh. (Ảnh: Ngôi Sao)
.


Với người Trung Quốc, Táo quân của họ sẽ lên thiên đình bằng ngựa. Bởi vậy mỗi gia đình Trung Quốc thường cúng một con ngựa tre trong ngày này để giúp các vị Táo đi lại thuận tiện hơn. (Ảnh: Hải Điến mạng).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mùa này Huy Gơ, Gạc Ma vẫn nóng




Tàu cá Trung Quốc neo đậu cạnh bãi Huy Gơ. Ảnh Mai Thanh Hải
Đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa, là nơi diễn ra trận Hải chiến Trường Sa năm 1988. Sau khi sát hại 64 chiến sĩ Việt Nam, Trung Cộng đã chiếm đóng từ đó đến nay. Gạc Ma, phần đất thiêng liêng của Tổ quốc Việt trong tay giặc hiện nay ra sao ? Xin giới thiệu bài viết mới nhất trên báo Thanh Niên.
           
(Thanh Niên 05/02/2018) Trong toàn quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa), cụm đảo Sinh Tồn là 'tuyến đầu nóng bỏng,'bởi có hai bãi đá bị Trung Quốc chiếm đóng từ đầu năm 1988, và hiện đã xây dựng trái phép thành đảo nhân tạo, đặt căn cứ liên hợp.

Đó là hai bãi Gạc Ma và Huy Gơ, chỉ cách điểm đóng quân của bộ đội Lữ đoàn 146 trên dưới 10 km đường chim bay.

Sinh Tồn Đông không ngủ

Buổi sáng ngày cuối tháng 1.2018, chúng tôi theo tàu 996 của Hải đội 411, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân di chuyển từ đảo Sinh Tồn sang đảo Sinh Tồn Đông để làm nhiệm vụ thay thu quân, cấp hàng tết cho bộ đội Lữ đoàn 146 đang đóng quân tại đây. Đi được hai phần ba quãng đường 26 km từ phía tây bắc sang đông, phía trái mạn tàu dần xuất hiện rõ tòa nhà cao tầng màu trắng toát do Trung Quốc mới xây dựng trên bãi đá Huy Gơ.

Đại tá Nguyễn Văn Dân, nguyên Phó tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, kể: Đá Huy Gơ hay còn gọi là Đá Tư Nghĩa (tiếng Anh là Hughes Reef, phía Trung Quốc tự đặt tên là Dongmen Jiao - Đông Môn tiêu) là bãi đá san hô chỉ nổi lên khi thủy triều xuống, bị Trung Quốc chiếm giữ trái phép cuối tháng 2.1988 và sau đó xây dựng một tòa nhà hai tầng cùng các công trình cho binh lính đóng giữ.

Từ cuối năm 2013, phía Trung Quốc tập trung các tàu thuyền khổng lồ chuyên chở vật liệu xây dựng, bơm hút nghiền san hô và phun lên bãi đá hình thành đảo nhân tạo, sau đó xây dựng cơ sở hạ tầng.

Hải đăng trên bãi Gạc Ma (trái)
Diện tích đảo nhân tạo khoảng 9,5 ha với luồng ra vào ở phía đông bắc đảo, dài gần 900 m rộng 160 - 340 m đảm bảo cho các tàu hàng vạn tấn dễ dàng ra vào bãi neo đậu. Đặc biệt, ở khoảng cách 7,4 km nhìn từ đài quan sát đảo Sinh Tồn Đông có thể thấy tòa nhà kiên cố 8 tầng cao khoảng 26 - 27 m, trên nóc bố trí 4 radar hàng hải, ăng-ten parabol và một số thiết bị thông tin liên lạc. Tầng 6 của tòa nhà lắp radar điều khiển hỏa lực, kính ngắm quang học. Tầng 5 lắp bốn bệ pháo 30 mm (7 nòng); tầng 1 lắp bốn bệ pháo 76 mm.

Tại khu vực cầu cảng hướng đông, ngoài tháp viễn thông thu phát sóng 4 G cao khoảng 50 m là sân bay trực thăng, đài chỉ huy bay đặt trên tháp cao, hai radar đối hải - chống ngầm (màu xanh rằn ri) mới lắp đặt và cụm hỏa lực đặt pháo 76 mm, pháo 30 mm.

Cũng những ngày ở Sinh Tồn Đông, chúng tôi còn đếm được đoàn 12 chiếc tàu cá Trung Quốc từ điểm neo đậu trong bãi Huy Gơ rồng rắn kéo lên hướng bắc để khai thác hải sản tại các bãi cạn không người gần đó như Ha Lét, Ho Li, Ăm Pi, Ba Đầu…

Tại Sinh Tồn Đông, việc canh gác bảo vệ đảo - theo dõi nắm chắc mọi tình hình trên biển được đặt lên hàng đầu và tinh thần bộ đội ta lúc nào cũng căng như dây đàn. Chiến sĩ Hồ Xuân Hậu (20 tuổi, quê Tuy Phong, Bình Thuận) cho biết: Vừa thay cho quân số được về bờ, đã nhận nhiệm vụ canh gác và không ai được mất tập trung, cho dù vài phút.


Hệ thống radar đối hải - chống ngầm mới được Trung Quốc lắp đặt ở Gạc Ma, Huy Gơ
Cô Lin chẳng hề nao núng

Đảo Cô Lin nằm cách bãi Gạc Ma khoảng 7,4 km. Cuối năm 2017 vừa qua, một nhà đa năng ba tầng khang trang đã được hoàn tất, nối với nhà lâu bền cũ kỹ xây dựng từ cả chục năm về trước.

Dẫu được cấp các thiết bị radar, thông tin liên lạc hiện đại nhưng ở Cô Lin, vẫn còn “hệ thống báo động nguyên thủy” là những vỏ đạn túm vào nhau và nối bằng hệ thống dây cước, chỉ cần kéo nhẹ là các vỏ đạn chạm vào nhau kêu leng keng.

Mấy ngày ở Cô Lin - Len Đao, chúng tôi chứng kiến hai đảo báo động khi tàu vận tải tổng hợp khổng lồ 961 và tàu chuyển tải An Đà - 175 của hạm đội Nam Hải (Trung Quốc) vào bãi Gạc Ma cung cấp nguyên liệu, hàng hóa, chuyển quân. Một cán bộ thuộc Vùng 4 Hải quân cho biết: So với Huy Gơ, đảo nhân tạo Gạc Ma được Trung Quốc xây dựng trái phép lên đến 13,2 ha với luồng cho tàu thuyền ra vào từ mép xanh vào bên trong bãi dài 1.000 m, rộng 250 - 400 m.

Ngoài tòa nhà 8 tầng với các thiết bị giống như Huy Gơ, phía Trung Quốc tập trung xây dựng hải đăng cao 50 m, bán kính chiếu xa 40 km và một bến nghiêng rộng 20 - 30 m cho các phương tiện cơ giới dễ lên xuống.

Nhìn từ đảo Len Đao (trái qua phải): tàu 996 của Hải quân VN; bãi Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm giữ - xây dựng trái phép, tàu vận tải quân sự 961 Trung Quốc.
Trường Sa không yên tĩnh

Thời gian tới có thể phía Trung Quốc sẽ xây dựng thêm một số công trình quan trọng. Nhưng việc theo dõi phát hiện là khó bởi họ mang từ đất liền ra trồng hàng ngàn cây dương đã trưởng thành, đựng trong các bầu đất lớn và phát triển rất nhanh.

“Có thời điểm phía Trung Quốc diễn tập đổ bộ bằng trực thăng với mục đích uy hiếp tinh thần bộ đội, nhưng chúng tôi từ chỉ huy đến chiến sĩ 18 - 20 tuổi không bao giờ nao núng. Những lúc ấy, càng nâng cao cảnh giác, nếu không phải ca gác cũng hướng tai mắt sang phía bên kia, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống”.

Đại úy quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Văn Thành kể vậy khi cùng theo dõi tàu vận tải tổng hợp 961 của Trung Quốc thay quân, cấp hàng cho căn cứ của họ trên bãi Gạc Ma. Anh chỉ chiếc xuồng cao tốc chở lính có vũ trang chạy lượn lờ vòng quanh chiếc tàu đậu ngoài mép xanh, cách Cô Lin khoảng 5 km và cho biết: “Ban ngày ban mặt, tàu bè tua tủa súng ống mà họ vẫn cứ lo, phải hạ xuồng chạy cảnh giới. Trong khi bên mình đàng hoàng thay quân - cấp hàng tết cho bộ đội vì đây chính là biển đảo của ta”.

MAI THANH HẢI

Phần nhận xét hiển thị trên trang