Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

Triệu Đà với công cuộc truyền bá chữ Hán vào Việt Nam



Tác giả: Vũ Thế Khôi
Trong giới Hán học Trung Quốc và Việt Nam khá phổ biến ý kiến khẳng định rằng ngay từ cuối đời Tần (cuối thế kỷ thứ III TCN) chữ Hán đã bắt đầu được truyền vào Bắc bộ Việt Nam (1). Căn cứ duy nhất của họ là đoạn ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên: “Năm 33 (tức 214 TCN, – V.T.K.) Tần Thuỷ Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành các quận Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải; cho những người đi đày đến đấy canh giữ”(2). Cũng dựa vào đoạn ghi chép đó, PGS Trần Nghĩa (Viện nghiên cứu Hán Nôm) cho rằng những người bị đi đày này “… nghiễm nhiên trở thành những sứ giả chở chữ Hán và tiếng Hán tới phương Nam” (3).
Sử ký Tư Mã Thiên là bộ sử liệu vĩ đại đáng tin cậy, nhưng từ một đoạn ghi chép trên mà suy luận rằng chẳng những tiếng mà cả chữ Hán được truyền đến Bắc bộ Việt Nam cùng đạo quân viễn chinh nhà Tần thì e chỉ là võ đoán. Vấn đề lại có ý nghĩa nguyên tắc từ góc độ giao lưu văn hoá Trung – Việt nên cuối năm 2003, tại “Hội thảo quốc tế về truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung – Việt”, họp ở Thâm Quyến 19 – 21/12/2003, chúng tôi đã dành nửa đầu của báo cáo để đặt lại vấn đề với 2 ý kiến tranh luận, đó là:
  1. Cùng với cuộc viễn chinh của quân Tần, bất quá mới chỉ có sự lan truyền tự nhiên (không thể gọi là truyền bá!) khẩu ngữ (tức tiếng Hán), thường song hành với mọi cuộc xâm lấn và di dân, chứ chưa thể có chuyện truyền bá chữ Hán;
  2. Chỉ sau khi Triệu Đà, Huyện lệnh Long Xuyên quận Nam Hải, lợi dụng thời cơ nhà Tần sụp đổ, năm 207 TCN chiếm lĩnh 2 quận Quế Lâm và Tượng Quận, thiết lập vương triều cát cứ Nam Việt quốc (207 – 111 TCN), 18 năm sau thôn tính nốt nước Âu Lạc (208 – 179 TCN) của An Dương Vương, chữ Hán mới thực sự được truyền bá, tức được dạy một cách có chủ định ở vùng đất Bắc bộ và bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay (4).
Chứng minh ý kiến thứ nhất, chúng tôi biện luận như sau:
Theo chính Hán thư thì Tượng Quận không phải là Bắc bộ Việt Nam mà là vùng đất phía tây của Quảng Tây và phía nam của Quý Châu (5), như vậy thì trong cuộc viễn chinh vào miền đất Lĩnh Nam của Bách Việt, quân Tần mới chỉ đánh chiếm được vùng đất của Mân Việt (Phúc Kiến, Quảng Đông), Dương Việt và Tây Âu Việt (Quảng Tây và một phần Quý Châu), nhưng chưa chiếm cứ được đất Lạc Việt (tức nước Âu Lạc của An Dương Vương).
Một sử liệu đáng tin cậy khác là bức thư của Hoài Nam Vương Lưu An dâng lên can gián Hán Vũ Đế (140 – 86 trước CN) đem quân vào đất Việt, đã miêu tả quân Tần từng bị khốn đốn ở đất Việt (Lạc Việt? – V.T.K.) như sau: “Đời Tần sai quan uý Đồ Thư đánh đất Việt, người Việt trốn vào rừng núi, đánh không được, đóng quân ở vùng đất trống không, lâu ngày quân lính mệt mỏi, rồi người Việt ra đánh, quân lính Tần đại bại” (6). Sách Hoài Nam tử, cũng do chính Lưu An biên soạn, tả cảnh bại trận của quân Tần còn thê thảm hơn: “Trong 3 năm không cởi giáp dãn nỏ […] Người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư, thây phơi huyết chảy hàng mấy chục vạn người” (7).
Năm 214 mới chiếm được vùng Lĩnh Nam, đến đất Việt 3 năm chiến đấu liên miên (“không cởi giáp dãn nỏ”), bị thảm bại (chủ tướng bị giết, sĩ tốt thì phơi thây); 8 năm sau, 206, nhà Tần đã diệt vong, vậy thời gian đâu mà truyền bá chữ Hán?
Nêu ý kiến chữ Hán chỉ bắt đầu được truyền bá (được dạy và học có chủ định) từ vương triều của Triệu Đà, chúng tôi căn cứ 2 sự kiện có trong sử sách Trung Hoa và Việt Nam, đó là:
  1. Sử gia Việt Nam dẫn sách Thuỷ kinh chú của Trung Hoa, khẳng định rằng dưới triều đại Nam Việt quốc các Lạc tướng của Hùng Vương vẫn cai trị dân như cũ (8), tức Triệu Đà chủ trương sử dụng các hào trưởng người Việt có uy tín và lực lượng, lại thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán địa phương, để quản lý dân Lạc Việt; vậy thì để thông đạt các chiếu chỉ, mệnh lệnh, tất nhiên nhà Triệu phải tổ chức dạy cho họ chí ít biết đọc và viết được chữ Hán, tức là đến thời điểm ấy mới nảy sinh nhu cầu khách quan về một văn tự làm công cụ cho hệ thống hành chính thống nhất bao gồm người Hoa (ở triều đình trung ương) và người Việt (ở phủ, huyện, làng xã):
  2. Triệu Đà, để tranh thủ hậu thuẫn của người Việt nhằm xưng đế, cát cứ một phương, độc lập với đế quốc Hán, đã chủ trương dung hợp văn hoá Hoa – Việt, tạo ra những dòng họ hỗn huyết Hoa – Việt và dung hợp tự nhiên hai văn hoá Hoa và Việt.
Sự kiện thứ hai này là nhân tố thuận lợi thúc đẩy việc bắt đầu truyền bá chữ Hán vào đến tận làng xã, chúng tôi đã cố gắng chứng minh chi tiết hơn như sau.
Triệu Đà vốn người Hán ở đất Chân Định, nay thuộc tỉnh Hà Bắc – Trung Quốc, cho Trọng Thuỷ cầu hôn Mỵ Châu đương nhiên nhằm mục đích thôn tính Âu Lạc. Nhưng sau khi đã tiêu diệt triều đình An Dương Vương, theo Sử ký Tư Mã Thiên, Triệu Đà tiếp tục chủ trương đó: dùng Lữ Gia mà chính Sử ký Tư Mã Thiên gọi là “Việt nhân” (đúng hơn phải nói là người Hán đã Việt hoá do sống giữa cộng đồng người Việt, cũng như Lý (Bôn) Nam Đế, – V.T.K.) và ghi nhận Gia “làm Thừa tướng 3 đời vua […]. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua […]; ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông, ông được lòng dân hơn vương” (9). Chẳng những thế, bản thân Đà đã chủ động thích ứng với phong tục, tập quán của người Việt: trong thư dâng Hán Văn Đế (179 – 156 trước CN) ông viết: “Lão phu ở đất Việt đã 49 năm, hiện đương bồng cháu”. Thâm ý của câu đó, họ Triệu khi tiếp sứ thần nhà Hán là Lục Giả, đã giải thích khá cụ thể bằng hành động “xoã tóc, ngồi chò hõ (tức ngổi xổm, chồm hỗm theo phong tục người Việt, chứ không búi tóc, ngồi quỳ gối theo nghi lễ Trung Hoa, – V.T.K.) mà tiếp” và cũng khá thẳng thừng đáp lại lời Giả trách Đà “phản thiên tính” (tức quên phong tục mẹ đẻ là người Hán!): “Tôi ở trong xứ mọi rợ lâu ngày, quên hết lễ nghĩa rồi” (tức không theo lễ nghi của người Hán nữa!) (10). Có thể nói rằng họ Triệu và họ Lữ (Lã) là những đại biểu sớm nhất của các dòng họ cổ đại hoà trộn hai huyết thống Việt và Hoa được sử sách ghi lại, tức cũng xác nhận vào thời điểm đó mới bắt đầu hình thành nhân tố thuận lợi thúc đẩy sự truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung – Việt.
Việc Triệu Đà chủ trương dung hợp 2 nền văn hoá Hoa và Việt, gần đây được chính một số học giả Trung Quốc khẳng định. Sau khi tham dự Hội thảo Thâm Quyến, trên đường về qua Quảng Châu, nhân ghé thăm khu mộ của cháu Triệu Đà là Văn Vương Triệu Muội, chúng tôi mua được sách Lĩnh Nam chi quang, miêu tả việc khai quật khu mộ đá này năm 1983. Các tác giả sách viết: Triệu Đà … “thúc đẩy chính sách dân tộc “hoà tập Bách Việt”, xúc tiến quá trình dung hợp dân tộc Hán – Việt và phát triển kinh tế – văn hoá” (11).
Khách quan mà nói, quan điểm về sự dung hợp hai nền văn hoá Việt và Hoa dưới triều đại Triệu Đà trong toàn cõi Nam Việt quốc đã từng được một số nhà sử học Sài Gòn nêu lên khá sớm, nhưng đúng như nhà sử học Đào Hùng, Phó tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay, nhận định trong Lời giới thiệu công trình cực kỳ lý thú của tiến sĩ năm thứ nhất Đại học Văn khoa Sài Gòn Tạ Chí Đại Trường, xuất bản năm 1989 tại Hoa Kỳ, đến đầu năm 2006 này mới được in lại ở Việt Nam, nhan đề Thần, người và đất Việt: “Trải qua một thời gian dài giới nghiên cứu chúng ta thường bị những động cơ chính trị chi phối nên việc nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiên kiến”. Có thể nói một trong những thiên kiến như vậy là quan điểm chính thống trong giới sử học miền Bắc coi nhà Triệu là kẻ xâm lược, mà đã là kẻ xâm lược thì phải xấu, không thể có đóng góp gì đáng bàn nữa! Trong công trình nói trên, với một phương pháp nghiên cứu khách quan, không bị lập trường chính trị o ép, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường xuất phát từ luận điểm về sự liên tục văn hoá và căn cứ thực tế lịch sử về giao lưu văn hoá của cộng đồng người Việt với Hán, Chămpa và các tộc người khác, đã phát biểu những ý kiến xác đáng, nêu một nhận xét táo bạo, nhưng theo chúng tôi, không phải không có lý, rằng: “Ranh giới Giao [tức Giao Chỉ] – Quảng [tức Quảng Đông, Quảng Tây] còn nhập nhoà trong trận chiến Lý – Tống (1075 – 1077) khi Lý đem quân qua châu Khâm, châu Liêm có người giúp đỡ, nội ứng …” (12), tức theo ông, trải qua hơn nghìn năm vẫn tồn tại những truyền thống bắt nguồn từ sự dung hợp văn hoá Hoa và Việt từ thời Triệu Đà khiến ít ra một bộ phận dân chúng vùng Lưỡng Quảng không hề mặc cảm đạo quân viễn chinh của Đại Việt là những kẻ dị chủng xâm lược.
Bốn chục năm trước đây, khoảng năm 1962/63, chúng tôi từng được nghe một vị sư già ở chùa Thầy nói xương cốt dưới hang chùa là của binh lính Lữ Gia không chịu ra đầu hàng, bị quân Hán vây đến chết đói ở dưới đó. Ngay ở Hà Nội cho đến năm 1979 vẫn còn phố Lữ Gia (nay là phố Lê Ngọc Hân). Tại một số địa phương trên đất Việt Nam ngày nay dân chúng vẫn thờ Triệu Đà và Lữ Gia. Chẳng hạn, ở làng Đồng Xâm xã Hồng Thái huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình vẫn còn di tích một đền lớn uy nghi, được xếp hạng như di tích thờ vị Tổ nghề chạm bạc truyền thống. Thực ra, Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu chỉ được thờ trong một cái am nhỏ ở địa điểm khác. Đây cũng lại là một bằng chứng về cái sự “bị động cơ chính trị chi phối”, khiến người ta phải làm sai lệch sự thật về ngôi đền này, bất chấp thư tịch lịch sử và địa chí. Danh sĩ cuối đời Lê là Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780) viết rành rành trong công trình nổi tiếng Việt sử tiêu án:  “… làng Đường Xâm quận Giao Chỉ (nay là Đường Xâm huyện Chân Định) có miếu thờ Triệu Đà…” (13). Huyện Chân Định sang triều Nguyễn thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định, đến năm 1894, phủ Kiến Xương cắt về tỉnh Thái Bình mới lập, sau bỏ phủ, đổi gọi là huyện Kiến Xương. Năm 1924 nhà địa dư học Ngô Vi Liễn còn ghi ở chương “Tỉnh Thái Bình” trong sách Địa dư các tỉnh Bắc kỳ (14): “Đền Triệu Vũ Đế ở làng Thượng Gia, phủ Kiến Xương, hội về ngày mồng 1 tháng tư”). Cũng sách của Ngô Vi Liễn cho biết: làng Thượng Gia thuộc tổng Đồng Xâm (sách đời Nguyễn Gia Long còn gọi là tổng Đường Xâm).
Tâm thức dân Việt không phải ngẫu nhiên vẫn tôn thờ Triệu Đà. Ngoài công “hoà tập Bách Việt”, phát triển kinh tế và văn hoá, biến cả miền Lĩnh Nam thành ánh hào quang (=Lĩnh Nam chi quang), họ Triệu đã Việt hoá từng cùng dân Việt chống ngoại xâm. Sử ký Tư Mã Thiên viết rằng thời Triệu Minh Vương (chắt của Triệu Đà) vẫn còn đang là thái tử Anh Tề, phải vào làm con tin tại triều đình nhà Hán, lấy gái Hán ở Hàm Đan họ Cù, đẻ ra con trai là Hưng, sau được nối ngôi, nên Cù thị trở thành thái hậu Nam Việt quốc; hồi còn trên đất Trung Quốc, đã là vợ Anh Tề, Cù thị vẫn dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý, nay thấy Thiếu Quý sang làm sứ giả, lại cùng gian dâm, rồi khuyên vua quan Nam Việt xin “nội thuộc” nhà Hán … “bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước: “Vương tuổi còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc […]”. Lữ Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu cùng các sứ giả của nhà Hán […]; lập Vệ Dương hầu Kiến Đức, người con trai đầu của Minh Vương, vợ  (Đại Việt sử ký toàn thư ghi “mẹ”, – V.T.K.) là người Việt, làm vua […], đem quân đánh bọn Thiên Thu (tướng nhà Hán), diệt được họ cách Phiên Ngung (nay là Quảng Châu) 40 dặm. Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả để ở cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơi hiểm yếu”(chúng tôi nhấn mạnh, – V.T.K.) (15).
Rõ ràng vương triều họ Triệu cùng vị Thừa tướng “Việt nhân”, “được lòng dân hơn vương”, là những người đầu tiên , trước Hai Bà Trưng cả 144 năm, đã chống quân xâm lược nhà Hán. Cuộc kháng chiến của họ dẫu được dân Việt ủng hộ, vẫn thất bại do tương quan lực lượng quá chênh lệch ở thời buổi nhà Hán vừa mới diệt Tần lên làm chủ Trung Hoa, đang trở thành một đế chế hùng mạnh. Nhưng cũng như một người xưa, Tiến sĩ Vũ Tông Phan, đã viết về Hai Bà Trưng trên tấm bia lập năm 1840, hiện vẫn dựng giữa sân đền thờ Hai Bà ở Đồng Nhân – Hà Nội: “Việc làm của kẻ trượng phu không thể lấy thành hay bại mà bàn luận” (16).
Sử sách nước ta qua các thời đại khác nhau có quan điểm khác nhau về vương triều Nam Việt. Đại Việt sử lược, bộ sử thời Lý – Trần (TK XII – XIII) chép “Nhà Triệu” ngang hàng với các “Nhà” Ngô, Đinh, Lê (Đại Hành), Lý. An Nam chí lược (đầu TK XIV), do Lê Tắc viết trên đất Trung Quốc nên không dám dùng chữ “kỷ” mà Tư Mã Thiên chỉ dành riêng cho các triều đại hoàng đế Trung Hoa, gọi Triệu là “thế gia” (“Triệu thị thế gia”) ngang hàng các “thế gia” Đinh, Lê, Lý, tức vẫn coi là một triều đại thuộc sử Đại Việt. Nguyễn Trãi coi quốc thống Đại Việt trước nhà Lê gồm cả Triệu, Đinh, Lý, Trần. Trong Bình Ngô đại cáo năm 1427 ông tuyên bố:
Xét như nước Đại Việt ta,
Thực là một nước văn hiến.
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Theo tinh thần đó Đại Việt sử ký toàn thư chép nhà Triệu như một triều đại chính thống của Đại Việt. Đến cuối thế kỷ XVIII, Việt sử tiêu án và Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ phê phán chép sử Việt như thế là sai và đưa nhà Triệu ra ngoài, gọi riêng là “ngoại thuộc”, để phân biệt với giai đoạn “Bắc thuộc” sau này, khi nước ta “nội thuộc” Trung Quốc. Quốc sử quán triều Nguyễn theo như thế, có lẽ còn vì lý do năm 1804 vua Gia Long xin đặt quốc hiệu là “Nam Việt”, nhưng hoàng đế nhà Thanh không chuẩn cho, hẳn e ngại sự tái diễn việc cầu hôn một công chúa Trung Hoa và xin lại đất Lưỡng Quảng mà Quang Trung đã đặt ra. Để rạch ròi, triều Thanh đề nghị quốc hiệu “Việt Nam”, nhưng vua Gia Long không chấp thuận, tự đặt quốc hiệu là Đại Nam. Đến đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã thành thuộc địa của Pháp, quyền uy Trung Hoa không còn tác dụng nữa, sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (viết 1919, in 1921) mới lại đưa “nhà Triệu” vào quốc thống Đại Việt.
Nếu Quang Trung không mất sớm thì sẽ ra sao nhỉ?
Nhưng lịch sử không chấp nhận chữ “nếu”. Lịch sử đã an bài từ lâu. Ngày nay Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng hữu nghị, với biên giới đã xác định. Bởi vậy trong báo cáo tại Hội thảo Thâm Quyến 2003, chúng tôi đã nói rõ chỉ xem xét vương triều Triệu Đà thuần tuý từ góc độ giao lưu văn hoá. Nay xin một lần nữa nhấn mạnh như vậy.
Hình: Đền thờ Triệu Đà, tục gọi là chùa Đường ở Thái Bình – Ảnh sưu tầm
————
Tài liệu đã sử dụng
  1. Chu Khánh Sinh: “Tòng sơ thuỷ đáo thịnh hành: Hán tự đích Đông hướng truyền bá”á(tiếng Hán). – trong sách Hán tự đích ứng dụng dữ truyền bá, Triệu Lệ Minh & Hoàng Quốc Doanh biên, Hoa ngữ Giáo dục xuất bản xã, Bắc Kinh 2000, tr. 106 – 129.
  2. Sử ký Tư Mã Thiên. Phan Ngọc dịch. – nxb Văn học, Hà Nội 1988, T. I, tr. 48.
  3. PGS Trần Nghĩa: Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt trước thế kỷ thứ X. – nxb Thế giới, Hà Nội 2000, tr. 52 – 55.
  4. Các luận điểm trên (bằng chữ Hán) đã được công bố trong Kỷ yếu “Hán tự truyền bá kí Trung – Việt giao lưu quốc tế nghiên thảo hội. Luận văn đề yếu/toàn văn”, Thâm Quyến 19 – 21 / 12 / 2003, Thương vụ ấn quán, tr. 55. Trong tham luận đọc tại Hội thảo này (không kịp gửi đăng trước ở Kỷ yếu), PGS Trần Nghĩa có dẫn sách Tiền Hán thư để phát biểu ý nghi ngờ địa vực Tượng Quận bao gồm cả đất Âu Lạc; một năm sau, đến Hội thảo quốc tế về Nho học ở Việt Nam, do Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam và Viện Harvard Yenching Hoa Kỳ đồng tổ chức tại Hà Nội vào 17 – 18 / 12 / 2004, PGS Nghĩa cũng đã khẳng định chỉ từ thời Triệu Đà chữ Hán mới mới thực sự du nhập Viêt Nam. – xin xem thêm Kỷ yếu cùng tên của Hội thảo Hà Nội 2004, tr. 227.
  5. Dẫn theo chú thích 3 của PGS Ngô Đức Thọ trong Đại Việt sử ký toàn thư do GS Phan Huy Lê khảo cứu văn bản, PGS Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, nxb KHXH, Hà Nội 1998, T. I, tr. 138.
  6. Lê Tắc: An Nam chí lược. Nhóm GS Trần Kính Hoà dịch. PGS Chương Thâu giới thiệu. – nxb Thuận Hoá & Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2002, tr. 129; toàn văn chữ Hán tr. 421 – 423.
  7. Dẫn theo chú thích 28, chương Ngoại kỷ – quyển I, của học giả Đào Duy Anh trong Đại Việt sử ký toàn thư do Cao Huy Giu dịch, nxb KHXH, Hà Nội 1972, T. I, tr. 315.
  8. Khâm định Việt sử thông giám cương mục. – nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, T. I, tr. 89 và 107.
  9. Sử ký Tư Mã Thiên. Nam Việt uý Đà liệt truyện, sđd, T. II, tr. 377 – 378.
  10. Lê Tắc: An Nam chí lược, sđd, tr. 101 – 102; nguyên văn chữ Hán tr. 404.
  11. Hạ Anh Hào & Vương Văn Kiến: Lĩnh Nam chi quang. Nam Việt Vương mộ khảo cổ đại phát hiện. – Triết Giang Văn nghệ xuất bản xã 2005, tr. 4. Đại Việt sử ký toàn thư ghi Triệu Văn Vương tên huý là Hồ, con trai Trọng Thuỷ. Hai tác giả Trung Quốc không nhắc gì tới Trọng Thuỷ, chỉ viết tính theo tuổi Triệu Muội không thể là cháu trưởng của Triệu Đà.
  12. Tạ Chí Đại Trường: Thần, người và đất Việt. – nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội 2006, tr. 74.
  13. Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án. – nxb Thanh niên 2001, tr. 27.
  14. Ngô Vi Liễn: Tên làng xã và Địa dư các tỉnh Bắc kỳ. – nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội 1999, tr. 672
  15. Sử ký Tư Mã Thiên, sđd, T. II, tr.379.
  16. Vũ Tông Phan, cuộc đời và thơ văn. Vũ Thế Khôi biên khảo, tuyển chọn và dịch. – nxb Văn học, Hà Nội 1995, tr. 224; sách có kèm theo nguyên bản chữ Hán, các trang mang ký hiệu 41a-41b.
Nguồn: Xưa & Nay


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phỏng vấn nhà bình luận chính trị Quang Hữu Minh


       
       Tháng Tư năm 2017, khi tìm hiểu về hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở mảng "chưa được cấp phép", tôi đã thực hiện phóng sự mang tên "Nhóm Biển Xanh với người dân và Formosa", trong đó nội dung chủ yếu là các cuộc phỏng vấn. Không tìm được báo nào thích hợp để đăng, tôi đã đưa nội dung các cuộc phỏng vấn đó vào bài "Đối thoại tháng Tư", mở đầu cho chuyên mục "Phóng sự" của blog này.
       Năm 2017 vừa qua là một năm có rất nhiều các sự kiện chính trị xã hội bất ngờ, báo hiệu một thời kỳ vô cùng "nhạy cảm" của đất nước. Nhà hoạt động Nguyễn An Dân, nhân vật khởi xướng nhóm Biển Xanh với chương trình vận động chữ ký yêu cầu minh bạch Formosa vào tháng Ba năm ngoái, hiện được biết tới nhiều hơn chủ yếu trong vai trò của một nhà quan sát bình luận chính trị. Nhân vì phóng sự dang dở của tôi năm ngoái liên quan đến nhóm Biển Xanh, tôi đã đề nghị với anh một cuộc phỏng vấn mà tôi cho đây là thời điểm thích hợp. Nguyễn An Dân đã dùng tên khai sinh là Quang Hữu Minh kể từ khi trả lời phỏng vấn của BBC hồi tháng 10-2017: "VN: Vì sao chưa "nhất thể hóa" các chức cao nhất?"  

       Cuộc phỏng vấn này được thực hiện tại Đồng Xoài, Bình Phước vào 21h 18-01-2018.

       Ái Nữ (AN):  Như anh đã biết, những bài phỏng vấn tôi thực hiện hồi tháng Tư năm ngoái về hoạt động của nhóm Biển Xanh thì tôi chưa thành công trong việc hợp tác với báo chí, vì thế nên tôi đã mở riêng một chuyên mục tại blog của tôi để đăng tải những thông tin đó. Rất cảm ơn anh ngày hôm nay đã đồng ý trả lời phỏng vấn của tôi như là phỏng vấn của một blog cá nhân. 
       Đầu tiên, tôi muốn tiếp tục biết những thông tin về nhóm Biển Xanh. Nhóm Biển Xanh còn tồn tại và hoạt động hay không, nếu còn thì đường hướng hoạt động trong thời gian sắp tới ra sao?
      
       Quang Hữu Minh (QHM):  Ở đây chúng ta phải có sự phân biệt:  chương trình vận động chữ ký Formosa là riêng và nhóm Biển Xanh là riêng. Nhóm Biển Xanh chỉ là một nhóm những người quan tâm đến hiện tình đất nước thực hiện chương trình chữ ký này. Nếu không có nhóm Biển Xanh thì sẽ có những nhóm khác, nếu như họ muốn tiếp tục thì chương trình vẫn thực hiện được. Khi đó thì mặc dù nhóm Biển Xanh đã giải tán nhưng tôi sẽ bàn giao lại cho những nhóm khác (nếu họ muốn làm) những danh sách chữ ký đã thu thập được, mạng lưới những anh chị em đã từng đi vận động chữ ký, thậm chí là cả một phần tài chính còn dư. Nếu có nhóm Biển Đỏ hay nhóm Biển Vàng, Biển Trắng nào đó đứng ra tiếp tục làm công việc của nhóm Biển Xanh thì dự án vẫn còn nguyên giá trị.
      
       AN: Năm ngoái, nhóm Biển Xanh với hoạt động minh bạch Formosa, mặc dù hợp pháp nhưng đã bị can thiệp từ phía an ninh, cho nên các hoạt động dừng lại. Năm 2017 vừa qua đã có những nhà hoạt động bất đồng chính kiến bị kết án tù rất nặng, cụ thể là chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh với bản án 10 năm tù, chị Trần Thị Nga 9 năm tù. Anh có dự báo gì về khả năng và giới hạn hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự chưa được cấp phép trong thời gian tới?

      

       QHM:  Khi mà công an Sài Gòn họ quyết định giải tán nhóm Biển Xanh thì họ nói rằng việc thu thập chữ ký minh bạch là đúng, nhưng tư cách pháp nhân hoạt động của nhóm chưa đúng, do nhóm chưa đăng ký với các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động hội nhóm. Đó là lý do họ giải tán nhóm. Đó là nói về việc của nhóm Biển Xanh. 
       Nói rộng ra về xã hội dân sự và dân chủ chính trị của đất nước thì tôi cảm thấy không mấy lạc quan. Ở đại hội khóa XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì trong Đảng vẫn có những luồng tư tưởng chấp nhận xã hội dân sự, chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận đa nguyên về chính trị, đa phương về ngoại giao. Hiện nay những xu hướng đó đã phải tàn lụi đi do quyết định 102 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng CS Việt Nam vừa ban hành vào tháng 11-2017. Chúng ta thấy rằng Đảng cấm đoán các hoạt động xã hội dân sự dân chủ của nhân dân thì Đảng tự mình ngăn cản mình trước. Chính vì Đảng có động thái đó nên tôi không mấy lạc quan.
       Cái thứ hai là các nhà hoạt động đối lập với chính quyền thì án nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào họ đối lập theo hình thức nào, đối lập đến mức nào. Tuy nhiên hiện nay có một sự buông lỏng nhất định cho những người đối lập mà hoàn toàn không liên quan đến các đảng phái ở nước ngoài, còn những hoạt động của những người đối lập mà có liên quan đến các hoạt động đảng phái ở nước ngoài thì tôi cho là không mấy lạc quan. Thứ nhất là quan điểm của Đảng họ không thích. Thứ hai là chính phủ các nước mà các đảng phái đó hoạt động cũng không lên tiếng mạnh mẽ về vấn đề nhân quyền như trước đây. Thí dụ như chính sách mới của Mỹ với Đảng CS Việt Nam là họ chuyển hóa Đảng CS Việt Nam chứ họ không đặt nặng vấn đề nhân quyền dù vẫn có nói. Xét về yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài thì tôi không thấy có gì lạc quan.

Nhà bình luận chính trị Quang Hữu Minh - Hình chụp vào tối 18-01-2018

      
       AN:  Tôi đánh giá rất cao bài trả lời phỏng vấn BBC của anh ngày 27-10-2017 về vấn đề nhất thể hóa. Anh có nói là theo anh thì nên nhất thể hóa lên cấp trung ương, kể cả các chức danh cao nhất như chủ tịch nước, tổng bí thư. Với tình hình hiện nay, theo quan sát của anh thì sự nhất thể hóa đó sẽ xảy ra sớm hay không?
      
       QHM:  Theo tôi thì sự nhất thể hóa này sẽ xảy ra sớm. Tại vì hiện giờ thì quyền lực về mặt thực tế đã tập trung hết về tổng bí thư, mặc dù trên danh nghĩa thì các chức danh khác như là thủ tướng, chủ tịch nước vẫn tham gia công việc điều hành đất nước, nhưng vai trò mờ nhạt và hạn chế hơn trước đây nhiều. Mà nếu thực chất đã nhất thể hóa về quyền lực thì tiến tới nhất thể hóa luôn về hình thức về chức danh cho danh chính ngôn thuận. Chứ danh không chính thì ngôn không thuận. Bất kỳ ai đang tập trung quyền lực về mình, không chỉ riêng ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đều muốn danh chính ngôn thuận để họ còn làm việc. Còn việc làm của họ tích cực hay không tích cực cho đất nước là chuyện về sau. Nhất thể hóa là một điều kiện cần trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, phải tập quyền rồi mới tản quyền được. Tản quyền là theo hình thức mới, chứ không phải tản quyền như bây giờ. Nhất thể hóa là một điều kiện cần, nó chưa phải là điều kiện đủ, nhưng nếu không có nó thì các điều kiện đủ không thể xảy ra được. Xét về Đảng, về dân chủ, về đối nội đối ngoại chúng ta nên nhất thể hóa.
      
       AN: Ngày hôm qua, nhiều báo chính thống đồng loạt đăng tin nhấn mạnh về phát ngôn của nhân vật Trịnh Xuân Thanh trước tòa, trong đó ông Trịnh Xuân Thanh đặc biệt gửi lời xin lỗi đến ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, xin ông ấy thương như thương con cháu trong gia đình và tạo điều kiện nương nhẹ, gọi ông ấy là “bác” và xưng “cháu”. Tôi có xem clip của báo Thanh Niên và thấy là các báo đã nói không sai về chi tiết này. Tôi không biết phải hiểu ra sao về cách xử xự ấy của ông Trịnh Xuân Thanh. Nó đơn giản chỉ nói lên hiểu biết ấu trĩ của một vị quan chức, hay là triệu chứng báo hiệu sự nhất thể hóa mang màu sắc tiêu cực? Tôi muốn nghe ý kiến của anh về việc này.
      
       QHM: Chúng ta muốn xét cái phát ngôn của ông Trịnh Xuân Thanh tại tòa thì phải xét một quá trình xét xử và bản chất vụ án Trịnh Xuân Thanh, chứ không phải chỉ căn cứ vào một phát ngôn để đánh giá về một quá trình. Có những tấm hình mà báo chí nhà nước chụp hình đưa lên, chúng ta thấy là Trịnh Xuân Thanh có những nụ cười rất thanh thản, mặc dù anh ta biết anh ta phải đối mặt với mức án chung thân hoặc tử hình. Có nghĩa là cái thanh thản ở đây là thanh thản về tâm lý. Thành ra là dư luận phê phán ông Trịnh Xuân Thanh chuyện xưng “bác cháu” rồi xin lỗi ông tổng bí thư mà không ai hiểu được cái ý của Trịnh Xuân Thanh. Muốn hiểu được ý của Trịnh Xuân Thanh phải nhìn vào những nụ cười trong những phiên tòa diễn ra trước đó. Ở đây ông Trịnh Xuân Thanh muốn gửi gắm ra một thông điệp rằng cái sai của Trịnh Xuân Thanh là cái sai của bề dưới đối với bề trên. “Cháu” là bề dưới, “bác” là bề trên. Nó không còn là vấn đề pháp luật hay là vấn đề về mặt tổ chức nữa. Đáng lẽ là ông Trịnh Xuân Thanh nên nói là xin lỗi đồng chí tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chứ không phải là “cháu” xin lỗi “bác” Nguyễn Phú Trọng, đó là nói về mặt Đảng. Thành ra đây là cái xin lỗi của bề dưới đối với bề trên. Cái thứ hai, ông Trịnh Xuân Thanh muốn nói rằng cái sai của ông Trịnh Xuân Thanh là cái sai với cá nhân ông Nguyễn Phú Trọng, chứ ông Trịnh Xuân Thanh không sai với nhân dân và với Đảng. Lẽ ra ông Trịnh Xuân Thanh nên xin lỗi nhân dân về mặt pháp luật, còn về mặt Đảng thì xin lỗi Đảng. Ông Trọng cũng chỉ là một đồng chí của ông Trịnh Xuân Thanh thôi, về mặt Đảng nó là như thế. Chúng ta thấy là trong lời phát biểu, ông Thanh có nói là tôi xin được về Đức thăm vợ con, có nghĩa rằng ông Thanh muốn nói là tôi không có đi đầu thú, bởi vì nếu ông Thanh đi đầu thú thì ông Thanh phải đón cả vợ con về đây, nó mới đúng ý nghĩa là một người biết rằng mình sai, mình đi đầu thú để sửa cái sai của mình. Ông Thanh muốn nói với dư luận rằng nhà của tôi là ở Đức, tôi muốn được về Đức. Tại sao ông Thanh không nói là tôi muốn đón một cái tết ở Việt Nam, xin được tại ngoại để đón một cái Tết ở Việt Nam mà nói rằng tôi muốn được trở về Đức? Có nghĩa là đối với ông Thanh bây giờ, ông không còn coi Việt Nam là đất nước của ông nữa, ông muốn trở về với nước Đức. Phải hiểu cái thông điệp như vậy. Chúng ta phải nhìn cái đó cộng với những nụ cười mím chi, thanh thản và hơi có phần khinh đời của ông Trịnh Xuân Thanh để hiểu về tâm lý phát ngôn của ông Trịnh Xuân Thanh. Hiểu như vậy để chúng ta hoặc là phê phán ông Trịnh Xuân Thanh cho nó trúng nếu cần, hoặc là chúng ta hiểu những thông điệp chính trị của những người trong cuộc nói ra.
       
       AN: Câu hỏi cuối cùng: Facebook cá nhân của anh đang được nhiều người theo dõi để tìm hiểu, tham khảo về tình hình chính trị. Vậy mà giữa lúc có nhiều sự kiện sôi nổi kịch tính, anh lại đóng Facebook. Do anh bận nhiều việc quá, hay là có vấn đề gì nhạy cảm?
      
       QHM:  Có cái chung và cái riêng. Nói về cái riêng thì Facebook của tôi, tôi mở nó ra được thì tôi đóng nó được, nó không phục vụ cho ai hay là thế lực nào, tôi có toàn quyền chủ động đóng hay mở nó mà không phải chờ xin ý kiến của ai cả.
       Nói về cái chung thì người ta hay lẫn lộn giữa phe chuyển hóa và đường lối chuyển hóa. Phe chuyển hóa có nghĩa là ông này ông kia trong Đảng lắp ghép lại. Còn đường lối chuyển hóa của Đảng là một hệ tư tưởng, nó phù hợp với quy luật vận động chính trị đa nguyên và đa phương hóa của Đảng CS Việt Nam. Người ta sai lầm khi nghĩ là tôi thuộc về phe chuyển hóa, mà người ta quên là tôi đang thúc đẩy đường lối chuyển hóa. Khi bàn về đường lối thì phải bàn về phe, chứ đường lối mà không có phe thì không có đường lối. Đó là một. Cái thứ hai, như tôi nói, đường lối chuyển hóa của Đảng CS Việt Nam phải tiếp tục, cho dù là ông A ông B ông C nào đó có hay không có quyền lực. Tại vì rõ ràng là ông có quyền lực ông chuyển hóa rồi ông về hưu ông mất quyền lực, trong cái đầu ổng nó vẫn chuyển hóa, sự chuyển hóa vẫn diễn ra liên tục, giống như chúng ta hít thở vậy, làm sao ngừng được, chỉ là nổi lên hay lắng xuống. Cái thứ ba, cội nguồn của vấn đề chuyển hóa là gì? Là tư bản dùng kinh tế chuyển hóa chính trị Việt Nam. Tư bản ở đây là Mỹ. Các bạn hãy chú ý rằng ông cựu bộ trưởng ngoại giao của Mỹ là một nhân vật đã từng xếp hàng quyền lực số ba ở Mỹ, chỉ sau tổng thống và phó tổng thống. Ông ấy đang có mặt ở Việt Nam. Tôi thừa biết một điều rằng là về danh nghĩa thì ông ấy sang đây hỗ trợ Việt Nam làm điện gió, nhưng bên trong thì chắc chắn rằng ông ấy sẽ thực hiện những kế hoạch có lợi cho chính sách của nước Mỹ để chuyển hóa Việt Nam. Có một nhân vật tầm cỡ như thế hiện diện ở Việt Nam rồi thì sự có mặt hay không có mặt của Facebooker Quang Hữu Minh cũng không đảo ngược được tiến trình của lịch sử.
       Tuy nhiên, Facebook của tôi đóng lại cũng để tôi gạn lọc những bạn đọc trong nhà tôi. Tôi muốn gạn lọc lại những người thực sự đọc Facebook của tôi để tìm hiểu về hiện tình đất nước, tôi không muốn tiếp nhận những người vào đọc rồi không chịu ngẫm nghĩ để hiểu vì sao người viết viết như vậy mà phê bình phiến diện một chiều. Rồi những người đọc mà họ cho rằng tôi nói vô lý, nhưng họ vẫn đọc thì tôi không hiểu họ đọc để làm gì, những người đó tôi không cần họ đọc của tôi.
       Cái thứ ba là tôi cũng muốn mình lắng lại một thời gian, nhìn nhận lại mình, xem sắp đến con đường chính trị của đất nước sẽ đi về hướng nào, mình nên viết những cái gì để phục vụ quần chúng tốt hơn.
       Cái cuối cùng tôi muốn chuyển đến thông điệp khi đóng Facebook một thời gian là gì? Chúng ta là những người viết lách trên mạng xã hội, đọc mạng xã hội, chúng ta phải tập làm quen với việc một người có quyền đóng hay mở Facebook của họ, chúng ta đừng suy diễn hay bàn tán những gì thuộc về đời tư của họ. Đó là tập cho bạn đọc của tôi thói quen sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh, đúng nghĩa, và hợp lý.


       AN:  Vâng, rất cảm ơn sự chia sẻ của anh ngày hôm nay!

                                                                                            Đăng ngày 19-01-2018.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUYỀN TỰ DO CỦA NHÀ VĂN ĐẾN ĐÂU?

Chu Mộng Long: 

Hình ảnh buổi tọa đàm chiều 19-1-2018 tại Hội Nhà văn. Ảnh: FB Trần Đình Sử.
 
Chu Mộng Long

QUYỀN TỰ DO CỦA NHÀ VĂN ĐẾN ĐÂU?

Tôi luôn ủng hộ quyền tự do của nhà văn. Tự do là điều kiện thiết yếu của sáng tạo. Không có tự do, nhà văn chỉ là kẻ cơ hội, nịnh hót hoặc ăn theo nói leo.

Kiểm duyệt, theo K. Marx, là lưỡi hái tử thần giết chết sáng tạo. Kiểm duyệt chỉ sinh ra “những chiếc quái thai được tắm nước hoa”.

Vụ truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” của Trần Quỳnh Nga đang được lãnh đạo Hội Nhà văn kiểm điểm và rút kinh nghiệm sâu sắc, cùng với lời xin lỗi tới bạn đọc và người dân cả nước. Đó là hành động đáng hoan nghênh, trong đó đáng đề cao vai trò quan trọng của Chủ tịch Hữu Thỉnh.

Không thể bao biện rằng, đó là "truyện ngắn diễm tình phi chính trị" khi nó mang màu sắc chính trị rõ ràng bằng trò ngợi ca kẻ cướp nước và bán nước.

Cũng không thể bao biện rằng, "ban biên tập ngu dốt không nhận ra tác hại của truyện" khi chính những người gọi Trần Quỳnh Nga là một "văn tài" đã lên tiếng chỉ trích, chửi bới những người phê bình truyện của Quỳnh Nga là "những kẻ ngu dốt, không hiểu gì về văn chương".

Bây giờ, chính sự kiểm điểm ban biên tập và loại Trần Quỳnh Nga ra khỏi danh sách kết nạp hội viên, nhiều người từng ủng hộ Trần Quỳnh Nga đã lên tiếng bêu riếu, rằng lãnh đạo Hội Nhà văn đã thực hiện chính sách kiểm duyệt, tiêu diệt khả năng sáng tạo của nhà văn(!?). 

Họ quên rằng, hiện tượng Trần Quỳnh Nga không là sáng tạo mà là “cái quái thai được tắm nước hoa” như Marx nói. Những người xem Trần Quỳnh Nga như một “văn tài” đã không thấy rằng, Trần Quỳnh Nga thực ra không có sáng tạo gì mới ngoài đã hót theo luận điệu tuyên truyền của những kẻ phản quốc, những kẻ đang rắp tâm bán nước hại dân mà tôi đã chỉ ra ở bài trước.

Cô giáo, “nhà thơ” Bảo Thương viết rằng, máu giặc cũng là máu ta, những kẻ coi Thoát Hoan như giặc là vô cảm, ác độc! Trong khi vó ngựa Mông Nguyên dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan đã từng tàn sát không biết bao nhiêu người Việt vô tội mà một cô giáo dạy học như Bảo Thương lẽ nào không biết?

Một nhà văn khác vừa còm theo luận điệu một số nhà văn đã viết khi bênh vực Trần Quỳnh Nga, rằng sáng tạo là quyền tự do của nhà văn và tiếp nhận như thế nào là quyền người đọc. Đúng! Nhưng quyền được ngợi ca kẻ cướp nước và bán nước, bôi nhọ tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập chủ quyền của dân tộc, chỉ có thể là quyền của kẻ cướp nước và bán nước. Quyền ấy xứng đáng phải bị trừng trị bởi cơn bão của sự phẫn nộ của người đọc yêu nước và ý chí giữ độc lập, chủ quyền. Không có chuyện một dân tộc yêu nước, ý thức sâu sắc chủ quyền trong suốt bốn nghìn năm lịch sử lại có thể thỏa hiệp đầu hàng hay để cho cái quyền phản bội dân tộc ấy tự do lộng hành!

Nhà văn có quyền tự do sáng tạo, không có quyền tự do mượn văn chương tuyên truyền cho quân bán nước và cướp nước!

https://chumonglong.wordpress.com/…/hau-bat-dau-va-ket-th…/…
-----------

Hình ảnh buổi tọa đàm chiều 19-1-2018 tại Hội Nhà văn. Ảnh: FB Trần Đình Sử.
 
 Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam phát biểu.
 Các nhà văn nữ.

 Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó chủ tịch Hội Nhà văn VN và Dịch giả Trần Đình Hiến.

 Nhà văn Lê Minh Khuê.
 Từ trái sang: Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn VN - Nhà văn Nguyễn Bình Phương, Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.
 Nhà thơ Trần Đăng Khoa và Nhà văn Nguyễn Văn Thọ.


 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giáo dục Việt Nam: Nỗi đau nhiều kiếp chưa tan


I. AI ĐỀ XUẤT TƯ TƯỞNG TÍCH HỢP ?
Khi nghe tin chương trình Giáo dục Phổ thông mới đã tiến hành gộp 3 môn Vật Lý – Hóa Học – Sinh Vật vào một môn để cho một giáo viên dạy, và gộp 2 môn Lịch Sử – Địa Lý cũng vào một môn và cũng cho một giáo viên dạy, thì hồn xiêu phách lạc. Bởi đó sẽ là tai họa lớn cho nền Giáo dục Việt Nam. Không đi vào phân tích chi tiết, xin đưa ra vắn tắt mấy lý do cơ bản sau đây.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet
1. ĐI NGƯỢC VỚI XU THẾ CHUYÊN MÔN HÓA
Muốn đi xa, đua tranh đỉnh cao, thì phải rất tinh nhuệ. Vì thế cần phải được chuyên luyện. Thế giới khoa học và giáo dục từ đó mà lan tỏa, đi sâu vào các vấn đề rất tinh vi. Đó là quá trình vi phân hóa của tự nhiên.

Cùng là dạy môn Vật Lý với cùng nội dung mà thầy giỏi sẽ dạy tốt hơn thầy không giỏi. Cùng một con người nhưng học chuyên về Vật Lý thì sẽ có kiến thức Vật Lý tốt hơn là bắt học cùng lúc 3 môn Lý – Hóa – Sinh.

Gộp 3 môn Lý – Hóa – Sinh là đi ngược với xu thế chuyên môn hóa. Không đào tạo được giáo viên giỏi. Không cho học sinh cơ hội có thầy giỏi và đi vào chuyên sâu. Là giảm khả năng cạnh tranh việc làm của học sinh trong tương lai.

2. HIỂU KHÔNG ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA KHÁI NIỆM TÍCH HỢP
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, ở miền Bắc học sinh bắt đầu được học Địa Lý vào lớp 4. Các em được làm quen với đất đai, núi sông, khí hậu, khí quyển, mặt trời, trăng, sao. Địa Lý đã là một môn tích hợp cả các khoa học trái đất, cả thiên văn học, cả vũ trụ học!

Tương tự như vậy là môn Lịch Sử. Khi học “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” là các em được học về nhân cách, về luân lý, về đạo đức. Khi học về sự thay đổi các nền văn minh, thay đổi các triều đại, là các em biết được tính quy luật của triết học. Khi đối mặt với lịch sử các dân tộc khác là các em biết về tiến trình văn mình của loài người, là biết về chủng tộc, biết về xã hội học. Lịch Sử đã là một môn vô cùng phức hợp!

Nay lại có người muốn gộp Địa Lý – Lịch Sử vào một môn thì thật điên rồ.

3. KHÔNG ĐỦ NĂNG LỰC ĐỂ DẠY
Muốn dạy được 3 môn Lý – Hóa – Sinh ở phổ thông thì phải là thầy rất giỏi. Một lớp trung bình có 40 học sinh, có được mấy em học giỏi cả 3 môn Lý – Hóa – Sinh? Nếu không có các em học sinh học giỏi cả 3 môn Lý – Hóa – Sinh thì lấy đâu ra thầy giỏi cho 3 môn đó? Chưa nói là tất cả các em học sinh học giỏi cả 3 môn Lý – Hóa – Sinh sẽ đi theo nghề sư phạm.

Thế mà chương trình cải cách dự kiến trong vòng 3,4 năm tới đào tạo lại các giáo viên về Sinh Vật, ra trường đã hàng chục năm, đi học Vật Lý và Hóa Học để dạy 3 môn Lý – Hóa – Sinh!

Xin hỏi ông Nguyễn Minh Thuyết, khoác hàm giáo sư, lại là tổng chỉ huy chương trình cải cách giáo dục phổ thông, rằng ông có dạy được Lý – Hóa – Sinh ở phổ thông không?

Câu trả lời dứt khoát là: KHÔNG.

Ông Thuyết có đi học được Vật Lý, Hóa Học, Sinh Vật sau mấy tín chỉ để dạy Lý – Hóa – Sinh không?

Câu trả lời dứt khoát là: KHÔNG.

Một ông tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông, khoác hàm giáo sư, mà còn không đào tạo lại được thì đào tạo lại ai? Thật hoang đường.

Nếu Bộ GD&ĐT tiếp tục triển khai chương trình tích hợp, đào tạo lại các giáo viên qua các tín chỉ, thì ở cái thời này, trừ những người tự bỏ cuộc, còn tất cả đều qua, đều có tín chỉ thật. Chỉ có chất lượng giảng dạy là không thật.

Có người sẽ biện hộ, rằng đây là Lý – Hóa – Sinh cho trung học cơ sở, chứ không phải ở trung học phổ thông, nên giáo viên chỉ cần trình độ thấp hơn.

Muốn tiến xa, muốn đua tranh đỉnh cao, thì phải học với thầy giỏi từ đầu! Mà thời đại ngày nay là đua tranh quốc tế.

Cùng là thái thịt, nhưng dao cùn, dao sắc, dao rất sắc, sẽ cho kết quả rất khác nhau.

II. BẢN CHẤT CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI

Là dạy cái gì và dạy như thế nào, ai học điều gì và ai không học điều gì, học ở đâu và học lúc nào, ứng dụng ở đâu và vận dung như thế nào… chứ không phải là gộp các môn lại.

Chẳng hạn như môn Toán, không thể đưa ra toàn diện vấn đề ở đây trong bài viết ngắn gọn này, nhưng có thể nêu ra mấy nhân tố cấp 1 cơ bản sau đây ảnh hưởng đến việc xây dựng chương trình: 1) Theo mức độ cần thiết của các em học sinh cho sự nghiệp sau này; 2) Không phải bắt mọi người đều học như nhau, thi như nhau; 3) Theo tiến bộ công nghệ; 4) Theo mức độ ứng dụng trong cuộc sống; 5) Mặt bằng chung của thế giới.

Cải cách chương trình giáo dục là chú trọng vào nội dung từng môn. Các môn học đã được phân hóa trong quá trình phát triển chọn lọc của nhân loại, chứ không phải là các tỉnh, mà thích thì tách không thích thì gộp.

III. THIẾU CÁC CHƯƠNG TRÌNH CẠNH TRANH

Trong bài “CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG – THƯ NGỎ GỬI PHÓ THỦ TƯỚNG VŨ ĐỨC ĐAM” đã đề cập:

“Giáo Dục là Quốc gia Đại sự. Thêm một Hội Đồng xây dựng Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông sẽ mang lại cho Giáo Dục Việt Nam thêm hơn nửa bầu trời.”

Tiếc thay, ở nước ta thì việc bổ nhiệm bộ trưởng cũng độc quyền, chương trình giáo dục phổ thông cũng độc quyền. Và đó là tai họa cho nền giáo dục nước nhà.

Giáo dục Việt Nam rất cần các chương trình khác không phải do ông Nguyễn Minh Thuyết là tổng chỉ huy, để cạnh tranh, để chọn lọc.

Khoa học và Giáo dục rất khác với lãnh đạo đường lối. Muốn làm tổng chỉ huy chương trình Cải cách Giáo dục Phổ thông thì không chỉ am hiểu Giáo dục Phổ thông mà cần có kiến thức chuyên sâu để ngồi vào các hội đồng biên soạn tất cả các môn học để tranh luận và đề xuất. Phải dạy giỏi được hầu hết các môn học ở Phổ thông. Ông Nguyễn Minh Thuyết không làm được điều đó. Ông Nguyễn Minh Thuyết không phải là lựa chọn tốt cho vị trí tổng chỉ huy Chương trình Cải cách Giáo dục Phổ thông.

IV. NGUYÊN NHÂN SỐ 1: BỘ TRƯỞNG

Nguyên nhân số 1 là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Có một ông bộ trưởng giỏi thì Giáo dục đi lên. Gặp một ông bộ trưởng kém thì Giáo dục đi xuống.

Cay đắng thay, thực tế của Việt Nam cho thấy, từ thời GS Tạ Quang Bửu đến nay, thì ông bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đời sau kém hơn đời trước. Nền Giáo dục Việt Nam vì thế tụt dốc không ngừng.

V. NGUYÊN NHÂN THỐNG SOÁI: ĐỘC QUYỀN

Đẻ ra nguyên nhân số 1 là nguyên nhân thống soái ĐỘC QUYỀN. Độc quyền lãnh đạo. Độc quyền bổ nhiệm bộ trưởng. Độc quyền bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo. Độc quyền chương trình. Độc quyền viết sách. Độc quyền xuất bản sách. Độc quyền bán sách. Độc quyền dự án. Độc quyền cấp kinh phí. Độc quyền mua thiết bị… Độc quyền mẹ đẻ độc quyền con, nối đuôi nhau chặn hết đường của tự do phát triển, tự do cạnh tranh, tự do tỏa sáng.

VI. LỜI GIẢI

Giáo dục Việt Nam đang đối mặt với bao nhiêu vấn đề : Không có học sinh giỏi theo học ngành sư phạm; Học xong không có việc làm (đốt cả bằng tốt nghiệp); Lương giáo viên thấp; Chương trình giáo dục lạc hậu; Hệ thống thi cử không phù hợp; Bằng giả, học giả; Học thuê, viết thuê; Đạo đức một bộ phận giáo viên và học sinh xuống cấp; Dạy thêm học thêm; Tham nhũng; Cửa quyền… Vấn đề nào cũng trầm trọng. Vấn đề nào cũng cần phải giải quyết gấp.

Không thể giải quyết đồng loạt hết tất cả các vấn đề một lần. Cũng không thể chờ tuần tự giải quyết từng việc một. Phải biết lựa chọn nhóm vấn đề với thứ tự ưu triên để mà tác nghiệp. Tuy phức tạp như một rừng cây, nhưng lời giải cho bài toán Giáo dục Việt Nam lại rất rõ ràng.

Có thể thấy rằng, từ các nguyên nhân nêu ra ở trên, thì mọi vấn đề sẽ dồn về nguyên nhân số 1 và nguyên nhân thống soái.

Giải quyết nguyên nhân số 1 là giải quyết bài toán cục bộ. Giải quyết nguyên nhân thống soái là giải quyết bài toán toàn cục. Cho nên, muốn giải quyết triệt để vấn đề Giáo dục Việt Nam thì phải phá bỏ độc quyền. Muốn cải thiện giáo dục Việt Nam thì phải chọn được bộ trưởng giỏi. Đó là những điều cốt lõi.

VII. THỰC TẾ CHUA CHÁT

Hôm qua nhập VNEN của Colombia. Hôm nay nhập sách giáo khoa của Phần Lan. Ngày mai tích hợp … “ Thầy bói xem voi”.

Nền Giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục tuột dốc với các ông giáo sư thầy bói xem voi và các ông bộ trưởng đẽo cày giữa đường.

Nguyễn Ngọc Chu
FB Nguyễn Ngọc Chu


Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Lợi ích nhóm' nằm trong Luật Đất đai


>> BOT: Dập mồi lửa nhỏ để ngăn hoả hoạn lớn
>> Nạn cướp lương thực hoành hành ở Venezuela


Hoàng Hải Vân
MTG - Luật Đất đai là một trong những đạo luật có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống của người dân, nhất là nông dân và là một đạo luật mà bóng dáng của các nhóm lợi ích hiện hình rõ nhất.

Hơn 80% đơn khiếu kiện của người dân gửi lên các cơ quan Trung ương là khiếu kiện liên quan đến đất đai. Dù Luật Đất đai đã được sửa đổi nhiều lần theo hướng tiệm cận với cơ chế thị trường, nhưng tình trạng khiếu kiện không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng.

Mới đây Bộ Tài nguyên và môi trường lại có ý định sửa đổi Luật Đất đai, do những bất cập của nó chỉ sau 4 năm thi hành. Tuy nhiên, sự bất cập dưới cái nhìn của nông dân rất khác với sự bất cập dưới cái nhìn của những người soạn thảo. Phạm vi bài này chỉ nói về vấn đề Nhà nước thu hồi đất. Vì phần lớn các khiếu kiện về đất đai đều liên quan đến các chính sách đền bù giải tỏa khi thu hồi đất, cho nên có thể nói đây là một trong những vấn đề mấu chốt cần được mổ xẻ.

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng và an ninh theo điều 61 Luật Đất đai không khiến ai thắc mắc. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (điều 64), do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (điều 65) cũng không có vấn đề gì lớn. Nhưng thu hồi đất để “phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” quy định tại điều 62 thì có vấn đề nghiêm trọng. Việc thu hồi đất quy định tại điều này áp dụng cho các dự án quan trọng do Quốc Hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đây là điều khoản mơ hồ nhất và dễ bị lợi dụng nhất của Luật Đất đai. Vì những lý do sau:

Thứ nhất, khái niệm “phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” không có nội hàm được xác định, có nghĩa là các trường hợp Nhà nước thu hồi đất là quá rộng. Đối với các dự án quan trọng do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư hay các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư còn có những giới hạn có thể hiểu được, nhưng đối với các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận thì được mở rộng… "vô biên", trong đó có cả các dự án khu đô thị mới, dự án khu dân cư nông thôn, dự án chế biến nông, lâm, thủy, hải sản…, không phân biệt đó là dự án của tư nhân hay nhà nước.

Thứ hai, với phạm vi thu hồi đất được mở rộng vô hạn độ như vậy, trong cơ chế dân chủ nhất nguyên về chính trị ở nước ta, bất cứ một “đại gia” nào muốn đẩy nông dân ra khỏi ruộng vườn của họ để lấy đất làm dự án, chỉ cần thuyết phục hay mua chuộc được Bí thư hay Chủ tịch tỉnh thì đều có thể dễ dàng lấy được sự chấp thuận của Hội đồng nhân dân.

Nói ra thực tế này chúng tôi hoàn toàn không có ý coi thường các vị Bí thư hay Chủ tịch các tỉnh, vì rất nhiều Bí thư và Chủ tịch tỉnh một lòng vì dân vì nước. Điều chúng tôi muốn nói là một điều luật như điều luật trên đang dễ dàng tạo điều kiện cho người xấu làm việc xấu và rất có thể “chuyển hóa” một người tốt thành một người xấu, trong khi mục đích tối thượng của luật pháp là ngăn chặn người xấu không làm việc xấu. Tình trạng “chạy dự án” rồi sử dụng lực lượng cưỡng chế của chính quyền để lấy đất của nông dân mà chúng ta thường nghe nói, phần lớn được điều luật này tiếp tay, dung túng.

Lẽ ra, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước chỉ nên thu hồi đất dành cho các công trình quốc phòng – an ninh, cho các dự án công cộng và hoạt động công ích, cho các công trình trọng điểm làm đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế với mức đền bù thỏa đáng cho người dân theo giá thị trường, còn mọi dự án kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh tế đều thực hiện theo nguyên tắc của thị trường, tức là chủ đầu tư muốn có đất để làm dự án thì phải thỏa thuận với người sử dụng đất để được chuyển nhượng một cách sòng phẳng. Ai dám bảo người làm vườn làm ruộng không “vì lợi ích quốc gia, công cộng”?

Còn nhớ, trước khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai 2013, đã có một cuộc vận động lấy ý kiến với quy mô chưa từng thấy với gần 7 triệu ý kiến đóng góp vào dự Luật. Rất nhiều ý kiến, cả trong dân và tại diễn đàn Quốc Hội, đã đề nghị thu hẹp phạm vi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điều luật này, nhưng Ban soạn thảo chỉ tiếp thu một cách hời hợt bằng cách đảo qua đảo lại chứ nhất định không chịu thu hẹp. Và điều lạ lùng là cuối năm vừa rồi, Bộ Tài nguyên và môi trường khi đưa ra thảo luận những đề xuất tiếp tục sửa đổi Luật Đất đai thì phạm vi Nhà nước thu hồi đất theo điều 62 này không những không được đề nghị thu hẹp mà còn đề nghị tiếp tục mở rộng.

Xin nói thẳng, không chỉ là đơn khiếu kiện chiếm 80%, mà điều 62 của Luật Đất đai đang vấy máu. Chúng ta đã nghe nhiều trường hợp người dân không chấp nhận rời khỏi ruộng vườn đã phản ứng bằng bạo lực với lực lượng cưỡng chế, máu của dân và máu của đồng bào làm nhiệm vụ cưỡng chế đều là máu của người vô tội. Nơi này nơi kia ở nông thôn đang bất ổn về chính trị, không phải do sự chi phối của các thế lực thù địch, mà do đất của dân bị Nhà nước thu hồi để giao cho các “đại gia”, tuy có thể đúng Luật nhưng trái đạo lý. Những đảng viên Cộng sản hãy nhớ rằng, Liên minh công nông là nền tảng chính trị của Đảng không chỉ ở nông thôn. Nền tảng chính trị đó mà bị phá vỡ thì Đảng không còn đất sống.

Phần nhận xét hiển thị trên trang